Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp năm 2013, đây là sự kiện chính trị pháp lý quan trọng của đất nước. Hiến pháp thể hiện những nội dung mới quan trọng nhằm thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; quy định đầy đủ, rõ nét về chủ thể là Nhân dân trong Hiến pháp, về quyền lực của Nhà nước thuộc về Nhân dân.Nguyên tắc được thể hiện qua các nội dung đó là:Nhân dân tham gia kiểm soát hoạt động của bộ máy nhà nước:+ Thứ nhất, ngay Lời nói đầu Hiến pháp 2013 thể hiện: ... Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh đã thể hiện rõ trách nhiệm của nhân dân trong việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp. Điều 2 Hiến pháp năm 2013, đã thể hiện nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao quyền làm chủ của nhân dân trong Hiến pháp là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đồng thời thể hiện đất nước Việt Nam là do chính nhân dân làm chủ, nhân dân là chủ thể quan trọng trong xây dựng và bảo vệ đất nước. Lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 từ Nhân dân được viết hoa, đây không phải đơn thuần là cách thể hiện từ ngữ mà là diễn đạt ý nghĩa của một chủ thể quan trọng của đất nước theo tư tưởng của Bác Hồ. Người viết: “Nước ta là nước dân chủ, Bao nhiêu lợi ích đều là vì dân, Công việc đổi mới và xây dựng là trách nhiệm của dân, Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra, Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên, Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Chính vì lẽ đó mà từ Nhân dân được viết hoa là thể hiện đầy đủ và sâu sắc tư tưởng của Bác Hồ về vai trò của Nhân dân.+ Thứ hai, khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013, đây là điểm bổ sung mới quan trọng, vì vai trò làm chủ của Nhân dân đối với nước, Nhân dân giao phó trách nhiệm cho Đảng để lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vì vậy, Đảng phải chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước nhân dân trong việc lãnh đạo của mình.
Trang 1Câu 1: Phân tích nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam theo HP 1992(sửa đổi, bổ sung)
Trả lời:
Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp năm 2013, đây là sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng của đất nước Hiến pháp thể hiện những nội dung mới quan trọng nhằm thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; quy định đầy đủ, rõ nét về chủ thể là Nhân dân trong Hiến pháp, về quyền lực của Nhà nước thuộc về Nhân dân
Nguyên tắc được thể hiện qua các nội dung đó là:
- Nhân dân tham gia kiểm soát hoạt động của bộ máy nhà nước:
+ Thứ nhất, ngay Lời nói đầu Hiến pháp 2013 thể hiện: " Nhân dân Việt Nam
xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh" đã thể hiện rõ trách nhiệm của nhân dân trong việc xâydựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp Điều 2 Hiến pháp năm 2013, đã thể hiện nhấtquán quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao quyền làm chủ của nhân dântrong Hiến pháp là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đồng thời thể hiện đất nướcViệt Nam là do chính nhân dân làm chủ, nhân dân là chủ thể quan trọng trong xâydựng và bảo vệ đất nước Lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 từ Nhân dân được viếthoa, đây không phải đơn thuần là cách thể hiện từ ngữ mà là diễn đạt ý nghĩa củamột chủ thể quan trọng của đất nước theo tư tưởng của Bác Hồ Người viết:
“Nước ta là nước dân chủ,
Bao nhiêu lợi ích đều là vì dân,
Công việc đổi mới và xây dựng là trách nhiệm của dân,
Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra,
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên,
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”
Chính vì lẽ đó mà từ Nhân dân được viết hoa là thể hiện đầy đủ và sâu sắc tư tưởngcủa Bác Hồ về vai trò của Nhân dân
+ Thứ hai, khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013, đây là điểm bổ sung mới quan
trọng, vì vai trò làm chủ của Nhân dân đối với nước, Nhân dân giao phó tráchnhiệm cho Đảng để lãnh đạo Nhà nước và xã hội Vì vậy, Đảng phải chịu sự giámsát và chịu trách nhiệm trước nhân dân trong việc lãnh đạo của mình
- Nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia xây dựng bộ máy nhà nước :
Trang 2+ Thứ nhất, tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013, quy định đa dang hơn về thực hiện
quyền lực của Nhân dân so với Hiến pháp năm 1992, đặc biệt thể hiện quyền lựcnhà nước bằng dân chủ trực tiếp đã làm rõ hơn, sâu sắc hơn vai trò làm chủ củaNhân dân
+ Thứ hai, Điều 53 Hiến pháp năm 2013, đã khẳng định quyền sở hữu của Nhân
dân và Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước đại diện Nhân dân để sở hữu và thốngnhất quản lý, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về việc quản lý tài sản do Nhân dân
ủy quyền
+ Thứ ba, Điều 65 Hiến pháp năm 2013, thể hiện trách nhiệm của lực lượng vũ
trang là tuyệt đối trung thành với Nhân dân và trước hết là phải bảo vệ Nhân dân làmột chủ thể làm chủ đất nước, sau đó là bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hộichủ nghĩa
+ Thứ tư, Điều 69 Hiến pháp năm 2013, đã nhấn mạnh vai trò của Nhân dân là chủ
thể tối cao của quyền lực Nhà nước, tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về Nhândân Nhân dân ủy thác thực hiện quyền lực cao nhất cho Quốc hội để thực hiệnquyền lập hiến như đề xuất sửa đổi Hiến pháp, thành lập Ủy ban dự thảo Hiếnpháp, thảo luận và biểu quyết thông qua Hiến pháp, khi có ít nhất 2/3 tổng số đạibiểu Quốc hội biểu quyết tán thành; việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốchội quyết định
- Nhà nước thừa nhận và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân:
+ Lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền con người, quyền cơ bảncủa công dân tại chương II, đặt trang trọng sau chương I quy định về chế độ chínhtrị Hiến pháp năm 2013 đã có những nhận thức mới về đề cao nhân tố con người,coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển
+ Điều 14 Hiến pháp năm 2013, đây là những nguyên tắc căn bản đề cao tráchnhiệm của Nhà nước trong mối quan hệ với quyền con người, quyền công dân, là
cơ sở hiến định để mọi người và công dân bảo vệ và thực hiện quyền con người,quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Ngoài việc thể hiện quyền làm chủ củaNhân dân trong Hiến pháp, còn thể hiện các cam kết của Việt Nam trong việc thựchiện các điều ước quốc tế liên quan đến quyền con người mà Việt Nam là thànhviên
Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện nhất quán tư tưởng của Bác Hồ, của Đảng
về vị trí, vai trò của Nhân dân trong lịch sử đấu tranh, xây dựng và bảo vệđất nước trải qua mấy ngàn năm lịch sử Tư tưởng lấy dân làm gốc của Bác
Hồ đã được lịch sử chứng minh qua các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc,chính vì vậy, Hiến pháp năm 2013 là sự kết tinh và thể hiện tính đúng đắn vềquyền làm chủ của Nhân dân đối với đất nước, hướng đến mục tiêu dân
Trang 3giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh mà Đảng, Nhà nước vàNhân dân đã lựa chọn
Câu 2: Trình bày vai trò của việc đảm bảo pháp chế của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam?
Trả lời:
Về vai trò, pháp luật XHCN có 5 vai trò
Một là pháp luật là phương tiện quan trọng và chủ yếu để xây dựng chế độ mới,
là công cụ chủ yếu để nhà nước XHCN thực hiện nhiệm vụ quản lý mọi mặt đốivới đời sống XH
Hai là pháp luật XHCN là cơ sở để xây dựng hoàn thiện bộ máy nhà nước, để
nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước
Ba là pháp luật XHCN là phương tiện quan trọng để thực hiện quyền lực nhân
dân, đảm bảo phát huy dân chủ
Bốn là pháp luật XHCN là phương tiện quan trọng để thông qua đó, Đảng Cộng
sản thực hiện sự lãnh đạo đối với nhà nước và đối với toàn xã hội
Năm là vai trò của pháp luật XHCN còn được thể hiện rõ trong các mối quan hệ
giữa pháp luật – kinh tế, pháp luật – xã hội, pháp luật - hệ thống chính trị, pháp luật– đạo đức tư tưởng
Trong thời gian qua, do yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, vai trò củapháp luật ngày càng được coi trọng trong đời sống xã hội Cùng thời gian ấy, nước
ta đã xây dựng được một số lượng lớn các văn bản pháp luật, trước hết là Hiếnpháp năm 1992 - hiến pháp của thời kỳ đổi mới đất nước Tiếp đó là hàng loạt bộluật , đạo luật ra đời Có thể nói, số lượng các bộ luật và đạo luật được ban hànhtrong thời kỳ đổi mới nhiều hơn số lượng văn bản pháp luật của mấy chục nămtrước đây Kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời Nhờ đó, đã tạo ra cơ
sở pháp lý thúc đẩy quá trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,thúc đẩy quá trình phát triển nền dân chủ XHCN, hoàn thiện nhà nước, mở rộngquan hệ đối ngoại
Câu 1: quan điểm về đổi mới hoạt động của quốc hội,hội đồng nhân dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xhcn Việt Nam
Trang 4 Quốc hội:
Thực tiễn tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII Quốc hội khóa XIIđược bầu ra và hoạt động trong điều kiện sau 20 năm đổi mới, đất nước tađạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng đây cũng là thời điểm kinh tế -
xã hội trong nước và trên thế giới vừa thuận lợi, vừa khó khăn, tiềm ẩnnhững yếu tố phức tạp Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là kinh tế thếgiới có nhiều biến động tiêu cực; quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tếđược mở rộng; khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ; xây dựng nhànước pháp quyền XHCN trở thành một nhiệm vụ chiến lược; cả nước bướcvào thực hiện kế hoạch 5 năm (2006-2010) và chiến lược phát triển kinh tế-
xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI; cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động củaQuốc hội được hoàn thiện một bước; hoạt động lập pháp được đẩy mạnh
Có 3 yêu cầu lớn đặt ra cho Quốc hội khóa XII là tiếp tục xây dựng và hoànthiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng xã hội dânchủ, công bằng, văn minh; hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ hội nhậpkinh tế quốc tế Bối cảnh lịch sử và yêu cầu nhiệm vụ đã tác động sâu sắc tới
tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII Tổ chức của Quốc hội khóaXII tiếp tục được đổi mới Số lượng ĐBQH chuyên trách tăng lên gần đạt30% tổng số ĐBQH, tạo điều kiện bố trí các thành viên chuyên trách ở các
cơ quan của Quốc hội Chất lượng đại biểu được chú trọng Số lượng thànhviên UBTVQH đã được cơ cấu theo hướng tăng lên so với nhiệm kỳ khóa
XI Tổng số các cơ quan của Quốc hội nhiều hơn do chia tách Ủy ban Kinh
tế và Ủy ban pháp luật (khóa XI) thành 4 Ủy ban Tổ chức bộ máy giúp việcđược kiện toàn, chất lượng tham mưu, giúp việc của VPQH, Văn phòngĐoàn ĐBQH và HĐND các tỉnh, thành phố được cải thiện rõ nét Hoạtđộng của Quốc hội trên các lĩnh vực lập pháp, giám sát, quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước và hoạt động đối ngoại có những bước tiến mới.Hoạt động lập pháp được chú trọng hơn về chất lượng, quy trình lập pháptiếp tục được cải tiến ở một số khâu phù hợp Hoạt động giám sát có trọngtâm, trọng điểm, tăng cường về nội dung, đổi mới cách thức thực hiện, tậptrung vào những vấn đề bức xúc của thực tiễn, được đông đảo quần chúngnhân dân quan tâm Việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nướcngày càng có hiệu quả, thực chất hơn Bên cạnh đó, hoạt động ngoại giaonghị viện trong nhiệm kỳ qua đã đạt được những kết quả quan trọng, gópphần hiệu quả vào công tác đối ngoại chung, nâng cao vị thế, hình ảnh củaViệt Nam trên trường quốc tế Phương thức, chế độ làm việc của Quốc hộingày càng trở nên khoa học, nề nếp, phát huy dân chủ, chủ động, sáng tạotrong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ Hoạt động của Quốc hộingày càng thu hút sự quan tâm của nhân dân cả nước, qua đó góp phần củng
cố niềm tin của nhân dân vào Quốc hội nói riêng và hệ thống chính trị nói
Trang 5chung Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm này, cơ cấu tổ chức của Quốchội cũng còn một số điểm bất cập Cụ thể như: số đại biểu chuyên trách tănglên nhưng vẫn còn thiếu so với yêu cầu, nhiệm vụ; phạm vi chức năng,nhiệm vụ của các Ủy ban còn rộng; vị trí, địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQHchưa được xác định thật cụ thể; tính chuyên môn hóa của bộ máy giúp việcchưa cao Các điều kiện bảo đảm hoạt động còn thiếu Hoạt động của Quốchội vẫn còn một số tồn tại nhất định trong từng lĩnh vực lập pháp, giám sát,quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước… Nhiệm kỳ Quốc hội khóaXIII cũng là khoảng thời gian cả nước bắt đầu thực hiện Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 do Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua Bối cảnh quốc tế cũngđang có những thay đổi sâu sắc và sẽ có những tác động đến việc thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị nói chung, của Quốc hội nóiriêng Để Quốc hội khóa XIII có thể hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ củamình, việc tiếp nối, kế thừa những kết quả đã đạt được, cũng như tìm kiếmcác giải pháp xử lý những vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn tổ chức và hoạtđộng của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII có ý nghĩa rất quan trọng 2 Đổi mới
cơ cấu, tổ chức của Quốc hội Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận,đánh giá thực trạng, nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, yêu cầu thựctiễn, đề tài đã đề xuất một số kiến nghị nhằm đổi mới cơ cấu, tổ chức củaQuốc hội Trong đó, tập trung vào hai vấn đề lớn: 2.1 Tiếp tục làm rõ cơ sở
lý luận và thực tiễn về sự phân công chức năng, nhiệm vụ của các cơ quantrong cơ cấu tổ chức Quốc hội Xác định rõ ràng hơn phạm vi hoạt động,thẩm quyền của các cơ quan của Quốc hội và ĐBQH, đặc biệt là ĐBQHchuyên trách trong các lĩnh vực cụ thể để tránh chồng chéo khi thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn Nghiên cứu phân định rõ và quy định đầy đủ hơn mốiquan hệ giữa các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH với các cơ quan nhà nước.Hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục, các bước tiến hành trong hoạtđộng của Quốc hội 2.2 Nghiên cứu thành lập mới, tách một số uỷ ban củaQuốc hội theo từng lĩnh vực hoạt động chuyên sâu Luật tổ chức Quốc hội(sửa đổi) năm 2007 mới giải quyết được việc tách 2 ủy ban thành 4 ủy banvới lý do cho rằng cần kiểm nghiệm thực tiễn, khi chín muồi sẽ xem xét,quyết định việc tiếp tục tách hay thành lập thêm các ủy ban khác Qua thựctiễn hoạt động của Quốc hội cho thấy, bên cạnh việc nâng cao chất lượngĐBQH, tăng cường số lượng đại biểu chuyên trách, còn cần phải đổi mới,củng cố về tổ chức bộ máy nhằm bảo đảm tính chuyên sâu Có như vậy, các
Ủy ban (với tính chất là những “trụ cột” chính trong hoạt động của Quốchội) mới có điều kiện đi sâu vào việc xem xét những vấn đề cụ thể, thammưu, giúp Quốc hội thực sự có chất lượng, hiệu quả Đề tài đề xuất việc tiếp
Trang 6tục nghiên cứu cụ thể việc chia, tách và thành lập mới một số uỷ ban Theo
đó, nghiên cứu tách Uỷ ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên vàNhi đồng thành 02 uỷ ban là: Ủy ban Văn hóa, Giáo dục và Ủy ban Thanhniên, Thiếu niên và Nhi đồng Nghiên cứu tách Ủy ban Kinh tế hiện naythành 03 ủy ban là: Ủy ban gắn với các lĩnh vực kế hoạch - đầu tư, xây dựng
cơ sở hạ tầng và đô thị; Ủy ban gắn với các lĩnh vực nông nghiệp, nông dân
và nông thôn; Ủy ban gắn với lĩnh vực công nghiệp và thương mại và cáclĩnh vực kinh tế khác Nghiên cứu tách Ủy ban về các vấn đề xã hội thành 2
ủy ban là: Ủy ban lao động và việc làm; Ủy ban chính sách xã hội Nghiêncứu tách Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành 2 ủy ban là: Ủyban Khoa học và Công nghệ; Ủy ban Tài nguyên và Môi trường Nghiên cứuthành lập các Ủy ban gồm: Uỷ ban công tác dân nguyện trên cơ sở Ban Dânnguyện của UBTVQH; Ủy ban về công tác kiều bào của Quốc hội; nghiêncứu chuyển Viện NCLP thuộc UBTVQH thành cơ quan của Quốc hội Việcnghiên cứu đổi mới về cơ cấu, tổ chức của Quốc hội là một quá trình lâu dài,không thể nóng vội và cần được đặt trong tổng thể chủ trương đổi mới, kiệntoàn tổ chức bộ máy nhà nước của Đảng ta Do đó, những nghiên cứu đềxuất nêu trên cần được nhìn nhận với tính cách là những nghiên cứu, kiếnnghị mang tính bước đầu trong tiến trình đổi mới, hoàn thiện cơ cấu tổ chức
và hoạt động của Quốc hội 3 Đổi mới hoạt động của Quốc hội Các giảipháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội được xác định theotừng lĩnh vực cụ thể Đối với hoạt động lập pháp, Đề tài đã tập trung trìnhbày ba giải pháp: - Một là, tăng cường pháp chế trong hoạt động lập pháp
Để thực hiện định hướng này cần tiến hành nghiên cứu sửa đổi Luật banhành văn bản quy phạm pháp luật nhằm quy định cụ thể hơn trách nhiệm củacác chủ thể có thẩm quyền trong các công đoạn của quy trình lập pháp Tăngcường trách nhiệm của cơ quan soạn thảo trong việc xây dựng hệ thốngchính sách của dự án luật và đánh giá sự tác động của các chính sách Từ đó,nâng cao trách nhiệm, minh bạch hoá được các quyền và nghĩa vụ của cácchủ thể, góp phần tăng cường pháp chế trong hoạt động lập pháp - Hai là,tiếp tục đổi mới tư duy nâng cao năng lực lập pháp nhằm xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật theo chiều sâu Lấy việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiệncác đạo luật hiện có làm nhiệm vụ trung tâm Đồng thời đi sâu xây dựng một
số đạo luật mới để “lấp kín” các khoảng trống chưa có luật điều chỉnh Tiếptục đổi mới tư duy, nâng cao năng lực lập pháp của các cơ quan có thẩmquyền là yếu tố quyết định chất lượng của các đạo luật được thông qua - Ba
là, phát huy vai trò của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội trongđiều kiện Quốc hội không hoạt động thường xuyên có ý nghĩa rất quantrọng Bởi vì, với nhiệm vụ và quyền hạn được giao là thẩm tra các dự ánluật trước khi trình Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban là chỗ dựa
Trang 7cho ĐBQH xem xét, thảo luận và thông qua dự án luật Chỗ dựa đó vữngchắc thì ĐBQH có định hướng đúng đắn để bày tỏ quan điểm của mình khithảo luận, xem xét, thông qua hay không thông qua dự án luật Đối với hoạtđộng giám sát, Đề tài đưa ra hai giải pháp chủ yếu: - Một là, xác định lạiphạm vi và nội dung giám sát tối cao phù hợp hơn với thực tiễn Chỉ nên quyđịnh nội dung và phương thức giám sát tương thích với khả năng và điềukiện cho phép của một Quốc hội hoạt động không thường xuyên, các ĐBQHchủ yếu hoạt động kiêm nhiệm Trước mắt, trong công tác giám sát tối cao,nên tập trung làm tốt hoạt động chất vấn và xem xét báo cáo tại các kỳ họpQuốc hội Đồng thời, từng bước nghiên cứu để có sự điều chỉnh hợp lý vềphạm vi hoạt động giám sát tối cao - Hai là, đổi mới việc tổ chức thực hiệncác hình thức giám sát Trong hoạt động xem xét báo cáo cần nghiên cứuquy định rõ những nội dung cần thiết; tách bạch rõ trách nhiệm cá nhân vàtrách nhiệm của tập thể trong công tác quản lý, điều hành; quy định loại báocáo nào cần phải được Quốc hội thảo luận tập thể, loại báo cáo nào Quốc hộithảo luận ở tổ, ở Đoàn ĐBQH, loại báo cáo nào gửi đến ĐBQH để tự nghiêncứu; hướng dẫn cụ thể “trường hợp cần thiết” Quốc hội phải ra nghị quyếtsau khi xem xét các báo cáo công tác Đối với chất vấn và trả lời chất vấn,cần củng cố bộ phận tham mưu, giúp việc về hoạt động chất vấn; tăng cườngbồi dưỡng kỹ năng hoạt động của ĐBQH, trong đó có kỹ năng chất vấn; quyđịnh rõ một số vấn đề về mặt thủ tục trong hoạt động chất vấn và trả lời chấtvấn; hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc tiến hành hoạt động “chất vấn” tạicác cơ quan của Quốc hội Đối với hoạt động xem xét, quyết định nhữngvấn đề quan trọng của đất nước, Đề tài đưa ra ba giải pháp: - Một là, về kinh
tế - xã hội, cần quyết định cả hệ thống chính sách kinh tế - xã hội dài hạn vàngắn hạn Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong 5 năm,hàng năm chỉ là ngắn hạn Quốc hội cần nắm chắc và quyết định chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội 10 năm Đối với các quy hoạch, kế hoạch, chươngtrình, dự án, Quốc hội cần lựa chọn một số tiêu chí để quyết định phù hợp
- Hai là, về ngân sách, cần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về ngân sách nhànước theo hướng quyết định ngân sách kỳ hạn và dựa vào kết quả đầu ra đểbảo đảm tính công khai, minh bạch, dân chủ và hiệu quả hơn trong đầu tưcông - Ba là, về vấn đề thẩm tra, đối với một số nghị quyết đặc thù, quantrọng như nghị quyết về các công trình quan trọng quốc gia cần phải có một
Ủy ban lâm thời gồm các ĐBQH có trình độ chuyên môn phù hợp để tiếnhành thẩm tra Ngoài một số nội dung cơ bản trên, trong quá trình nghiêncứu, đề tài cũng đã đề cập đến một số nội dung khác xung quanh thực tiễn tổchức và hoạt động của Quốc hội khóa XII Nhìn chung, kết quả nghiên cứu
đề tài là những thông tin có giá trị tham khảo, góp phần phục vụ công tácnghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về tổ
Trang 8chức và hoạt động của Quốc hội trong thời gian tới./ Đổi mới tổ chức vàphương thức hoạt động của bộ máy Nhà nước là một nhiệm vụ trọng tâm đểxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Để làm rõ vấn đề này đã có nhiều cơ quan chức năng và nhiều nhà khoa họcnêu lên khá hệ thống và cụ thể Trong bài viết này tôi muốn làm rõ một sốnội dung chính sau đây: I Trong nội dung đổi mới tổ chức và phương thứchoạt động của Nhà nước, vấn đề đầu tiên là phải đổi mới tổ chức và phươngthức hoạt động của Quốc hội Bởi vì, đây là một trong những nội dung cơbản của việc kiện toàn tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Quốc hội là cơquan quyền lực Nhà nước cao nhất và là cơ quan Nhà nước duy nhất do cửtri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏphiếu kín Quốc hội bao gồm các đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân
và cho các vùng lãnh thổ, là hình ảnh thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc vàđại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, là nơi thực hiện và thể hiệnchế độ dân chủ đại diện vừa là nơi thể hiện và thực hiện dân chủ trực tiếp.Quốc hội vừa có tư cách nhân dân, vừa có tư cách Nhà nước Do đó, tổ chức
và hoạt động của Quốc hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống tổchức quyền lực chính trị và trong bộ máy Nhà nước Thực tế chỉ ra rằng,muốn xây dựng và củng cố nền tảng chính trị pháp lý vững chắc cho hệthống quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước phải chăm lo xây dựng, củng
cố và phát huy vai trò của Quốc hội trong việc thực hiện các chức năng lậphiến, lập pháp, giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước Về đổi mới
tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội có mấy vấn đề sau đây: 1.Cần tiến hành trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị trước hết là đổi mớiphương thức lãnh đạo của Đảng, vì Đảng là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệthống Nói phương thức lãnh đạo của Đảng bao gồm những nguyên tắc, quytắc, cách thức, hình thức biện pháp mà các tổ chức, các cấp uỷ chọn lựa, sửdụng Chẳng hạn như về đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của các tổchức đảng ở cơ sở hiện nay có 3 nội dung cụ thể Đó là: - Đảng bộ, chi bộ cơ
sở phải làm đúng vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn diện ở cơ sở, nắm vữngnhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, chăm
lo xây dựng chính quyền, mặt trận và các đoàn thể vững mạnh - Mọi đảngviên phải nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu vững vàng về chính trị, cóđạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân - Đổi mới việc
ra nghị quyết của đảng bộ, chi bộ, của cấp uỷ đảng Xây dựng quy chế làmviệc giữa bí thư với những người đứng đầu chính quyền, mặt trận và cácđoàn thể Đổi mới các cuộc bầu cử ở cơ sở, tăng cường công tác kiểm tra.Đổi mới phương thức lãnh đạo, trong đó chú ý đặc trưng phương pháp dânchủ trong lãnh đạo nhân dân và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở
Trang 92 Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo yêu cầuxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phù hợp với đặc điểm củađất nước, tính chất của thời đại Nghị quyết Đại hội IX của Đảng nêu rõ:Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, làNhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam có những đặc trưng cơ bản: - Luôn xác định mục tiêucao nhất là vì con người Đặc trưng này thể hiện ngay từ khi thành lập Nhànước ta và thể hiện đầy đủ trong các bản hiến pháp từ năm 1946 đếnnay.Trong hiến pháp năm 1992, đã được thể hiện trong 1 chương với 34 điều
cụ thể - Mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụngquyền lực Nhà nước một cách trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan nhànước do mình bầu ra - Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiếnpháp, pháp luật và thể hiện địa vị tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong đờisống xã hội - Ở đó, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công vàphối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền hànhpháp, lập pháp và tư pháp Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện cảicách bộ máy nhà nước - Là Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.Tiến hành đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhằmkiện toàn tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước phápquyền ở nước ta hiện nay cần phải nắm vững các nguyên tắc trên Mặt khác,cần nhận thức rõ chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiệnmột đảng lãnh đạo và thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Đây là công việc hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử Mặckhác với những kết quả đạt được qua gần 20 năm đổi mới, nhận thức, yêucầu của nhân dân ngày một nâng cao, nhiệm vụ xây dựng bộ máy nhà nước
và nguyện vọng của nhân dân ngày càng đòi hỏi phải có bộ máy trong sạch,vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả mới đáp ứng tình hình và nhiệm
vụ cách mạng 3 Thực hiện theo các nguyên tắc chung về tổ chức hoạt độngcủa bộ máy nhà nước và các nội dung, yêu cầu có tính đặc thù của Quốc hội.Đây là điều rất quan trọng khi thực hiện đổi mới tổ chức và phương thứchoạt động của Quốc hội Các nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước là bao gồm: - Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam là Nhà nước của dân, do dân, và vì dân Đây là một nguyên tắc rất cơbản - Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữacác cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp Đây cũng là nội dung đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam - Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức
và hoạt động của Nhà nước - Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xâydựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam; quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng
Trang 10thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa đối với công dân.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Năm nguyên tắctrên là những định hướng chỉ đạo để tiếp tục đổi mới tổ chức, phương thứchoạt động của Quốc hội Trong quá trình thực hiện đổi mới hoạt động củaQuốc hội cần nhận thức, làm rõ những yêu cầu mang tính đặc thù như: -Tính hiệu quả trong tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội – nhất
là hiệu quả về kinh tế và các hiệu quả cụ thể khác - Tính chuyên nghiệp vàhiện đại Cụ thể là phải có tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách thích hợp, có
bộ máy tham mưu trình độ cao, có phương thức hoạt động phát huy đầy đủdân chủ, trí tuệ của các đại biểu Quốc hội - Tính minh bạch trong tổ chức vàhoạt động Nguyên tắc này đòi hỏi trong hoạt động phải quy định rõ về chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân trong
bộ máy, có cơ chế tự kiểm tra, thanh tra các hoạt động và có sự giám sát từphía nhân dân đã khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí – những điềukhông thể tồn tại trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, dodân, vì dân Để làm tốt những nội dung trên, đòi hỏi phải thực hiện thườngxuyên và tập trung các giải pháp: a Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiệncác chức năng của Quốc hội đã đề ra b Phát huy vai trò, trách nhiệm, nângcao năng lực của các đại biểu Quốc hội, bảo đảm họ thực sự là người đạidiện cho nhân dân, vừa có đạo đức, năng lực, có bản lĩnh và các kỹ nănghoạt động nghị trường, tham gia đóng góp, quyết định được những vấn đềtrọng đại của đất nước c Tiếp tục kiện toàn các cơ quan của Quốc hội,thường xuyên tăng cường quan hệ hai chiều giữa Quốc hội với nhân dân…
a Đối với Quốc hội
Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của
Quốc hội nhằm thực hiện tốt chức năng lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội để cử tri lựa chọn và bầu những người thực sự tiêu biểu vào Quốc hội Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng cường hợp lý số đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Tổ chức lại một số uỷ ban của Quốc hội theo hướng chuyên sâu hơn Cải tiến, nâng cao chất lượng đại biểu hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội Đổi mới
Trang 11quy trình xây dựng luật, tiếp tục giảm việc ban hành pháp lệnh
Trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, xây dựng chương trình dài
hạn về lập pháp, đổi mới quy trình xây dựng luật, nâng cao chất lượng luật, pháp lệnh mới ban hành Bảo đảm để Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, làm tốt chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, quyết định và phân bổ ngân sách Nhà nước…hoàn
thiện quy chế về vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội chuyên trách Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ba cấp Tiếp tục hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo Quốc Hội và HDND các cấp
b Hội đồng nhân dân
Những năm qua, HĐND các cấp đã có nhiều đổi mới nên hiệu quả hoạt động đượcnâng lên rõ rệt; tuy nhiên so với yêu cầu đặt ra còn khá khiêm tốn Điều này donhiều nguyên nhân Trước hết, do cơ cấu, tổ chức bộ máy của HĐND bất cập, nhân
sự thường biến động Đối với Thường trực HĐND, có địa phương bố trí Chủ tịchHĐND hoạt động chuyên trách, nơi bố trí kiêm nhiệm; Chủ tịch HĐND có nơi là
Bí thư cấp ủy cùng cấp, có nơi là Phó bí thư hoặc ủy viên Thường vụ cấp ủy cùngcấp; Phó chủ tịch HĐND có nơi được cơ cấu ủy viên thường vụ cấp ủy cùng cấp,
có nơi chỉ là cấp ủy viên; Ủy viên Thường trực HĐND có nơi được cơ cấu là cấp
ủy viên cùng cấp, có nơi không là cấp ủy cùng cấp Các ban HĐND cũng tương tự:nơi bố trí Trưởng ban chuyên trách, nơi bố trí kiêm nhiệm; có nơi Trưởng ban là
Ủy viên thường vụ cấp ủy cùng cấp, có nơi chỉ là cấp ủy viên, có nơi không là cấp
ủy cùng cấp Trong khi, mỗi cơ quan chuyên môn thuộc UBND đều có bộ máyhoàn chỉnh, người đứng đầu thường là cấp ủy viên cùng cấp, có các phòng, ban, bộphận tham mưu giúp việc và biên chế hành chính đồng bộ các ban HĐND cóchức năng, nhiệm vụ nặng nề, phụ trách nhiều lĩnh vực thuộc nhiều sở, ngànhnhưng không có người phụ trách chuyên sâu, nhưng chỉ có một đại biểu HĐNDhoạt động chuyên trách, do đó, dù đã sử dụng nhiều biện pháp hỗ trợ song vẫn rấtkhó khăn, nhất là khi xây dựng báo cáo thẩm tra, chuẩn bị và tổ chức giám sát Tổđại biểu HĐND là một thực thể hiện hữu, có tầm quan trọng đặc biệt, nhưng Luật
Tổ chức HĐND và UBND 2003 chưa đề cập Theo quy định hiện hành, ở mỗi cấphành chính đều có HĐND và UBND hợp thành chính quyền địa phương Thếnhưng không có địa phương nào cơ cấu Chủ tịch UBND, Giám đốc hoặc thủ của
Trang 12cơ quan dân cử còn bất cập, dẫn đến những hạn chế về hiệu lực, hiệu quả hoạttrưởng sở, ngành kiêm nhiệm như HĐND So sánh như vậy để thấy rằng cơ cấu tổđộng của HĐND Cũng theo quy định, các thành viên Thường trực HĐND, chứccác thành viên ban HĐND hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chịu tráchnhiệm tập thể về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trước HĐND Nhưng trênthực tế, hoạt động thường xuyên chỉ vỏn vẹn có vài đại biểu chuyên trách, còn lạihoạt động kiêm nhiệm Phần lớn cơ cấu ủy viên các ban, kể cả Trưởng, Phó banHĐND do Trưởng, Phó ban của các ban Đảng hoặc cơ quan chuyên môn củaUBND cùng cấp, hay cơ quan Nhà nước cấp dưới kiêm nhiệm Thực trạng này rấtkhó để Thường trực, các ban HĐND hoạt động thường xuyên theo chế độ tập thể.Mặt khác, cơ chế bảo đảm điều kiện phục vụ hoạt động của HĐND chưa đáp ứngyêu cầu Nhiều vướng mắc, chồng chéo về tổ chức và hoạt động của Văn phòngĐBQH và HĐND cấp tỉnh đến nay vẫn chưa được tháo gỡ, như: những quy định
về thể chế chưa rõ ràng; chức năng, nhiệm vụ trùng lặp; mối quan hệ trong tổ chứcthực hiện nhiệm vụ không được định hình; tổ chức bộ máy thiếu thống nhất, điềukiện vật chất chưa bảo đảm; nhận thức về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Vănphòng cũng chưa đúng, chưa đầy đủ và còn nhiều cách đánh giá khác nhau Giảipháp khắc phục Về cơ cấu tổ chức, cần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp làcác cấp ủy Đảng đối với HĐND các cấp Sớm có quy định thống nhất phân côngcác đồng chí trong Thường trực cấp ủy, ủy viên thường vụ, ủy viên Ban chấp hànhcấp ủy cùng cấp đảm nhiệm các chức danh chuyên trách của HĐND Cụ thể: chứcdanh Chủ tịch HĐND nên cơ cấu Bí thư hoặc Phó bí thư cấp ủy cùng cấp; chứcdanh Phó chủ tịch HĐND nên cơ cấu Ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy cùng cấp;chức danh Ủy viên Thường trực HĐND, Trưởng các ban HĐND hoạt động chuyêntrách là cấp ủy viên cùng cấp Cấp quận, huyện cơ cấu ít nhất một Trưởng banHĐND hoạt động chuyên trách là cấp ủy viên cùng cấp Cần có quy định hoặchướng dẫn về quy chế hoạt động Đảng đoàn HĐND trong lãnh đạo thực hiện chứcnăng của HĐND Cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chứcHĐND và UBND Cụ thể, tại Điều 52 cần điều chỉnh và quy định rõ: Thường trựcHĐND là cơ quan của HĐND Đối với Thường trực HĐND cấp tỉnh, gồm: Chủtịch, không quá 2 Phó chủ tịch và một số Ủy viên Thường trực, các Ủy viênThường trực được cơ cấu từ các Trưởng ban của HĐND và Chánh văn phòngĐoàn ĐBQH và HĐND; cấp huyện gồm Chủ tịch và không quá 2 Phó chủ tịchHĐND Thường trực HĐND cấp xã gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND Tại Điều
54 cần bổ sung và quy định rõ: Trưởng ban, Phó trưởng ban của HĐND cấp tỉnh,cấp huyện làm việc chuyên trách và có một số đại biểu HĐND hoạt động chuyêntrách ở mỗi ban Bổ sung quy định về tổ đại biểu HĐND; quy định về tổ chức bộmáy của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương Nghiên cứu trình Quốc hội xem xét, ban hành Luật hoạt động giám sát củaHĐND, giúp HĐND các cấp có đủ cơ sở pháp lý, thống nhất trong tổ chức thực
Trang 13hiện Về hoạt động, để nghị quyết HĐND có chất lượng, bảo đảm tính khả thi, cầntuân thủ đúng tiến độ, quy trình, thủ tục soạn thảo và ban hành văn bản quy phạmpháp luật của HĐND và UBND Các ban HĐND chủ động tham gia ngay từ đầuquá trình soạn thảo; khi thẩm tra, phải tập hợp được trí tuệ của tập thể, thể hiện rõchính kiến: đồng ý hoặc không đồng ý ban hành nghị quyết để đại biểu HĐND có
cơ sở xem xét, thảo luận và quyết định Trong kỳ họp, Chủ tọa phải dành thời gianthỏa đáng cho việc thảo luận dự thảo nghị quyết, tránh nhận xét chung chung.Trước khi ký ban hành, các nghị quyết phải được rà soát kỹ về nội dung và kỹthuật trình bày văn bản, sau đó tiếp tục theo dõi ban hành các văn bản cụ thể hóa,đồng thời chú trọng giám sát để nghị quyết sớm đi vào cuộc sống Cần quan tâmđặc biệt đến việc xử lý ý kiến, kiến nghị của cử tri Sau khi tiếp xúc cử tri, các tổđại biểu họp phân loại, những nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dướichuyển cho quận, huyện; nội dung còn lại thì chuyển về Thường trực HĐND đểtổng hợp chuyển cho UBND cùng cấp xem xét, giải quyết Tại kỳ họp, các ý kiến,kiến nghị của cử tri phải được chủ tọa gợi ý thảo luận, tìm ra được phương án, giảipháp và lộ trình giải quyết thấu tình, đạt lý Các nội dung trả lời của UBND và sở,ban ngành phải được thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để cử tribiết, cùng giám sát Một vấn đề nữa cần quan tâm là phải hiện đại hóa công tác vănphòng Để nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND, nhưng để các cơ quan củaHĐND thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ thì việc hiện đại hóa công tácvăn phòng có vai trò quan trọng Cụ thể, cần tổ chức bộ máy văn phòng gọn, nhẹ,khoa học; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức văn phòng chuyên nghiệp; trangthiết bị hiện đại, kỹ thuật tiên tiến gắn liền với ứng dụng thành tựu của công nghệtin học và công nghệ truyền thông; đồng thời không ngừng cải tiến nghiệp vụ hànhchính văn phòng phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính hiện nay
CÂU 2:MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
60 năm qua, cùng với sự lớn mạnh của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền địa phương cũng không ngừng đượccủng cố và kiện toàn, đáp ứng kịp thời yêu cầu cách mạng của mỗi thời kỳ, bảođảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân và đã có những đóng góp to lớn vào
sự nghiệp chung của đất nước, của dân tộc
Tuy nhiên, trước nhu cầu đổi mới tổ chức chính quyền địa phương nhằm thực hiệnquyền làm chủ của nhân ở địa phương, phát huy quyền chủ động, năng động, sángtạo và tăng cường trách nhiệm của địa phương và cơ sở trong cơ chế quản lý mới,thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền, kế thừa kinh nghiệm và cácgiá trị của Hiến pháp 1946 và các bản Hiến pháp sau này, thực tiễn tổ chức chính
Trang 14quyền địa phương của nước ta và kinh nghiệm của các nước, chúng tôi xin nêu một
số bất cập về lý luận và thực tiễn tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta hiệnnay, nhu cầu và hướng đổi mới như sau:
1 Mô hình tổ chức chính quyền địa phương của nước ta hiện nay được tổ chứctheo nguyên tắc nào trong các mối quan hệ: giữa chính quyền trung ương với chínhquyền địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương với nhau, giữa Ủy bannhân dân với Hội đồng nhân dân cùng cấp và với cơ quan hành chính nhà nước cấptrên (đối với cấp tỉnh là với Chính phủ) vẫn chưa được giải quyết về lý luận vàthực tiễn Theo Điều 6 Hiến pháp hiện hành nước ta xác định thì tất cả các cơ quannhà nước đều “tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ” Nhưngcác quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhândân lại thể hiện rõ tính tập trung về trung ương, về cấp trên Thực tế là trung ương
và cấp trên không thể nắm, không thể quản được địa phương Còn địa phương vàcấp dưới cũng không có được quyền chủ động, phát huy sự sáng tạo, năng độngtrong việc giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc của mình nên phải “xé rào”như một số địa phương đã làm trong thời gian vừa qua Cần nghiên cứu để giảiquyết triệt để vấn đề này
2 Việc phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ ở nước ta những năm vừa qua chưađược giải quyết thoả đáng về lý luận và thực tế Vì thế nên mới có chuyện khi thì ồ
ạt sáp nhập tỉnh (năm 1980 cả nước có 36 tỉnh, ba thành phố trực thuộc trung ương
và một đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo) để rồi sau đó lần lượt chia tách tỉnh trả lại gầnnhư trước khi nhập tỉnh Việc xác định vị trí, tính chất và vai trò của từng loại đơn
vị hành chính cũng là vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc tổchức hợp lý các cấp chính quyền địa phương Cuối những năm 1970 đến giữanhững năm 1980 chúng ta đã có chủ trương không đúng khi xác định huyện là địabàn chiến lược nên đã ban hành một loạt văn bản về xây dựng huyện và tăng cườngcấp huyện, trong khi đơn vị hành chính này một thời gian dài chỉ là “cấp trunggian” Do không xác định đúng các đơn vị hành chính nên chúng ta không giảiquyết được vấn đề tổ chức mấy cấp chính quyền ở tỉnh, mấy cấp ở thành phố, cấpnào có Hội đồng nhân dân, còn cấp nào chỉ có Ủy ban nhân dân Đây là vấn đềđược thảo luận nhiều từ khi soạn thảo Hiến pháp 1992 đến nay vẫn chưa giải quyếtxong (Khác với 3 bản Hiến pháp trước đây, chỉ có Hiến pháp 1992 không quy định
về vấn đề rất quan trọng này mà dành cho Luật quy định, theo tôi là rất khôngnên)
Cần nghiên cứu, quy định thêm một cấp đơn vị hành chính có tính chất vùng hoặcmiền gồm một số tỉnh, thành phố để tổ chức bộ máy hành chính gọn nhẹ nhưng cóthẩm quyền cụ thể, đại diện cho Chính phủ để kịp thời chỉ đạo và kiểm soát hoạt
Trang 15động chính quyền địa phương Cấp đơn vị hành chính này ở nước ta trước đây đãtừng có là cấp Kỳ thời Pháp thuộc và thời kỳ đầu sau Cách mạng tháng Tám năm
1945, cấp Bộ theo Hiến pháp 1946, cấp Chiến khu và sau đó là Liên khu thời kỳkháng chiến chống Pháp Trên thế giới, ở các nhà nước đơn nhất cũng có đơn vịhành chính này, như Pháp, Italia cũng có đơn vị hành chính vùng, có chính quyềncấp vùng để đại diện cho Chính phủ
Hiện nay, Chính phủ và các Bộ đều có Văn phòng 2 đặt tại Thành phố Hồ ChíMinh Nhưng đây là cơ quan được lập ra từ sau ngày giải phóng miền Nam năm
1975 để tiếp quản các cơ sở tương ứng của chính quyền Sài Gòn, có vai trò quantrọng trong những năm đầu sau giải phóng Địa vị pháp lý các Văn phòng 2 củaChính phủ và các Bộ cho đến nay là không còn phù hợp vì chức năng, thẩm quyền
và trách nhiệm rất mờ nhạt, không rõ ràng, hoạt động không hiệu quả, lãng phí vềtrụ sở, phương tiện, kinh phí và nhân sự v.v., rất cần phải được tổ chức lại
3 Cần nghiên cứu và giải quyết dứt điểm mô hình tổ chức chính quyền ở địa bànnông thôn và đô thị, chứ không thể tổ chức như nhau trong khi giữa hai địa bàn này
có nhiều khác nhau về điều kiện kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ tầng, nhất làthành phố trực thuộc trung ương còn có vị trí, vai trò của một trung tâm kinh tế,chính trị, văn hoá, khoa học v.v , có ảnh hưởng đối với cả một vùng, cũng như đốivới cả nước
Trước đây, trong quá trình thảo luận về Dự thảo Hiến pháp 1992, cũng như thảoluận sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp (2001), có nhiều ý kiến rất khácnhau về mô hình tổ chức chính quyền địa phương các cấp nói chung, thành phốtrực thuộc trung ương nói riêng Khái quát lại có bốn loại ý kiến, kiến nghị về vấn
đề này là:
Loại ý kiến thứ nhất: đề nghị giữ mô hình tổ chức Hội đồng nhân dân ở ba cấp nhưhiện nay Vì ở cấp hành chính nào cũng cần có Hội đồng nhân dân để đại diện chonhân dân ở cấp đó, Hội đồng nhân dân ở ba cấp đã ổn định qua nhiều năm, đã hoạtđộng tương đối hiệu quả, không nên làm xáo trộn lớn về tổ chức Hội đồng nhândân
Loại ý kiến thứ hai: đề nghị chỉ tổ chức Hội đồng nhân dân ở hai cấp là cấp tỉnh vàcấp xã Vì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn quyết định nhữngvấn đề quan trọng của địa phương, chính quyền cấp tỉnh có vai trò quản lý toàndiện các lĩnh vực kinh tế-xã hội trên địa bàn Hội đồng nhân dân cấp xã là cấp cơ
sở, gắn bó trực tiếp với nhân dân, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân,quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ở cơ sở Bỏ Hội đồng
Trang 16nhân dân ở cấp huyện nhìn chung không ảnh hưởng đến quản lý nhà nước, tạo điềukiện có thể tăng số lượng đại biểu cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp xã.
Loại ý kiến thứ ba: đề nghị giữ mô hình tổ chức Hội đồng nhân dân ở tỉnh, huyện
và xã; nhưng bỏ Hội đồng nhân dân ở quận, phường thuộc thành phố trực thuộctrung ương; bỏ Hội đồng nhân dân các phường thuộc thị xã và thành phố thuộctỉnh
Loại ý kiến thứ tư: đề nghị chỉ tổ chức Hội đồng nhân dân ở hai cấp là cấp tỉnh vàcấp xã; riêng thành phố trực thuộc trung ương chỉ tổ chức Hội đồng nhân dân ởmột cấp là cấp thành phố [8]
Cần phải nghiên cứu tổ chức các cấp chính quyền địa phương sao cho phù hợp vớitính đa dạng của các địa phương, phản ánh được các đặc điểm và điều kiện đặc thùcủa địa phương nhằm phát huy tính chủ động, năng động, các tiềm năng của địaphương Tổ chức chính quyền ở các đô thị cần phải được xem xét riêng biệt saocho phù hợp và bảo đảm phát triển có kế hoạch, đồng đều, thống nhất trong một đôthị, chứ không thể quản lý theo kiểu chia tách, cắt khúc như lâu nay
4 Vấn đề phân cấp chúng ta đã đề ra, đã ban hành một số văn bản pháp luật về vấn
đề này Nhưng những quy định này còn chung chung, không cụ thể, không rõ ràng,không nhất quán và còn tản mạn Để tăng cường tính chủ động, năng động và tựchịu trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền địa phương, của mỗi tỉnh, thành phố cầnphải phân định rõ và đầy đủ thẩm quyền cho địa phương, cho cấp dưới Thực hiệnnguyên tắc mà chúng ta đã từng đề ra từ lâu nhưng không thực hiện đúng là: việc
gì, ở cấp nào có điều kiện và khả năng thực hiện tốt nhất thì phân giao đầy đủquyền hạn và bảo đảm những điều kiện cần thiết cho cấp đó giải quyết Cơ quanđược phân giao thẩm quyền phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về các quyết định củamình Các cơ quan chính quyền cấp trên tăng cường kiểm tra, giám sát nhưngkhông can thiệp, làm thay cấp dưới
5 Xu hướng chung của các nhà nước dân chủ trên thế giới hiện nay là tổ chứcchính quyền địa phương theo nguyên tắc tự quản Liên minh Châu Âu năm 1985
đã thông qua Công ước về tự quản địa phương, nên đối với những nước mới muốnxin gia nhập Liên minh Châu Âu thì một trong những điều kiện đòi hỏi là phảitham gia Công ước này Hiện nay Liên hợp quốc đang tiến tới xây dựng và thôngqua Hiến chương quốc tế về tự quản địa phương Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứutiếp thu những kinh nghiệm hay của tổ chức tự quản địa phương, những điều kiện
và khả năng có thể áp dụng được ở nước ta để hướng tới đổi mới một cách cơ bản
tổ chức chính quyền địa phương trong giai đoạn mới
Trang 17Câu hỏi: quan điểm đổi mới của Quốc hội và Hội đồng nhân dân:
QUAN ĐIỂM KIỆN TOÀN TỔ CHỨC QUỐC HỘI:
Đại hội lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:
"Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động củaQuốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, xây dựng chương trình dàihạn về lập pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới quy trình ban hành vàhướng dẫn thi hành pháp luật Quốc hội làm tốt chức năng quyết định các vấn đềquan trọng của đất nước, quyết định và phân bố nguồn ngân sách nhà nước, thựchiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước, trước mắt tậptrung vào những vấn đề bức xúc như sử dụng vốn và tài sản nhà nước, chống thamnhũng quan liêu"[1]
Trước hết, cần phải nhận thức đúng đắn quan điểm chung về cải cách bộ máy nhànước là xây dựng và hoàn thiện nhà nước CHXHCN Việt Nam, trong đó có nhiệm
vụ kiện toàn, cải cách tổ chức Quốc hội Cụ thể là:
- Xây dựng nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân; lấy liên minh giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sảnlãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xãhội, chấm dứt mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quannhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt dộng của nhà nước
- Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam Quản lý
xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước
-Các quan điểm cụ thể: Yêu cầu kiện toàn tổ chức và hoạt động của Quốc hội phảibảo đảm những tiêu chí sau đây:
- Nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Mở rộng dân chủ, hướng tới xây dựng Quốc hội hoạt động thường xuyên
Trang 18- Kế thừa phù hợp với đặc điểm truyền thống, văn hoá Việt Nam.
- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Việt Nam, đồng thời, kế thừa có chọn lọc kinhnghiệm của nước ngoài
Phương án kiện toàn và xây dựng mô hình tổ chức Quốc hội
Phương án 1: Giảm bớt số Uỷ ban thường trực, tăng thêm các ban của các Uỷ ban;thu hút thêm các đại biểu chuyên trách
- Thực hiện chức năng lập hiến và lập pháp, Quốc hội cần thành lập Uỷ ban lậppháp Trong Uỷ ban này, có thể thành lập nhiều ban theo từng nhiệm vụ và từnglĩnh vực nhất định Ví dụ: Ban lập pháp về dân sự - kinh tế, Ban lập pháp về tổchức bộ máy nhà nước, Ban thẩm định dự án luật…
- Thành lập Văn phòng cố vấn luật pháp để giúp soạn thảo các dự án luật cho cácban chuyên ngành hoặc các đại biểu Quốc hội Các thành viên trong Văn phòng cốvấn có thể là đại biểu Quốc hội, các luật gia, nhà luật học nổi tiếng có nhiều kinhnghiệm xây dựng pháp luật và giỏi về chuyên môn…
- Thành lập Uỷ ban thường trực quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước;trong Uỷ ban này cũng thành lập nhiều ban như: Ban kinh tế, Ban ngân sách, Bankiểm tra, Ban văn hoá xã hội…
- Thành lập Uỷ ban giám sát thường trực của Quốc hội Uỷ ban này gồm nhiềuban: Ban giám sát tổ chức hoạt động của Chính phủ, Ban giám sát hoạt động các
cơ quan tư pháp, Ban (Hội đồng) bảo hiến…
Tổ chức các Uỷ ban thường trực gồm có Chủ nhiệm Uỷ ban, các Phó Chủ nhiệm
Uỷ ban, thư ký và các thành viên Mỗi ban có trưởng ban và phó trưởng ban và các
về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, với cơ cấu tổ chức Quốc hội như hiện nay