1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

tai lieu ly

11 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Năng lượng là khả năng thực hiện công Năng lượng được phân loại thành hai loại: - Động năng: năng lượng của vật thể có được do chuyển động của nó - Thế năng : năng lượng tiềm ẩn của

Trang 1

Khái niệm Năng lượng

- Năng lượng là sức mạnh (khả năng) biến đổi sự vật

- Năng lượng là khả năng thực hiện công

Năng lượng được phân loại thành hai loại:

- Động năng: năng lượng của vật thể có được do chuyển động của nó

- Thế năng : năng lượng tiềm ẩn của vật thể, có được do vị trí của nó hay sự sắp xếp các phần của nó, nói cách khác nhờ vị trí tương đối của vật với môi trường và cấu trúc bên trong của vật thể Thế năng của vật chất do cấu trúc và sự sắp xếp theo trật tự của các phân

tử được hiểu rất ít và cảm tính Thí dụ năng lượng của nam châm,của các loại đá quí, của băng,…

- Năng lượng sinh học: hoàn toàn chưa hiểu được

Sự biến đổi năng lượng trong cơ thể

Trong các cơ thể sống các loại công khác nhau được thực hiện, các dạng công cơ bản là công hóa học , công cơ học , công vận chuyển

Công hóa học: được thực hiện trong việc tổng hợp các hợp chất cao phân tử như protein,

AND từ các hợp chất thấp phân tử, tổng hợp ATP từ ADP, trong thực hiện các phản ứng hóa học nhất định, tiết các hormone, dịch vị,…các quá trình này đòi hỏi tiêu phí năng lượng nên cũng có thể được đánh giá là thực hiện công

Công cơ học: Công này thực hiện bởi các cơ khi cơ co.

Công vận chuyển: công thực hiện khi vận chuyển các chất khác nhau qua các cấu trúc

màng theo các cơ chế vận chuyển chủ động từ nơi nồng độ thấp đến cao chống lại xu thế khuếch tán và đòi hỏi sự tiêu phí năng lượng của tế bào

 cơ thể trước tiên chuyển năng lượng tiềm ẩn của thức ăn để tổng hợp ATP và sau

đó nhờ ATP thực hiện các loại công trong hoạt động sống ATP là “energy

money”

 Nhưng hiệu quả việc sử dụng năng lượng của thức ăn để tổng hợp ATP từ ADP phụ thuộc trạng thái sinh lý của cơ thể và những đặc tính “không nhìn thấy” của thức ăn

 Sau đó mọi loại công trong cơ thể được thực hiện phải dùng năng lượng giải phóng

ra khi ATP thủy phân thành ADP trong tế bào

Tạo ATP từ ADP

• ADP + HPO4 2−  ATP + H 2O

• ADP  ATP cần năng lượng, chủ yếu lấy từ quá trình

C6H12O6 + 6 O 2 → 6 CO 2 + 6 H2O

• Quá trình rất phức tạp oxi hóa glucose được gọi là sự hô hấp của tế bào Một phân

tử glucose bị oxi hóa như trên có thể tạo ra đến 36 phân tử ATP từ ADP (đây là thí nghiệm, không phải quá trình thực diễn ra trong tế bào )

• Nhiệt lượng thất thoát là tất yếu

• Hiệu suất tổng hợp ATP (bao nhiêu ATP từ một phân tử glucose) là rất khác nhau trong các cơ thể sống khác nhau

• Ngoài ra còn có các quá trình khác cung cấp năng lượng cho sự tổng hợp ATP

 Sự hô hấp yếm khí không cần oxi

C6H12O6 2CH3CH(OH)COOH (acid lactic) + 2 ATP

 ADP + creatin phosphate  ATP + creatin

(sản xuất ATP tức thời ~ 20 s đầu tiên hoạt động thể chất đột ngột, mạnh)

• Lưu ý: Các chất đạm, béo cũng được chuyển hóa thành glucose để tổng hợp ATP

Phản ứng thủy phân ATP giải phóng năng lượng

• ATP + HO  ADP + HPO 2−

Trang 2

• Năng lượng giải phóng ra khi ATP thủy phân thành ADP được sử dụng cho mọi hoạt động của tế bào – phát triển, vận chuyển chủ động, chuyển hóa, sửa chữa, tổng hợp, co cơ…

• Hiệu suất quá trình này:

– năng lượng có thể giải phóng từ sự thủy phân ATP rất khác nhau phụ thuộc môi trường phản ứng và trạng thái sinh lý

– Nhiệt lượng thất thoát là tất yếu

– hiệu quả sử dụng năng lượng giải phóng ra để thực hiện công ở các cơ thể khác nhau cũng vẫn chưa được hiểu nhiều

Đọc thêm: 1 Ảnh hưởng của độ pH: các nghiên cứu in vitro cho thấy độ pH càng cao

(môi trường càng kiềm) sự thủy phân ATP  ADP càng giải phóng nhiều nhiệt lượng Có

thể đó là lí do môi trường cơ thể càng kiềm càng tốt

2 Ảnh hưởng của tỷ lệ nồng độ ATP/ADP trong tế bào: in vitro tỷ lệ này càng cao nhiệt lượng tỏa ra càng nhiều, lý thuyết cũng khẳng định như thế Rất có thể ở những cơ thể khỏe mạnh tỷ lệ này được duy trì ở mức cao

Mọi quá trình sinh công trong cơ thể do đó cần các quá trình tổng hợp ATP và quá trình thủy phân ATP

Vì các phản ứng hóa sinh có hiệu suất hữu ích nhỏ hơn 100%, nên luôn có kèm thất thóat

nhiệt vô ích gọi là nhiệt lượng sơ cấp Nhiệt lượng này trên sơ đồ được kí hiệu là Q1

Năng lượng, trực tiếp được dùng để thực hiện các loại công CƠ HỌC hữu ích bên trong

cơ thể, cuối cùng rồi cũng biến thành nhiệt Thí dụ: năng lượng được tim sử dụng trong việc vận chuyển máu trong hệ mạch (thực hiện công cơ học) được tiêu hao vào việc thắng sức cản do ma sát cuối cùng sẽ biến thành nhiệt tỏa ra Nhiệt có bản chất như thế gọi là

nhiệt lượng thứ cấp kí hiệu trên sơ đồ là Q2

Nếu như cơ thể thực hiện thực hiện công trong các hoạt động như nâng, di chuyển vật,… thì một phần công hữu ích thực hiện trong cơ thể, một phần là công cơ học thực hiện lên

môi trường ngoài là A

Tóm lại – nhiệt lượng sơ cấp là sự thất thoát trực tiếp năng lượng từ các phản ứng hóa

sinh trong cơ thể

– nhiệt lượng thứ cấp là kết quả sự biến đổi thành nhiệt của phần năng lượng mà ban đầu tiêu hao để thực hiện công cơ học hữu ích bên trong cơ thể (chiếm phần lớn tiêu hao năng lượng cho các hoạt động sống)

Trang 3

Đọc thêm

Sự xoay vòng ATP

Tổng số lượng ATP + ADP trong cơ thể người ~ 0.1 mole Tại mọi thời điểm

tổng số ATP + ADP tương đối ổn định Nhìn chung ATP không được tổng hợp

“mới”, mà được tái tạo từ ADP

Năng lượng mà các tế bào trong cơ thể dùng đòi hỏi thủy phân 100 – 150 mole ATP hàng ngày ( 50 – 75 kg)

Điều này có nghĩa là mỗi phân tử ATP được tái tạo 1000 – 1500 lần mỗi ngày

ATP không thể dự trữ được, do đó sự tiêu hao nó gắn liền với sự tổng hợp lại từ ADP  sự hô hấp tế bào diễn ra liên tục.

Glycogen

Trang 4

Glycogen có trong nhiều loại tế bào, đóng vai trò quan trọng trong vòng quay glucose

glucose  glycogen glucose

Glycogen tạo một dạng dự trữ năng lượng (trong gan, trong cơ) có thể nhanh chóng được huy động để thỏa mãn nhu cầu glucose tăng đột ngột

Sự vận chuyển glucose từ ngoài vào trong tế bào và sự tổng hợp glycogen đều cần hormone là insulin Thiếu insulin thì glucose thừa ở ngoài mà thiếu ở trong, tế bào thì đói mà đường máu cao vì không tiêu hao được và không chuyển hóa được thành dạng dự trữ

Dạng dự trữ glycogen rất “linh hoạt”, dễ dàng nhanh chóng giải phóng thành glucose.

Định luật Hess

Nhiệt tỏa ra hay thu vào trong một quá trình hóa học không phụ thuộc vào các bước diễn ra (tức là chỉ phụ thuộc sản phẩm đầu và sản phẩm cuối của phản ứng)

Năng lượng của thức ăn = ?

Trong cơ thể : thức ăn  glucose  glucose bị oxi hóa thành CO 2 + H2O và giải

phóng ra năng lượng để tổng hợp ATP

dựa trên sự kiện glucose + O2  CO 2 + H2O + năng lượng E, áp dụng định luật Hess, đầu thế kỷ 20 người ta đưa ra kết luận thiếu thuyết phục rằng: thức ăn

mang lại cho cơ thể năng lượng đúng bằng nhiệt lượng tỏa ra khi đốt cháy thức

ăn đó trong oxy ???

Từ cơ sở đó người ta chế tạo ra buồng đốt thức ăn để xác định năng lượng thức

ăn gọi là calori kế (calorimeter) Thức ăn hoặc đồ uống được sấy khô (?), được đốt trong hộp trụ kim loại kín đựng oxi bằng tia lửa điện (?), sau khi cháy hết sẽ tỏa nhiệt làm nóng nước mà hộp kín được ngâm trong đó Nhiệt lượng đo được là năng lượng thức ăn???

Rất nhiều điều không thuyết phục trong lý thuyết này:

- định luật Hess nói về nhiệt lượng chứ không phải năng lượng Năng lượng cơ thể dùng là rất trừu tượng, khó hình dung,không thể định lượng thí dụ như co cơ, vận chuyển chủ động,tạo các hợp chất,…năng lượng cần để tạo ATP hay giải phóng ra khi thủy phân ATP cũng vậy

- các chất đạm không thể dùng cách đốt để gượng ép áp dụng định luật Hess

được Quá trình tiêu hóa chất đạm trong cơ thể và quas trình chuyểnhóa acid amin thành glucose tạo ra các sản phẩm cuối như urea, hoàn toàn không giống các sản phẩm cuối nếu đem đốt chất đạm trong O2

- Theo lý thuyết này, hai lượng thực phẩm khác loại nhau nhưng có cùng “lượng calories” sẽ đem lại NĂNG LƯỢNG giống nhau cho con người (và cả động vật),

cỏ và lá cây đem lại rất nhều năng lượng cho động vật ăn cỏ nhưng vô nghĩa với các loài ăn thịt và con người Rượu đem đốt sinh ra nhiều nhiệt lượng nhưng chỉ làm hao năng lượng để đào thải

- không tính đến quá trình tiêu hóa thức ăn và đào thải các chất thừa hoặc độc hại Các quá trình đó tiêu hao rất nhiều năng lượng, tức ATP

- Còn nhiều, còn nhiều điều phi lý khác mà không thể liệt kê ra đây

Ngày nay trong khoa học dinh dưỡng người ta quan tâm không phải là “lượng calories” trong thức ăn mà quan tâm chủ yếu đến khả năng tạo ATP của thức ăn

đó Lưu ý rằng trước khi thành glucose thì thức ăn phải trải qua quá trình tiêu hóa phức tạp tiêu tốn năng lượng tức là tiêu thụ ATP, nhiều chất vô ích hoặc có hại trong thức ăn phải được thải trừ cũng tiêu tốn ATP (xem sơ đồ biến đổi năng lượng trong cơ thể phía trên)

Do đó xét khả năng tạo ATP của thức ăn phải tính đến số lượng ATP thặng dư tổng cộng thu được (số lượng NET ) tức là hiệu của lượng ATP tạo ra trừ đi lượng ATP tiêu thụ

Như vậy nhiều thứ mà được gọi là thực phẩm thực chất không có giá tri dinh dưỡng vì không sinh ATP hoặc rất ít mà tiêu tốn nhiều ATP của cơ thể để tiêu

Trang 5

hóa, thải trừ các chất ra khỏi cơ thể Thí dụ rõ rệt nhất là rượu, thí dụ khác là người bị bệnh Gút (Gout) cứ ăn thịt cá vào thì lại bị sưng đau khớp nặng vì thức

ăn đó sinh ra nhiều acid uric có hại mà cơ thể không thải ra hết được vì chức năng thận đã yếu

Thức ăn quá nhiều chất nhưng cơ thể không dùng đến thì cũng thành chất có hại phải tống ra Làm tiêu tốn năng lượng và bắt các cơ quan thanh thải như gan , thận làm việc nhiều.

Các trường phái dinh dưỡng tự nhiên thì không quan tâm đến số calories vô nghĩa nhưng rất quan tâm đến năng lượng sinh học, dạng năng lượng trừu tượng không

đo đếm được của thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm thiên nhiên

Rất nhiều bằng chứng cho thấy ý nghĩa quan trọng của năng lượng này đối với SỨC KHỎE thí dụ như công dụng tăng sinh lực cơ thể của rất nhiều loại thảo dược, rau, hoa, quả,…

Ngày nay chế độ ăn kiêng để giảm cân theo trường phái bác sĩ Mỹ Atkin (đã chết, tuổi thọ vừa phải, lúc sống sức khỏe khiêm tốn)được đông đảo người hâm mộ vì giảm cân nhanh mà vẫn được ăn thoải mái Lý do: chế độ ăn kiêng này cấu thành chủ yếu từ đạm động vật mà hầu như không có chất đường bột (còn gọi là low carb hay no carb) Giảm cân nhanh vì thực chất chế độ ăn này tiêu hao ATP nhiều hơn sinh ra ATP, cơ thể thiếu dinh dưỡng và phải lấy từ dự trữ mỡ thừheejra để nuôi cơ thể Tất cả những người dùng chế độ này đều cảm thấy mệt mỏi, sinh khí thấp.Chế độ ăn như thế sinh nhiều chất độc, đồng thời làm acid hóa cơ thể và sinh nhiều gốc tự do, hệ quả gan thận phải làm việc quá mệt để thải trừ

• “One-quarter of what you eat keeps you alive The other

three-quarters keeps your doctor alive.”

• “Một phần tư những gì bạn ăn duy trì bạn sống Ba phần tư còn lại

duy trì bác sĩ của bạn sống”

Nội dung một dòng chữ tượng hình tìm thấy trên một lăng

mộ Ai cập cổ

• “Let food be thy medicine, and let thy medicine be food.”

• “Hãy làm sao để thức ăn là thuốc của bạn và làm sao để thuốc của bạn là thức ăn”

Hippocrates

Suy ngẫm: “ ngày nay, thức ăn là chất độc và thuốc còn là chất độc hơn nữa, vậy chúng ta suy tôn Hippocrates để làm gì nếu ta chỉ làm ngược lại lời ông?”

SỰ ĐIỀU HÒA THÂN NHIỆT CỦA CƠ THỂ

3 cơ chế trao đổi nhiệt trong tự nhiên

1 Dẫn nhiệt

Trang 6

S – diện tích tiếp xúc hai vật thể nhiệt độ khác nhau

2.TRUYỀN NHIỆT = ĐỐI LƯU

 Đối lưu là sự truyền nhiệt nhờ sự chuyển động của chất lưu (nói chung đó là chất lỏng và chất khí)

3 TRUYỀN NHIỆT = BỨC XẠ

• Các vật đều có thể phát xạ sóng điện từ Nếu nhiệt độ không quá cao chỉ phát bức xạ hồng ngoại Nhiệt độ rất cao sẽ phát sáng

Cơ thể phát xạ ra môi trường dQphát xạ = k.S.T 4 dt

Môi trường phát xạ vào cơ thể (được cơ thể hấp thụ) dQhấp thụ=k.S.T A 4 dt

Lượng nhiệt trao đổi tổng cộng dQ = k S (T 4 – T A 4 ).dt

TA – nhiệt độ môi trường, T – nhiệt độ bề mặt cơ thể (da), S – diện tích bề mặt cơ thể tiếp xúc môi trường

Từ các công thức của 3 cơ chế trên rút ra được một kết luận quan trọng là:

• “Tốc độ của quá trình trao đổi nhiệt giữa môi trường và cơ thể tỷ lệ thuận với 2 đại lượng:

1 – chênh lệch nhiệt độ bề mặt cơ thể tiếp xúc môi trường (tức là da) > < nhiệt độ môi trường tiếp xúc da

2 – diện tích bề mặt tiếp xúc của cơ thể (da) với môi trường

SỰ TRAO ĐỔI NHIỆT GIỮA CƠ THỂ SỐNG VÀ MÔI TRƯỜNG

Sự sinh nhiệt trong cơ thể

• Các phản ứng hóa sinh là nguồn gốc tạo năng lượng duy nhất cho cơ thể: tiêu hóa thức ăn; cả 2 quá trình ATP < – > ADP luôn kèm nhiệt lượng thất thoát vô ích

(nhiệt lượng sơ cấp Q1)

Hoạt động của cơ sản sinh ra nhiệt lượng thứ cấp Q2 là kết quả của công hữu ích

biến thành

• Tiêu hao năng lượng bởi cơ thể trong thời gian dt là dE = dQ1 + dQ2 + dA

• Công suất sinh nhiệt bởi cơ thể = d(Q1 + Q2)/dt

Sự tỏa nhiệt (sự mất nhiệt) của cơ thể

Trang 7

Các cơ chế trao đổi nhiệt cơ thể - môi trường

1 Cơ thể phát ra bức xạ nhiệt hồng ngoại

2 Trao đổi nhiệt bằng cách dẫn nhiệt qua bề mặt tiếp xúc của cơ thể với môi trường xung quanh

3 Trao đổi nhiệt bằng đối lưu nhờ các dòng không khí chuyển động trên bề mặt cơ thể và nhờ sự hô hấp

4 Sự bốc hơi của mồ hôi Mồ hôi bốc hơi làm cơ thể mất mát nhiệt lượng theo tỷ lệ 0.58 kcal/ml Tốc độ bốc hơi không phụ thuộc chênh lệch nhiệt độ cơ thể > < môi trường mà phụ thuộc độ ẩm của không khí và nhiệt độ Độ ẩm không khí càng lớn,

sự bốc hơi của mồ hôi càng chậm Trời nóng nhưng độ ẩm không khí bão hòa (100%) thì sự bay hơi mồ hôi không thể xảy ra

5 Hơi nước trong không khí thở ra cũng làm mất mát nhiệt lượng của cơ thể do nước trong cơ thể bốc hơi thu nhiệt

• Với 3 cơ chế 1, 2, 3 tốc độ trao đổi nhiệt tỷ lệ thuận diện tích bề mặt và độ lớn của chênh lệch nhiệt độ giữa bề mặt cơ thể (tức nhiệt độ da) và môi trường, còn chiều trao đổi nhiệt (tức là cơ thể thu nhiệt hay mất nhiệt) phụ thuộc vào dấu của chênh lệch nhiệt độ

• Còn các cơ chế 4, 5 chỉ có thể làm cơ thể mất nhiệt

SỰ ĐIỀU HÒA THÂN NHIỆT CỦA CƠ THỂ

• Con người, cũng như các động vật có vú khác có hệ thống điều hòa thân nhiệt để duy trì nhiệt độ ổn định cần thiết cho hoạt động của các cơ quan quan trọng bên trong cơ thể

• Nhiệt độ cao quá hay thấp quá mức “giới hạn” đều ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sống, mức độ cao nhất là tử vong

• Tuy nhiên có khi cơ thể tự tạo ra trạng thái có nhiệt độ cao hơn mức bình thường

để bảo vệ chính nó cơn sốt

CÂN BẰNG SINH NHIỆT > < TỎA NHIỆT

• Cơ thể điều hòa thân nhiệt bởi trung tâm điều hòa nhiệt trong hypotalamus (vùng đồi thị của hệ thần kinh thực vật)

• Trung tâm này ở trạng thái bình thường ngầm “mặc định” một mức nhiệt độ “bình thường” cho các cơ quan bên trong Nhiệt độ này khác nhau ở các loài máu nóng khác nhau

• Xét trạng thái nhiệt độ cơ thể đang ở mức “bình thường”

• Khi công suất sinh nhiệt dQsinh nhiệt /dt cao hơn (hoặc thấp hơn) công suất tỏa nhiệt dQtỏa nhiệt /dt, chính cơ thể sẽ hấp thụ (hay mất) nhiệt lượng chênh lệch này

và cơ thể sẽ nóng lên (hoặc lạnh đi)

• Nhiệt độ được cảm nhận bởi các thụ cảm thể nhiệt độ phân bố khắp nơi trong cơ thể Các thông tin nhiệt độ từ các thụ cảm thể này truyền về vùng đồi thị

(hypotalamus), được “so sánh” với mức “mặc định” Nếu nhiệt độ tại các cơ quan thiết yếu trong cơ thể tăng hoặc giảm quá mức nhiệt độ “mặc định” này thì

 hypotalamus gửi đến các cơ quan, các tuyến hormones,…những tín hiệu thích ứng các hoạt động sinh lý làm tăng, giảm sinh nhiệt và tỏa nhiệt thích hợp

Trang 8

Các cơ chế cân bằng sinh nhiệt và tỏa nhiệt vô thức (không chủ động)

• Các hoạt động được điều khiển bởi hypotalamus là các hoạt động bản năng, vô thức

• 2 cơ chế quan trọng là đổ mồ hôi, giãn mạch ngoại biên khi bị nóng quá và cơ chế run, co mạch ngoại biên khi bị lạnh quá là các ví dụ tiêu biểu về cách cơ thể cân bằng sinh nhiệt - tỏa nhiệt một cách vô thức

• Cơ chế co hoặc dãn các mạch ngoại biên nhờ các hormones:

─ Khi lạnh mạch ngoại vi co  giảm dòng đối lưu từ trong cơ thể ra bề mặt T da giảm  giảm tỏa nhiệt

─ Khi nóng mạch ngoại vi giãn  tăng dòng đối lưu từ trong cơ thể ra bề mặt T

da tăng  tăng tỏa nhiệt

• Một số hormones làm tăng trao đổi chất, nhưng với hiệu quả tạo ATP thấp  sinh nhiệt lượng sơ cấp tăng

Cơ chế tự nguyện (chủ động)

• Để tăng hay giảm tỏa nhiệt con người còn chủ động (có ý thức) tăng hay giảm tỏa nhiệt, sinh nhiệt

Đọc thêm:

Cơn sốt là gì?

Cơn sốt thường là dấu hiệu báo rằng cơ thể đang chiến đấu chống lại các virus vi khuẩn có hại hoặc tình trạng mất cân bằng nội môi nghiêm trọng (do tích tụ nhiều độc tố,…) Cũng có thể sốt khi cơ thể chịu những thương tổn, cần sửa chữa, hàn gắn

Khi có sự bùng phát hoạt động của các virus, vi khuẩn có hại trong cơ thể, các

bạch cầu tiết ra hormone tên là interleukin-1  theo dòng máu 

hypothalamus một loại neuron trong đó tiết ra chất prostagladin có tác dụng

nâng mức nhiệt độ “mặc định” lên cao hơn mức bình thường

Theo cơ chế điều hòa nhiệt đã nêu trên, sinh nhiêt của cơ thể sẽ tăng lên (run, tăng trao đổi chất)  nhiệt độ cơ thể tăng lên đến mức “mặc định” mới.

cơn SỐT được kích hoạt để hỗ trợ cơ thể tự vệ, đó là tình trạng khẩn cấp Cả nhiệt

độ cao và interleukin-1 đều làm tăng hiệu quả của hệ miễn dịch chống đỡ virus, vi khuẩn có hại, làm tăng sản xuất kháng thể lên 20 lần Nhiệt độ cao cũng giúp tiêu diệt và vô hiệu hóa virus, vi khuẩn ngoại nhập

Nhiệt độ cao  tăng trao đổi chất  các mô bị tổn thương hồi phục nhanh hơn,

các quá trình thanh thải độc tố mạnh lên

Hạ sốt bằng thuốc có phải là tốt?

Các thuốc hạ sốt tác động lên hypothalamus

Lưu ý đặc biệt – PARACETAMOL: thành phần chính của vô số các loại thuốc

giảm đau, chống viêm, hạ sốt Trong cơn sốt, một loại protein là pyrogen được sản sinh, protein này kích thích sự tăng sinh chất prostagladin đã nói ở trên trong

Trang 9

hypothalamus và làm tăng mức nhiệt độ “mặc định” Paracetamol ức chế

pyrogen và do đó ức chế tiết prostagladin Paracetamol còn làm hạ nhanh nhiệt

độ bằng tác dụng gây toát mồ hôi và dãn mạch (để tỏa nhiệt nhanh) Như vậy

Paracetamol tác động lên thần kinh

aspirin ức chế sự tổng hợp chất prostagladin

Tóm lại các loại thuốc hạ sốt không chống lại các tác nhân gây bệnh mà ngược lại chặn đứng cơ chế tự bảo vệ, tự chữa lành của cơ thể, cản trở cơ thể chiến đấu chống bệnh và thải độc.

Ngoài ra paracetamol hại gan, hại thần kinh, còn aspirin thì rất hại cho dạ dày,

dễ gây chảy máu trong

Tuy nhiên sốt cao đến hơn 39 0 C và kéo dài thì không tốt cho hệ thần kinh, lúc đó

có thể hạ nhiệt vùng đầu , không nhất thiết = thuốc mà = chườm lạnh đầu và bằng nhiều loại cây cỏ đã được kiểm chứng bởi kinh nghiệm dân gian trong quá trình rất lâu dài như sắc cỏ nhọ nồi hay cỏ mực, đắp các lát chanh lên trán , lên người

Thử phân tích nguyên nhân có thể gây ra cái chết sau đây trong bài

http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/suc-khoe/be-tu-vong-cha-me-kien-benh-vien-khong-som-tim-ra-benh-2277373.html

• "Give me fever, and I can cure your patient." – Hippocrates

• “Hãy cho tôi cơn sốt và tôi có thể chữa cho bệnh nhân của bạn” – Hippocrates

• "If your child contracts an infection, the fever that accompanies it

is a blessing, not a curse A rising body temperature simply

indicates that the process of healing is sped up It is something to rejoice over, not to fear."

The "people's doctor," Dr Robert Mendelsohn, in his book How to Raise a Healthy Child in Spite of Your Doctor

• “Nếu đứa trẻ của bạn đang chống đỡ một bệnh truyền nhiễm, cơn

sốt kèm theo đó là một hồng ân chứ không phải là điều để than trách…Nhiệt độ cơ thể tăng cao đơn thuần là dấu hiệu cho ta thấy quá trình tự chữa lành đang được tăng cường Đó là điều mà ta phải vui mừng chứ không phải là sợ hãi”

Bác sĩ nhân dân Robert Mendelsohn, trích sách “Làm thế nào để phát triển một đứa trẻ khỏe mạnh bất chấp bác sĩ của bạn”

DÙNG PARACETAMOL BỪA BÃI

DS Xuân Ngọc

(Nguồn Suckhoedoisong)

Điều không ghi trong tờ hướng dẫn dùng thuốc:

Độc hại của paracetamol: Paracetamol bị hydroxyl hoá do cytochrom P450 tạo ra N-acetylbenzoquinonimin là chất độc gây hoại tử gan không hồi phục Nhờ có glutathion của gan chuyển hóa N-acetylbenzoquinonimin thành chất không độc đào thải ra ngoài Do đó,

Trang 10

mỗi lần uống paracetamol (dù ở liều thông thường) cơ thể sẽ mất một lượng glutathion bằng 4% trong lượng paracetamol đã dùng Khi uống quá liều paracetamol (người lớn 6-10g/24 giờ) gan không đủ lượng glutathion để giải độc -N-acetylbenzoquinonimin tích lại

sẽ phân hủy tế bào gan, dẫn đến hoại tử không hồi phục, Nhiễm toan chuyển hóa (axit hóa môi trường nội môi), hôn mê rồi tử vong (như vậy paracetamol dùng đường uống nguy hại hơn tiêm và đặt hậu môn)

Quá nhiều tên biệt dược chứa paracetamol

Các nhà bào chế đã phối hợp paracetamol với nhiều dược chất khác tạo ra hàng trăm biệt dược Nếu không được xem nhãn hộp thuốc thì nhiều khi đến cả bác sĩ, dược sĩ cũng không đoán được - Biệt dược chỉ chứa paracetamol có tên từ A - Z: acephen, babifever,

Bé nóng, camol, dafalgan, decolgen ace, efferalgan, larylin, mexcol, panadol, servigesic, temol, vadol, zumol,…

- Biệt dược phối hợp với các dược chất khác từ 2 - 7 thành phần có hàng trăm tên khác nhau Đáng lưu ý là: những biệt dược có thành phần phenobarbital (chất tương tác xấu làm tăng độc tính của paracetamol với gan) như thần kinh D3, thần kinh số II, setal, frebital Những biệt dược chứa phenylpropanolamin, pseudoephedrin, phenylephrin (không nên dùng cho người có bệnh cường giáp, tăng huyết áp, đau thắt ngực, huyết khối, mạch vành, đái tháo đường, tiền sử tai biến mạch máu não)

Quá nhiều dạng bào chế

Theo đường dùng thuốc: thuốc tiêm, thuốc uống, tọa dược (thuốc đạn) với nhiều hàm lượng khác nhau

Gia đình hoặc người bệnh tự ý dùng thuốc

Các biệt dược chứa paracetamol có khoảng 90% là thuốc mua không cần đơn bác sĩ (OTC) Vì vậy, việc sử dụng quá liều paracetamol do trùng lặp các dạng thuốc khác nhau, tên biệt dược khác nhau, cho một người bệnh có đau nhức hoặc sốt lâu là điều dễ xảy ra, nhất là với những bệnh nhi http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/suc-khoe/be-tu-vong-cha-me-kien-benh-vien-khong-som-tim-ra-benh-2277373.html

Tai nạn phổ biến hơn cả là việc tự dùng các biệt dược chứa paracetamol để chữa cảm, cúm, ho Với người bệnh chỉ có hắt hơi sổ mũi, nước mũi chảy ròng ròng (có thể do cảm lạnh, do viêm mũi dị ứng), người ta lại uống decolgen forte với liều 1-2 viên/lần x 3 hoặc

4 lần/ngày Như vậy, người dùng thuốc phải chịu tác hại của một chất không cần thiết là 1.500 - 4.000mg paracetamol/ngày, rất hại gan và cơ thể mất oan một lượng từ 60 - 160mg glutathion quý giá (chất tạo sức đề kháng và chống ôxy hóa trong cơ thể)

Thầy thuốc chỉ định vô tội vạ và không hướng dẫn đầy đủ

Với người bệnh sốt cao hay đau nhức dai dẳng, thầy thuốc thường cho liều cao hoặc dùng paracetamol nhiều ngày, nhưng thường không quan tâm trước đó bệnh nhân đã dùng thuốc

có chứa paracetamol hoặc các loại thuốc tương tác có hại với paracetamol (như

Ngày đăng: 12/11/2016, 18:48

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w