Một tổ chức muốn vận động hợp lý phải xác định rõ sản phẩm của tổ chức, phải ra quyết định đúng, phải xây dựng được điều lệ, và từ chức năng, nhiệm vụ mà cụ thể hoá thành các qui chế hoạ
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN KHOA HỌC TỔ CHỨC Câu 1 Phân tích các quy luật cơ bản của tổ chức
Câu 2 Phân tích những yêu cầu đối với cán bộ tổ chức, đề xuất những giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tổ chức
Câu 3 Trình bày nội dung phân tích hoạt động của tổ chức
Câu 4 Phân tích quan niệm về hiệu quả của tổ chức và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức
Trả lời
Câu 1 Phân tích các quy luật cơ bản của tổ chức
Đứng trên giác độ khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về "Tổ chức", một định nghĩa có
ý nghĩa triết học sâu sắc: "Tổ chức, nói rộng, là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật" Định nghĩa này bao quát cả phần tự nhiên và xã hội loài người Còn ở giác độ xã hội, có thể hiểu ở hai nghĩa: Tổ chức là tư cách một thực thể xã hội (dt) là một tập hợp người có trật tự để thực hiện một mục tiêu nhất định; Tổ chức với tư cách là một hoạt động, một công tác (đt) là toàn bộ các hoạt động xây dựng và điều khiển tổ chức nhằm đạt được mục tiêu nhất định
Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Sự hình thành, vận động, phát triển của tổ chức do nhiều yếu tố, nhiều quy luật quy định Việc xác định những quy luật cụ thể đó vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Sau đây là một số quy luật cơ bản
1.4.1 Quy luật mục tiêu rõ ràng và tính hiệu quả của tổ chức
Tổ chức là hình thức, phương pháp do con người đặt ra nhằm thực hiện mục tiêu mong muốn với hiệu quả cao nhất Bởi vậy, mọi tổ chức đều có mục tiêu, nhiệm vụ xác định, và đó chính lý do ra đời, tồn tại của tổ chức, là yếu tố liên kết các thành viên của tổ chức
Mục tiêu khác nhau thì có tổ chức khác nhau Từ mục tiêu mới hình thành tổ chức phù hợp
để thực hiện có hiệu quả nhất mục tiêu đó Mục tiêu càng rõ ràng thì việc thiết kế tổ chức và vận hành tổ chức càng thuận lợi và sẽ đạt hiệu quả cao
Khi xác định mục tiêu của tổ chức cần xác định rõ mục tiêu chiến lược và mục tiêu cụ thể Mục tiêu chiến lược được xem là đường lối phát triển chung trong một thời gian dài Để thực
Trang 2hiện mục tiêu chiến lược, người ta thường phân chia ra các giai đoạn dài ngắn khác nhau và xác định mục tiêu của từng giai đoạn đó, gọi là mục tiêu cụ thể
Xác định mục tiêu là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi người lãnh đạo tổ chức phải:
- Tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm lịch sử và dự báo chính xác tương lai để có thể xác định mục tiêu được đúng đắn
- Phải hiểu sâu sắc mục tiêu của hệ thống để xác định mục tiêu của tổ chức mình cho phù hợp với mục tiêu của hệ thống
- Số lượng mục tiêu càng ít càng tốt Tổ chức có nhiều mục tiêu thường đạt hiệu quả kém
Tổ chức cơ sở chỉ nên có không quá 3 mục tiêu Khi xác định mục tiêu, nên xác định cây mục tiêu và phải lựa chọn được mục tiêu ưu tiên
Để tránh phạm sai lầm trong xác định mục tiêu, cần lưu ý:
- Không đặt mục tiêu cao hơn khả năng của tổ chức (và cá nhân).
- Không nhầm lẫn mục tiêu và phương tiện, xem phương tiện là mục tiêu
Để xác định hiệu quả của tổ chức, phải xác định được ba yếu tố: yếu tố đầu vào; yếu tố quản lý vận hành và yếu tố kết quả của tổ chức Sự chênh lệch giữa yếu tố kết quả và yếu tố đầu vào là hiệu quả của tổ chức Hiệu quả của các tổ chức kinh doanh được tính bằng tiền, còn hiệu quả của các tổ chức sự nghiệp tính bằng chất lượng thực hiện công việc được giao
Mục tiêu rõ ràng và tính hiệu quả của tổ chức là qui luật khách quan qui định sự tồn tại, cấu trúc và phương thức hoạt động của tổ chức
1.4.2 Quy luật hệ thống
Hệ thống là một chuỗi các bộ phận liên kết và phụ thuộc lẫn nhau, được sắp xếp theo một tổng thể thống nhất Mỗi hệ thống cần có sự phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận và có sự thống nhất để đảm bảo rằng hệ thống không bị tách ra thành các đơn vị riêng rẽ, biệt lập Đặc điểm đáng chú ý của hệ thống là mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận trong cùng một hệ thống Tính độc lập và thống nhất là đặc trưng của hệ thống
Quy luật hệ thống không chỉ cho thấy cấu trúc của tổ chức mà còn cho ta cách quản lý, điều khiển tổ chức hay hệ thống tổ chức nữa Muốn tác động có hiệu quả lên quá trình vận động của
hệ thống tổ chức cần phải nghiên cứu cấu trúc bên trong của hệ thống Cấu trúc bên trong của hệ
Trang 3Khi xem xét hệ thống tổ chức và sự vận hành hệ thống, người ta thường quan tâm đến tính điều khiển được của hệ thống Tính điều khiển được của hệ thống phụ thuộc vào mối quan hệ thông suốt trong nội bộ tổ chức, nội bộ hệ thống và thông suốt với các tổ chức khác trong hệ thống lớn hơn và nhỏ hơn Thông tin được chuyển động thông suốt trong hệ thống là điều kiện đảm bảo tính điều khiển được của hệ thống tổ chức
Trong hệ thống tổ chức cần quy định rõ quyền hạn trách nhiệm và mối quan hệ của các tổ chức cùng cấp và các cấp trong hệ thống Hệ thống tổ chức thường bắt đầu bằng các tổ chức cơ
sở Dù nhỏ thì tổ chức cơ sở còn mang đầy đủ tính chất của một tổ chức Các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội có số lượng tuỳ thuộc chức năng, nhiệm vụ và sự bố trí của cơ quan nhưng còn phải nằm trong khả năng điều khiển được
1.4.3 Quy luật cấu trúc đồng nhất và đặc thù của tổ chức
Tổ chức là một hệ thống do những phần tử của tổ chức hợp thành và có mối liên kết nhất định Nó là hệ thống của các tổ chức hợp thành và lại là bộ phận của một hệ thống lớn hơn Qui luật cấu trúc đồng nhất và đặc thù của tổ chức đòi hỏi các tổ chức hợp thành phải có cấu trúc đồng nhất trong khi vẫn duy trì tính đặc thù của chúng
Sự đồng nhất đó là điều kiện hình thành hệ thống Những phần tử không đồng nhất không thể hợp thành hệ thống Một hệ thống đa chức năng có thể có nhiều tổ chức có chức năng khác nhau, nhưng còng phải mang tính đồng nhất, ít nhất còng là đồng nhất về cơ chế quản lý Quy luật này vô cùng khắc nghiệt Nếu ghép những tổ chức không đồng nhất với nhau thì không bao giờ hình thành tổ chức mới, mà có khi còn huỷ hoại cả những tổ chức hợp thành Thực tiễn ở nước ta nhiều năm qua cho thấy, do chưa tôn trọng quy luật này nên không ít việc tách, nhập tổ chức không mấy thành công Tình trạng một cơ quan bộ có cả cơ quan làm chức năng quản lý nhà nước và cơ quan tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh; một cơ quan cùng lúc có hai chức năng vừa là sự nghiệp vừa là sản xuất, kinh doanh là những ví dụ vi phạm qui luật cấu trúc đồng nhất trong xây dựng tổ chức
Yêu cầu về tính đồng nhất không loại trõ tính đặc thù của tổ chức Tính đặc thù tạo nên sắc thái của tổ chức, truyền thống của tổ chức Việc tách, nhập quá nhiều và thường xuyên đổi tên làm cho nhiều tổ chức mất cả truyền thống của mình
1.4.4 Quy luật vận động không ngừng và vận động theo quy trình của tổ chức
Trang 4Vận động là điều kiện tồn tại, phát triển của tổ chức Vận động của hệ thống tổ chức không chỉ liên tục mà còn vận động từ những tổ chức hợp thành đến toàn bộ hệ thống Tổ chức được thiết kế để hoàn thành các mục tiêu nhất định Quá trình thực hiện mục tiêu chính là quá trình vận động của tổ chức
Sự vận động của tổ chức xã hội là sự vận động có qui trình, có sự đIều khiển Thông thường quy trình vận hành tổ chức được quy định cụ thể trong điều lệ của tổ chức Một tổ chức muốn vận động hợp lý phải xác định rõ sản phẩm của tổ chức, phải ra quyết định đúng, phải xây dựng được điều lệ, và từ chức năng, nhiệm vụ mà cụ thể hoá thành các qui chế hoạt động, thực hiện hoạt động theo qui chế
Vận động không ngừng nhưng bộ máy tổ chức không phải động cơ vĩnh cửu mà nó còng cần năng lượng để hoạt động Nguồn năng lượng ấy chính là quyết định của cơ quan quản lý Tất nhiên mỗi cấp, mỗi loại hình thức tổ chức có các mục tiêu khác nhau, có cơ chế vận hành khác nhau, nguồn năng lượng cung cấp cho chúng còng khác nhau
Tuân thủ quy luật khách quan này, khi thiết kế tổ chức phải xác định cơ chế vận hành của
bộ máy tổ chức bảo đảm tổ chức vận động không ngừng và theo đúng quy trình đã xác định Trong quá trình vận hành của tổ chức cần có sự điều chỉnh bằng các quyết định của cấp trên hay của lãnh đạo tổ chức, bảo đảm cho tổ chức vận động và tự điều chỉnh không ngừng
1.4.5 Quy luật tự điều chỉnh của tổ chức
Quá trình thực hiện mục tiêu là quá trình tổ chức vận động trong môi trường luôn luôn thay đổi, bởi vậy đó còng là quá trình tổ chức phải tự thay đổi để thích nghi với sự biến đổi của môi trường nhằm đạt mục tiêu một cách hiệu quả nhất Tổ chức vững mạnh phải biết tự điều chỉnh linh hoạt để đạt được sự phù hợp, cân bằng với môi trường
Các tổ chức hiện đại đang đối mặt với một môi trường cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt được thúc đẩy bởi sự thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ, những đũi hỏi từ những khách hàng ngày càng khú tớnh hơn, người lao động độc lập và khó quản lý hơn Để tồn tại và phát triển trong môi trường kinh doanh đầy năng động này, các tổ chức phải thường xuyên thay đổi để đáp ứng những đũi hỏi của khách hàng, người lao động, thị trường và cạnh tranh
Trang 5Để tạo điều kiện cho tổ chức tự điều chỉnh, ngay từ khi thiết kế đã phải tạo hành lang cho tổ chức có thể tự điều chỉnh trong quá trình thực hiện mục tiêu Những cơ chế quản lý, chế độ, chính sách tạo ra điều kiện và cho phép tổ chức tự đIều chỉnh
Để tổ chức tự điều chỉnh được, cần một số điều kiện tối thiểu sau:
- Trình độ tổ chức của hệ thống điều khiển đảm bảo thu thập và xử lý tốt thông tin để điều chỉnh quyết định
- Người lãnh đạo phải có trình độ nắm vững những vấn đề nguyên tắc, nhạy bén với những thay đổi về cơ chế, chính sách để điều chỉnh hoạt động của tổ chức phù hợp với điều kiện mới
- Bộ máy quản lý giúp việc người đứng đầu xử lý tốt thông tin, giúp người đứng đầu kịp thời ra các quyết định điều chỉnh tổ chức
- Tổ chức vững mạnh, liên kết các thành phần chặt chẽ nhưng linh hoạt, mềm dẻo, bảo đảm khả năng huy động nội lực của tổ chức để tự điều chỉnh, thích nghi và phát triển
Quy luật tự điều chỉnh đòi hỏi phải làm rõ quyền hạn của mỗi cấp trong giới hạn cho phép
tự điều chỉnh (còn gọi là “hành lang” hợp lý của tổ chức trong quá trình điều chỉnh), xác định rõ chức năng, nhiệm vụ từng cấp, từng tổ chức; phải giao quyền thật rõ cho mỗi tổ chức và mỗi phần tử của tổ chức để khắc phục tình trạng tổ chức không dám tự điều chỉnh hoặc điều chỉnh vượt quá quyền hạn
1.4.6 Qui luật về tính ổn định và bền vững tương đối của tổ chức
Tổ chức nào còng có quá trình ra đời, phát triển và tiêu vong, tuy nhiên, tổ chức khi đã ra đời thường hướng tới sự ổn định và phát triển bền vững Tính ổn định và phát triển là yêu cầu tất yếu để
tổ chức thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của nó Một tổ chức mà không ổn định và phát triển thì không thể tồn tại và hoạt động có hiệu quả Mặt khác, sau khi tổ chức đã hình thành và hoạt động ổn định thì luôn xuất hiện tính ỳ, xu hướng bảo thủ, bền vững, không dễ thay đổi
Qui luật này đòi hỏi việc xây dựng, điều khiển tổ chức phải bảo đảm tính ổn định của tổ chức, tránh vội vàng, hấp tấp, thay đổi tổ chức khi chưa nghiên cứu đầy đủ các vấn đề và điều kiện chưa chín muồi Đồng thời phải chú ý khắc phục xu hướng bảo thủ, trì trệ, khép kín của tổ chức
Các qui luật cơ bản của tổ chức nêu trên có quan hệ tác động tới nhau Vận dụng tốt các qui luật đó sẽ giúp cho tổ chức hoạt động có hiệu quả cao
Trang 6Câu 2 Phân tích những yêu cầu đối với cán bộ tổ chức, đề xuất những giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tổ chức
Đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tổ chức, cán bộ (cán bộ tổ chức) có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với đội ngũ cán bộ của Đảng trong giai đoạn hiện nay, góp phần quan trọng vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý và có chất lượng Đây là nhân tố quyết định thắng lợi công tác xây dựng đảng và nhiệm vụ, mục tiêu công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước tiến đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Bởi vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ tổ chức có chất lượng luôn được các cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp quan tâm, coi đó là một nhiệm vụ trọng yếu của công tác xây dựng đảng Xây dựng đội ngũ cán bộ tổ chức có chất lượng phải tiến hành đồng bộ các khâu của công tác cán bộ Trong đó, xác định tiêu chuẩn của cán bộ tổ chức là khâu quan trọng hàng đầu, liên quan, chi phối và tạo điều kiện thuận lợi cho các khâu khác thực hiện có kết quả
Theo Điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008 quy định về cán bộ như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong
cơ quan của Đảng CSVN, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Tiêu chuẩn cán bộ (yêu cầu đối với cán bộ) là hệ thống những chuẩn mực về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực mà người cán bộ phải có, đó là sự thống nhất giữa đức và tài của người cán bộ Đây là những quy định có tính chuẩn mực, khách quan, để xem xét, đánh giá, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, đề bạt, phân loại cán bộ Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ đúng mới
có căn cứ để xây dựng đội ngũ cán bộ có chất lượng
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khóa X chỉ rõ: “Khẩn trương cụ thể hóa tiêu chuẩn cán
bộ trong thời kỳ mới để từ đó có chế độ, chính sách thích hợp, tạo môi trường phát triển cho từng đối tượng cán bộ; ngoài tiêu chuẩn đã được xác định trong chiến lược cán bộ, cần bổ sung, cụ thể hóa tiêu chuẩn đối với từng đối tượng, từng chức danh cán bộ trong từng loại hình cơ quan, tổ chức, đơn vị”
Trang 7Đối với cán bộ tổ chức, ngoài những yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực, thấu hiểu đường lối, chính sách, pháp luật, am hiểu thực tế, am hiểu công tác quần chúng Cán
bộ tổ chức phải có kiến thức xây dựng đảng và có kinh nghiệm về công tác tổ chức, cán bộ; có kiến thức về khoa học xã hội, chính trị học, tâm lý học, khoa học lãnh đạo và quản lý; có văn hóa ứng xử, thấu hiểu con người, cân bằng hài hoà giữa lý trí và tình cảm để giải quyết công việc cho thấu lý, đạt tình Vì thế, cán bộ tổ chức phải được lựa chọn cẩn trọng, đồng thời họ phải được đào tạo những kiến thức cơ bản về công tác tổ chức, cán bộ
Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã nhấn mạnh những đặc trưng chủ yếu của người cán bộ tổ chức đó là “Tuyển chọn những người công tâm, trung thực, trong sáng, có kinh nghiệm làm công tác cán bộ”
Từ những tiêu chuẩn và đặc trưng nêu trên của cán bộ tổ chức, có thể khái quát thành hai nội dung chủ yếu đó là “Tâm” và “Tầm” của cán bộ tổ chức Tâm và tầm liên quan mật thiết với nhau, thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa đức và tài của cán bộ tổ chức và được thể hiện ở những khía cạnh sau:
1 Khách quan công bằng, liêm khiết Thái độ khách quan, rõ ràng, vô tư, không định kiến,
không áp đặt chủ quan, phiến diện trong nhận xét, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, sắp xếp, sử dụng cán bộ; không cục bộ bè phái, địa phương, dòng họ; không báo cáo, phản ánh tình hình sai
sự thật; không làm sai nguyên tắc; không ban ơn, vụ lợi; không để chủ quan và tình cảm riêng tư,
cá nhân yêu ghét xen vào công việc theo kiểu: “Yêu nên tốt, ghét nên xấu” hay “Thích thì bỏ qua lỗi lầm, ghét thì bỏ qua ưu điểm”
2 Thận trọng trong công việc, sẵn sàng hy sinh Công tác tổ chức, cán bộ có đối tượng và
sản phẩm là con người, là từng con người cụ thể được bố trí, sắp xếp vào một vị trí, một tổ chức nhất định Đây là công việc liên quan đến lợi ích của tập thể, đến sinh mệnh chính trị, đến quyền lợi cá nhân cán bộ Người được toại nguyện thì hài lòng Người không được toại nguyện thì tâm
tư, đôi khi có những phản ứng thiếu khách quan, ứng xử thiếu công bằng, điều đó ít nhiều cũng gây phân tâm cho người khác khi nhìn nhận về người cán bộ tổ chức
3 Có trách nhiệm, có ý thức tổ chức, tôn trọng tập thể Biết tự trọng, tôn vinh người khác
Có ý thức tổ chức, tuân thủ các quy định, không tiết lộ những nội dung khi chưa được phép, không có lợi cho công việc như vấn đề về nhận xét, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, sắp xếp cán
Trang 8bộ Cán bộ tổ chức không được xa rời nguyên tắc nhưng cũng không vì thế mà trở lên cứng nhắc, máy móc Họ phải là những người nhạy bén với thực tiễn cuộc sống, nhạy cảm với những nhu cầu, lợi ích, tâm lý và tính cách của con người để giải quyết công việc và ứng xử một cách đúng đắn, linh hoạt, phù hợp
4 Có tư duy độc lập, tư duy mới, sáng tạo Cán bộ tổ chức kém năng động thì không những
không đề xuất được ý kiến hay, ý kiến đúng mà còn dẫn đến hiện tượng chạy theo sự việc để giải quyết hoặc thụ động chờ đợi ý kiến của lãnh đạo, sẽ đánh mất vai trò tham mưu Tư duy mới, sáng tạo sẽ giúp người cán bộ tổ chức không chỉ nắm vững nguyên tắc mà còn biết vận dụng sáng tạo, đúng đắn những nguyên tắc đó trong cuộc sống Trong từng khâu của quy trình tham mưu, mỗi cán bộ tổ chức phải tìm ra cách làm mới mà không đi chệch quy định, nguyên tắc của
tổ chức, của Đảng Tư duy độc lập, biết điềm tĩnh, lắng nghe những ý kiến khác nhau, biết phân tích, tìm hiểu chắt lọc thông tin và có chính kiến, đưa ra những nội dung tham mưu có chất lượng, giúp cấp ủy có quyết định một cách chính xác
5 Thường xuyên tự phê bình và phê bình Cán bộ tổ chức càng phải nhận thức đúng đắn,
đầy đủ về phê bình và tự phê bình là quy luật vận động, tồn tại và phát triển của Đảng Phải thường xuyên tự phê bình và phê bình thẳng thắn trên tinh thần xây dựng, tình đồng chí để nhận
rõ ưu điểm mà phát huy, chỉ ra khuyết điểm mà sửa chữa Có quan điểm vững vàng trong bảo vệ cái đúng, kiên quyết đấu tranh với cái sai, không ba phải “Dĩ hoà vi quý” trong lựa chọn ý kiến
6 Có tình thương yêu đồng chí, gắn bó với nhân dân Có quan hệ mật thiết, chăm lo đến
đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người; quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, biết khoan dung là những đức tính cần có ở người cán bộ tổ chức Đây là sự thể hiện chân thật đạo làm người cách mạng mà mỗi cán bộ tổ chức phải thấm nhuần và thực hành nhất quán trong cuộc sống, trong công việc, trong đối nhân xử thế ở đời, mang đầy tính nhân văn
7 Có đạo đức trong sáng và có lối sống giản dị, lành mạnh Luôn trau dồi đạo đức, thực
hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí Trong hoàn cảnh nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong hoàn cảnh nào cũng không để cái xấu, cái cơ hội lợi dụng, bao vây lung lạc để không bao giờ nhầm người, lẫn việc, làm sai chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần phòng chống quan liêu, tham nhũng
Trang 98 Có tinh thần đoàn kết Người cán bộ tổ chức phải nhận thức được đoàn kết là sức mạnh
của cộng đồng, của tổ chức Vì vậy, người cán bộ tổ chức phải luôn đặt vấn đề “đoàn kết” lên hàng đầu cho cuộc sống và công tác của mình Đoàn kết trong nội bộ, đoàn kết ở cộng đồng, đoàn kết với mọi người, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
9 Có chí tiến thủ Xác định học tập là quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ, học tập phải trở
thành chế độ bắt buộc đối với cán bộ tổ chức Có ý chí và quyết tâm cao, không ngại khó khăn, gian khổ, không giấu giếm về sự yếu kém của mình; không ngừng học tập, rèn luyện, tu dưỡng
để có phẩm chất đạo đức tốt, có lập trường chính trị vững vàng, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sâu về công tác tổ chức cán bộ, có kiến thức tổng hợp và nâng cao trình độ lý luận
10 Có sức khoẻ tốt Có sức khoẻ thể chất và tinh thần tốt, có khả năng làm việc liên tục và
khả năng làm chủ trong các tình huống căng thẳng
Đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tổ chức thời kỳ hiện nay.
1 Tăng cường công tác tuyên truyền, thuyết phục và quán triệt nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên làm công tác nghiệp vụ tổ chức về vai trò, tầm quan trọng của việc thực hiện chiến lược cán bộ nói chung, cán bộ nghiệp vụ tổ chức nói riêng trong thời kỳ mới; quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp lớn của Đảng về công tác cán bộ ở các nghị quyết Trung ương gần đây nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiệp
vụ tổ chức vừa có tâm, vừa có trình độ chuyên môn vững chắc, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay
2 Lựa chọn cán bộ trong diện quy hoạch đưa đi đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức
Đây là vấn đề có ý nghĩa tiền đề quan trọng hàng đầu Những cán bộ trong diện quy hoạch
là những cán bộ đã đạt những tiêu chuẩn “phần cứng” của công tác đào tạo, bồi dưỡng trong các nhà trường Đây là những cán bộ có phẩm chất và năng lực, có triển vọng đã được cơ sở xét duyệt kỹ lưỡng theo tiêu chuẩn cán bộ
Để đào tạo ra một cán bộ làm công tác tổ chức, cần nhấn mạnh thêm các mặt sau đây: Người cán bộ đưa đi đào tạo, bồi dưỡng phải là người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có năng lực trí tuệ tổng hợp, thể hiện ở khả năng phát hiện sớm các vấn đề nảy sinh trong hoạt động thực tiễn; có khả năng phân tích nhạy bén; biết tổ chức lực lượng; có khả năng thuyết phục và quy tụ quần chúng,
Trang 10giải quyết các vấn đề nảy sinh nhanh, có hiệu quả Những khả năng, tố chất đó có thể hiện tại chưa
đủ, nhưng phải có ở người cán bộ nghiệp vụ tổ chức sau khi đã được đào tạo, bồi dưỡng
3 Sớm cụ thể hoá tiêu chuẩn cán bộ đối với từng đối tượng, từng chức danh cán bộ nghiệp
vụ tổ chức Về tiêu chuẩn đối với cán bộ nói chung đã được xác định trong Chiến lược cán bộ tại Nghị quyết Trung ương ba (khoá VIII): “Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao” Người cán
bộ làm công tác nghiệp vụ tổ chức hiện nay cần phải có thêm tiêu chuẩn về trình độ luật pháp, tin học, ngoại ngữ; khả năng tiếp cận, nắm bắt và xử lý những vấn đề mới về công tác tổ chức; về khả năng đoàn kết, quy tụ; phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát, dám nghĩ, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm
4 Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch, theo tiêu chuẩn chức danh cán bộ tổ chức ở các cơ sở đào tạo, nhất là ở các học viện thuộc Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh, các trung tâm chính trị, hành chính Phân định rõ giữa đào tạo và đào tạo lại, giữa đào tạo với bồi dưỡng cán bộ nghiệp vụ tổ chức, từ đó xác định nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp Trong đào tạo, bồi dưỡng cần thường xuyên cập nhật, bổ sung kiến thức mới, học hỏi, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của nước ngoài về công tác đào tạo, bồi dưỡng, tránh trùng lặp, máy móc
5 Tăng cường đầu tư hợp lý ngân sách nhà nước cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nghiệp vụ tổ chức Quan tâm đến chế độ, chính sách, trợ cấp tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ nghiệp vụ tổ chức khi đang được đào tạo, bồi dưỡng Chăm lo chuẩn bị, sắp xếp vị trí công tác phù hợp cho cán bộ nghiệp vụ tổ chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng
Nếu mỗi người cán bộ tổ chức hội tụ được những nội dung cơ bản nêu trên, có tâm trong, đức sáng để có thể nhìn đúng người, rõ việc, để có thể nhận thức và vận dụng đúng đắn quan điểm của Đảng về công tác cán bộ thì chắc chắn chất lượng đội ngũ cán bộ tổ chức sẽ ngày một nâng cao Đội ngũ cán bộ sẽ ngày càng chuẩn hóa, đáp ứng tốt được yêu cầu, nhiệm vụ mới; góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược cán bộ, chiến lược con người của Đảng trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta