1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BUỔI DÂN SỰ THẢO LUẬN THỨ NHẤT CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ

10 2,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 107,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu qu

Trang 1

BÀI THU HOẠCH BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT:

CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ.



I Phần thứ nhất: Cá nhân mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự và giám hộ

Câu 1: Trong trường hợp nào cá nhân được xác định là mất năng lực hành vi dân sự? Việc

Toà án xác định bà Chim mất năng lực hành vi dân sự do cao tuổi có thuyết phục không? Tại sao?

- Theo Khoản 1, Điều 22 BLDS 2005, cá nhân được xác định là mất năng lực hành vi dân sự trong trường hợp: người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định

- Việc toà án xác định bà Chim mất năng lực hành vi dân sự do cao tuổi là không thuyết

phục.Vì bà Chim không hội đủ các yếu tố để xác định bà mất năng lực hành vi dân sự: bà không bị tâm thần hay mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình, cũng như không có kết luận của tổ chức giám định

Câu 2: Ngay sau khi bà Rồi chết, cháu Thanh có là người được giám hộ không và có thuộc

trường hợp phải có người giám hộ không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Theo Điểm a, Khoản 2, Điều 58 BLDS 2005, người được giám hộ là “Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu”

và Khoản 3 Điều 58 “Người chưa đủ mười lăm tuổi được quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và người được quy định tại điểm b khoản 2 Điều này phải có người giám hộ” Như vậy ngay sau khi bà Rồi chết (2010), cháu Thanh được bốn tuổi là người được giám hộ và thuộc trường hợp phải có người giám hộ

Câu 3: Việc UBND công nhận bà Rảnh làm người giám hộ cho cháu Thanh có phù hợp với

BLDS không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Việc UBND công nhận bà Chim là người giám hộ của cháu Thanh là không phù hợp với BLDS Theo Khoản 1, Điều 61 BLDS 2005 “Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thoả thuận khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ”, vậy nên, chị Thi là người giám hộ đương nhiên của cháu Thanh

Câu 4: Bà Chim có thuộc trường hợp phải có người giám hộ không? Việc UBND công nhận

bà Rảnh làm giám hộ cho bà Chim có phù hợp với BLDS hay không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Bà Chim không thuộc trường hợp phải có người giám hộ

- Việc công nhận bà Rảnh làm giám hộ cho bà Chim không phù hợp với quy định của BLDS

- Vì theo Khoản 1, Điều 22, BLDS 2005 và Khoản 1, Điều 22, BLDS 2015 có quy định:

Trang 2

“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên

cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.”

Như vậy chỉ khi một người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác dẫn đến không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình và theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan thì Tòa án mới ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự Do vậy, việc Tòa án xác định một người mất năng lực hành vi do cao tuổi là không đúng quy định của pháp luật

Câu 5: Việc bà Rảnh giám hộ cùng một lúc cho nhiều người có phù hợp với BLDS không?

Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Việc bà Rảnh giám hộ cùng một lúc cho nhiều người là phù hợp với quy định của BLDS

- Vì theo Khoản 3, Điều 48, BLDS 2015 thì một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người

Câu 6: Trong trường hợp nào được thay đổi người giám hộ? Yêu cầu thay đổi giám hộ của

ông Rang có được chấp nhận không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Theo Điều 70, BLDS 2005 và Điều 60, BLDS 2015, các trường hợp được thay đổi người giám hộ:

“1 Người giám hộ được thay đổi trong trường hợp sau đây:

a) Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định tại Điều 49, Điều 50 của Bộ luật này;

b) Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự,

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự, mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại;

c) Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;

d) Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ

2 Trường hợp thay đổi người giám hộ đương nhiên thì những người được quy định tại Điều

52 và Điều 53 của Bộ luật này là người giám hộ đương nhiên; nếu không có người giám hộ đương nhiên thì việc cử, chỉ định người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 54 của

Bộ luật này

3 Thủ tục thay đổi người giám hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”

- Yêu cầu thay đổi người giám hộ của ông Rang không được chấp nhân

Vì bà Rảnh đang là người giám hộ hợp pháp, không rơi vào một trong các trường hợp đã nêu tại Điều 60, BLDS 2015 về việc thay đổi người giám hộ

Câu 7: Ông Rang và bà Rảnh có thể cùng là người giám hộ cho cháu Thanh không? Vì sao?

Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Ông Rang và bả Rảnh không thể cùng là người giám hộ cho cháu Thanh

- Vì theo Khoản 3, Điều 47, BLDS 2015 thì một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu

Trang 3

Câu 8: Trong trường hợp nào cá nhân bị coi là hạn chế năng lực hành vi dân sự? Nêu cơ sở

pháp lý khi trả lời.

Theo Điều 24, BLDS năm 2015 và Điều 23, BLDS năm 2005 thì cá nhân bị coi là hạn chế năng lực hành vi dân sự là:

- Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự và phạm vi đại diện

- Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác

- Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự

Câu 9: Những điểm giống và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng

lực hành vi dân sự.

- Điểm giống:

+ Họ từng là những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

+ Việc họ bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự dựa trên quy định của toà án trên cơ

sở yêu cầu của người có quyền và lợi ích của toà án

+ Họ không thể tự mình tham gia vào tất cả giao dịch dân sự mà pháp luật cho phép

+ Khi không còn căn cứ cho rằng họ bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ có quyền được khôi phục lại năng lực hành vi dân sự của mình

- Điểm khác:

Mất năng lực hành vi dân sự Bị hạn chế năng lực hành vi

dân sự Nguyên

nhân

Do bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình

Do nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích

Hệ quả

pháp lý

Không còn năng lực hành vi dân sự, không thể tham gia vào bất kì

một giao dịch dân sự nào Các giao dịch dân sự của họ sẽ do người đại diện xác lập và thực hiện

Họ không bị mất hết năng lực hành vi dân sự mà họ vẫn có thể tự mình tham gia được một số giao dịch dân sự nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình

Câu 10: Chị Thi có được coi là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?

Chị Thi không bị coi là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Bởi vì theo khoản 1, điều

24 BLDS 2015 quy định “Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ

Trang 4

quan, tổ chức hữu quan, Toà án có thể ra quyết định tuyên bố người này là ngui bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”

Câu 11: Trong trường hợp nào giám hộ chấm dứt? Ngày nay, việc giám hộ của chị Thi đã

chấm dứt chưa? Vì sao?

- Theo Điều 72, BLDS 2005 và Điều 62, BLDS 2015 quy định về việc chấm dứt giám hộ: “1 Việc giám hộ chấm dứt trong trường hợp sau đây:

a) Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Người được giám hộ chết;

c) Cha, mẹ của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;

d) Người được giám hộ được nhận làm con nuôi

2 Thủ tục chấm dứt việc giám hộ thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”

- Ngày nay, việc giám hộ của chị Thi đã chấm dứt Vì chị Thi sinh năm 1994 tính đến nay đã được 24 tuổi nên đã là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Do vậy việc giám hộ của chị Thi đã chấm dứt theo Điểm a, Điều 62, BLDS 2015 về chấm dứt giám hộ

Câu 12: Nêu những điểm mới của BLDS năm 2015 (so với BLDS năm 2005) về giám hộ cá

nhân và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này.

- Bổ sung quy định về: Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi tại Điều 23, BLDS 2015: “Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ

sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa

vụ của người giám hộ.” so với Điều 22, BLDS 2005

- Đối với cá nhân, Bộ luật đã bổ sung nhiều cơ chế pháp lý mới, hợp lý để bảo vệ tốt hơn quyền của những người yếu thế về năng lực hành vi dân sự, đặc biệt là chế độ giám hộ đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi tại Điều 47, BLDS 2015 so với Điều 58, BLDS 2005

- Về điều kiện của cá nhân làm người giám hộ tại Điều 49, BLDS 2015 bổ sung thêm điều kiện: “Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên” (Khoản 4) so với Điều 60, BLDS 2005

- Quy định cụ thể về việc giám hộ Đồng thời, thay cụm từ “tổ chức” thành “pháp nhân” tại Khoản 1 và bổ sung thêm các quy định tại Khoản 2, 3 Điều 46, BLDS 2015:

“1 Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã

cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)

2 Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu

Trang 5

3 Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch

Người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa

vụ của người giám hộ.”

- Trước đây, BLDS 2005 quy định chỉ có cá nhân mới được phép làm người giám hộ, BLDS

2015 mở rộng việc giám hộ không chỉ là cá nhân mà còn là pháp nhân Căn cứ vào Điều 50, BLDS 2015, Pháp nhân có đủ các điều kiện sau có thể làm người giám hộ:

+ Có NLPL dân sự phù hợp với việc giám hộ

+ Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ

- Bổ sung nghĩa vụ của người giám hộ đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi tại Điều 57, BLDS 2015

II Phần thứ hai: Tư cách pháp nhân và hệ quả pháp lý

Câu 1: Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân (nêu rõ từng điều kiện).

- Quy định tại Khoản 1, Điều 74, BLDS 2005 và Điều 84, BLDS 2005 nêu rõ:

“Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đầy đủ các điều kiện sau:

1 Được thành lập hợp pháp

2 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

3 Có tài sản độc lập với cá nhân,tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm về tài sản đó

4 Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.”

- Làm rõ các điều kiện:

+ Thứ nhất, được thành lập hợp pháp:

 Là sự thành lập đó là sự thành lập hợp pháp khi được pháp luật cho phép và thừa nhận, được thành lập theo trình tự thủ tục luật định trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ, chức năng phù hợp được pháp luật công nhận

 Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật khác nhau quy định về cơ cấu tổ chức và cách thức, thủ tục thành lập đối với các tổ chức khác nhau

 Ý nghĩa của việc quy định pháp nhân phải được thành lập hợp pháp:

 Thừa nhận sự ra đời và khai sinh pháp nhân

 Thông qua quy định này, nhà làm luật tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước kiểm tra, giám sát việc thành lập các tổ chức; đồng thời ngăn ngừa, không để cho các tổ chức nguy hại cho xã hội ra đời

 Đây còn là cơ sở pháp lý để Toà án và các cơ quan tài phán xem tính hợp pháp của các pháp nhân và giải quyết các tranh chấp liên quan đến sự thành lập và tồn tại của các pháp nhân

+ Thứ hai, pháp nhân có cơ cấu tổ chức chặt chẽ:

 Pháp nhân tồn tại dưới một hình thái tổ chức nhất định phù hộ với mục đích, chức năng, lĩnh vực hoạt động của tổ chức đó Tính có tổ chức của pháp nhân làm cho pháp nhân trở thành một tập hợp người có sự liên kết tương đối bền vững và đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động của pháp nhân

 Tính có cơ cấu tổ chức chặt chẽ của pháp nhân còn được thể hiện ở chỗ nó có cơ cấu hoàn chỉnh, thống nhất Pháp nhân phải có bộ máy làm việc hoàn chỉnh, có đầy đủ các cơ quan làm các nhiệm vụ khác nhau theo chuyên môn của mỗi cơ quan Các cơ quan có mối liên hệ chặt

Trang 6

chẽ với nhau, vừa phụ thuộc, vừa hỗ trợ nhau và chịu sự lãnh đạo thống nhất từ trên xuống của ban lãnh đạo pháp nhân

 Tính có cơ cấu tổ chức chặt chẽ của pháp nhân còn được thể hiện tính độc lập về mặt tổ chức của pháp nhân với cá nhân, tổ chức khác Sự độc lập về mặt tổ chức của pháp nhân thể hiện ở chỗ: cơ cấu tổ chức của pháp nhân là độc lập và tư cách chủ thể của pháp nhân độc lập với các tổ chức, chủ thể khác

 Ý nghĩa của quy định về cơ cấu tổ chức chặt chẽ của pháp nhân:

 Tạo tiền đề thực tế giúp cho tổ chức có đủ năng lực cần thiết để thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình và hoạt động có hiệu quả

 Đảm bảo sự tồn tại ổn định của tổ chức, không lệ thuộc vào số lượng và sự thay đổi thành viên

 Hoạt động độc lập, không lệ thuộc về mặt tổ chức đối với thành viên và cơ quan sáng lập pháp nhân

+ Thứ ba, pháp nhân phải có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và phải tự chịu trách

nhiệm bằng tài sản đó:

 Nghĩa là sản nghiệp của pháp nhân phải hoàn toàn biệt lập, tách biệt với tài sản riêng của thành viên hoặc tài sản của cơ quan nhà nước sáng lập pháp nhân

 Pháp nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt để không chịu sự chi phối ràng buộc của bất kì ai, đảm bảo tư cách chủ thể của pháp nhân

 Ý nghĩa: sự độc lập về tài sản của pháp nhân nhằm đảm bảo rằng:

 Giữa tài sản của pháp nhân với tài sản của thành viên phải rạch ròi và sòng phẳng Thành viên góp vốn phải thực hiện nghĩa vụ góp vốn đầy đủ và phải chịu trách nhiệm đối với pháp nhân về việc vi phạm nghĩa vụ góp vốn của mình

 Tài sản được giao cho pháp nhân là thuộc quyền sở hữu hoặc quyền quản lý độc lập của pháp nhân Điều này nhằm đảm bảo quyền độc lập và tự chủ của pháp nhân trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạn, các tài sản đó theo đúng chức năng, nhiệm vụ, mục đích của pháp nhân mà không lệ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai

 Đối với các pháp nhân kinh doanh, sự tách bạch về tài sản nhằm thể hiện rõ tiềm lực tài chính của pháp nhân; đồng thời giới hạn rõ phạm vi trách nhiệm tài sản của pháp nhân

 Khi tài sản của pháp nhân bị thiệt hại, chỉ pháp nhân mới có quyền khởi kiện đòi bồi thường Quyền khởi kiện thường được áp dụng cả đối với thành viên, người đại diện của pháp nhân và người thứ ba, khi những người này có hành vi trái pháp luật và có lỗi làm thiệt hại cho tài sản của pháp nhân

+ Thứ tư, pháp nhân nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập:

 Bằng các điều kiện và khả năng tài sản của mình, với tư cách quản lý của chính mình để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như gánh chịu trách nhiệm dân sự phát sinh từ đó

 Nhân danh mình trong trường hợp này còn được hiểu là pháp nhân phải sử dụng tên gọi của chính mình, lấy danh nghĩa pháp lý của mình khi tham gia quan hệ pháp luật

 Việc xác lập, thực hiện các giao dịch với tư cách pháp nhân phải được tiến hành thông qua hành vi của người đại diện hợp pháp của pháp nhân, phù hợp với ý chí của pháp nhân và chức năng, nhiệm vụ, mục đích hoạt động của pháp nhân

 Danh nghĩa của pháp nhân còn được thể hiện trong các giấy tờ giao dịch, quảng cáo, các hợp đồng được ký kết, trong bản hiệu tại trụ sở hay chi nhánh, văn phòng đại diện, trên con dấu,… của pháp nhân

Trang 7

 Pháp nhân còn có tư cách tố tụng, có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn trước Toà án hoặc tại các cơ quan tài phán khác

 Ý nghĩa:

 Bảo đảm cho pháp nhân có tư cách pháp lý độc lập để hoạt động, cũng như đảm bảo tư cách chủ thể đầy đủ và địa vị pháp lý bình đẳng của pháp nhân đối với các chủ thể khác

 Bảo vệ quyền lợi của pháp nhân và của xã hội, nâng cao trách nhiệm của pháp nhân trong các hoạt động của mình, ngăn ngừa các trường hợp làm ăn bất chính hoặc mượn danh, mạo danh các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước có ảnh hưởng lớn để trục lợi

 Cá biệt hoá trách nhiệm của pháp nhân; đồng thời đây còn là cơ sở pháp lý để Toà án, các bên đương sự và bản thân pháp nhân xác định đúng đắn tư cách chủ thể quan hệ pháp luật của pháp nhân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan

Câu 2: Trong Bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, cơ quan đại diện của Bộ tài

nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân không? Đoạn nào trong Bản án đó có câu trả lời.

- Trong bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, Cơ quan đại diện của Bộ tài

nguyên và môi trường là một tổ chức có tư cách pháp nhân nhưng là tư cách pháp nhân không đầy đủ

- Đoạn của bản án có câu trả lời tại đoạn “Như vậy Cơ quan đại diện Bộ Tài Nguyên môi trường thành phố Hồ Chí Minh … nhưng là tư cách pháp nhân không đầy đủ”

Câu 3: Trong Bản án số 1117, vì sao Toà án xác định Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và

môi trường không có tư cách pháp nhân? Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án.

- Hướng giải quyết trên của Toà án trong bản án số 1117 là hợp lí, đúng với quy định của pháp luật

- Bởi vì căn cứ vào khoản 1, 3, 5 Điều 84, BLDS 2015 và khoản 2,4 điều 92 BLDS 2005 có quy định:

“2 Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện việc bảo vệ các lợi ích đó

4 Văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân Người đứng đầu văn phòng đại diện,chi nhánh thức hiện nhiệm vụ theo uỷ quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được uỷ quyền”

Cho nên Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi trường không có tư cách pháp nhân thì không thể xác lập giao dịch với tư cách pháp nhân, chỉ có thể nhân danh pháp nhân để thực hiện trong phạm vi nhiệm vụ và thời hạn được giao

- Cơ quan đại diện của Bộ chưa đủ điều kiện trở thành một pháp nhân Cụ thể là chưa đáp ứng đủ điều kiện tài sản độc lập phải thu chi ngân sách theo quyết định của Nhà Nước và Bộ, chưa có cơ cấu tổ chức chặt chẽ: chỉ là bộ phận của bộ, hành động theo ý chí, sự hướng dẫn của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường và phải phối hợp với các cơ quan tổ chức khác - tức là cơ quan đại diện này không có sự độc lập

Câu 4: Pháp nhân và cá nhân có gì khác nhau về năng lực pháp luật dân sự? Nêu cơ sở khi

trả lời.

Trang 8

- Năng lực pháp luật dân sự là khả năng của các cá nhân hay tổ chức do pháp luật quy định, bằng các hành vi của chính mình thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý và tự chịu trách nhiệm

về những hành vi ấy

- Đối với cá nhân:

+ Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được quy định tại Điều 14, BLDS 2005 và Điều 16, BLDS 2015:

“1 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa

vụ dân sự

2 Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau

3 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có được từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”

+ Như vậy, nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là tổng hợp các quyền và nghĩa

vụ mà pháp luật dân sự quy định cho cá nhân được quy định ở Điều 15, BLDS 2005 và Điều

17, BLDS 2015 Các quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân được ghi nhận ở BLDS 2015, BLDS 2005 và nhiều văn bản pháp luật khác nhau Thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là từ khi người đó sinh ra và thời điểm chấm sứt là khi người đó chết đi + Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định (Điều 16, BLDS 2005 và Điều 18, BLDS 2015)

- Đối với pháp nhân: Theo quy định tại Điều 86, BLDS 2005 và Điều 86, BLDS 2015:

+ Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là tổng hợp những quyền, nghĩa vụ được pháp luật quy định Những quyền, nghĩa vụ này không quy định cụ thể trong BLDS 2005 hay

BLDS 2015, mà được quy định tại các văn bản pháp luật chuyên biệt về loại hình pháp nhân

đó, trong quyết định thành lập và Điều lệ của pháp nhân

+ Năng lực pháp luật dân sự phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập hợp pháp và chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân Thời điểm thành lập pháp nhân và thời điểm chấm dứt pháp nhân được xác định theo quy định của pháp luật quy định về thành lập (Điều

85, BLDS 2005 và Khoản 1, Điều 82, BLDS 2015) và chấm dứt pháp nhân đó (Điều 99, BLDS 2005 và Điều 96, BLDS 2015)

Câu 5: Pháp nhân có năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?

- Pháp nhân có năng lực hành vi dân sự

- Vì:

+ Năng lực hành vi dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân, thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự

+ Với tư cách là chủ thể độc lập, bình đẳng với các chủ thể khác trong một quan hệ pháp luật dân sự Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là tổng hợp những quyền và nghĩa vụ mang tính khách quan được pháp luật quy định

+ Những quyền, nghĩa vụ dân sự cụ thể, mang tính chủ quan của mỗi pháp nhân phát sinh trên cơ sở năng lực hành vi của mỗi pháp nhân Mặc dù Bộ luật dân sự không đề cập tới năng lực hành vi của pháp nhân nhưng được hiểu là năng lực hành vi của pháp nhân do người ddại diện thực hiện phát sinh chấm dứt cùng với thời điểm phát sinh, chấm dứt năng lực pháp luật, tức là năng lực hành vi tồn tại tương ứng với năng lực pháp luật

- Như vật, qua phân tích ở trên có thể thấy pháp nhân có năng lực hành vi Năng lực hành vi của pháp nhân được thực hiện thông qua hành vi của người đại diện Bộ luật dân sự chỉ quy

Trang 9

định về người đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân, nhân danh pháp nhân trong mối quan hệ dân sự Mọi hoạt động của pháp nhân được tiến hành thông qua hành vi của cá nhân là người đại diện của pháp nhân

Câu 6: Giao dịch do người đại diện của pháp nhân xác lập nhân danh pháp nhân có ràng

buộc pháp nhân không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Giao dịch do người đại diện của pháp nhân xác lập nhân danh pháp nhân có ràng buộc với pháp nhân

- Vì theo quy định tại Điều 93, BLDS 2005 và Điều 87, BLDS 2015 thì pháp nhân phải chịu trách nhiệm đối với về giao dịch do người đại diện xác lập, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc luật có quy định khác

Câu 7: Trong tình huống trên, hợp đồng ký kết với Công ty Nam Hà trong tình huống trên có

ràng buộc Công ty Bắc Sơn không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Hợp đồng kí kết với công ty Nam Hà đã ràng buộc công ty Bắc Sơn, không ràng buộc chi nhánh công ty tại TP HCM

- Căn cứ khoản 1, 5, 6 Điều 84, BLDS 2015 và khoản 3, 4, 5 điều 92 BLDS 2005 quy định rằng:

“3 Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo uỷ quyền

4 Văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân Người đứng đầu văn phòng đại diện,chi nhánh thức hiện nhiệm vụ theo uỷ quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được uỷ quyền

5 Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện”

- Vậy nên, việc trong quy chế công ty Bắc Sơn quy định Chi nhánh công ty Bắc Sơn là một

tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân là trái với khoản 3 điều 92 của Bộ luật BLDS 2005 và Khoản 1, Điều 84, BLDS 2015 Theo đó, chi nhánh công ty Bắc Sơn không có tư cách pháp nhân mà chỉ được nhân danh pháp nhân (công ty Bắc Sơn) xác lập,thực hiện các giao dịch trong phạm vi và thời hạn được uỷ quyền.Các giao dịch của chi nhánh công ty Bắc Sơn tại thành phố Hồ Chí Minh xác lập nhân danh công ty Bắc Sơn đều làm phát sinh quyền và nghĩa

vụ đối với công ty

- Trong trường hợp trên, chi nhánh công ty Bắc Sơn đã kí kết hợp đồng với công ty Nam Hà, vậy nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của công ty Bắc Sơn chứ không phải chi nhánh của công ty đó

III Phần thứ ba: Hộ gia đình.

Câu hỏi: Những điểm mới giữa BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 về hộ gia đình và suy

nghĩ của anh/chị về những điểm mới này.

- Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình không có tư cách pháp nhân, được quy định tại Điều 101, BLDS 2015; Quy định này cụ thể và chi tiết hơn so với quy định đại diện của hộ gia đình tại BLDS 2005:

“1 Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách

Trang 10

pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện GDDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện GDDS

Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết

Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện

2 Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo Luật đất đai.”

Theo đó, hộ gia đình là chủ thể hạn chế của quan hệ pháp luật dân sự Sự hạn chế về mặt chủ thể của hộ gia đình được thể hiện:

+ Hộ gia đình không được tham gia đầy đủ mọi quan hệ pháp luật, mà chỉ được phép tham gia một cách hạn chế vào một số quan hệ, một số loại hoạt động mà pháp luật quy định Như vậy, hộ gia đình không tham gia đầy đủ các lĩnh vực của đời sống xã hội Số lượng các quan

hệ pháp luật mà nó được phép tham gia là hạn chế hơn so với pháp nhân, cá nhân

+ Hộ gia đình không thường xuyên các quan hệ pháp luật, mà chỉ khi hộ gia đình tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể nào đó thì nó mới được coi là chủ thể của riêng mỗi quan hệ pháp luật đó mà thôi

Từ đó cho ta thấy, tư cách chủ thể của hộ gia đình vì thế cũng không ổn định và không trọn vẹn như các chủ thể truyền thống của Luật Dân sự

- Tài sản chung của các thành viên hộ gia đình không có tư cách pháp nhân Quy định việc xác định tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này rõ ràng hơn so với BLDS 2005 Việc xác định tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo Điều 212, BLDS 2015

- Hậu quả pháp lý đối với giao dịch dân sự do thành viên không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập, thực hiện Đây là quy định mới của BLDS 2015; được quy định tại Điều 104, BLDS 2015

Ngày đăng: 05/11/2016, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w