1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật của nguyên hồng thời kỳ trước năm 1945

171 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, khi đặt vấn đề nghiên cứu: Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng thời kỳ trước năm 1945 cũng có nghĩa là đã đi vào nghiên cứu về những đặc điểm nổi bật trong nội dung và nghệ thu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

ĐÀO THỊ LÝ

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYÊN HỒNG

THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1945

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Trần Đăng Xuyền

2 PGS.TS Trần Thị Việt Trung

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Đào Thị Lý

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cán bộ Khoa Ngữ văn, Phòng Quản lý và Đào tạo Sau đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn GS.TS Trần Đăng Xuyền, PGS TS Trần Thị Việt Trung - những người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ rất nhiều để tôi có thể hoàn thành luận án này

Tôi xin trân trọng cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả luận án

Đào Thị Lý

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp mới của đề tài 4

7 Kết cấu của đề tài 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tình hình nghiên cứu chung về Nguyên Hồng 6

1.2 Tình hình nghiên cứu về Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng 15

1.2.1 Về đề tài sáng tác 15

1.2.2 Về chủ đề sáng tác 16

1.2.3 Về nhân vật 17

1.2.4 Về không gian và thời gian 20

1.2.5 Về ngôn ngữ, giọng điệu nghệ thuật 23

Chương 2 KHÁI NIỆM THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH NÊN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYÊN HỒNG 31

2.1 Giới thuyết chung về Thế giới nghệ thuật 31

2.2 Những cơ sở hình thành Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng 37

2.2.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội 38

2.2.2 Hoàn cảnh gia đình, môi trường sống và hoạt động văn học của Nguyên Hồng 43

2.2.3 Cá tính Nguyên Hồng 51

Chương 3 THẾ GIỚI NHÂN VẬT 55

3.1 Một thế giới nhân vật phong phú, phức tạp thuộc tầng lớp thị dân và lao động dưới đáy xã hội 55

3.1.1 Những người phụ nữ nghèo khổ, bất hạnh, cùng đường, nổi loạn 57

Trang 6

3.1.2 Những đứa trẻ nghèo dưới đáy xã hội, “không có tuổi thơ” 67

3.1.3 Những người trí thức tiểu tư sản nghèo, giàu hoài bão nhưng bất lực và bế tắc 73

3.1.4 Những nhân vật con người tha hoá 79

3.2 Một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu xây dựng nhân vật 85

3.2.1 Nghệ thuật tạo dựng hoàn cảnh và tình huống 85

3.2.2 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình 92

3.2.3 Nghệ thuật miêu tả tâm lý 96

Chương 4 THỜI GIAN, KHÔNG GIAN VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 101

4.1 Thời gian nghệ thuật 101

4.1.1 Thời gian gắn liền với những sự kiện và biến cố dữ dội của cuộc đời nhân vật 101

4.1.2 Thời gian của con người cá nhân 107

4.2 Không gian nghệ thuật 110

4.2.1 Không gian xã hội đen tối, nhức nhối, đầy bất công và tội lỗi 110

4.2.2 Không gian gia đình đầy bi kịch buồn đau, tan tác 114

4.2.3 Không gian mang sắc thái tôn giáo - trầm, buồn ảm đạm 116

4.3 Ngôn ngữ nghệ thuật 124

4.3.1 Ngôn ngữ đầy ắp chất liệu của cuộc sống cần lao 125

4.3.2 Ngôn ngữ mang sắc thái tôn giáo 142

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 164

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nguyên Hồng (1918-1982) là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của

trào lưu văn học hiện thực nói riêng, của nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung Ông là người đến với nghề văn khá sớm và đã thành công ngay từ tác

phẩm đầu tay: Bỉ vỏ (1937) Nguyên Hồng có sức viết phi thường, viết với tất cả

sự đam mê và nhiệt huyết của mình Hơn bốn mươi năm cầm bút, ông đã để lại hơn sáu mươi tác phẩm, trong đó có những sáng tác đặc sắc và có những tác phẩm được đánh giá là một trong những tác phẩm bề thế nhất của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

1.2 Như đã biết, “Thế giới nghệ thuật” là chỉnh thể của hình thức văn học”,

[140, tr 29, 30], “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng

tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng” [52, tr 251] Trong Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng, ở mọi phương

diện nghệ thuật như: đề tài, chủ đề, nhân vật, không gian, thời gian, ngôn ngữ nghệ thuật, đều được thống nhất trong một chỉnh thể nghệ thuật, giúp người đọc dễ hình dung ra những nét riêng biệt những đóng góp cụ thể trong quá trình sáng tạo không ngừng của nhà văn

Với một số lượng tác phẩm khá lớn ở nhiều thể loại (tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, thơ ) qua hai giai đoạn sáng tác, trước và sau năm 1945, Nguyên Hồng đã phản ánh một cách chân thực, cảm động cuộc sống với những số phận cụ thể của những người lao động nghèo khổ và quá trình đổi đời nhờ Đảng, nhờ Cách mạng của họ Khi viết về vấn đề này, Nguyên Hồng đã thể hiện được cái nhìn hiện thực sâu sắc và tấm lòng nhân đạo thiết tha của nhà văn đối với những con người lao

động Vì vậy, khi đặt vấn đề nghiên cứu: Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng

thời kỳ trước năm 1945 cũng có nghĩa là đã đi vào nghiên cứu về những đặc

điểm nổi bật trong nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm, khẳng định giá trị hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo cao cả trong sáng tác của nhà văn hiện thực

xuất sắc này trong một giai đoạn sáng tác cụ thể của ông

Trang 8

1.3 Theo khảo sát của chúng tôi, cho tới nay đã có khoảng hơn 50 công trình

viết về Nguyên Hồng và riêng việc nghiên cứu về Thế giới nghệ thuật của ông đã

có trên 20 bài (đề cập đến nhiều khía cạnh, ví dụ như: Chủ đề, đề tài sáng tác, cảm hứng sáng tạo, chủ nghĩa nhân đạo, cảm quan tôn giáo, lời văn nghệ thuật, trong sáng tác của nhà văn) Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã chú ý

đề cập đến giai đoạn sáng tác trước Cách mạng tháng 8/1945 của Nguyên Hồng,

trong đó đã có sự khảo sát, đề cập đến một số phương diện trong Thế giới nghệ

thuật của ông như: đề tài, chủ đề nhân vật, không gian và thời gian, lời văn nghệ

thuật nhưng chúng tôi nhận thấy rằng, phần lớn đây là những nhận xét, nhận định mang tính khái quát; hoặc đó có thể là những khảo sát, phân tích khá cụ thể ở một

số phương diện trong Thế giới nghệ thuật chứ chưa phải toàn bộ Thế giới nghệ

thuật của Nguyên Hồng Do đó, vẫn rất cần phải có một công trình chuyên biệt

nghiên cứu một cách khá hệ thống và toàn diện về Thế giới nghệ thuật của nhà

văn Nguyên Hồng Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi muốn góp phần

nhìn nhận một cách tương đối toàn diện, hệ thống về Thế giới nghệ thuật của

Nguyên Hồng trong một giai đoạn sáng tác cụ thể - giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, để chỉ ra những đặc điểm riêng, những sáng tạo riêng trong

Thế giới nghệ thuật của nhà văn; đồng thời qua đó khẳng định những đóng góp

đáng trân trọng của ông đối với sự vận động và phát triển của trào lưu văn học hiện thực phê phán nói riêng, của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung một cách

cụ thể và đầy đủ hơn

1.4 Hiện nay, một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyên Hồng đã được đưa vào

trong chương trình giáo dục ở bậc phổ thông và đại học Nếu đề tài này được thực hiện thành công, đây sẽ là cuốn tài liệu tham khảo có ý nghĩa đối với học sinh, sinh viên, giáo viên các cấp và những ai quan tâm đến nhà văn hiện thực xuất sắc suốt đời nặng lòng với những người nghèo khổ này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu về Thế giới nghệ thuật của nhà văn

Nguyên Hồng, luận án góp phần khẳng định: Trong quá trình sáng tác của mình,

Nguyên Hồng đã tạo ra một Thế giới nghệ thuật riêng độc đáo và đặc sắc; và qua

đó ghi nhận những đóng góp quan trọng của ông đối với quá trình phát triển của

Trang 9

văn học hiện thực phê phán Việt Nam nói riêng và văn xuôi Việt Nam hiện đại giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1945 nói chung

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu những phương diện quan trọng của

Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng giai đoạn trước Cách mạng

tháng Tám năm 1945, nhằm chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong Thế giới nghệ

thuật của nhà văn (nghệ thuật xây dựng nhân vật; không gian, thời gian nghệ thuật

và ngôn ngữ nghệ thuật) Qua đó khẳng định những giá trị nghệ thuật và giá trị hiện thực sâu sắc, giá trị nhân đạo cao cả trong những sáng tác của Nguyên Hồng -

“nhà văn của những người khốn khổ” Việt Nam giai đoạn trước năm 1945

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là những sáng tác của Nguyên Hồng giai đoạn trước 1945 Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, những sáng tác sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 của ông cũng được chúng tôi quan tâm khảo sát,

nhằm so sánh làm rõ hơn những đặc điểm riêng trong Thế giới nghệ thuật của

Nguyên Hồng thời kỳ trước năm 1945, cũng như một số đặc điểm chung trong quá trình sáng tác của nhà văn sau Cách mạng

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu của các tác giả cùng khuynh hướng, cùng thời với ông để so sánh, đối chiếu nhằm chỉ

ra những nét riêng, nét độc đáo trong Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng

4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

Như chúng ta đã biết, Thế giới nghệ thuật bao gồm nhiều phương diện như:

đề tài, chủ đề, nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, thời gian, không gian nghệ

thuật và ngôn ngữ nghệ thuật Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án của mình,

chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu cụ thể là đi sâu vào nghiên cứu một số

phương diện cơ bản của Thế giới nghệ thuật như: thế giới nhân vật và nghệ thuật

xây dựng nhân vật, thời gian, không gian nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật trong các sáng tác của nhà văn Nguyên Hồng giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 - vì đây là giai đoạn sáng tác nhiều, tiêu biểu và thành công nhất của

Nguyên Hồng Còn một số phương diện khác như: đề tài, chủ đề, lời văn nghệ

thuật, giọng điệu nghệ thuật cũng đã được một số tác giả đề cập đến khá rõ trong

các chuyên luận và bài báo của mình, nên chúng tôi không chủ trương đi sâu vào nghiên cứu

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích tác phẩm để tìm hiểu kỹ

những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng giai đoạn trước Cách mạng Đó là cơ sở để có những nhận xét, đánh giá tổng hợp nhất

về Thế giới nghệ thuật của nhà văn

- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này được áp dụng trong

quá trình khảo sát các tác phẩm cụ thể của nhà văn, thống kê và phân loại từng

kiểu nhân vật, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật trong Thế giới nghệ

thuật của Nguyên Hồng

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: để có sự đối sánh và có cái nhìn sâu hơn

về đối tượng nghiên cứu, chúng tôi nghiên cứu và so sánh sáng tác của Nguyên Hồng trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945; so sánh với một số tác phẩm, một số nhân vật trong tác phẩm của các tác giả cùng thời, cùng hoặc khác khuynh hướng sáng tác của Nguyên Hồng, nhằm chỉ ra những nét riêng, nét độc đáo trong

Thế giới nghệ thuật của nhà văn

- Vận dụng lý thuyết thi pháp học (về thời gian, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật ) để phục vụ trong quá trình nghiên cứu

6 Đóng góp mới của đề tài

6.1 Đây là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu một cách khá toàn

diện và hệ thống về Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng thời

kỳ trước 1945 Luận án đi sâu vào khảo sát, nghiên cứu các sáng tác của

Nguyên Hồng nhằm chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong Thế giới nghệ thuật

của nhà văn, nhất là trong việc dựng lên một thế giới nhân vật phong phú, phức tạp, độc đáo và sinh động của những con người lao động sống dưới đáy xã hội thực dân phong kiến; Chỉ ra những đặc điểm về không gian và thời gian nghệ thuật, cũng như những nét đặc sắc riêng về ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn Qua đó khẳng định: Trong quá trình sáng tác của mình, Nguyên

Hồng đã xây dựng được một Thế giới nghệ thuật riêng, độc đáo không lẫn với

Trang 11

bất cứ nhà văn nào Và qua Thế giới nghệ thuật này, nhà văn đã thể hiện được

một cách sâu sắc và cảm động chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo cao

cả của mình

6.2 Kết quả nghiên cứu trên là cơ sở để khẳng định những đóng góp quan trọng

của Nguyên Hồng vào quá trình phát triển trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945 nói riêng và đối với nền văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung

6.3 Nếu luận án này thành công, hy vọng đây sẽ là một tài liệu tham khảo hữu

ích cho học sinh, sinh viên và những người quan tâm đến tác giả Nguyên Hồng nói riêng và văn xuôi Việt Nam thời kỳ hiện đại giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám nói chung

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án bao gồm bốn chương Cụ thể như sau:

Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Khái niệm Thế giới nghệ thuật và những cơ sở hình thành nên Thế

giới nghệ thuật của Nguyên Hồng

Chương 3 Thế giới nhân vật

Chương 4 Thời gian, không gian và ngôn ngữ nghệ thuật

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu chung về Nguyên Hồng

Gần 3/4 thế kỷ trôi qua - kể từ khi cuốn tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng

ra đời và được nhận Giải thưởng của Tự lực văn đoàn (1937) - đã có rất nhiều bài viết, những công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp, những đóng góp của nhà văn Cho đến nay, việc nghiên cứu về Nguyên Hồng cũng vẫn đang được tiếp tục và đã đạt được nhiều thành tựu đáng trân trọng Điều đó chứng tỏ sức sống của tác phẩm Nguyên Hồng rất bền vững trong lòng người đọc nhiều thế hệ, và theo thời gian những giá trị đặc biệt của nó ngày càng được phát hiện, được khẳng định một cách trân trọng

Theo khảo sát của chúng tôi, đến nay đã có khoảng hơn 50 công trình nghiên cứu chung về Nguyên Hồng, trong đó có khoảng 20 bài nghiên cứu có đề

cập đến phương diện Thế giới nghệ thuật Bên cạnh đó có hàng chục luận án, luận

văn khoa học nghiên cứu về sáng tác của ông Đặc biệt khi ông qua đời, đã có hơn

20 bài viết về những Hồi ức và kỷ niệm về nhà văn, thể hiện tình cảm trân trọng tài

năng và nhân cách của Nguyên Hồng trong lòng bạn bè, đồng nghiệp và bạn đọc

Ngay từ trước năm 1945, có một số nhà nghiên cứu đã phát hiện tài năng

văn học của nhà văn, đã đánh giá được những mặt mạnh, mặt hạn chế của ngòi bút Nguyên Hồng Theo khảo sát của chúng tôi, đã có một số bài viết nhận xét, đánh giá về văn chương của Nguyên Hồng của các tác giả: Thạch Lam, Trọng Quy,

Trương Chính, Vũ Ngọc Phan… Cụ thể, khi tiểu thuyết Bỉ vỏ được nhận Giải

thưởng của Tự lực văn đoàn, Thạch Lam đã nhận xét về văn của Nguyên Hồng

như sau: ''Văn lúc nào cũng minh bạch, giản dị, một đôi khi thấm thía, rung động,

có nhiều đoạn đẹp đẽ và sâu sắc… ông quan sát khéo, chỉ tả những cái gì đáng để

ý, những tình cảm chân thật, những cảm giác đúng” [116, tr 39] Đồng thời tác giả

cũng chỉ ra nhược điểm khó tránh khỏi của một người mới vào nghề viết văn, đó

là:“Nhiều chỗ vụng về, cẩu thả, nhiều câu văn chưa gãy gọn Nhưng đó là những

lỗi của một người mới viết văn và sẽ mất đi với kinh nghiệm và từng trải trong nghề ” [116; tr 39] Tuy nhiên, trong khuôn khổ nhận xét của một Giải thưởng,

Thạch Lam mới chỉ dừng lại ở một vài dòng như vậy về tác giả trẻ tuổi này

Trang 13

Cũng năm 1938, khi giới thiệu Bỉ vỏ, tác giả Trọng Quy đã nhận xét: “Tác

phẩm không hổ thẹn với sự được Ban giám khảo chú ý đến”, vì đây là “một thiên phóng sự tả rõ cách sinh hoạt của một hạng người” của “một cán bút linh hoạt mới mẻ”, “biết làm cho người khác phải cảm động” [127, tr 8]) Trọng Quy đã khẳng

định vị trí xứng đáng của Bỉ vỏ khi được nhận Giải thưởng Tự lực văn đoàn chính là

ở sự mới mẻ của cây bút Nguyên Hồng cũng như tính nhân đạo của tác phẩm

Tuy nhiên, không chỉ có những ý kiến ghi nhận sự thành công của Bỉ vỏ, mà

còn có những đánh giá về hạn chế của tác phẩm này Năm 1939, Trương Chính đã

nhận xét về Bỉ vỏ khi ông nhìn nhận từ góc độ Dưới mắt tôi như sau: “Quyển Bỉ

vỏ là một quyển tiểu thuyết tầm thường, không đặc sắc Tác giả còn thiếu nghệ

thuật, thiếu kinh nghiệm, ngòi bút của ông còn non nớt, vụng về” ; các tình tiết

“được sắp đặt một cách thô sơ… Nhà văn ấy kiên tâm và thành thực, nhưng ông chỉ thành công lúc ông giản dị và sâu sắc hơn” [17, tr 173], đây là một nhận xét

nghiêm khắc và khách quan về nghệ thuật của một cuốn tiểu thuyết đầu tay của Nguyên Hồng

Năm 1940, khi viết Lời tựa cho tập tiểu thuyết tự truyện Những ngày thơ ấu,

Thạch Lam đã nhận thấy khả năng thể hiện “những rung động cực điểm của một

linh hồn trẻ dại” của ngòi bút Nguyên Hồng… Tác giả của Gió lạnh đầu mùa đã

rất tinh tế khi nhận thấy những cảm xúc chân thành của một trái tim dễ xúc động qua từng trang hồi ký đẫm nước mắt của nhà văn hiện thực trẻ tuổi này

Trong cuốn Nhà văn hiện đại, năm 1942, Vũ Ngọc Phan đã công phu giới

thiệu gương mặt 78 nhà văn Việt Nam, trong đó có nhà văn Nguyên Hồng Về Nguyên Hồng, tác giả đã khẳng định sự thành công của nhà văn qua những sáng

tác đầu tay, nhất là cuốn Bỉ vỏ của ông Vũ Ngọc Phan nhận xét: “truyện thật là

hay… cách viết có mạch lạc mà đi đến đoạn kết một cách tự nhiên”, đồng thời ông

cũng đưa ra một nhận định khái quát khá chính xác về tư tưởng nghệ thuật của

“nhà văn xã hội này”: “Ở tập văn nào của Nguyên Hồng cũng vậy, tư tưởng nhân

từ, bác ái của tác giả bao giờ cũng tràn lan và đó chính là cái phần cốt yếu của nhà văn xã hội cầu mong ánh sáng” [116, tr 48] Như vậy, nhà phê bình Vũ Ngọc

Phan đã chỉ ra được cái cốt lõi, cái đặc trưng và giá trị trong sáng tác của Nguyên Hồng, đó là: Tư tưởng nhân đạo và khát vọng có một xã hội công bằng tốt đẹp hơn, nhất là đối với những người nghèo khổ

Trang 14

Năm 1944, trong cuốn “Văn chương và xã hội” (Đại học Thư xã Hà Nội),

khi nghiên cứu một số tác phẩm của Nguyên Hồng thời kỳ trước cách mạng như

“Bỉ vỏ”, “Bảy Hựu”, “Những ngày thơ ấu”, tác giả Lương Đức Thiệp nhận xét:

đây là “cây bút linh động cho ta cảm thấy sâu xa lòng yêu thiết tha của chính tác

giả đối với các nhân vật trong truyện” [159, tr 98] Nhận xét này khẳng định thêm

tính nhân đạo của nhà văn Nguyên Hồng

Qua một số ý kiến, nhận xét trên, chúng ta nhận thấy khá rõ một điểm: ngay đương thời, người ta cũng đã chỉ ra những mặt mạnh, những thành công của nhà văn Nguyên Hồng Đó là chủ nghĩa nhân đạo, là tư tưởng nhân từ bác ái, cũng như

đã chỉ ra những mặt hạn chế của Nguyên Hồng khi buổi đầu đến nghề văn còn đầy non nớt này

Đồng thời cũng qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy: Trong vòng 10 năm (1936 - 1945), Nguyên Hồng đã có khá nhiều sáng tác (54 truyện ngắn, 03 truyện vừa, 01 hồi ký, 03 tiểu thuyết) với mảng nội dung hiện thực đặc sắc nhưng thực sự những sáng tác này của Nguyên Hồng cũng chưa thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình như những trường hợp nhà văn hiện thực khác Hầu hết các ý kiến nhận định, phê bình chỉ tập trung vào hai tác phẩm nổi tiếng của

Nguyên Hồng là: Bỉ vỏ và Những ngày thơ ấu, còn những sáng tác khác của ông

đều chưa hoặc rất ít đề cập đến Các tác giả (do những lý do chủ quan và khách quan nào đó) cũng chưa thấy hết được giá trị nhiều mặt của các sáng tác ấy, cũng như chưa phát hiện và đánh giá đúng mức được tài năng và cống hiến của Nguyên Hồng, mặc dù bước đầu cũng đã ít nhiều động chạm vào những vấn đề đó khi nhận xét đánh giá về ông

Từ sau năm 1945 cho tới tận hiện nay, Nguyên Hồng và tác phẩm của ông

tiếp tục được nhiều người quan tâm, chú ý nhìn nhận, đánh giá và khẳng định những giá trị nổi bật về nội dung và nghệ thuật Những tác phẩm của nhà văn vẫn tiếp tục trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn trong đời sống nghiên cứu, phê bình văn học của nước nhà Trong khi đó, một số những nhà văn hiện thực khác như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao vẫn chưa thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình, mà phải đợi đến thời kỳ đổi mới, các tác phẩm của họ mới được chú ý nghiên cứu và được đánh giá sâu sắc, công bằng và toàn diện hơn

Có thể nhắc đến những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, phê bình tiêu biểu như: Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Vũ Ngọc

Trang 15

Phan, Chu Nga, Trần Đăng Suyền, cùng các mục từ giới thiệu về Nguyên Hồng, tiểu thuyết Bỉ vỏ, Hồi ký Những ngày thơ ấu trong cuốn Từ điển Văn học của tác

giả Nguyễn Hoành Khung; Những đề tài nghiên cứu về sáng tác của nhà văn Nguyên Hồng của các tác giả: Lê Hồng My, Bạch Văn Hợp, Phạm Hồng Lan, Nguyễn Duy Tờ, Lê Thị Hải Vân Qua các công trình nghiên cứu này, chúng tôi thấy các vấn đề về tư tưởng nghệ thuật, phong cách nghệ thuật, lời văn nghệ thuật, cảm hứng sáng tạo,… trong sáng tác của Nguyên Hồng đã được đề cập đến ở những mức độ khác nhau Các ý kiến, nhận xét đều sâu sắc và tinh tế nhưng phần lớn là những nhận xét, nhận định có tính chất khái quát, hoặc nghiên cứu sâu một phương diện nào đó thuộc về nội dung hoặc nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng, cụ thể là một số ý kiến tiêu biểu như sau:

- Đánh giá sự đóng góp của Nguyên Hồng đối với sự vận động và phát triển khuynh hướng văn học hiện thực phê phán Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 nói riêng và đối với nền Văn học hiện đại Việt Nam nói chung trên những phương diện cụ thể Tiêu biểu cho xu hướng đánh giá này là các công trình

nghiên cứu: “Nguyên Hồng” [Phan Cự Đệ -116], “Nguyên Hồng, con người và sự

nghiệp” [Nguyễn Đăng Mạnh -116], “Nguyên Hồng và quá trình sáng tác của anh”

[Chu Nga -116]

- Khẳng định chủ nghĩa nhân đạo thống thiết của Nguyên Hồng khi viết về các nhân vật dưới đáy xã hội thực dân phong kiến, đặc biệt là nhân vật người phụ

nữ và trẻ em Xu hướng này được thể hiện trong các công trình nghiên cứu:

“Nguyên Hồng, con người và sự nghiệp” [Nguyễn Đăng Mạnh -116], “Một cuộc

đời sáng tạo trong đau khổ” [Vương Trí Nhàn - 111], “Cảm hứng cần lao trong sáng tác của Nguyên Hồng” [Phan Diễm Phương -116]

- Chỉ ra đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng là “nhà văn của

niềm tin và ánh sáng”, “nhà văn của lòng thương cảm thống thiết”, “một ngòi bút hiện thực giàu chất lãng mạn”… “Nguyên Hồng, nhà văn của những khát vọng sống” [Hà Minh Đức - 116], “Phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng” [77],

“Nhà văn của tình thương” [1]

- Khẳng định mặt mạnh của Nguyên Hồng trong nghệ thuật xây dựng nhân vật,

cũng như trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ, giọng điệu như bài viết: “Đặc sắc hồi ký

Nguyên Hồng” [Nguyễn Đăng Điệp -116], “Giọt lệ lớn và đoàn tàu chợ” [Linh Thi -

116]; hay chuyên luận: “Lời văn nghệ thuật Nguyên Hồng” [Lê Hồng My - 101]

Trang 16

Khi cắt nghĩa cảm hứng chủ đạo của Nguyên Hồng, Phan Cự Đệ cho rằng

cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn “Bắt nguồn từ một chủ nghĩa nhân

đạo sâu sắc với những lớp người cùng khổ Anh là một cây bút đôn hậu, luôn hướng tới cái cao đẹp, trong sáng, niềm tin yêu thắm thiết” [116, tr 112] Khái

quát về “Nguyên Hồng và quá trình sáng tác của anh” tác giả Chu Nga đã giới

thiệu và khái quát: “Nguyên Hồng sau Cách mạng chỉ là sự kế tiếp một cách logic

Nguyên Hồng những năm trước Cách mạng” [116, tr 157] - Đây là một nhận xét

rất chính xác về sự nhất quán trong quan niệm sáng tác của Nguyên Hồng cả ở hai giai đoạn trước và sau năm 1945 Đồng thời Chu Nga cũng nhấn mạnh đến sự đóng góp riêng biệt của Nguyên Hồng vào dòng văn học hiện thực phê phán:

“Trước tiên cần khẳng định ở anh những đóng góp đáng kể với tư cách là một nhà

văn hiện thực phê phán tiến bộ nhất, tiếp cận gần nhất với Cách mạng Anh không chỉ hiểu Cách mạng mà còn viết về Cách mạng, cũng không phải chỉ viết một cách cảm tính, mà ít nhiều có quan điểm, có lý luận” [116, tr 157], và đó còn là “tiếng nói yêu thương nhân đạo (…) sôi nổi, lạc quan, tràn đầy một lòng tin ở ngày mai tươi sáng vì nhìn thấy được những phẩm chất đẹp đẽ ở những con người nghèo khổ hôm nay” [116, tr 158]… Như vậy, tác giả đã đề cập đến cảm hứng chủ đạo

trong sáng tác của Nguyên Hồng, đó là tình cảm yêu thương, trân trọng con người

lao động

Cùng quan điểm như trên, Phan Diễm Phương, Vương Trí Nhàn, Đỗ Trung Thoại đều cho rằng cảm hứng sáng tác của Nguyên Hồng là cảm hứng về

cuộc sống lầm than, đói khổ của người lao động trong xã hội cũ “Cảm hứng cần

lao… đã được phô diễn một cách ám ảnh, đầy sức lay động đối với những con người đồng cảm” [116, tr 225]… “Cảm hứng cần lao và tranh đấu của Nguyên Hồng cũng chính là cảm hứng nhân đạo nơi ông” [116, tr 227]… “Giá trị phổ biến của hàng ngàn, hàng ngàn trang sách được bắt nguồn vào những cảnh sống

của con người, hướng về con người ” [116, tr 229] Vương Trí Nhàn khẳng định

cuộc đời Nguyên Hồng là “Một cuộc đời sáng tạo trong đau khổ”, “Văn xuôi

Nguyên Hồng là một thứ sản phẩm giàu chất tự truyện”, đồng thời tác giả cũng

đánh giá Những ngày thơ ấu là tác phẩm đỉnh cao của Nguyên Hồng: “Khách

quan và tỉnh táo mà đánh giá, phải nhận toàn bộ cuộc đời và sáng tác của Nguyên

Hồng về sau không có cái nào vượt được Những ngày thơ ấu” [116, tr 219] Và

“Trước đau khổ, Nguyên Hồng thấy nên cam chịu, và tìm thấy lẽ sống, cảm hứng

Trang 17

sáng tạo của mình trong chính sự đau khổ” [116, tr 220] Đỗ Trung Thoại thấy ở

Nguyên Hồng là“một nhà văn lớn, một nhân cách lớn… chủ nghĩa nhân đạo là tư

tưởng chủ đạo trong hầu hết các tác phẩm của ông… Nguyên Hồng là nhà văn của nhân dân lao động và ông thuộc về những người lao động” [119]

Trong giáo trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX, tập 2, tác giả Lê Hồng My, Trần Đăng Suyền đã chỉ rõ quan điểm nghệ thuật của Nguyên Hồng là “Đề cao

vai trò của văn chương nghệ thuật, khẳng định ý nghĩa cao quý của nghề cầm bút”

[134, tr 134] “Nhà văn, (người nghệ sĩ) phải trung thực, chân thành trên trang

viết: say mê, tin tưởng vào cuộc sống; phải cần cù học hỏi và không ngừng sáng tạo” ”[134, tr 135] “Nghệ thuật phải “bắt rễ” vào cuộc sống của người lao động và hướng tới tương lai tốt đẹp Bạn đọc quần chúng là “lẽ sống của ngòi bút”

[134, tr 137] Đây chính là quan điểm nghệ thuật nhất quán của Nguyên Hồng trong sự nghiệp sáng tác của mình

Đánh giá Nguyên Hồng ở một góc nhìn khác, GS.TS Trần Đăng Suyền đã

phân tích một cách sâu sắc Sự gặp gỡ, giao thoa của những khuynh hướng, trào

lưu văn học trong sáng tác của Nguyên Hồng trước Cách mạng Tác giả đã phân

tích và khẳng định: “Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 đã xuất hiện nhiều

khuynh hướng, nhiều trào lưu văn học: Chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực

và khuynh hướng văn học cách mạng; chúng vừa đấu tranh với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển Sáng tác của Nguyên Hồng thể hiện quy luật vận động và phát triển, sự gặp gỡ và giao thoa của nhiều khuynh hướng, trào lưu văn học… Có được điều đó là do ngòi bút Nguyên Hồng gắn bó sâu sắc với thời đại, với cuộc đời rộng lớn, với những người cùng khổ Có được điều đó còn do những sáng tác hiện thực chủ nghĩa của ông được xây dựng trên cơ sở của chủ nghĩa nhân đạo, đi sâu vào bản chất của sự sáng tạo nghệ thuật, thể hiện quy luật vận động và phát triển tất yếu của tiến trình lịch sử văn học dân tộc” [137, tr 55-59]

Như vậy, về cảm hứng sáng tạo, chủ nghĩa nhân đạo của Nguyên Hồng, các nhà nghiên cứu, phê bình đều nhất trí rằng cảm hứng sáng tác của Nguyên Hồng là cảm hứng cần lao, bắt nguồn từ cuộc sống tăm tối, cực khổ của những người dưới đáy xã hội thực dân phong kiến trước Cách mạng Cảm hứng sáng tác ấy được thể hiện qua một tấm lòng nhân đạo thiết tha, trĩu nặng với những cảnh đời đen tối trong xã hội đương thời

Trang 18

Khi nói đến Phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng, nhiều tác giả đều

cho rằng Nguyên Hồng có phong cách nghệ thuật riêng Nguyễn Đăng Mạnh là

một trong những nhà nghiên cứu chuyên sâu về Nguyên Hồng, trong các công trình nghiên cứu của mình, tác giả cũng đặc biệt chú ý đến tư tưởng và phong cách

nghệ thuật của nhà văn Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, trong cuốn Giáo

trình Lịch sử Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, Nguyễn Đăng Mạnh đã

khẳng định: "Nguyên Hồng là nhà văn có phong cách rõ rệt quy định bởi những

đặc điểm về hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, về tư tưởng, tình cảm, về sự tiếp thu ảnh hưởng xã hội và văn học" [100, tr 20]; Đồng thời tác giả cũng chỉ ra một

vài nét tiêu biểu của phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng trước Cách mạng

tháng Tám là "tình cảm say sưa bồng bột", và "tinh thần nhân đạo chủ nghĩa thiết

tha", " một nội dung trữ tình sôi nổi, một cảm hứng lãng mạn mãnh liệt ” Ở

một công trình nghiên cứu khác, ông cũng đã bàn về phong cách lãng mạn của

Nguyên Hồng: “Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng có một cái gì rất gần gũi

với thần thoại, cổ tích, truyện Tàu, lại giông giống như thế giới đầy dông bão của những trường ca, những thiên truyện ngắn lãng mạn chủ nghĩa của Mácxim Goorki hay tiểu thuyết của Víchto Huygô, trong đó có sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa bão táp và nắng vàng, giữa quỷ dữ và thiên thần…” [116, tr 100]

và “Nguyên Hồng có thiên hướng xây dựng những tích cách phi thường, những

hình tượng kỳ dị, những tâm trạng được phóng đại, những tình huống dữ dội, những quang cảnh rộng lớn, náo động đầy dông bão (…) phù hợp với một giọng văn thống thiết của một tâm hồn nồng nhiệt muốn giãi bày trực tiếp trên những trang sách ” [116, tr 100,101]

Phan Cự Đệ là một trong những nhà nghiên cứu dành nhiều tâm huyết

nghiên cứu về Nguyên Hồng, ông đã tiếp cận sáng tác của nhà văn từ nhiều góc độ khác nhau như: cảm hứng sáng tạo, chủ nghĩa nhân đạo, màu sắc trữ tình Về

phong cách nghệ thuật, tác giả khẳng định: "Cùng đứng trong chủ nghĩa hiện thực phê phán nhưng Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng mỗi người có một phong cách riêng Phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng cũng mang những màu sắc thẩm mỹ độc đáo” [116, tr 112] Nhà

nghiên cứu cũng chỉ ra yếu tố trữ tình lãng mạn như một đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng: "Không phải lúc nào Nguyên Hồng cũng viết bằng

một bút pháp hiện thực tỉnh táo và nói chung, ít khi anh sử dụng một lối viết nặng

nề về trí tuệ Ở anh, những yếu tố nội tâm, những tình cảm sôi nổi, dạt dào từ bên

Trang 19

trong đôi lúc cứ muốn lấn lướt, trùm lên cái hiện thực khách quan được miêu tả"

[116, tr 121] Khi giới thiệu quá trình sáng tác từ Bỉ vỏ đến Cửa biển, Phan Cự Đệ

cũng đã lý giải sự chuyển biến về tư tưởng và nghệ thuật của Nguyên Hồng từ sau

Cách mạng tháng Tám gắn liền với quá trình nhận thức về cách mạng, đi theo cách

mạng của nhà văn Tác giả khẳng định sự nhất quán trong phong cách nghệ thuật

của Nguyên Hồng, "Phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng giờ đây giàu có,

phong phú hơn trước nhưng nhìn chung vẫn là một phong cách hiện thực giàu chất lãng mạn cách mạng và chất trữ tình say đắm" [116, tr 142]

Tác giả Bạch Văn Hợp khi đi sâu vào nghiên cứu Đặc điểm phong cách

nghệ thuật của Nguyên Hồng đã chỉ ra phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng

là: nhà văn của “lòng thương cảm thống thiết những kiếp người cùng khổ” [77,

tr 200], một “ngòi bút hiện thực giàu chất lãng mạn” [77, tr 66] và một “bút

pháp sôi nổi, nồng nhiệt” [77, tr 123];… có những nhân vật khác thường như:

“nhân vật giàu nghĩa khí mang dáng dấp anh hùng hảo hán” [77, tr 110], “nhân vật

mang dáng dấp cổ tích huyền thoại” [77, tr 114], “nhân vật thánh thiện” [77, tr 116],

“nhân vật quỷ sứ” [77, tr 119]; mặt mạnh của Nguyên Hồng là “cách sử dụng thành ngữ độc đáo” [77, tr 125], “ngôn ngữ gây ấn tượng” [77, tr 134], “ngôn ngữ giàu cảm xúc” [77, tr ]; một “giọng điệu sôi nổi thiết tha và cấu trúc chồng tầng của lời văn nghệ thuật” [77, tr.159]; một “thủ pháp trần thuật giàu xúc cảm”

[77, tr 173] trong sáng tác của nhà văn

Như vậy, ý kiến của các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng là phong cách hiện thực, giàu chất lãng mạn và chất trữ tình, là nhà văn của chủ nghĩa nhân đạo, của lòng thương cảm thống thiết đối với những người cùng khổ trong xã hội cũ

Ngoài ra còn một số ý kiến, nhận xét khác về sự nghiệp và quá trình sáng

tác của Nguyên Hồng, về Thế giới nghệ thuật của nhà văn thời kỳ trước năm 1945,

nhưng thực sự chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

Đặc biệt, sau khi nhà văn qua đời đã có một số công trình nghiên cứu tổng

hợp về Nguyên Hồng, một số bài viết của các tác giả là các nhà thơ, nhà văn

cùng thời với Nguyên Hồng như Kim Lân, Nguyễn Tuân, Huy Cận, và các nhà

Trang 20

nghiên cứu, phê bình, các nhà thơ thuộc các thế hệ sau như: Hà Minh Đức, Tế Hanh, Bùi Hiển, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Quang Thân, Ngô Văn Phú, Nội dung những bài viết này là những hồi ức, kỷ niệm liên quan đến nhà văn của các tác giả, bày tỏ lòng yêu quý, trân trọng, ngợi ca tài năng, phẩm chất nghệ sĩ và những bài học đầy ý nghĩa được rút ra từ cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn hiện thực xuất sắc Nguyên Hồng

Gần đây nhất, tháng 11/2013, Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng đã tổ chức

Hội thảo “Nhà văn Nguyên Hồng - cuộc đời và sự nghiệp văn chương” (Nhân

Kỷ niệm 95 năm ngày sinh của nhà văn Nguyên Hồng, tại Hải Phòng) Trong khuôn khổ của một Hội thảo, các ý kiến của GS TS Trần Đăng Suyền, PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện, TS Lê Thị Bích Hồng, TS Nguyễn Đức Thuận nhà thơ Hữu Thỉnh, nhà văn Đình Kính, nhà văn Đỗ Nhật Minh, nhà văn Cao Năm, Lưu Văn Khuê, nhà sử học Lê Văn Lợi, nghệ sĩ nhiếp ảnh Hoàng Minh Đáng… đều thể hiện sự ngưỡng mộ, trân trọng tài năng và nhân cách Nguyên Hồng Các ý kiến đều đánh giá cao sự đóng góp của Nguyên Hồng đối với sự phát triển của nền văn chương Việt Nam hiện đại Nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã ghi nhận những

đóng góp của Nguyên Hồng, đó là: “Nguyên Hồng là một tác gia lớn, một tác giả sử

thi tầm cỡ nhất của văn chương Việt Nam hiện đại, một nhà văn thực sự xuất sắc của thế kỷ XX” [119] GS TS Trần Đăng Suyền đã khẳng định: “Nguyên Hồng là nhà văn của chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc, thống thiết; sáng tác của ông làm phong phú thêm chủ nghĩa nhân đạo của nền văn học dân tộc” [119] Với một cái nhìn

tổng quan về Nguyên Hồng từ “một cái nhìn thế kỷ” - PGS.TS Đoàn Trọng Huy

[119] đã có những đánh giá rất trân trọng và xác đáng về nhà văn: “Nguyên Hồng đã

sống với những sự kiện lớn lao của đất nước… với tư cách chứng nhân lịch sử, cũng

là người tham gia làm nên lịch sử, Nguyên Hồng đã sống và viết hết mình Những trang viết của nhà văn có sự mặn mòi của mồ hôi lao động, có cái nồng ấm của nước mắt pha lẫn vẻ rạng rỡ của nụ cười Tất cả những gì trên mặt giấy đều được giãi bày tươi thắm bằng máu huyết tâm hồn” (Nguyên Hồng từ cái nhìn thế kỷ)

Tóm lại: Khi nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng, các nhà nghiên cứu phê bình đều đánh giá cao tài năng và nhân cách của ông, khẳng định Nguyên Hồng là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của trào

Trang 21

lưu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 Với những đóng góp của mình, NguyênHồng đã có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam thế kỷ XX

1.2 Tình hình nghiên cứu về Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, đã có những công trình nghiên cứu,

những bài viết về Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng ở những phương diện

như: đề tài, chủ đề, nhân vật, thời gian, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật, trong sáng tác của nhà văn trước cách mạng Tuy nhiên, theo khảo sát, chúng tôi nhận thấy, những nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những nhận định chung nhất, hoặc đi sâu vào một số phương diện như: nhân vật, ngôn ngữ nghệ

thuật mà chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống về Thế giới nghệ

thuật của nhà văn

Xuất phát từ quan niệm: Thế giới nghệ thuật “là chỉnh thể của hình thức

văn học”, “là sản phẩm sáng tạo mang tính cảm tính, có thể cảm thấy được của người nghệ sĩ, một kiểu tồn tại đặc thù, vừa trong chất liệu, vừa trong cảm nhận của người thưởng thức, là sự thống nhất của mọi yếu tố đa dạng trong tác phẩm”

[140, tr 30], chúng ta hiểu rằng: Thế giới nghệ thuật chính là sự thống nhất của

mọi yếu tố: Đề tài, chủ đề, nhân vật, thời gian và không gian, ngôn từ nghệ thuật

tất cả tạo nên một Thế giới nghệ thuật mang nét riêng, mang cá tính sáng tạo của

nhà văn

Từ cơ sở lý thuyết, lý luận như trên, tác giả luận án đã tìm hiểu lịch sử

nghiên cứu về Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng ở các phương diện sau:

1.2.1 Về đề tài sáng tác

Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (xuất bản

lần đầu1941, tái bản năm 1993), NXB Tổng hợp Đồng Tháp, có nội dung nghiên

cứu về “Các khuynh hướng phổ thông của tư tưởng trong quốc văn hiện đại”, đã

chia ra 3 khuynh hướng: Khuynh hướng về học thuật, khuynh hướng lãng mạn,

khuynh hướng tả thực Tác giả đã xếp sáng tác của Nguyên Hồng vào khuynh

hướng tả thực cùng với Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang [51, tr 466] Cũng cùng

quan điểm này, Thế Phong khẳng định: “Nguyên Hồng là nhà văn xã hội hơn hết

theo đúng danh từ Xã hội tính trong văn chương Nguyên Hồng là tả chân thực

Trang 22

sự” [123, tr 77] Giáo sư tiến sĩ khoa học N.I Nikulin khi nghiên cứu Lịch sử văn

học Việt Nam, cho rằng “cuộc sống của tầng lớp dân nghèo thành thị cũng được phản ánh trong những tác phẩm hiện thực”, và tác giả dẫn ra ví dụ tiêu biểu là

“tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng” [103, tr 749]

Nhiều nhà nghiên cứu về Nguyên Hồng sau này như Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức… cũng đều thống nhất cho rằng đề tài sáng tác mà

Nguyên Hồng hướng đến là cuộc sống của những người lao động nghèo khổ dưới

đáy xã hội thực dân phong kiến “Từ thế giới những người lao động cực khổ nhất

trong xã hội Nguyên Hồng đã đến với nghề văn” [116, tr 78]; “Mỗi nhà văn đều

có một nguồn suối tinh thần yêu thương của họ, Ngô Tất Tố tiếp thu được cái hơi thở khỏe mạnh, hồn hậu, lạc quan của nông dân, còn Nguyên Hồng thì bắt rễ sâu vào cuộc sống và những tình cảm tốt đẹp của những người dân nghèo, thợ thuyền thành phố Anh luôn luôn nói đến người lao động nghèo khổ với lòng biết ơn tình nghĩa, với sự gắn bó trọn đời chung thủy” [116, tr 106]…

Có thể thấy rằng: các ý kiến, nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình (trước và sau Cách mạng) đều đã chỉ rõ: Đề tài sáng tác trong tác phẩm của Nguyên Hồng là cuộc sống của những con người khốn khổ trong xã hội đương thời, nhà văn đã rất thành công khi viết về đề tài này - và điều này là hoàn toàn chính xác Chính vì vậy, trong luận án của mình, chúng tôi sẽ không

đi sâu vào nghiên cứu phương diện này mà sẽ tập trung vào một số phương diện

khác trong Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiện thực Nguyên Hồng

1.2.2 Về chủ đề sáng tác

Trong nhận xét của Giải thưởng Tự lực văn đoàn, năm 1937 (báo Ngày nay,

năm 1938), Thạch Lam đánh giá sự thành công cũng như hạn chế trong tiểu thuyết

Bỉ vỏ như sau: “Cái đặc biệt của Nguyên Hồng có lẽ là cái màu sắc tự nhiên và sự

linh động Người ta mừng rằng với một đầu đề như thế (đời một cô gái trụy lạc) ông Nguyên Hồng đã khéo đứng trong phạm vi sự thật và sự cảm thấy, mà không

sa ngã vào những câu sáo và hoa mỹ,… còn nhiều chỗ vụng về… nhiều câu văn chưa gãy gọn Nhưng đó là lỗi của một người viết văn và sẽ mất đi với kinh nghiệm và sự từng trải trong nghề” Trong khuôn khổ của một Nhận xét Giải thưởng Thạch Lam cũng mới chỉ nêu ý kiến nhận xét về sự tự nhiên và linh động

cũng như một số hạn chế trong văn Nguyên Hồng mà thôi

Trang 23

Phan Cự Đệ khẳng định rằng: “Vấn đề chính trong tác phẩm của Nguyên

Hồng trước Cách mạng là: những con người quằn quại trong sự đau khổ nhưng vẫn lạc quan, yêu đời, vẫn muốn “ngoi lên ánh sáng như những mầm cây xanh”

[116, tr 111] Tác giả đã nhấn mạnh đến bản chất nhân vật của Nguyên Hồng, đó là: những người dân nghèo tuy bị xã hội đẩy đến sự bần cùng hóa (thậm chí lưu manh hóa), nhưng ở họ luôn là niềm khao khát cuộc sống lương thiện trong một xã hội công bằng, đẹp đẽ hơn

Còn nhà phê bình Vũ Ngọc Phan thấy ở truyện ngắn của Nguyên Hồng

"phần nhiều pha một giọng phóng sự chua cay và kín đáo, phần nhiều dùng việc thay lời, nên cái nghệ thuật của ông thật là sâu sắc” [116, tr 44], “Ông đã đi từ cuộc sống nghèo nàn của mấy hạng người bị xã hội khinh bỉ đến những cuộc sống bên trong rất phức tạp và không kém phần ồn ào, nhộn nhịp” [116, tr 48], “chỉ khi nào lòng yêu nhân loại lên tới cực điểm, là người ta mới thiết tha đến những người bị xã hội ruồng bỏ” [116, tr 43] Vũ Ngọc Phan cũng đã nói đến cảm hứng

sáng tạo và giá trị nhân đạo toát ra trong sáng tác của Nguyên Hồng, đây là một ý kiến rất đáng chú ý khi cắt nghĩa ngọn nguồn cảm hứng sáng tạo của nhà văn

Khái quát về toàn bộ đời văn Nguyên Hồng, Nguyễn Minh Châu thấy

“Ngổn ngang gò đống kéo lên biết bao nhiêu là hạng người, là mẫu người của xã hội cũ” “bao giờ ông cũng đặt niềm tin tưởng vững chắc vào cái cốt lõi tốt đẹp của tính cách những con người lao động nghèo khổ” [116, tr 379] Đồng thời, tác

giả cũng cho rằng: Nguyên Hồng là “Nhà văn của thập loại chúng sinh” , “từ

trong lòng cái xã hội “thập loại chúng sinh” bước ra, cầm cây bút sắt chấm vào

mồ hôi, nước mắt và máu của mình mà viết ra văn chương riêng của mình” [116,

tr 378] Chúng ta thấy rằng: Nguyễn Minh Châu cũng như các nhà nghiên cứu,

phê bình trên đã nhấn mạnh đến đối tượng thẩm mỹ trong sáng tác của Nguyên Hồng là những con người nghèo khổ trong xã hội cũ, đồng thời tác giả cũng khẳng định niềm tin tưởng vững chắc của Nguyên Hồng vào bản chất tốt đẹp của người lao động - đó chính là chủ đề nổi bật, bao trùm trong toàn bộ sáng tác của nhà văn

hiện thực này

1.2.3 Về nhân vật

Ngay từ trước Cách mạng, Trương Chính tuy có những nhận xét khắt khe

về cuốn tiểu thuyết Bỉ vỏ như: còn thiếu nghệ thuật, thiếu kinh nghiệm, nhưng ông

cũng đưa ra nhận định khách quan về cách xây dựng nhân vật của Nguyên Hồng:

Trang 24

"Tác giả dồn hết nạn này đến nạn khác trên đầu Bính cho đến khi cô bị bắt, ở tù, mới chịu thôi”, đó là nhận xét về một trong những đặc điểm xây dựng nhân vật ở

Nguyên Hồng trong một cuốn tiểu thuyết cụ thể

Tác giả Hà Minh Đức khi đánh giá tổng quát về Nguyên Hồng và quá trình

sáng tác của nhà văn - đã nhận định: “Nguyên Hồng, nhà văn của những khát vọng

sống”… “nhà văn của những xóm thợ”, “người đã đem vào trang sách muối mặn,

mồ hôi và đất bụi của cuộc đời” [116, tr 13] Đồng thời, tác giả nhấn mạnh đến

đặc điểm nhân vật của Nguyên Hồng “thế giới nhân vật của Nguyên Hồng bị vây

bọc trong sự nghèo khổ không có lối ra (…) nhưng bao giờ cũng nuôi khát vọng sống chân chính của con người… Cũng dễ nhận ra người dân lao động trong tác phẩm của Nguyên Hồng ở cuộc đời nghèo khổ, lòng nhân ái và những khát vọng sống của họ” [116, tr 17]… Ở đây, nhà nghiên cứu đã khẳng định lòng nhân ái, sự

lạc quan và sức sống bất diệt ở các nhân vật của Nguyên Hồng Đồng thời tác giả

cũng chỉ ra nhược điểm trong cách xây dựng nhân vật của Nguyên Hồng là: “còn

thiếu những nhân vật phản diện để tạo nên những đối trọng của các nhân vật thuộc tầng lớp giàu nghèo khác nhau” [116, tr 18] Nói về những hạn chế của

Nguyên Hồng khi xây dựng nhân vật, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Đức Đàn cho rằng:

“Nếu như tư tưởng của Nguyên Hồng tương đối ngày càng tiến bộ, thì về nghệ thuật ông lại hay mắc phải nhược điểm là lý luận dài dòng và trực tiếp nói lên nhiều ý nghĩa của mình thay cho việc mô tả sự việc và tính cách con người Nhân vật của ông thường triết lý về cảnh khổ của mình và của người khác hơn là hành động… trong sáng tác của ông nhiều trang có tính chất bài báo hoặc bút ký trữ tình, ông không chú trọng xây dựng điển hình cho thật sinh động” [125, tr.149 ] Ý

kiến về hạn chế của Nguyên Hồng khi xây dựng nhân vật như trên không thấy có

người hưởng ứng

Tác giả Phan Cự Đệ cho rằng nhân vật của Nguyên Hồng “là những con

người quằn quại trong sự đau khổ nhưng vẫn lạc quan, yêu đời, vẫn ngoi lên ánh sáng như những mầm cây xanh” [116, tr 111] Tác giả cũng nhận xét những đức

tính quý báu của nhân vật trong sáng tác của Nguyên Hồng như: “tình thương yêu,

đùm bọc lẫn nhau giữa những người cùng khổ”, “tình nghĩa chung thủy và lòng hi sinh cho hạnh phúc người khác”, “lòng tự trọng dù đói khổ vẫn không chấp nhận lối sống trụy lạc, bán rẻ nhân phẩm để chạy theo đồng tiền và danh vọng” Đồng

thời Phan Cự Đệ cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong cách xây dựng nhân

Trang 25

vật của Nguyên Hồng như: “dù sao, nhiều nhân vật dân nghèo của Nguyên Hồng

vẫn còn giữ một thái độ cam phận, nhẫn nhục, chịu đựng trước cảnh ngộ Đôi lúc ta

có cảm tưởng dường như ngòi bút nhà văn chìm sâu một cách triền miên trong sự khổ đau, say sưa trong một thứ chủ nghĩa cùng khổ”… “Nhược điểm này từ năm

1938 trở đi, dần dần được khắc phục” [116, tr 111] Như vậy, tác giả đã ghi nhận

sự thành công cũng như hạn chế về cách xây dựng nhân vật của Nguyên Hồng

Khi nghiên cứu tổng quát “Nguyên Hồng - con người và sự nghiệp” [116],

tác giả Nguyễn Đăng Mạnh cũng đã khái quát quá trình sáng tác trước và sau

Cách mạng của Nguyên Hồng, đã chỉ ra những đặc điểm quan trọng trong sáng tác của nhà văn Đó là chủ nghĩa nhân đạo, là cảm hứng sáng tạo, là ba loại nhân vật

quen thuộc của nhà văn: “những người làm các nghề phu phen, tạp dịch nặng nề” [tr 82], “những người đàn bà dân nghèo thường kiếm ăn bằng việc buôn thúng

bán mẹt, hay bán hàng cơm, hàng nước” [tr 83]; “những trẻ em nhà nghèo”

[tr 86]; Ngoài ra còn có“loại nhân vật trẻ tuổi thuộc tầng lớp tiểu tư sản nghèo” [tr 86] và “những hạng người lưu manh côn đồ” [tr 80] Tuy nhiên, với một công

trình nghiên cứu tổng quan về “Nguyên Hồng, con người và sự nghiệp”, Nguyễn Đăng Mạnh cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu chung về các loại nhân vật của Nguyên Hồng, mà chưa chỉ ra đặc điểm cụ thể của từng loại nhân vật cũng như chưa đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật xây dựng từng loại nhân vật ấy

Nhận xét về tính cách nhân vật của Nguyên Hồng, có ý kiến nhận định rằng

“Trong thế giới nhân vật của ông, ta thường bắt gặp những tính cách phi thường, những con người thánh thiện nhuốm vẻ tôn giáo và màu sắc lãng mạn Đó là những con người khác thường với những nét tính cách được tô đậm, phóng đại, được đẩy lên đến mức cực đoan Tất cả đều mang một nét chung nào đó khiến người đọc nhận

ra đây chính là những nhân vật, những đứa con tinh thần của Nguyên Hồng” [131,

tr 420] Theo chúng tôi, đây chính là một nhận xét chính xác và tinh tế bởi tác giả

đã chỉ ra sự khác biệt về nhân vật của Nguyên Hồng so với nhân vật của các nhà văn khác cùng thời với ông, kể cả nhà văn hiện thực phê phán

Về nghệ thuật sáng tạo của Nguyên Hồng, PGS.TS Đoàn Trọng Huy cũng

khẳng định “Nguyên Hồng có nhiều hứng khởi để sáng tạo, đổi mới trên lĩnh vực

văn xuôi Nghệ thuật ngôn từ phát triển do đi sâu vào đời sống nhiều mặt phong phú và hết sức sinh động” Từ góc nhìn của một nhà đạo diễn sân khấu, nghệ sĩ ưu

Trang 26

tú (NSƯT) Đào Quang nhận thấy mối quan hệ gắn bó giữa văn học và sân khấu mà

sáng tác của nhà văn Nguyên Hồng là một ví dụ Tác giả nhận xét: “Chất kịch và

chất sân khấu đậm đặc trong văn Nguyên Hồng”, “Tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyên Hồng đầy ắp chất kịch”… “Nhân vật của Nguyên Hồng thường được đặt trong những tình thế hết sức căng thẳng, buộc phải lựa chọn để tìm sự giải quyết cho mình Chính vì vậy, sáng tác của Nguyên Hồng giàu chất kịch và chất sân khấu” [Chất kịch và chất sân khấu trong văn Nguyên Hồng - 119]… Chính nhờ

chất kịch và chất sân khấu ấy mà văn xuôi Nguyên Hồng không chỉ làm xúc động

những độc giả yêu thích văn chương Nguyên Hồng, mà nó còn “có một sức tác

động và cảm hóa thật thấm thía và mạnh mẽ khôn lường, gần như thôi miên đám đông khán giả, tạo nên cảm xúc thăng hoa trong thưởng thức của người xem như từng đợt sóng dâng trào bất tận” [119]

Có thể thấy rằng, đã có khá nhiều ý kiến nhận xét về đặc điểm nhân vật của Nguyên Hồng, về thành công cũng như hạn chế trong cách xây dựng nhân vật của nhà văn Tuy nhiên các ý kiến đó vẫn là những nhận xét, nhận định chung có tính khái quát Các tác giả chưa đi sâu vào đặc điểm của từng loại nhân vật cũng như nghệ thuật xây dựng từng loại nhân vật ấy của Nguyên Hồng - nhất là trong những sáng tác của ông ở giai đoạn trước năm 1945

1.2.4 Về không gian và thời gian

Về Thời gian và không gian nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng

trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, qua khảo sát, chúng tôi thấy không có

nhiều ý kiến về vấn đề này Tuy nhiên, trong công trình nghiên cứu “Nguyên

Hồng, con người và sự nghiệp” tác giả Nguyễn Đăng Mạnh đã ít nhiều đề cập

đến không gian và thời gian trong sáng tác của Nguyên Hồng Nhận xét chung về toàn bộ sáng tác của Nguyên Hồng trước và sau Cách mạng tháng Tám, tác giả đã

khẳng định: “dù ông viết về nơi đâu, thuộc địa chỉ nào, người đọc cũng như cảm

thấy mở ra trước mắt cảnh vật, con người và không khí của thành phố Hải Phòng”…

“Tất cả diễn ra dưới cái nắng chói chang và màu hoa phượng vĩ cũng rất tiêu biểu cho cảnh sắc của thành phố Hải Phòng” [116, tr 98,99] Đây là một nhận

xét rất chính xác về một đặc điểm nổi bật trong các sáng tác của Nguyên Hồng

kể từ những tác phẩm đầu tay trước 1945 cho đến bộ tiểu thuyết Cửa biển sau

Cách mạng

Trang 27

Trong công trình nghiên cứu “Thi pháp hoàn cảnh trong tác phẩm của Ngô

Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao”, tác giả Phạm Mạnh Hùng đã đi sâu

nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực thời kỳ

1930 - 1945 Trong chuyên luận này, tác giả nhấn mạnh đến “mối quan hệ giữa

tính cách và hoàn cảnh” [79, tr 7] khi nghiên cứu trào lưu văn học hiện thực phê

phán Tác giả đã chú ý nói về yếu tố thiên nhiên, và cho rằng: thiên nhiên “nhiều

khi nó là yếu tố biểu hiện tâm lý Và đứng ở góc độ hoàn cảnh nghệ thuật, nó có thể là yếu tố tạo không khí cho hoàn cảnh” [79, tr 316] Tuy không trực tiếp bàn

về không gian, thời gian trong sáng tác của Nguyên Hồng, nhưng những “quan

niệm nghệ thuật về hoàn cảnh” trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Giông tố (Vũ Trọng

Phụng), Sống mòn và một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao - những tác

phẩm của các tác giả cùng khuynh hướng, cùng thời với Nguyên Hồng - là cơ sở

và những gợi ý thiết thực để chúng tôi tìm hiểu về không gian, thời gian nghệ

thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng

Khi nghiên cứu về Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu

thế kỷ XX, GS.TS Trần Đăng Suyền cũng chỉ ra sự khác biệt về không gian,

thời gian nghệ thuật trong sáng tác Nguyên Hồng so với các nhà văn cùng thời,

đó là: “không có những xung đột giai cấp như tiểu thuyết của Nguyễn Công

Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố mà là một vùng quê tăm tối, cổ hủ hàng trăm năm bị giam hãm, trói buộc bởi những luật lệ nghiệt ngã, vô lý của lễ giáo phong kiến” [135, tr 422]… đó là:“không gian rùng rợn nặng nề với những cảnh cướp giật, chết người”… không gian của “những nhà chứa nhớp nhúa, tanh tưởi, hôi hám”… là “không gian của một xã hội gian phi” [135, tr 423] Đây là một nhận

xét rất chính xác trên cái nhìn tổng quan về không gian nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng trong sự đối sánh với các tác giả cùng khuynh hướng hiện thực khác đương thời

Trong luận án: “Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện

thực phê phán 1930 -1945 qua một số tác phẩm tiêu biểu” (2009), tác giả Phạm

Hồng Lan đã chọn vấn đề nghiên cứu về không gian và thời gian trong tiểu thuyết

Bỉ vỏ của Nguyên Hồng Tác giả luận án đã có một số nhận xét cụ thể về đặc điểm

thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết này là: “thời gian đêm tối”, “những sự kiện

của cuộc đời nhân vật chính diễn ra trong đêm tối” và thời gian này rất “phù hợp với nhân vật hành động” [85, tr 119,120); cụ thể hơn nữa là: “Thời gian tâm

Trang 28

trạng trong Bỉ vỏ là thời gian dằng dặc, lê thê kéo dài vô tận” [85, tr 129]

Không gian trong Bỉ vỏ là không gian nông thôn “tăm tối tù đọng và ngột ngạt bởi

những hủ tục lạc hậu”; là không gian thành thị “nơi cuốn con người vào vòng quay tội lỗi” Và “Việc mở rộng không gian nghệ thuật gắn liền với cảm hứng phân tích xã hội của Nguyên Hồng Xã hội Việt Nam trước Cách mạng chỉ có thể

là môi trường sản sinh ra cái xấu và cái ác, ở trong môi trường đó, con người không thể giữ được nhân phẩm mà ngược lại bị môi trường làm cho tha hóa Với

sự mở rộng không gian, dường như Nguyên Hồng đã có ý thức sâu sắc hơn về sự tác động của môi trường, hoàn cảnh sống lên thân phận con người” [85, tr 42]

Do mục đích và giới hạn của mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận án cũng mới chỉ dừng lại ở những nhận xét, những phân tích về không gian, thời gian trong một

cuốn tiểu thuyết tiêu biểu là Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, chứ chưa nghiên cứu tất cả

các tác phẩm khác trong giai đoạn sáng tác trước 1945 của ông

Tác giả Lê Hồng My trong chuyên luận Lời văn nghệ thuật Nguyên Hồng

cũng nhắc đến không gian trong sáng tác của Nguyên Hồng, đó là: “không gian

sinh hoạt tăm tối”,“không gian và cảnh vật triền miên trong trạng thái nặng nề”,“không gian giam cầm đầy đọa con người” [101, tr 38,39] Còn nhà đạo diễn

sân khấu - NSƯT Đào Quang bước đầu chỉ ra: “Trong tiểu thuyết và truyện ngắn

của Nguyên Hồng, không gian và thời gian được miêu tả rất chi tiết làm thành môi trường sống cụ thể, thành khung cảnh sinh động sắc nét của các nhân vật sống và tồn tại Không gian ấy là mảnh đất Hải Phòng trước Cách mạng tháng Tám với những khu phố nghèo, chen chúc người cư ngụ, với những căn nhà lụp xụp, tăm tối, ngột ngạt là môi trường không gian quen thuộc trong những trang văn đầy

ắp những chi tiết sinh động, chân thực và dạt dào cảm xúc của Nguyên Hồng”

[Chất kịch và chất sân khấu trong văn Nguyên Hồng - 119]

Tóm lại, có thể thấy rằng các nhà nghiên cứu trên đều đã chỉ ra: không gian nghệ thuật của Nguyên Hồng chủ yếu là không gian Hải Phòng - một không gian tăm tối ngột ngạt, bế tắc, đại diện cho cả một xã hội Việt Nam nói chung trước Cách mạng tháng Tám Không gian ấy đã đầy đọa, bủa vây những con người lao động bần cùng, đẩy họ xuống tận bùn đen của sự đói rách Không gian này có tác dụng hữu hiệu trong nghệ thuật xây dựng tính cách và bản chất nhân vật

Trang 29

1.2.5 Về ngôn ngữ, giọng điệu nghệ thuật

Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong những sáng tác của Nguyên Hồng trước Cách mạng, chúng tôi thấy đã có các tác giả như: Nguyễn

Đăng Mạnh, Nguyễn Đăng Điệp, Chu Nga, Lê Hồng My, Nguyễn Minh Châu,

Linh Thi đề cập đến ở một số phương diện như sau:

Nghiên cứu sáng tác của Nguyên Hồng cả hai giai đoạn trước và sau Cách

mạng, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng, giọng điệu văn Nguyên Hồng “ Là giọng văn

thống thiết của một tâm hồn nồng nhiệt” [116, tr 101], giọng văn “cuồn cuộn, sục sôi, hăm hở tràn đầy cảm xúc dù là kể việc, vẽ người hay tả cảnh” [116, tr 100]

Khi đọc Những ngày thơ ấu, tác giả Nguyễn Đăng Điệp đã chỉ ra những nét đặc sắc trong hồi ký Nguyên Hồng: “Không chỉ viết truyện mà ngay cả với

hồi ký, văn Nguyên Hồng là thứ văn dạt dào xúc cảm Trên những dòng chữ lấp lánh ánh lửa lòng nồng ấm, và sau nó là “giọt lệ lớn” của một trái tim dễ xúc động” [116, tr 233]… “thứ văn giàu tình cảm, nồng say”… “chất thơ, chất trữ tình trội át chất phân tích tự sự” [116, tr 234] Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng

Điệp đã rất tinh tế khi cảm nhận giọng điệu trữ tình đầy xúc cảm qua hồi ký của Nguyên Hồng Tác giả Nguyễn Minh Châu cũng đồng quan điểm này khi nhận xét

câu văn Nguyên Hồng có “cái mập mạp khỏe khoắn đầy chất "đời sống cần lao”

của ngay cú pháp” (…) Nguyên Hồng viết văn như một ông lão thợ đấu cứ lễ mễ vác từng mảng thực tế sự đời mà huỳnh huỵch đắp lên mặt giấy [116, tr 379)]

Chu Nga khi viết về quá trình sáng tác của Nguyên Hồng có nhấn mạnh đến giọng

điệu riêng biệt của ông so với các nhà văn khác cùng thời, cùng khuynh hướng,

"Tiếng nói mới, riêng biệt của Nguyên Hồng góp vào dòng văn học hiện thực phê phán về căn bản vẫn là tiếng nói yêu thương, nhân đạo, có phê phán nhưng không mỉa mai trào lộng như Nguyễn Công Hoan, không chì chiết và đau đớn như Nam Cao, hay sâu cay nặng nề như Ngô Tất Tố” [116, tr 158] Tác giả Chu Nga đã chỉ

ra sự khác biệt về giọng điệu của Nguyên Hồng so với các nhà văn khác cùng khuynh hướng, cùng thời với ông, mà chưa đi sâu vào từng đặc điểm lời văn cũng như giọng điệu của Nguyên Hồng

Linh Thi cảm nhận đặc điểm câu văn Nguyên Hồng:“câu văn Nguyên

Hồng cứ ngồn ngộn, ngồn ngộn chi tiết, đôi khi được chất lên, được tấp lên, được

Trang 30

chằng buộc đến ngốt mắt” [116, tr 239] “Đúng là câu văn của Nguyên Hồng lúc nào cũng như con cá đang thở gấp, lúc nào cũng cựa quậy, phập phồng sự sống, lấp lánh sự sống” [116, tr 240], “như một cái cây sum sê, lúc lỉu những thành phần, như một đoàn tàu chợ” [116, tr 240]

Nhìn lại một trong những sáng tác đầu tay của Nguyên Hồng, PGS.TS

Nguyễn Ngọc Thiện chỉ ra và nhấn mạnh đến giọng điệu “thống thiết” của cuốn tiểu thuyết tự truyện Những ngày thơ ấu:“Sức sống mạnh mẽ, giọng điệu thống

thiết, đằm thắm, tình cảm tươi mới, trẻ trung, lúc nào cũng biểu hiện ở cường độ cao, mãnh liệt, cảnh sắc rực rỡ, âm thanh náo động trong văn Nguyên Hồng luôn

có sức thu hút người đọc”, (Những ngày thơ ấu - cuốn hồi ký tự truyện đặc sắc,

mở đầu cho một thể tài của văn học Việt Nam hiện đại - 119)

Cuốn sách chuyên luận của tiến sĩ Lê Hồng My: Lời văn nghệ thuật

Nguyên Hồng đã nghiên cứu và tiếp cận sáng tác của Nguyên Hồng từ góc độ: Lời

văn nghệ thuật trên phạm vi toàn bộ sáng tác trước và sau Cách mạng tháng Tám

của nhà văn Trong chuyên luận này, tác giả đã phân tích một cách kỹ lưỡng,

chuyên sâu Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật Đó là “Nguyên tắc cụ thể hóa

tới mức tối đa, bão hòa đối tượng phản ánh của lời văn”… tác giả đã phân tích cụ

thể các thành phần cơ bản trong lời văn nghệ thuật như: lời trần thuật, lời đối thoại của nhân vật, lời độc thoại nội tâm… và những phương thức tu từ đặc sắc tạo

hiệu quả thẩm mỹ cho lời văn như: tiếng lóng, biệt ngữ tôn giáo, từ láy, phép điệp

ngữ, trong sáng tác của nhà văn Đây là một chuyên luận chuyên sâu về một yếu

tố trong Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng, đó là Lời văn nghệ thuật của

Nguyên Hồng cả hai giai đoạn trước và sau năm 1945 Kết quả nghiên cứu này của

tiến sĩ Lê Hồng My là tư liệu thiết thực khi chúng tôi nghiên cứu ngôn ngữ nghệ

thuật của Nguyên Hồng giai đoạn trước năm 1945

Về nghệ thuật sáng tạo ngôn ngữ của Nguyên Hồng, PGS.TS Đoàn Trọng Huy

[119] cũng khẳng định: “Nguyên Hồng có nhiều hứng khởi để sáng tạo, đổi mới

trên lĩnh vực văn xuôi Nghệ thuật ngôn từ phát triển do đi sâu vào đời sống nhiều mặt phong phú và hết sức sinh động” (Nguyên Hồng, từ cái nhìn thế kỷ)…

Ngoài ra, chúng tôi còn thấy có một số bài nghiên cứu đi vào tìm hiểu

những phương diện khác trong sáng tác của Nguyên Hồng như: Cảm quan tôn

giáo trong sáng tác của Nguyên Hồng (Đào Đức Doãn), tác giả này cho rằng:

Trang 31

“Trong sự tiếp thu tôn giáo, Nguyên Hồng không bị cuốn đi bởi sự mê muội mà luôn chắt lọc, một sự chắt lọc tự nhiên - lấy phần nhân văn cao cả của nó Đó là tinh thần tôn giáo hiểu theo nghĩa như là đức tin tuyệt đối về sự hy sinh cao cả

(…) Và nhất là lúc nào cũng tin ở con người” [20, tr 1] Tiến sĩ Bạch Văn Hợp cũng đồng quan điểm này và cắt nghĩa nguồn gốc cảm hứng thương cảm của Nguyên Hồng là “việc tiếp nhận những ảnh hưởng của tư tưởng bác ái Thiên Chúa

giáo ở Nguyên Hồng có quá trình lịch sử và có mức độ đậm, nhạt khác nhau trên từng chặng đường sáng tác Thời kỳ đầu, sáng tác của Nguyên Hồng có ảnh hưởng của tinh thần bác ái Thiên Chúa giáo trên phương diện nội dung tư tưởng, tình cảm lẫn hình thức biểu hiện Từ khi tiếp nhận được ánh sáng của lý tưởng Cách mạng, sáng tác của ông chỉ còn dấu vết ảnh hưởng của đạo Thiên Chúa ở hình thức biểu hiện các trạng thái tâm lý nhân vật mà thôi Mặt khác, có lẽ Nguyên Hồng không hiểu nhiều lắm về những triết lý sâu xa của đạo Thiên Chúa nên sự ảnh hưởng của nó đối với nhà văn rất hồn nhiên và phù hợp với cuộc sống cũng như cá tính của ông Đó là cái ý nghĩa nhân văn đích thực của Thiên Chúa giáo phù hợp với đạo lý của người lao động mà Nguyên Hồng đã tiếp thu được qua trường học cuộc đời” [78; tr 6]

Về vấn đề Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng còn một số luận án tiến

sĩ, luận văn thạc sĩ đã quan tâm đề cập đến ở một số phương diện, ví dụ như:

Luận án tiến sĩ “Sự vận động của dòng văn học hiện thực Việt Nam 1930

-1945 (qua khảo sát tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,

Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao)”, tác giả Nguyễn Duy Tờ đã chỉ ra

những đóng góp riêng biệt của các tác giả Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao - thông qua việc khảo sát và phân tích hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Về Nguyên Hồng, tác giả luận án đã đưa ra

những nhận xét cơ bản về cảm hứng sáng tạo của nhà văn: “Ông viết, ngay từ những

trang văn đầu tay, cuộc sống của đám lưu manh, cảnh sát, mật thám, đĩ điếm với những hành vi phản bội, dối lừa Ngòi bút của ông bị lôi cuốn mạnh mẽ theo chiều

quan sát muốn ghi lấy, chép lấy, không bỏ sót Nhờ vậy mà Bỉ vỏ và sau đó là

Những ngày thơ ấu không bị khuất lấp sau “thác lũ” của những Giông tố, Số đỏ,

Vỡ đê, Làm đĩ, Kép Tư Bền ” [144, tr 168]; “Ở hầu hết các nhân vật của ông,

nhân vật chính luôn rơi vào trạng thái tự vấn mình ráo riết, tự vò xé, dằn vặt bản thân tới tận cùng” [144, tr 175] Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả luận án

Trang 32

chỉ tập trung giới thiệu, khảo cứu, nghiên cứu, phê bình sự vận động của dòng văn

học hiện thực Việt Nam 1930 -1945, và chủ yếu ở thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn

của 5 tác giả trên, nên những nhận xét chỉ mang tính khái quát

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Hồng Lan “Không gian và thời gian nghệ

thuật trong tiểu thuyết hiện thực phê phán 1930 -1945” (2009), đã nghiên cứu

không gian và thời gian nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất

Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao Do đối tượng và phạm vi nghiên

cứu, tác giả luận án cũng mới chỉ dừng lại nghiên cứu Không gian và thời gian

nghệ thuật trong một cuốn tiểu thuyết Bỉ vỏ nổi tiếng của Nguyên Hồng, mà chưa

bao quát được những đặc điểm về không gian, thời gian nghệ thuật trong toàn bộ sáng tác của nhà văn

Luận văn thạc sĩ “Bước đầu tìm hiểu lý tưởng thẩm mỹ trong tiểu thuyết của

Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao” của Nguyễn Thị Thu Hoài

đã khảo sát về lý tưởng thẩm mỹ của các nhà văn hiện thực trong đó có Nguyên

Hồng qua tiểu thuyết xuất sắc Bỉ vỏ Tác giả luận văn đã nhấn mạnh Bỉ vỏ “là bức

tranh cuộc sống của lớp người dưới đáy xã hội” [60, tr 58] và “là hiện thực khắc nghiệt của thành phố Cảng” “đầy cạm bẫy”, “lừa lọc”, “môi trường hỗn độn, vô luân lý” Từ đó, tác giả khẳng định: “ca ngợi phẩm chất của người phụ nữ đáng thương để lên tiếng tố cáo hiện thực nghiệt ngã chính là nét riêng trong lý tưởng thẩm mĩ của Nguyên Hồng” [60, tr 71]

Tìm hiểu về “Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng trước

Cách mạng tháng Tám năm 1945”, luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Thanh

Yến [171] đã nghiên cứu các kiểu nhân vật của Nguyên Hồng qua thể loại truyện

ngắn trước 1945 Tác giả luận văn xác định các kiểu nhân vật của Nguyên Hồng

trước Cách mạng là: nhân vật cam chịu, nhân vật vượt lên hoàn cảnh, nhân vật vị

tha giàu đức hy sinh Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả

cũng chỉ dừng lại ở sự khu biệt các loại nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật (tạo tình huống, miêu tả ngoại hình, hành động, ngôn ngữ…) của Nguyên Hồng ở thể loại truyện ngắn mà chưa bao quát được toàn bộ các thể loại sáng tác của nhà văn giai đoạn trước Cách mạng

Ngoài ra, theo khảo sát của chúng tôi, trên một số báo điện tử và trên một

số Tạp chí khoa học cũng có những bài viết về nhà văn Nguyên Hồng, ví dụ như:

Trang 33

- Báo Sài Gòn online, có bài viết: “Nhà văn lớn của người nghèo” của

Đoàn Minh Tuấn 04/11/2008

- Báo Điện tử VN EXPRESS có bài viết: “Nguyên Hồng, Nhà văn mau nước

mắt” (Quách Liêu), ngày 07/4/2008, nguồn Báo Tổ Quốc

- Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh có bài: “Văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Hồng và cội nguồn của lòng thương cảm”

của Tiến sĩ Bạch Văn Hợp, số 29, năm 2011

Nhìn chung, những bài viết trên đều thể hiện thái độ trân trọng, ngưỡng mộ tài năng và nhân cách Nguyên Hồng Tuy nhiên, với khuôn khổ bài báo nên chưa

có những bài chuyên sâu về Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng Qua khảo sát, chúng tôi thấy đáng chú ý nhất là bài báo:“Văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Hồng

và cội nguồn của lòng thương cảm” của Tiến sĩ Bạch Văn Hợp, số 29, năm 2011

Tác giả bài báo cắt nghĩa nguồn gốc sự thương cảm của Nguyên Hồng trong sáng tác, đó là do: hoàn cảnh gia đình, môi trường sống; tư tưởng bác ái của đạo Thiên

chúa; tư tưởng nhân đạo của Chủ nghĩa cộng sản và cá tính nhà văn Tác giả đã lý

giải nguồn gốc sự thương cảm của Nguyên Hồng là do bốn yếu tố như trên, mà

chưa bao quát Thế giới nghệ thuật của nhà văn

Đó là những nét khái quát nhất về tình hình nghiên cứu về Nguyên Hồng

nói chung và Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng nói riêng ở Việt Nam Ngoài

ra, trong khả năng có hạn của mình, chúng tôi cũng đã cố gắng tìm hiểu việc

nghiên cứu Nguyên Hồng và về Thế giới nghệ thuật của ông của các tác giả nước

ngoài, như:

- Trong cuốn Lịch sử Văn học Việt Nam, Giáo sư - viện sĩ N.I NICULIN

giới thiệu Lịch sử Văn học Việt Nam nói chung và Văn học Việt Nam giai đoạn

1930 -1945 nói riêng Trong giai đoạn văn học này, tác giả nêu sơ lược đặc điểm sáng tác của các tác giả thuộc trào lưu văn học hiện thực phê phán như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao Về Nguyên Hồng, nhà

nghiên cứu người Nga đã giới thiệu hai sáng tác là tiểu thuyết Bỉ vỏ và truyện ngắn

Một người mẹ Trung Quốc Với Bỉ vỏ, “nhà Việt học” nhận xét: “Chủ đề về

những nỗi cơ cực của người phụ nữ bất hạnh được nêu lên trên phương diện đạo đức - tâm lý (…), tác giả nhìn thấy cội nguồn của số phận bi đát của nàng là

những điều kiện của cuộc sống xã hội” [103, tr 749, 750]; với truyện ngắn Một

Trang 34

người mẹ Trung Quốc, Giáo sư - viện sĩ Niculin nhận định: “Trong thời kỳ Mặt

trận bình dân, những tác phẩm của những nhà văn hiện thực đã tham gia tích cực vào công tác công khai của Đảng cộng sản, xuất hiện hình tượng người chiến sĩ đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân lao động” [103, tr 750] mà

truyện ngắn Người đàn bà Tàu là một ví dụ điển hình Câu chuyện “đã trở thành

tấm gương sinh động của mối tình đoàn kết quốc tế thắm thiết” [103, tr 750]

Như vậy, nhà nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu qua hai tác phẩm tiêu biểu của Nguyên Hồng thời kỳ trước Cách mạng

Bài báo “Sự gặp gỡ giữa nhà văn Hàn Quốc Huyn Jin Geon và nhà văn Việt

Nam Nguyên Hồng” của tác giả KangHaNa (Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 7&8

năm 2000), tác giả đã vận dụng phương pháp so sánh để tìm hiểu những nét tương đồng về tư tưởng và nghệ thuật trong sáng tác của hai nhà văn hiện thực Huyn Jin

Geon (Hàn Quốc) và Nguyên Hồng (Việt Nam) Đó là sự tương đồng “về tư tưởng

nhân đạo” [81, tr 52], “đều sáng tác theo khuynh hướng trữ tình” [81, tr 56],…

“cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm của họ là cảm hứng yêu thương cảm thông,

chứ không phải là cảm hứng phê phán (tất nhiên, ý nghĩa phê phán vẫn toát ra từ chính cái hiện thực mà họ miêu tả)” [81, tr 54], nhưng cũng có sự khác nhau ở

chỗ “cái nhìn của Huyn Jin Geon thiên về khía cạnh bi quan, còn Nguyên Hồng thì

đậm màu sắc lạc quan” [81, tr 53]…

Nhìn lại lịch sử vấn đề nghiên cứu về Nguyên Hồng, chúng tôi thấy: từ năm

1946 đến thời kỳ Đổi Mới (1986), tác phẩm của Nguyên Hồng luôn được giới nghiên cứu, phê bình chú ý và đánh giá cao về mặt nội dung tư tưởng, trong đó cũng có một số bài nghiên cứu đã đề cập đến những giá trị về nghệ thuật trong các tác phẩm của ông

Đặc biệt, từ 1986 đến nay, vấn đề Nguyên Hồng vẫn tiếp tục được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm nghiên cứu và ngày càng khám phá ra những giá trị mới, và đã thấy được những nét đặc sắc cùng những đóng góp quan trọng về mặt nghệ thuật Đã xuất hiện khá nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật

trong các tác phẩm của ông (chuyên luận: Lời văn nghệ thuật Nguyên Hồng - tác giả Lê Hồng My; Phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng - tác giả Bạch Văn Hợp;

Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện thực phê phán 1930

-1945, tác giả Phạm Hồng Lan ) Trong những công trình nghiên cứu này, các tác

giả đã nhấn mạnh và khẳng định: Nhà văn Nguyên Hồng đã góp phần một cách

Trang 35

trực tiếp vào quá trình hiện đại hóa nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Việc nghiên cứu, nhận xét và đánh giá về những sáng tác của Nguyên Hồng đã có một quá trình, đã có một độ lùi về thời gian một cách đáng kể (đã gần 70 năm trôi qua), đã trải qua sự vận động và phát triển của nền văn học dân tộc qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, và qua đó giá trị của những sáng tác của Nguyên Hồng ngày càng được trân trọng Hiện nay, Nguyên Hồng và những tác phẩm tiêu biểu của ông vẫn tiếp tục được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông và đại học; vấn đề Nguyên Hồng vẫn được đưa ra thảo luận trong các Hội thảo khoa học; sự nghiệp sáng tác của nhà văn vẫn tiếp tục được giới nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm Điều

đó chứng tỏ rằng, tác phẩm của Nguyên Hồng mang nhiều giá trị, nó là văn chương của mọi thời vì nó đã động chạm đến vấn đề cốt lõi nhất của con người -

đó là quyền sống, quyền tự do, quyền được hạnh phúc của con người nói chung, nhất là những con người lao động nghèo khổ, những con người nhỏ bé, yếu đuối nhất trong xã hội Tác phẩm của Nguyên Hồng “sống” được với thời gian bởi nó xuất phát từ tấm lòng thương yêu, trân trọng con người của một nhà văn có tấm

lòng nhân đạo thiết tha, một chủ nghĩa nhân đạo thống thiết đối với con người lao

động cần lao, đau khổ

Như vậy, khảo sát khoảng trên 50 công trình, bài viết nghiên cứu về Nguyên Hồng ở các mức độ khác nhau cùng hàng chục luận án, luận văn nghiên cứu về sáng tác của Nguyên Hồng, chúng tôi nhận thấy: đã có những ý kiến,

những nhận xét về Thế giới nghệ thuật của nhà văn nhưng nhìn chung mới chỉ

dừng lại ở mức độ là những nhận xét chung, hoặc đi sâu vào một số phương diện

của Thế giới nghệ thuật như: Lời văn nghệ thuật của Nguyên Hồng, Thế giới

nhân vật trong truyện ngắn của Nguyên Hồng… Cho tới nay, thực sự chưa có

một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về toàn bộ Thế giới nghệ thuật của

Nguyên Hồng (kể cả những sáng tác thuộc giai đoạn trước và sau năm 1945)

Chính vì thế, khi thực hiện đề tài này, chúng tôi đã được thừa hưởng rất nhiều ý kiến đánh giá, nhận xét quý báu của những nhà nghiên cứu đi trước về con người và sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng, trong đó có những khía cạnh trong

thế giới nghệ thuật của ông - như đã nêu trên Với đề tài này, chúng tôi sẽ tiến

hành khảo sát toàn bộ sáng tác của Nguyên Hồng, cố gắng nghiên cứu một cách hệ

thống và khá toàn diện về Thế giới nghệ thuật của nhà văn giai đoạn trước 1945

Và để tránh trùng lặp với những công trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi đi sâu

Trang 36

tìm hiểu một số phương diện cơ bản trong Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng như: Thế giới nhân vật và một số đặc điểm về nghệ thuật xây dựng nhân vật; đặc

điểm về không gian, thời gian nghệ thuật; ngôn ngữ nghệ thuật… trong các sáng

tác của ông giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhằm khẳng định những sáng tạo, những đóng góp đặc sắc của tác giả ở những phương diện trên qua

Thế giới nghệ thuật của nhà văn Từ đó chỉ ra một số đặc điểm nổi bật trong Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng, khẳng định sự đóng góp có giá trị nhiều mặt

của nhà văn đối với khuynh hướng văn học hiện thực phê phán nói riêng và quá trình vận động và phát triển của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung - đặc biệt là ở giai đoạn trước năm 1945

Trang 37

Chương 2 KHÁI NIỆM THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ NHỮNG CƠ SỞ

HÌNH THÀNH NÊN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYÊN HỒNG

2.1 Giới thuyết chung về Thế giới nghệ thuật

Khái niệm "Thế giới nghệ thuật": Như chúng ta đã biết, quan niệm về

“Thế giới nghệ thuật” trong sáng tác của nhà văn hiện có khá nhiều những quan

niệm khác nhau Ví dụ như quan niệm: Thế giới nghệ thuật “Là chỉnh thể của

hình thức văn học” [140, tr 29] Việc dùng “thế giới” để chỉ tác phẩm văn học

có cơ sở khoa học bởi “Thế giới” là khái niệm có ý nghĩa sau: 1/Chỉ sự thống

nhất vật chất của các biểu hiện đa dạng; 2/ Có tính vô cùng vô tận về không gian thời gian 3/ Phạm vi tác động tột cùng của các quy luật chung, chứng tỏ

có một trật tự thống nhất cho toàn bộ 4/ Có tính tự đầy đủ về các quy luật nội tại; 5/ Là một kiểu tồn tại thực tại [140, tr 29] Với khái niệm này, người ta

thường nói tới thế giới vĩ mô, thế giới vi mô, thế giới động vật, thế giới thực vật

theo ý nghĩa trên Nhà phê bình văn học người Nga V Biêlinxki nhận xét:“Mọi

sản phẩm nghệ thuật đều là thế giới riêng, mà khi đi vào nó, ta buộc phải sống theo các quy luật của nó, hít thở không khí của nó”; nhà văn Sêđơrin cũng nói: Tác phẩm văn học là vũ trụ thu nhỏ, mỗi sản phẩm nghệ thuật là một thế giới

khép kín trong bản thân nó” (dẫn theo Trần Đình Sử, 140; tr 29) Theo tác giả

cuốn Dẫn luận thi pháp học, thì: “Thế giới nghệ thuật là một sản phẩm sáng

tạo của con người Về mặt tâm lý học nó phục tùng quy luật sau: con người sống trong thế giới khách thể bốn chiều (ba chiều không gian và một chiều thời gian), nó phải thích nghi với ba chiều không gian và sự biến đổi của thời gian Mọi cảm xúc, tri giác đều gắn với thế giới đó, không thể miêu tả sự sống mà

không miêu tả thế giới của con người” [140, tr 30] Các tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm: Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh

thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian

Trang 38

thang bậc giá trị riêng” [52, tr 251] Qua Thế giới nghệ thuật, người đọc thấy

được tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của từng tác giả, tức là thấy được cá tính

sáng tạo của người nghệ sĩ:“Khái niệm thế giới nghệ thuật giúp hình dung tính

độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan, văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của người

nghệ sĩ” [52, tr 252] Thế giới nghệ thuật còn “là sản phẩm sáng tạo mang tính

cảm tính, có thể cảm thấy được của nghệ sĩ, một kiểu tồn tại đặc thù, vừa trong chất liệu, vừa trong cảm nhận của người thưởng thức, là sự thống nhất của mọi

yếu tố đa dạng trong tác phẩm” [140, tr 30]

Từ những quan niệm trên, cho phép ta hiểu Thế giới nghệ thuật chính là

sự thống nhất của các yếu tố: Đề tài, chủ đề, nhân vật, thời gian và không gian nghệ thuật, ngôn từ và giọng điệu trong một tác phẩm văn học, tất cả những

yếu tố này tạo nên một Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn

Và cũng từ những quan niệm về Thế giới nghệ thuật như trên, chúng tôi

nhận thấy rằng, khái niệm có tính khái quát hơn cả là khái niệm của các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học Và đây sẽ là cơ sở lý thuyết, lý luận để chúng tôi vận

dụng trong quá trình nghiên cứu Thế giới nghệ thuật của nhà văn Nguyên Hồng

Trong các yếu tố tạo nên Thế giới nghệ thuật của nhà văn, chúng tôi chú

ý đến những yếu tố cơ bản sau:

Đề tài: là một yếu tố nghệ thuật của tác phẩm văn học, là khái niệm “chỉ

loại các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm” [52, tr 96]

Có nhiều loại đề tài như: đề tài thiên nhiên, đề tài loài vật, đề tài sản xuất, đề tài chiến đấu, đề tài nông thôn, đề tài thành thị, đề tài công nhân, đề tài nông dân,

đề tài về cuộc sống cá nhân Các nhà văn thường chọn đề tài phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ, sáng tạo của mình Ví dụ như, trước Cách mạng tháng Tám năm

1945, các nhà văn lãng mạn thường chọn viết về loại đề tài tâm lý xã hội, những truyện tình cảm để phản đối sự khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, đấu tranh

Trang 39

cho quyền tự do yêu đương, quyền sống của con người; còn các nhà văn cách mạng hay chọn những đề tài về đấu tranh giai cấp nhằm thức tỉnh mọi người đấu tranh để thay đổi xã hội, đấu tranh vì quyền sống, quyền độc lập tự do của đất nước, con người Các nhà văn hiện thực thường chọn đề tài về cuộc sống của người lao động nghèo khổ trong xã hội thực dân phong kiến (những người nông dân, công nhân, dân nghèo thành thị ) để phê phán xã hội đương thời

Nếu yếu tố "Đề tài" giúp ta xác định: Tác phẩm viết về cái gì? thì khái

niệm Chủ đề lại giải đáp câu hỏi: Vấn đề cơ bản của tác phẩm là gì? Bởi “Chủ

đề và tư tưởng là hạt nhân cơ bản của nội dung tác phẩm… Chủ đề bao giờ cũng được hình thành và được thể hiện trên cơ sở đề tài” [52, tr 53] Chủ đề

thường gặp trong các sáng tác của những nhà văn hiện thực trước Cách mạng tháng Tám nói chung đều tập trung phản ánh về cuộc sống cơ cực, đói khát, bế tắc của người dân lao động nghèo khổ trong xã hội thực dân phong kiến Chủ đề

mà các nhà văn phản ánh trong tác phẩm thể hiện chiều sâu tư tưởng, khả năng nắm bắt nhạy bén của các tác giả đối với những vấn đề hiện thực của cuộc sống

Từ những đề tài cụ thể như: viết về người công nhân, viết về người nông dân, viết về cuộc sống của những người lao động nghèo khổ các nhà văn hiện thực phê phán đã thể hiện được những chủ đề mang ý nghĩa khái quát to lớn, sâu sắc:

“Cùng với tư tưởng, chủ đề tạo ra tầm vóc của tác phẩm Trong nghiên cứu văn học hiện đại, chủ đề được xem là phạm vi quan tâm chủ quan của nhà văn đối với thế giới, là hằng số tâm lý của nhà văn, gắn với quan niệm thế giới của anh ta” [52, tr 54]

Khi nói đến Thế giới nghệ thuật của nhà văn không thể không kể đến yếu

tố nhân vật Nhân vật chính là cốt lõi của tác phẩm văn học, là linh hồn của tác

phẩm, là một yếu tố quan trọng làm nên tác phẩm Nhân vật thể hiện “Quan

niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người” [52, tr 203],

“Thể hiện những hiểu biết, những ước ao, những kỳ vọng của con người” [45, tr 64]

qua sáng tác của nhà văn Và như vậy, ta hiểu con người luôn là đối tượng khám phá đầy phong phú, phức tạp và bí ẩn của văn chương nghệ thuật Việc

Trang 40

miêu tả con người với tất cả hình thức, hành vi, tính cách và những trạng thái tinh thần như vậy chính là công việc xây dựng nhân vật của nhà văn Vậy, nhân vật trong tác phẩm văn học nói chung được quan niệm như thế nào?

Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học, năm 1992, thì “Nhân vật

là đối tượng (thường là con người) được miêu tả thể hiện trong tác phẩm nghệ

thuật” [149, tr 916] Còn theo các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì

nhân vật văn học được hiểu là: “Con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm

văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng ( ) cũng có thể không có tên riêng

( ) Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ

một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm” [52, tr 202] “Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống ” [52, tr 203]

Trong truyện ngắn, truyện dài hay trong văn xuôi nghệ thuật nói chung, nhân vật có vai trò không thể phủ nhận Văn học không thể thiếu nhân vật bởi đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Chẳng hạn các nhà văn hiện thực trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 chỉ có thể tái hiện đời sống xã hội thông qua những nhân vật, để khái quát lên thành ý

đồ nghệ thuật của mình Qua những nhân vật Chị Dậu (Tắt đèn của Ngô Tất Tố), Chí Phèo, Bá Kiến (Chí Phèo của Nam Cao), Tám Bính (Bỉ vỏ của Nguyên Hồng), Xuân tóc đỏ (Số đỏ của Vũ Trọng Phụng), Kép Tư Bền (Kép Tư Bền

của Nguyễn Công Hoan)… ta thấy rõ được ý đồ nghệ thuật của nhà văn là: phản ánh hiện thực đen tối dưới chế độ thực dân phong kiến, phản ánh nỗi thống khổ của nhân dân lao động trong xã hội ấy, đồng thời cũng góp thêm tiếng nói phê phán mang tính phủ nhận xã hội và đòi quyền sống cho con người - nhất là những người lao động nghèo khổ

Như vậy, nhân vật văn học có một vai trò rất quan trọng trong tác phẩm

văn chương: “Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng

thẩm mỹ của nhà văn về con người Vì thế, nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề tác phẩm” [52, tr 203] Điều đó cũng có ý nghĩa là: với chủ đề cụ thể, thể hiện

Ngày đăng: 21/11/2016, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (2001), “Nhà văn của tình thương”, Chân dung Văn học, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn của tình thương”, "Chân dung Văn học
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2001
2. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - nhận thức và thẩm định, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
3. Vũ Tuấn Anh, Lê Dục Tú (tuyển chọn và giới thiệu) (2006), Thạch Lam về tác gia tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam về tác gia tác phẩm
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Lê Dục Tú (tuyển chọn và giới thiệu)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
4. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
5. Baktin M. (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Baktin M
Năm: 1992
6. Bakhtin M. (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: Bakhtin M
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
7. Lê Bảo, Hà Minh Đức, Đỗ Kim Hồi (2002), Giảng văn Văn học Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn Văn học Việt Nam
Tác giả: Lê Bảo, Hà Minh Đức, Đỗ Kim Hồi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
8. Nam Cao (2002), Tuyển tập, (Hà Minh Đức tuyển soạn, giới thiệu), NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
9. Xuân Cang (1997), “Nguyên Hồng trong lớp người viết trẻ”, Nguyên Hồng thân thế và sự nghiệp, NXB Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên Hồng trong lớp người viết trẻ”," Nguyên Hồng thân thế và sự nghiệp
Tác giả: Xuân Cang
Nhà XB: NXB Hải Phòng
Năm: 1997
10. Huy Cận (2001), “Một kỷ niệm về Nguyên Hồng”, Nguyên Hồng, về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 245 - 247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một kỷ niệm về Nguyên Hồng”, "Nguyên Hồng, về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
11. Phạm Vĩnh Cư (Chủ biên), Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyên Ngọc, Vũ Đình Phòng, Nguyễn Văn Vỹ (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (dịch), NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Phạm Vĩnh Cư (Chủ biên), Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyên Ngọc, Vũ Đình Phòng, Nguyễn Văn Vỹ
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002
12. Nguyễn Minh Châu (1994), Trang giấy trước đèn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1994
13. Nguyễn Minh Châu (2001), “Vô cùng thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng”, Nguyên Hồng về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 377 - 383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vô cùng thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng”, "Nguyên Hồng về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
15. Phạm Bá Chi (1982), Điếu văn - Đọc trong lễ tưởng niệm nhà văn Nguyên Hồng ngày 05/5/1982 tại Hội Văn học Nghệ thuật Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điếu văn
Tác giả: Phạm Bá Chi
Năm: 1982
16. Trường Chinh (1974), Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1974
17. Trương Chính (1939), Dưới mắt tôi, NXB Thụy Ký, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới mắt tôi
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: NXB Thụy Ký
Năm: 1939
18. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học - Lý luận và ứng dụng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học - Lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
19. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
20. Đào Đức Doãn (1992), “Cảm quan tôn giáo trong sáng tác của Nguyên Hồng”, Nguyên Hồng, cát bụi và ánh sáng, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm quan tôn giáo trong sáng tác của Nguyên Hồng”", Nguyên Hồng, cát bụi và ánh sáng
Tác giả: Đào Đức Doãn
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 1992
21. Đỗ Đức Dục (1981), Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1981

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w