1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chức năng của quản trị

10 317 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 524,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÍNH KHOA HỌC VÀ TÍNH NGHỆ THUẬT CỦA QUẢN TRỊ TÍNH KHOA HỌC CỦA QUẢN TRỊ Khoa học quản trị cung cấp cho nhà quản trị tư duy hệ thống trước các vấn đề phát sinh, các phương pháp khoa học,

Trang 1

BÀI 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ

QUẢN TRỊ HỌC

“Great things in business are never done by one person, they’re done by a team of people.”

‘Những điều tuyệt vời trong kinh doanh không bao giờ được thực hiện bởi một người,

chúng đến từ cả một tập thể.’

- STEVE JOBS

Trang 2

-Câu 1: Khoa học quản trị và nghệ thuật quản trị, loại nào cần cho nhà quản trị hơn?

Trước khi tìm hiểu về khoa học và nghệ thuật của quản trị trước hết chúng ta cần phải biết khái niệm quản trị:

- Quản trị là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác đề đạt được những kết quả mà một người hoạt động riêng lẽ sẽ không thể nào đạt được

- Quản trị là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những kết quả cao nhất với mục tiêu đã định trước

- James Stoner và Stephen Robbín: Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ

chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức

và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã

đề ra

- Mary Parker Follett cho rằng "Quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác"

- Nếu xét riêng từng từ một thì ta có thể giải thích như sau:

Quản: là đưa đối tượng vào khuôn mẫu quy định sẵn.

Trị: là dùng quyền lực buộc đối tượng phải làm theo khuôn mẫu đã định Nếu đối

tượng không thực hiện đúng thì sẽ áp dụng một hình phạt nào đó đủ mạnh, đủ sức thuyết phục để buộc đối tượng phải thi hành nhằm đạt được mục tiêu

Từ khái niệm trên, chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét:

- Phương thức quản trị: là quá trình hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm

soát mà nhà quản trị sử dụng nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức

- Con người: hoạt động quản trị chỉ xảy ra khi:

o Có một số người kết hợp với nhau thành một tổ chức

o Do tính cần thiết của hoạt động quản trị

- Tổ chức: là một thực thể có mục đích riêng, có những thành viên và có một

cơ cấu có tính hệ thống; gồm ba đặc tính chung:

o Tổ chức phải có mục đích

o Tổ chức phải gồm nhiều thành viên

o Tổ chức phải có một cơ cấu mang tính hệ thống, có sự sắp xếp phân công lao động, quy định quyền hạn và trách nhiệm cụ thể

- Hiệu quả quản trị: hiệu quả là tỉ lệ so sánh giữa kết quả đạt được với mục

tiêu đặt ra Lý do tồn tại của hoạt động quản trị là vì muốn có hiệu quả

TRANG 2

Trang 3

Hoạt động quản trị trong đơn vị kinh doanh và đơn vị hành chính có những khác biệt nhật định về mục tiêu Đối với các đơn vị kinh doanh, thường lợi nhuận được dùng để đo lường thành quả Còn đối với các đơn vị hành chính, các tổ chức phi lợi nhuận thì thành quả hoạt động thường được xem xét tùy theo mục tiêu, sứ mệnh của đơn vị đó

TÍNH KHOA HỌC VÀ TÍNH NGHỆ THUẬT CỦA QUẢN TRỊ

TÍNH KHOA HỌC CỦA QUẢN TRỊ

Khoa học quản trị cung cấp cho nhà quản trị tư duy hệ thống trước các vấn đề phát sinh, các phương pháp khoa học, các công cụ để giải quyết vấn đề… tính khoa học của quản trị thể hiện ở các yêu cầu sau:

- Quản trị phải đảm bảo phù hơp với sự vận động của các quy luật khách quan, hiểu rõ và áp dụng tốt nhất các thành tựu khoa học cùng kinh nghiệm thực tế vào thực hành quản trị

- Quản trị cần sử dụng kỹ thuật thiết lập chiến lược, kỹ thuật, thiết kế cơ cấu tổ chức, kỹ thuật kiểm tra…

- Quản trị phải đảm bảo phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi tổ chức trong từng giai đoạn cụ thể

Những tác phẩm xuất sắc như “Principles and Methods of Scientific Management” của Fredrich W.Taylor (Mỹ) hay “Industrial and General Administration” của Henry Fayol (Pháp) là một bước phát triển quan trọng của khoa học quản trị hiện đại Ngày nay khoa học quản trị đã phát triển mạnh mẽ và trở thành một môn khoa học độc lập Trong quá trình phát triển của mình, quản trị học đã kết hợp với nhiều môn khoa học khác, sử dụng những luận điểm và những thành tựu của chúng để giải quyết nhiều vấn đề của lý luận và thực tiễn quản trị

Như vậy, khoa học quản trị cho ta hiểu biết về các nguyên tắc, quy luật, phương pháp, kỹ thuật quản trị để trên cơ sở đó biết cách giải quyết các vấn đề quản trị Tuy nhiên, việc vận dụng khoa học quản trị vào thực tiễn đòi hỏi phải tính đến một số yếu tố khác trong từng hoàn cảnh cụ thể, hay quản trị còn đòi hỏi tính nghệ thuật

TÍNH NGHỆ THUẬT CỦA QUẢN TRỊ

Một nhà quản trị nổi tiếng đã nói rằng: “Một vị tướng tài thì không cần biết kỹ thuật điều khiển tên lửa như thế nào, kỹ thuật lái máy bay ra sao và làm thế nào để xe tăng vượt qua được chướng ngại vật, nhưng phải biết khi nào thì dùng pháo và loại pháo cỡ nào

sẽ mang lại hiệu quả mong muốn Khi nào thì dùng máy bay, khi nào dùng xe tăng Sự phối hợp của chúng như thế nào và có thể mang lại những hiệu quả gì? Phải làm gì để có thể sử dụng tốt nhất các loại vũ khí đó? Người làm tướng phải nắm chắc những kiến thức loại này và phải luôn sáng tạo Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh cũng vậy”

TRANG 3

Trang 4

Như vậy, nghệ thuật quản trị chính là những kỹ năng, bí quyết, “mưu mẹo’ và

‘biết làm thế nào’ để đạt được mục tiêu mong muốn với hiệu quả cao Nghệ thuật quản trị luôn gắn với các tình huống cụ thể và được biểu hiện trong một số lĩnh vực như:

- Nghệ thuật sử dụng người: nhà quản trị phải am hiểu đặc điểm của từng người; biết sử dụng họ vào việc gì, ở đâu là phù hợp nhất để phát huy hết khả năng của mình, cống hiến nhiểu nhất cho tập thể

- Nghệ thuật giáo dục con người: về việc với ai, nên áp dụng hình thức khen, chê, kỷ luật,…ở mức độ nào, tiến hành ở đâu, khi nào đều là những vần đề mang tính nghệ thuật

- Nghệ thuật ứng xử: sự lực chọn lời nói, cách nói và thái độ phù hợp với người nghe là nghệ thuật ứng xử trong giao tiếp

- Nghệ thuật bán hàng: ‘Nghệ thuật bán tức là nghệ thuật làm cho người mua tin chắc rằng họ có lợi khi họ mua’ – Sheldon (Trích ‘Lời vàng cho các doanh nghiệp’- Nhà xuất bản trẻ 1994)

Nghệ thuật quản trị còn biểu hiện ở nghệ thuật tạo thời cơ, nghệ thuật sử dụng đòn bẩy trong quản lý, nghệ thuật ra quyết định…

TÓM LẠI: Muốn quản trị có hiểu quả cao, nhà quản trị trước hết phải sử dụng các thành tựu của khoa học quản trị và vận dụng chúng một cách nghệ thuật trong thực tiễn.

Để chứng minh cho việc cả khoa học và nghệ thuật quản trị đều hết sức cần thiết cho nhà quản trị ta hãy cùng nói về công ty Google Để trở thành một doanh nghiệp khổng lồ với hơn 50.000 nhân viên họ đã áp dụng khoa học và nghệ thuật quản trị như thế nào?

Tự do đưa ra ý tưởng

Google Cafe là nơi nhân viên được khuyến khích gặp gỡ, trao đổi chuyện trò và chia sẻ quan điểm của mình về công việc cũng như cuộc sống Không như một số doanh nghiệp khác, Google không coi việc nhân viên uống cà phê tán dóc là một việc làm gây lãng phí và giảm hiệu suất lao động Ngược lại, họ coi việc nhân viên có thể chia sẻ với nhau là một điểm quan trọng nếu không nói là mấu chốt trong hoạch định

Ở Google, tất cả nhân viên đều có thể gửi mail cho ban quản trị Một cuộc họp được

TRANG 4

Trang 5

tổ chức vào thứ Sáu hằng tuần mang tên Ơn Chúa, Thứ Sáu rồi (TGIF - Thank God It’s Friday) là một trong những sự kiện được mong chờ nhất Trong cuộc họp này, người đứng đầu hệ thống sẽ trao đổi với tất cả nhân viên về các vấn đề xảy ra trong tuần tại Công ty và tất nhiên nhân viên được khuyến khích trao đổi ý kiến về bất cứ vấn đề gì họ quan tâm

Tập trung vào nhân viên thay vì lãnh đạo

Tại Google, người ta cũng tích cực phát triển các công cụ như Moderator, quản lý các cuộc họp hay trao đổi công nghệ Thông qua Moderator, một nhân viên bất kỳ có thể đưa ra câu hỏi trước khi tổ chức một sự kiện nào đó và bỏ phiếu chọn câu hỏi mà theo họ

là thú vị và sắc sảo nhất Như vậy khi sự kiện diễn ra, nội dung của nó đã được đóng góp

và xây dựng bởi mọi người Moderator là một phần của dự án 20%, trong đó kỹ sư của Google được phép dành 20% thời gian làm việc của mình để tham gia vào các dự án họ thấy thú vị Đây chính là mấu chốt phát triển sản phẩm, dịch vụ mới một cách thành công:

ai cũng muốn làm và sẵn lòng làm việc chăm chỉ vì điều mà họ ham thích Thực tế đã chứng minh ý tưởng này là một thành công lớn, khi các dự án hàng đầu của Google như Gmail, Google Earth hay Orkut chính là thành quả sáng tạo của dự án 20%

Ở cấp cao hơn, như cấp độ nhóm, Google tổ chức một hoạt động gọi là“hackathons” Hoạt động này kéo dài 24 giờ liên tục và chỉ tập trung vào một vấn đề mà cả nhóm quan tâm

Google thường xuyên phỏng vấn nhân viên quản lý và dựa trên các thông tin này để đánh giá năng lực của họ Nhà quản lý tốt nhất sẽ trở thành hình mẫu cho các nhà quản lý khác và đồng thời là người dạy kỹ năng quản lý trong năm tiếp theo Các nhà quản lý nhận được nhiều phàn nàn nhất sẽ phải tham gia các khóa huấn luyện tăng cường năng lực và 75% số này được nhân viên đánh giá có tiến bộ hơn 80% nhà lãnh đạo “dở” cũng cho thấy tiến bộ rõ rệt khi tham gia dự án khác Thay vì tập trung vào nhà lãnh đạo, Google tập trung vào nhân viên và việc thay đổi cục diện này giúp nhân viên tự tin làm tốt hơn công việc của mình

Công ty của nhân viên

Bock cho biết trong cuộc điều tra ở quy mô toàn công ty mang tên Googlegeist, nhân viên được trưng cầu ý kiến trên hàng trăm vấn đề Sau đó Công ty tuyển một đội ngũ tình nguyện viên để tham gia giải quyết các vấn đề nan giải nhất

“Tôi cho rằng văn hóa công ty chính là cái nhìn sâu sắc về tình trạng của con người (tại nơi làm việc) Mọi người tìm kiếm ý nghĩa trong công việc của họ Họ cũng muốn biết những gì đang xảy ra quanh mình Họ muốn tham gia thay đổi môi trường đó”, Bock nhận xét

TRANG 5

Trang 6

Làm sao để biết nhân viên được tự do sáng tạo và tư duy, nhưng họ tập trung vào mục tiêu lớn của mình và của Google, chứ không lãng phí thời gian và la cà ngoài công việc? Để trả lời câu hỏi này, Google cho biết họ không quản lý nhân viên theo thời gian

mà theo chất lượng đầu ra của công việc Mỗi nhân viên tự ý thức họ có mục tiêu gì trong công việc và làm gì để đạt mục tiêu này Mỗi quý, Google đánh giá xem Hãng đạt mục tiêu quý chưa và các thành viên công ty cũng vậy Ngoài ra, không thể bỏ qua chi tiết: Google là một điểm hội tụ của nhân tài, nơi những người thông minh nhất, giỏi giang nhất nộp đơn, không phải chỉ để làm việc mà còn để được tự do sáng tạo và được ghi nhận

Câu 2: Cho biết sự khác biệt giữa việc quản trị ở một doanh nghiệp và một tổ chức phi lợi nhuận?

Sự khác biệt của quản trị trong tổ chức phi lợi nhuận so với doanh nghiệp được chủ yếu ở những nội dung sau: mục tiêu, nội dung, phương pháp kỹ thuật.Chúng ta sẽ đi từng nội dung để phân tích sự khác biệt này

1. Mục tiêu

- Giống: Kiểm soát việc sử dụng nguồn lực kinh tế của tổ chức nhằm đạt chiến lược

và mục tiêu của tổ chức

- Khác:

Tổ chức phi lợi nhuận Doanh nghiệp

Cung cấp càng nhiều hàng hóa và

dịch vụ đến cộng đồng một cách hiệu quả

nhất mang lại giá trị cho cộng đồng hoặc

hoạt động vì mục đích phi lợi nhuận

Ví dụ: Hội chữ thập đỏ (Red Cross)

Việt nam: Hội Chữ thập đỏ Việt Nam hoạt

động trong lĩnh vực nhân đạo, tham gia

thực hiện hoặc phối hợp với tổ chức, cá

nhân thực hiện hoạt động Chữ thập đỏ

Mục đích cao cả của Hội là nhân đạo, hòa

bình, hữu nghị, góp phần xây dựng đất

nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã

hội dân chủ, công bằng, văn minh

Tối đa hóa lợi nhuận và giá trị của doanh nghiệp

Ví dụ: Apple phá vỡ những kỷ lục

doanh thu mỗi khi có một phiên bản iPhone mới ra mắt

2. Nội dung

Nội dung của quản trị được tiếp cận theo chức năng quản trị gắn liền với việc xác lập, cung cấp thông tin thực hiện các chức năng quản trị như thông tin định hướng; thông tin tổ chức thực hiện; thông tin kiểm tra, đánh giá; thông tin ra quyết định Do đó, để có

TRANG 6

Trang 7

thể phân tích và chứng minh sự khác biệt giữa nội dung quản trị của doanh nghiệp với tổ chức phi lợi nhuận, chúng ta sẽ tập trung làm rõ các chức năng này

2.1. Chức năng cung cấp thông tin định hướng:

Lập dự toán ngân sách sản xuất và kinh doanh:

- Đối với doanh nghiệp:

Việc lập dự toán sản xuất được lập ra dựa trên mục tiêu thông tin mà nhà quả trị muốn sử dụng Họ có thể lập dự toán dựa trên hệ thống chỉ tiêu như sau:

Hệ thống chỉ tiêu dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh được xây dựng riêng cho từng quá trình, như: Quá trình mua hàng, quá trình sản xuất, quá trình tiêu thụ sản phẩm của hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và chi tiết cho từng nội dung: vốn bằng tiền; hàng tồn kho; từng loại chi phínghiệp vụ kinh doanh: chi phí bán hàng; chi phí quản lý doanh nghiệp; từng loại báo cáo tổng hợp: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,…

Tất cả đều được lập ra để có thể dự đoán cho mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận mà các kế hoạch kinh doanh của công ty được đặt ra và để phục vụ cho mục tiêu ra quyết định của nhà quản trị

- Đối với các tổ chức phi lợi nhuận:

Họ cũng lập các dự toán hoạt động, nhưng việc lập dự toán được lập ra để xem xét trước khả năng hoạt động của dự án, từ đó dự trù nguồn ngân sách cũng như cách thức quản lý hoạt động dự án để đảm bảo mục tiêu mà dự án mang lại Do đó, trong tổ chức phi lợi nhuận thì việc lập dự toán ngân sách hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm, hàng tháng theo từng dự án, từng hoạt động và đánh giá trách nhiệm quản lý ở từng cấp bậc quản trị là hết sức cần thiết

2.1. Chức năng cung cấp thông tin tổ chức thực hiện:

Về quản trị chi phí:

- Đối với doanh nghiệp:

Doanh nghiệp căn cứ vào đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý để tổ chức tập hợp chi phí theo từng trung tâm phát sinh chi phí, như: Tổ, đội, phân xưởng hoặc cho từng công việc, từng sản phẩm, từng công đoạn sản xuất hoặc cho cả quá trình sản xuất

và xác định các loại chi phí của doanh nghiệp Từ đó phân loại, đánh giá, kiểm soát chi phí theo từng trung tâm phát sinh chi phí

- Đối với tổ chức phi lợi nhuận:

Cũng giống như doanh nghiệp, quản trị chi phí là một nội dung của kế toán quản trị

mà tổ chức phi lợi nhuận đặc biệt quan tâm vì mục tiêu của các tổ chức này là đảm bảo hoàn thành được mục đích đặt ra với chi phí tối thiểu Do đó, quản trị chi phí trong tổ chức phi lợi nhuận phải gắn liền với việc phân loại, đánh giá, kiểm soát chi phí theo từng

TRANG 7

Trang 8

trung tâm phát sinh chi phí hoặc theo từng quá trình hoạt động, phạm vi chuyên môn, cấp bậc quản trị…

Về quản trị giá thành sản phẩm:

- Đối với doanh nghiệp:

Doanh nghiệp sẽ căn cứ vào đối tượng tính giá thành và cách thức tổ chức, quản lý chi phí mà xác định phương pháp tính giá thành phù hợp với mục tiêu mà doanh nghiệp muốn hướng đến Mục tiêu đó có thể là để phục vụ cho việc ra quyết định về giá bán, phân tích chi phí sản xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất tại doanh nghiệp

- Đối với tổ chức phi lợi nhuân:

Thông thường, các tổ chức này không hoặt ít quan tâm đến việc quản trị về giá thành (nếu có).Bởi mục tiêu họ đặt ra là hướng đến mục đích hoạt động chính của tổ chức – hướng đến cộng đồng và xã hội

Định giá bán:

- Đối với Doanh nghiệp: Doanh nghiệp sẽ dựa trên nguyên tắc: giá bán bù đắp được chi phí và đạt được lợi nhuận mong muốn

- Đối với tổ chức phi lợi nhuận: Giá bán (nếu có) thường được quy định theo chuẩn chung do nhà nước ban hành Ví dụ như: học phí của trường học, viện phí tại các bệnh viện công,…

2.2. Chức năng cung cấp thông tin kiểm tra, đánh giá:

Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận:

- Đối với doanh nghiệp: Đây và việc làm rất quan trọng để doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh doanh của công ty nhằm tối đa hóa lợi nhuận

Doanh nghiệp thường dựa trên các tiêu chí, chỉ tiêu phân tích bao gồm:

o Lãi tính trên biến phí đơn vị (còn gọi là số dư đảm phí);

o Tổng lãi tính trên biến phí;

o Tỷ suất lãi tính trên biến phí;

o Kết cấu chi phí; Đòn bẩy kinh tế;

o Điểm hoà vốn (sản lượng, doanh thu, công suất, thời gian hoà vốn,…);

- Đối với các tổ chức phi lợi nhuận:Thông thường không phân tích mối quan

hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận, bởi mục tiêu của các tổ chức này không phải là tối đa hóa lợi nhuận như các doanh nghiệp thông thường Nếu có quan tâm đến vấn đề này, có thể chỉ dừng lại ở việc: cân đối hoặc so sánh giữa chi phí bỏ ra với lợi ích thu được

để xem xét việc hoạt động đang có hiệu quả hay không?

TRANG 8

Trang 9

Ví dụ: Trường học có thể sẽ xem xét giữa chi phí mở rộng căn tin để có thể cung cấp nhiều hơn các dịch vụ cho học sinh và giáo viên trong trường để hoạt động dạy và học đạt hiệu quả tốt hơn với hiệu quả mà nó mang lại: nguồn thu cho nhà trường tăng thêm và chất lượng dạy và học được cải thiện

2.3. Chức năng cung cấp thông tin ra quyết định

Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định:

- Đối với doanh nghiệp:

Doanh nghiệp luôn phải đối mặt với việc đưa ra các quyết định ngắn hạn – dài hạn trong quá trình hoạt động Với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận nên doanh nghiệp luôn phải cân nhắc giữa chi phí bỏ ra với lợi nhuận thu được Dựa trên các cách thức quản lý và thu thập thông tin, các doanh nghiệp sẽ sử dụng để đưa ra quyết định Đó có thể là: quyết định xem xét có đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất hay không? Nên vay hay huy động vốn từ cổ đông, nên mua sắm hay thuê tài sản…

- Đối với tổ chức phi lợi nhuận:

Như đã nói, họ quan tâm đến mục tiêu chính là các hoạt động và xứ mệnh vì cộng đồng và xã hội Do đó, họ có cách thức lựa chọn và cách thức thu thập thông tin để đưa ra quyết định khác với các doanh nghiệp thông thường Họ có thể thu thập thông tin: chi phí

bỏ ra có quá lớn so với lợi ích thu được hay không? Chi phí bỏ ra cho dự án đó có mang lại hiệu quả cho cộng đồng hay không?, …

3 Phương pháp kỹ thuật:

Trong các tổ chức phi lợi nhuận, việc kiếm lợi nhuận có sự hạn chế ứng dụng Trong hầu hết những hoạt động phi lợi nhuận, nhấn mạnh vào việc quản lý được đặt vào mức độ của dịch vụ cung cấp cho người bảo trợ Nếu những chi phí không được bù đắp thì dịch vụ vẫn được cung cấp bằng bất cứ cách nào và được tài trợ từ những nguồn khác Do đó kỹ thuật phân tích lợi nhuận có thể không được áp dụng trong các tổ chức phi lợi nhuận nếu không có sửa đổi

Trong các tổ chức phi lợi nhuận, mục tiêu không phải đàm bảo rằng doanh thu vượt qua chi phí trong bất kỳ trường hợp nào Một hoạt động phi lợi nhuận có thể tạo ra dòng tiền đi ra luôn luôn vượt qua dòng tiền doanh thu đi vào, chằng hạn như sở thú, công viên Mục tiêu lợi nhuận không phải là mục tiêu tối thượng trong các tổ chức phi lợi nhuận, Nhiều dịch vụ cung cấp mà không cần bù đắp lại chi phí Do đó trong những phân tích quản trị trong các tồ chức philợi nhuận, doanh thu thường không có liên quan như trong các doanh nghiệp

Hơn nữa, nguồn tiền hỗ trợ cung cấp cho các tổ chức phi lợi nhuận không phải lúc nào cũng có liên quan trực tiếp đến dịch vụ được cung cấp, vì những nhà tài trợ không phải bị tính phí cho những dịch vụ này Mối quan hệ này trái ngược với các tổ chức kinh doanh nơi mà sản phẩm bán và doanh thu nhận được gắn chung với nhau Những phương pháp phân tích áp dụng trong các tổ chức kinh doanh liên quan đến doanh thu và chi phí

TRANG 9

Trang 10

tương ứng tạo ra doanh thu Việc do lường sự thành công của một tổ chức phi lợi nhuận không phải được ghi nhận bởi việc lợi nhuận kiếm được cao nhất, mà được đo lường bởi chất lượng của dịch vụ cung cấp với chi phí kinh tế

Phương pháp đo lường sự thành công này đã chỉ ra việc ra quyết định trong các tổ chức phi lợi nhuận khác với các tổ chức kinh doanh Ví dụ việc ra quyết định liên quan đến chi phí khấu hao, trong các tổ chức kinh doanh việc ra quyết định liên quan đến thời gian phẩn bổ chi phí khấu hao là quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chi phí được trừ khi xác định thuế thu nhập phải nộp, tuy nhiên đốivới các tổ chức phi lợi nhuận không phải trả thuế thì việc ra quyết định đối với thời gian khấu hao không quan trọng

Để hiểu rõ hơn sự khác biệt này thì việc quan trọng là xem xét việc ra quyết định phi lợi nhuận trong một cách nhìn toàn diện hơn Một phương pháp rất hiệu quả để phát triển cho cách nhìn này là The balance sorecard (bảng điểm cân bằng) sẽ được giảng trong những chương sau của chương trình

Nhân tố chính của các tổ chức kinh doanh là lợi nhuận vượt quá chi phí càng nhiều càng có thể Trong các tổ chức phi lợi nhuận thì việc hạn chế chi phí là quan trọng, nếu các tổ chức muốn duy trì sự tồn tại Chi phí hiệu quả cần được đánh giá để quyết định những dịch vụ hiệu quả đang đươc cung cấp Nếu không có sự kiểm soát chi phí thì tài nguyên nguồnvốn trong tổ chức sẽ giảm đến mức làm ngăn chặn khả năng tiếp tục hoạt động của tổ chức

Mức nguồn lực tối thiểu là cần thiết nếu tổ chức là để thực hiện chức năng và sứ mệnh của nó Do đó, cung cấp dich vụ không tạo ra lợi nhuận là lý do chính cho việc kiểm soát chi phí trong các tổ chức phi lợi nhuận

Do đó những kỹ thuật phân tích trong các tổ chức kinh doanh phải được vận dụng và

có sự điều chỉnh thích hợp trong các tổ chức phi lợi nhuận

TRANG 10

Ngày đăng: 15/11/2016, 05:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w