1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm kí Vũ Bằng

136 1,9K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với luận văn thạc sĩ “Cái đẹp trong Thương nhớ mười hai”, Nguyễn Thị Thu Hòa đã áp dụng phạm trù cái đẹp để khám phá tác phẩm và nhận thấy: Cái đẹp của khách thể thẩm mĩ được phản ánh t

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Vũ Bằng ( 1913- 1984) là một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam

Có thể nói ông là nhà văn có cuộc đời éo le nhất trong đội ngũ các nhà văn Việt Nam hiện đại Trước đây, người ta thường gắn nhân vật Hoàng trong tác phẩm

Đôi mắt của Nam Cao với nguyên mẫu Vũ Bằng ngoài đời Sau đó tên tuổi ông

lại được gắn với những lời đồn thổi khuất tất về mặt chính trị Chính vì vậy, mặc

dù có nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà song ông vẫn chưa được giới nghiên cứu phê bình văn học chú ý Gần đây, vào ngày 1- 3- 2000, Tổng cục chính trị- Bộ quốc phòng chính thức xác nhận Vũ Bằng là một chiến sĩ tình báo cách mạng hoạt động từ thời gian 1952 đến 30- 4- 1975 Đây là một việc làm tuy muộn nhưng cũng đã là một sự minh oan cho Vũ Bằng hay nói đúng hơn là sự minh chứng cho cuộc đời hi sinh thầm lặng của nhà văn chiến sĩ Vũ Bằng

Vũ Bằng là một cây bút hoạt động trên nhiều lĩnh vực: báo chí, nghiên cứu, sáng tác, phê bình… và ở lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành công nhất định Riêng trong sáng tác văn chương ông đã để lại một khối lượng tác phẩm khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ tác phẩm của ông hiện có: Hai truyện dài, một truyện vừa, mười tập kí và khoảng 50 truyện ngắn Nhiều tác

phẩm có giá trị nghệ thuật cao như Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội,

Bốn mươi năm nói láo…

1.2 Trong các thể loại ông từng sáng tác thì kí là một thể loại thành công hơn cả, những tác phẩm xuất sắc nhất của Vũ Bằng có lẽ cũng thuộc thể loại này Vì vậy, việc tìm những tác phẩm kí của Vũ Bằng sẽ giúp chúng tôi có dịp khám phá sâu hơn sức hấp dẫn, vẻ đẹp của kí và có thêm những hiểu biết lí luận phân tích tác phẩm kí Thông qua đề tài này, chúng tôi còn muốn bạn đọc hiểu rõ hơn về Vũ Bằng và những đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà

Trang 2

1.3 Những tác phẩm kí của Vũ Bằng mà chúng tôi chọn để tìm hiểu như : Cai,

Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Bốn mươi năm nói láo không phải

ra đời trong cùng một thời điểm nhất định mà có tác phẩm ra đời trước cách

mạng tháng Tám- 1945 (Cai) khi ông còn ở Hà Nội, những tác phẩm còn lại ra

đời trong một điều kiện, bối cảnh xã hội khác, khi ông đã yên vị với một vai trò, một tư cách khác ở miền Nam Do vậy, chắc chắn trong các tác phẩm của ông sẽ có sự vận động, biến chuyển nhất định về chủ đề, cảm hứng, nội dung cũng như phong cách sáng tác dù chúng vẫn nằm trong giới hạn của một thể loại: thể loại kí Nghiên cứu kí của Vũ Bằng một phần chúng tôi muốn khảo sát những vận động biến chuyển ấy trong đặc điểm viết kí của ông, đồng thời qua

đó có một cái nhìn đầy đủ hơn về cuộc đời, tài năng, tư tưởng, phong cách… của nhà văn

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu các tác phẩm của Vũ Bằng

Vũ Bằng có sáng tác đầu tay khá sớm, đó là truyện ngắn Con ngựa già đăng

trên mục Bút mới của báo Đông Tây năm 1930 Từ đó cho đến cuối đời Vũ Bằng viết đều đặn, liên tục và cho ra đời các tác phẩm với khối lượng lớn trên nhiều lĩnh vực Nhưng đến nay số lượng tìm được theo Văn Giá là mới được hơn một nửa Vì lí do này việc nghiên cứu Vũ Bằng chưa tương xứng với sáng tác của ông để lại Theo thống kê của Văn Giá, tính đến năm 2000 mới chỉ có

26 bài viết về Vũ Bằng và tác phẩm của ông

Người đầu tiên viết về Vũ Bằng là Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (NXB Tân Dân H 1942) Vũ Bằng được Vũ Ngọc Phan xếp vào các “tiểu thuyết gia tả chân” Nhận xét về lối văn tiểu thuyết của Vũ Bằng, Vũ Ngọc Phan viết : “Tiểu thuyết của Vũ Bằng rất gần tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan về lối tả cảnh và nhân vật Khi tả nhân vật, dù là họ ở cảnh nghèo khổ

Trang 3

hay cảnh giàu sang, bao giờ Vũ Bằng cũng tả bằng ngọn bút dí dỏm, nhạo đời hơi đá hoạt kê một chút còn về cảnh ông chỉ tả sơ sơ, ông chú trọng cả vào hành vi của các nhân vật, vì những hành vi ấy là động tác của cuốn tiểu thuyết

và gây nên những cảnh riêng biệt cho các nhân vật” [44, tr.387] Từ đó đến năm 1969 mới có thêm một bài giới thiệu về Vũ Bằng của Thượng Sỹ, đó là lời

nói đầu cho cuốn Bốn mươi năm nói láo khi cuốn sách được xuất bản lần đầu

tiên (do cơ sở xuất bản Phạm Quang Khải ấn hành tại Sài Gòn năm 1969)

Năm 1970, Tạ Tỵ cho ra mắt cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ (Nam chỉ

tùng thư xuất bản), Vũ Bằng được giới thiệu là một trong mười khuôn mặt văn

nghệ nổi bật lúc bấy giờ với bài viết Vũ Bằng – Người trở về từ cõi đam mê Từ

năm 1991 đến năm 1999 cũng có rất nhiều bài viết đăng trên các báo: Văn nghệ, Sài Gòn, Phụ nữ thứ bảy thành phố Hồ Chí Minh…về Vũ Bằng Nhưng các bài viết này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số khía cạnh trong tác phẩm của ông hoặc kể lại những ấn tượng về Vũ Bằng để minh oan, chiêu tuyết cho ông Năm 2000, nhà văn Triệu Xuân là người có công sưu tầm các tác phẩm của Vũ Bằng thành ba tập Tuyển tập Vũ Bằng khá dầy dặn với bài

giới thiệu Nhà văn Vũ Bằng- Người lữ hành đơn côi Vào năm 2005 cũng

chính Triệu Xuân cho biên tập lại thành Vũ Bằng toàn tập trọn bộ bốn tập trong

đó tập một là những tác phẩm thuộc thể kí, tập hai và ba là truyện ngắn, truyện

dài, tập bốn là tạp văn biên khảo Đặc biệt công trình Vũ Bằng- Bên trời thương

nhớ của Văn Giá (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành, H 2000) là một

công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về Vũ Bằng Trong công trình này ngoài bài giới thiệu khá kỹ về cuộc đời, tác phẩm của Vũ Bằng, Văn Giá còn in những bài viết có giá trị về Vũ Bằng và các tác phẩm của ông

(chủ yếu là về Thương nhớ mười hai), sau đó là phần sưu tầm các truyện ngắn

của Vũ Bằng trước và sau cách mạng, số ít trang cuối dành để giới thiệu thư mục tác phẩm, thư mục nghiên cứu Vũ Bằng Tuy là một công trình nghiên cứu khá hệ thống và toàn diện song Văn Giá vẫn cho rằng đó mới chỉ là “nét phác

Trang 4

thảo bước đầu” về Vũ Bằng Trong một tương lai gần, chắc chắn sẽ có những công trình nghiên cứu toàn diện và đầy đủ và chi tiết hơn

2.2 Về những tác phẩm kí của Vũ Bằng

Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về Vũ Bằng song mới chỉ dừng lại ở những tác phẩm riêng biệt chứ chưa có sự nghiên cứu một cách hệ thống Đó đây thấy xuất hiện rải rác những lời nhận xét về kí của ông nhưng chỉ rất ngắn gọn trong vòng vài dòng về từng tác phẩm

Vương Trí Nhàn trong lời giới thiệu cuốn hồi kí Cai cho rằng: “có thể

nói trong cuộc đời viết đông viết tây, viết xuôi viết ngược đủ thứ của Vũ Bằng

Cai đánh dấu một sự chín đầy trọn vẹn của ngòi bút, cái mức chín đẹp trước đó

ông chưa đạt tới và phải mấy chục năm sau, tới Thương nhớ mười hai ông mới

có dịp lặp lại” [4, tr.8] và khẳng định Vũ Bằng là người có nhiều đóng góp cho

nền văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Nhà văn Triệu Xuân cho rằng “Cai

là một trong những tác phẩm có giá trị của Vũ Bằng” [7, tr.16]

Về Bốn mươi năm nói láo cũng chưa có nhiều ý kiến đánh giá, đầu tiên

phải kể tới lời giới thiệu của Thượng Sỹ khi cuốn sách được xuất bản lần đầu tiên năm 1969 Trong bài giới thiệu này, tác giả đã khẳng định Vũ Bằng “một nhà văn rất phong phú, một tiểu thuyết gia, một cây bút phóng sự tả chân đã gây ảnh hưởng không ít cho một lớp độc giả và một lớp người viết văn” [17,

tr.119] Phạm Ngọc Luận với bài viết Nếu trở lại làm người con cứ lại xin làm

báo đăng trên báo Người Hà Nội số ra ngày 22.6.1996 có viết: “Cuốn sách của

Vũ Bằng thâu đựng được khá toàn diện và trung thực bộ mặt của báo chí công khai nước nhà từ những năm 30 dưới chế độ Pháp thuộc đến tận những năm dưới chế độ Mỹ- Ngụy ở miền Nam sau này Bao thăng trầm được thua, hay dở của hàng mấy chục tờ báo có tên tuổi trong thời Pháp và thời Mỹ đều được Vũ Bằng, với tư cách một chứng nhân, một người hoạt động dài hơi nhất kể lại khá

Trang 5

thuyết phục, có lý có tình” [17, tr.142] Còn Miếng ngon Hà Nội cũng được

nhắc đến bên cạnh những tác phẩm kí, tùy bút viết về nền văn hóa ẩm thực khá

tiêu biểu như Hà Nội băm sáu phố phường của Thạch Lam, Phở, Cốm… của Nguyễn Tuân, Những nẻo đưởng Hà Nội của Băng Sơn… Như một sự khẳng

định giá trị của nó chứ chưa hề đi sâu tìm hiểu

Chỉ với Thương nhớ mười hai thì số lượng bài viết về nó là khá nhiều,

cũng bởi người ta cho rằng đây gần như là tác phẩm xuất sắc nhất của Vũ Bằng Sáng tạo nảy sinh sáng tạo Có lẽ nhà văn Tô Hoài muốn nói điều ấy khi

cung cấp cho bạn đọc tư liệu Thương nhớ mười hai và Miếng ngon Hà Nội chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết Phố mèo câu cá của nhà văn nữ gốc Rumani

Gioan Phônđét Ông so sánh “Người ngồi xó ở cái hẻm “mèo câu cá” nhà anh thợ giầy thương nhớ Bucaret khác nào nhà văn Vũ Bằng lạc lõng ở Sài Gòn quanh năm chói chang nắng nhớ bốn mùa Hà Nội Tâm sự của Vũ Bằng, của người tha hương ám ảnh suốt đời anh” [17, tr.115]

Nhưng dường như Giáo sư Hoàng Như Mai là người đầu tiên đã lên tiếng khẳng định, ngợi ca sức hấp dẫn của tác phẩm là ở “tấm lòng” và “ngòi bút tài hoa”: “Dù phải thích nghi với hoàn cảnh chính trị như thế nào đấy, cuốn sách vẫn bày tỏ rất rõ tâm sự của một người con miền Bắc nhớ da diết quê hương bên kia giới tuyến Chính tấm lòng ấy đã cùng với ngòi bút tài hoa của

Vũ Bằng làm nên giá trị văn chương cho tác phẩm này Nó hấp dẫn chúng ta từng dòng, từng trang” [5, tr.6]

Sức hấp dẫn, vẻ đẹp của tác phẩm được giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh khái quát: “Tình yêu quê hương, đất nước ấy là linh hồn của những trang viết

hay nhất trong Thương nhớ mười hai Bao hàm trong đó còn có tình cảm

truyền thống của người dân Việt” Ông đã nhìn thấy vẻ đẹp của cái tôi tác giả thể hiện trên trang văn: “Một con người ham chơi, hiếu động, sành sỏi ẩm thực,

Trang 6

nhưng chân thật, tinh tế tài hoa và rất có duyên Anh yêu tha thiết quê hương đất nước mình” [34, tr 430]

Bằng cảm thụ tinh tế của một nhà thơ, Vũ Quần Phương nêu lên lòng yêu nước của tác giả “đọc Vũ Bằng thấy được lòng yêu nước của con người giăng mắc từ muôn nghìn sự việc”, Vũ Bằng đã “soi mình vào trời đất quê hương để viết lên văn” [17, tr.41]

Như thế là từ Tô Hoài đến Hoàng Như Mai, Vũ Quần Phương, Nguyễn

Đăng Mạnh đều thống nhất khẳng định Thương nhớ mười hai là một tác phẩm

có giá trị văn chương Linh hồn của những trang văn thương nhớ là tình yêu quê hương đất nước của tác giả Song do tính chất một bài giới thiệu tác phẩm nên tất cả chưa có điều kiện đi sâu đánh giá, nhận xét vẻ đẹp của tác phẩm một cách toàn diện, nhất là về phương diện nghệ thuật Nhưng có thể nói đây là

những ý kiến hết sức quý báu và đầy lòng trân trọng về Thương nhớ mười hai

của Vũ Bằng

Năm 1994, đoạn trích Tháng ba rét nàng Bân của tác phẩm Thương nhớ

mười hai đã được đưa vào chương trình Văn 12 ban KHXH, phần đọc thêm

Tạp chí Kiến thức ngày nay đã mở một cuộc thi bình một trong năm tác phẩm:

Trịnh Tông lên ngôi chúa- trích Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái; Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân; Lão Hạc của Nam Cao; Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu và Tháng ba rét nàng Bân của Vũ Bằng Điều

đó có nghĩa là Thương nhớ mười hai đã được thừa nhận là một trong số những

tác phẩm có giá trị của văn học Việt Nam hiện đại Đã có nhiều ý kiến bình giá

vẻ đẹp của tác phẩm qua đoạn trích Tháng ba rét nàng Bân Chẳng hạn, Nguyễn

Thị Minh Thái cảm nhận được nét đẹp thần tiên trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm: “Tay tôi mở sách như mở khóa Động Đào, rẽ mây trông tỏ lối vào thiên

thai” [51, tr.99] Theo tác giả điều đáng quý nhất là với Thương nhớ mười hai

Vũ Bằng đã “trao vào tay ta chùm chìa khóa mở cửa dĩ vãng tuổi thơ và vẻ đẹp

Trang 7

bốn mùa cỏ cây hoa lá” để giúp chúng ta “có thêm một chút “tự sinh nội lực” cho cuộc sống lên hương, lãng mạn” [51, tr.104- 105]

Nguyễn Thị Thanh Xuân cũng đã khám phá vẻ đẹp của nhân vật trữ tình

“một chàng nhân tình hào hoa, lịch lãm, biết sống đẹp và cảm người yêu của mình đến từng chân tơ kẽ tóc” Tác giả đã chú ý nhận xét nguồn mạch tạo nên cái đẹp của tác phẩm: “Cái đẹp như ta đã thấy qua Tháng ba rét nàng Bân vốn

có từ đời sống những cũng là phát hiện riêng của tâm hồn Vũ Bằng”, chính “sự gặp gỡ ký diệu” ấy đã làm nên “tác phầm văn chương để đời” [57] Đặng Anh Đào đã hết lời ngợi ca vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên trong đoạn văn, coi đó

là “cuốn phim ảnh màu tuyệt đẹp” về “những biến động tinh tế nhất của cỏ cây, mây nước” và ngợi ca vẻ đẹp của người đàn bà có cái tên giản dị: Quỳ: “Nàng

là ánh sáng huyền diệu, kỳ ảo tỏa ra ngay từ đầu tác phẩm” Có lẽ Đặng Anh Đào đã là người đầu tiên nêu cụ thể một nét đặc sắc trong nghệ thuật viết kí của Vũ Bằng: “Nhân vật trữ tình và chủ thể hành động không được đặt ở một ngôi duy nhất là ngôi thứ nhất như thường thấy trong thể hồi ký” [17, tr.138] Rất tiếc là tác giả mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra nét độc đáo ấy mà chưa chú trọng nêu bật hiệu quả nghệ thuật của nó

Nhìn chung, các bài viết bình về đoạn Tháng ba rét nàng Bân đều đã

cảm nhận và chỉ ra được những nét đẹp trong tác phẩm, đó là cái đẹp “vốn có của đời sống”, cái đẹp của thiên nhiên, của nhân vật trữ tình, của người đàn bà tên Quỳ, của nghệ thuật kể chuyện Song, chúng tôi thấy các tác giả trên chỉ thiên về giảng, bình, nêu ấn tượng cảm xúc chủ quan khi đọc đoạn văn, chưa đi sâu phân tích lí giải cụ thể những vẻ đẹp ấy, cũng như những đặc sắc về nội dung nghệ thuật của tác phẩm này

Người dành nhiều công sức nhất, đồng thời cũng là người đầu tiên đã hoàn thành công trình nghiên cứu về Vũ Bằng là Văn Giá Ông đã có bảy bài

viết và một cuốn sách có nhan đề Vũ Bằng- Bên trời thương nhớ dành viết về

Trang 8

Vũ Bằng Văn Giá khẳng định Vũ Bằng là nhà văn tài năng và xuất sắc về nhiều phương diện “Ngòi bút của ông tựa như một con dao pha sắc nước, vừa thạo nghề, vừa cần mẫn”[17, tr.22] Tác giả đã dành khá nhiều trang ca ngợi vẻ

đẹp của Thương nhớ mười hai như: Vũ Bằng đã “trải gấm hoa” lên những

trang văn và “trang văn dành để nhớ về loài hoa sầu đâu xứ Bắc phải nói là tuyệt bút” Văn Giá khẳng định: “Với những tác phẩm hồi kí trữ tình này ông

đã có một vị trí chắc chắn trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Lịch sử thể loại hồi kí nằm trong lịch sử văn học Việt Nam sẽ phải nhắc đến ông như một

sự đóng góp quan trọng không thể thiếu được” [17, tr.85]

Với luận văn thạc sĩ “Cái đẹp trong Thương nhớ mười hai”, Nguyễn Thị

Thu Hòa đã áp dụng phạm trù cái đẹp để khám phá tác phẩm và nhận thấy: Cái

đẹp của khách thể thẩm mĩ được phản ánh trong Thương nhớ mười hai là một

không gian nghệ thuật rộng lớn, phong phú, một cố hương hội tụ những vẻ đẹp mộc mạc, thần tiên; cái đẹp của chủ thể thẩm mĩ là một tâm hồn yêu tha thiết quê hương, một con người có kiến thức văn hóa sâu rộng, một cây bút độc đáo trong thể kí” [26]

Như vậy, có thể thấy rằng trong số các bài viết, các công trình nghiên cứu nói trên chưa có công trình nào nghiên cứu về kí Vũ Bằng một cách có hệ thống, trọn vẹn về cả mặt nội dung và nghệ thuật Đa số các bài viết chỉ là những lời giới thiệu, sự đánh giá thẩm bình chung chung hoặc dừng lại ở việc

tìm hiểu vẻ đẹp của một tác phẩm riêng biệt (Thương nhớ mười hai) mà thôi

Nhưng cũng phải thấy rằng qua các bài viết đó giá trị của các tác phẩm kí Vũ Bằng cũng đã được khẳng định, xứng đáng là những tác phẩm đặc sắc của Vũ Bằng và của nền văn học Việt Nam hiện đại Xác định rõ tình hình nghiên cứu

về kí Vũ Bằng nói trên, chúng tôi chọn nghiên cứu “Đặc điểm kí Vũ Bằng” với

mong muốn bước đầu khám phá được những đặc sắc riêng, chung của các tác phẩm kí của Vũ Bằng về phương diện nội dung cũng như nghệ thuật thể hiện

Trang 9

Từ đó góp một tiếng nói khẳng định vị trí văn học của Vũ Bằng trong nền văn học nước nhà

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu

Đề tài của chúng tôi chủ yếu đi sâu nghiên cứu đặc điểm kí của Vũ Bằng

qua các tác phẩm Cai, Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Bốn mươi

năm nói láo Bởi đây là những tác phẩm kí xuất sắc nhất của Vũ Bằng Nhiều

người cho rằng toàn bộ “anh hoa” của ngòi bút Vũ Bằng đều kết tinh ở mấy tập

kí này, ngoài ra còn lại là những gì không đáng kể Quả thật, những tập kí trên

có sức hấp dẫn đặc biệt, ngay cả những người đọc khó tính nhất cũng phải thừa

nhận các tác phẩm trên, nhất là Thương nhớ mười hai thuộc trong số những tác

phẩm thực sự đặc sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại

Chúng tôi xác định phạm vi tư liệu là các tác phẩm kí của Vũ Bằng đã kể

ở trên, được tập hợp trong Tuyển tập Vũ Bằng tập I do Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn và giới thiệu, Nhà xuất bản Văn học năm 2000

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp hệ thống: Mỗi tác phẩm là một chỉnh thể nhưng ở đề tài này chúng tôi đặt nó vào trong hệ thống thể loại kí của một tác giả, để xem xét nó như một chỉnh thể nghệ thuật, lại như một yếu tố trong hệ thống các tác phẩm

kí của Vũ Bằng

4.2 Phương pháp thống kê: Để giúp cho việc phân tích, miêu tả nghệ thuật viết

kí của Vũ Bằng chúng tôi thấy phương pháp thống kê rất có ích Nó sẽ bổ sung cho các luận điểm mà người viết đưa ra được chính xác và rõ ràng

4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp: Vận dụng phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại cùng với phương pháp tổng hợp, khái quát hóa để

Trang 10

chỉ ra những đặc sắc trong phong cách kí của Vũ Bằng ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật

Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh trong những trường hợp cần thiết để làm rõ hơn nét riêng của phong cách kí Vũ Bằng qua

sự đối sánh với kí của một số nhà văn khác (chủ yếu là những người cùng thời)

5 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Tìm hiểu về kí Vũ Bằng chúng tôi muốn làm rõ những độc đáo, riêng biệt về kí của ông, giúp người đọc có cơ sở nhận định đúng đắn hơn về tài năng

và vị trí của ông trong nền văn học hiện đại

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được triển khai trong ba chương:

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỂ LOẠI KÍ

1 Kí là một thể loại văn học

1.1 Thể loại văn học và thể loại kí

Tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn của các yếu tố đề tài, chủ

đề, tư tưởng nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn Nhưng sự thống nhất ấy lại được thực hiện theo những quy luật nhất định Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể Như thế, thể loại văn học là hiện tượng phân loại hình thức và nội dung văn học, đề cập đến một kiểu tổ chức cấu trúc tác phẩm, một cách tiếp xúc với đời sống hiện thực, một kiểu thể hiện chủ thể trong sáng tác, một kiểu giao tiếp nghệ thuật để tạo nên tác phẩm Thể loại có những đặc trưng riêng được lặp đi lặp lại trong quá trình văn học Thể loại có tính lịch sử, tính dân tộc, tính thời đại, tính biến đổi và được hình thành bởi yêu cầu xã hội về nghệ thuật và tài năng của nhà văn Sự hình thành và phát triển của thể loại văn học cũng có nghĩa là sự hình thành và phát triển của văn học qua các giai đoạn, bởi văn học không thể tồn tại mà không có thể loại Vì vậy, thể loại bao giờ cũng là sân khấu trung tâm của đời sống văn học

Thể loại là hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học, xuất hiện lần lượt trong lịch sử văn học Nói đến lịch sử văn học về mặt thể loại là nói đến chuỗi liên tục các sự xuất hiện, biến đổi và phát triển của các thể loại văn học với các hình thức đa dạng của nó Do đó, để chiếm lĩnh các quy luật tổ chức thể loại văn học, từ xưa người ta đã tiến hành phân loại tác phẩm Lí luận văn học xưa

Trang 12

nay đã biết đến nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng quan trọng nhất là các cách sau đây:

Cổ xưa và phổ biến nhất ở Phương Tây là việc chia toàn bộ tác phẩm văn học ra làm ba loại, xuất phát từ phương thức phản ánh hiện thực của chúng Arixtốt là người sớm nhất đề xuất sự phân biệt này trong công trình

Nghệ thuật thi ca của ông Ông nói đến ba phương thức mô phỏng “hiện thực”:

“Hoặc có thể như Hôme kể về sự kiện như về một cái gì ở ngoài mình, hoặc là người mô phỏng vẫn là bản thân anh ta, không thay đổi bộ mặt của mình, hoặc

là trình bày mọi nhân vật được miêu tả như là những người hành động và hoạt động” Loại thứ nhất là tự sự, loại thứ hai là trữ tình, loại thứ ba là kịch Đây cũng là cách phân loại của Hôratxơ, Boalô, Biêlinxki

Ở Trung Quốc, với những điều kiện xã hội, lịch sử, văn học khác, lại có những truyền thống phân loại khác Song phân chia thể loại văn học sớm nhất

ở Trung Hoa thì chỉ có hai loại: thơ và văn xuôi Cách chia này của Tào Phi Trải qua các thời kì lịch sử đến cuối đời Thanh, các sách vở báo chí Trung Quốc phổ biến thừa nhận văn học có bốn loại: thơ ca, văn xuôi, tiểu thuyết và kịch

Các giáo trình lí luận văn học của ta chủ yếu dựa trên cơ sở lối “chia ba”, nhưng chọn trình bày bốn thể loại tiêu biểu: thơ trữ tình, kịch, tiểu thuyết, kí Các thể tạp văn, văn chính luận nghệ thuật được xếp vào thể loại kí Trong giáo trình Lí luận văn học (NXB Giáo dục tái bản lần thứ 3 H.2003) lại chia văn học một cách quy ước thành năm loại: tự sự, trữ tình, kịch, kí và văn chính luận Có thể thấy rằng các cách phân loại nói trên có các ưu, nhược điểm riêng và mang tính chất tương đối bởi vì trên thực tế, thể loại văn học rất đa dạng, không một lối nào bao quát được trọn vẹn Trước hết là các thể loại trung gian, kết hợp loại này và loại kia, không dễ quy hẳn về một loại nào Nhưng trong các cách

Trang 13

phân loại trên thì cách chia năm có nhiều ưu điểm hơn, “kết hợp được truyền thống phân loại phương Tây với đặc điểm của văn học cổ xưa và hiện đại, đồng thời khắc phục được nhược điểm của cách chia ba, chia bốn Ngoài ra cách chia này cũng đáp ứng yêu cầu nghiên cứu giảng dạy văn học ở các khoa ngữ văn cũng như yêu cầu giảng dạy bộ môn văn ở các trường trung học” [40, tr.352] Qua đó ta thấy rằng kí được xem là một thể loại văn học đồng đẳng, ngang hàng với các thể loại khác như tự sự, trữ tình, kịch và văn chính luận Điều này đồng nghĩa với việc khẳng định kí là một thể loại văn học có những đặc trưng riêng không trộn lẫn với các thể loại khác.

Trong thực tế thể loại kí văn học đã tạo nên những đỉnh cao vinh dự và những tài năng trong văn học Có thể kể đến những nhà văn viết kí nổi tiếng trên thế giới như: Tư Mã Thiên, Giôn Rít, M.Gorki, I Eerrenbua, Pautôpxki

…Ở Việt Nam không thể không nhắc đến những gương mặt kí như Nguyễn Tuân, Thép Mới, Tô Hoài,…Và ý nghĩa lớn lao hơn là kí đã có tác động sâu rộng nhiều mặt đến người đọc bằng sức sống trực tiếp mạnh mẽ và hấp dẫn của nhiều tác phẩm Vì vậy, cần uốn nắn quan niệm sai lầm cho rằng kí là một thể loại “đàn em” như M Gorki đã nói: “Bút kí xưa nay vẫn bị giới phê bình coi là một thể loại thấp trong văn học; nói chung đó là một quan niệm bất công và sai lầm” [21, tr.335] Nhà văn Tô Hoài cũng lên tiếng: “Từ sự nhầm lẫn vô tình hay cố ý, người ta lại muốn sắp đặt chỗ ngồi cho kí: có thể thấy đây là thể loại đàn em Tính đếm ấy không văn học Trong sáng tạo không thể so sánh các thể loại theo lối định mức Bất cứ một sáng tạo văn học nào, khi đạt tới xuất sắc, đều chiếm lĩnh những đỉnh cao của thể loại ấy và của nền văn học nói chung” [27, tr.46] Tóm lại, những ý kiến trên đều mang ý nghĩa chiêu tuyết cho vị trí của thể loại kí: kí là một thể loại văn học đích thực

Trang 14

1.2 Đặc trưng của kí

Khẳng định kí là một thể loại văn học có nghĩa là thừa nhận kí mang trong nó những quy luật đặc thù của thể loại làm nên diện mạo riêng của nó Bởi thể loại tác phẩm văn học là một hiện tượng loại hình của sáng tác và giao tiếp văn học, hình thành trên cơ sở lặp lại có quy luật của các yếu tố tác phẩm.Vậy kí có những đặc điểm nào?

Từ trước tới nay khi bàn đến các thể kí văn học, dư luận dễ thống nhất với nhau về tầm quan trọng của các thể kí nhưng xác định một định nghĩa về kí lại là vấn đề khá phức tạp, gây nhiều tranh cãi Chính vì thế việc xác định đặc trưng của kí thiết nghĩ chúng ta cũng nên thống nhất một quan niệm tương đối nhất về kí

Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Kí cũng như truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ, hình thù nó đấy nhưng vóc dáng nó luôn luôn mới đòi hỏi sáng tạo và thích ứng Cho nên càng chẳng nên trói nó vào một cái khuôn Cũng không có thể làm việc ấy được” [28, tr.33]

Trong Thuật ngữ nghiên cứu văn học (NXB GD- H.1973), kí được xem

là “một loại hình văn học tái hiện cuộc sống qua sự ghi chép, miêu tả người thật việc thật Hình tượng của kí có địa chỉ chính xác của nó trong cuộc sống

Do đó tính chính xác tối đa là đặc trưng cơ bản của kí…Kí phản ánh cuộc sống kịp thời, linh hoạt và thuyết phục người đọc bằng người thật việc thật” [41, tr.131]

Năm 1973, trong Cơ sở lí luận văn học tập III phần Loại thể văn học, Hà

Minh Đức bàn đến kí và đưa ra quan niệm: “Kí là một thể loại linh hoạt, cơ động, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất, ở những nét sinh động và tươi mới nhất” [14, tr.18]

Trang 15

Còn theo giáo sư Trần Đình Sử thì “kí thực sự là một lĩnh vực văn học đặc thù Đó là các tác phẩm văn xuôi, tái hiện các hiện tượng đời sống và nhân vật như là các sự thật xã hội, không tô vẽ (…) Đó là hình thức văn học để chiếm lĩnh các sự thực ngoài văn học của đời sống” [40, tr.352]

Như vậy, có thể thấy rằng, về cơ bản những ý kiến trên có nhiều điểm tương đồng Tổng hợp lại, theo chúng tôi, kí là một thể văn phản ánh hiện thực đời sống một cách nghệ thuật mà chân xác, linh hoạt, bộc lộ những ý nghĩ cảm xúc trực tiếp của cá nhân riêng lẻ về những sự việc, sự vật, con người, cuộc đời vừa có giá trị thẩm mĩ, có ấn tượng lớn với cá nhân ấy, vừa có tính thời sự, được xã hội quan tâm

Có nhiều quan niệm về kí nhưng không phải không thống nhất được Về đặc trưng của kí cũng vậy, tuy có rất nhiều ý kiến khác nhau, song ở đây chúng tôi cố gắng trình bày những nét đặc trưng thể loại của kí mà giới nghiên cứu đã thừa nhận trên cơ sở đối sánh với các thể loại khác

1.2.1 Sự thật là vấn đề cốt lõi của kí

Thật vậy, ngay từ thời trung đại Việt Nam, dù chưa có một ý thức thật rõ ràng về thể loại do văn học chưa thoát khỏi tình trạng văn sử triết bất phân và quan niệm “văn dĩ tải đạo” thì các tác giả kí trung đại cũng đã thừa nhận các thể kí, lục, chí là các thể loại ghi chép những sự việc có thực trong đời sống

Chẳng hạn như trong lời tựa cho tập Lam Sơn thực lục (1431) tác giả Hồ Sĩ

Dương viết: “Ôi quyển Lam Sơn thực lục này không nói chuyện hoang đường

như Lĩnh Nam chích quái, không chép những điều quái loạn như Việt điện u

linh chỉ thêm vào bớt đi cho đúng sự thực để chỉ rõ chính thống và làm sáng tỏ

đế nghiệp mà thôi” [46, tr.60] Vũ Phương Đề trong bài tựa Công dư tiệp kí

viết: “Phủ bình nhật thích nói chuyện nên khi việc quan rảnh rỗi thường ghi

Trang 16

chép lại những điều bấy lâu nay mình nghe được, cùng những chuyện biết được từ các nhà bác học đương thời Tất cả đều căn cứ vào sự thực mà viết

thành bài, đặt tên sách là Công dư tiệp kí”

Điểm lại những quan niệm và nghiên cứu của nhiều tác giả như Vũ Ngọc Phan (trong Vũ Ngọc Phan toàn tập- NXB Hội nhà văn, H.2000), Tô Hoài (trong Nghệ thuật và phương pháp viết văn – sđd), Hà Minh Đức, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Hoàng Ngọc Hiến,…về kí ta thấy các tác giả đều nhất quán cho rằng: sự thật là bản chất, là cốt lõi của kí, là nguyên tắc tổ chức hình tượng nghệ thuật và nội dung thông tin cơ bản trong kí “Chính đặc trưng ấy làm cho

kí có một sức sống riêng, trở thành một lĩnh vực văn học đặc thù, không thể nhập chung vào các thể loại khác”- Như lời khẳng định của giáo sư Trần Đình

Sử (Sđd – tr.352)

Quả vậy, kí lấy sự thật làm mục đích và nội dung thông tin cơ bản, còn những bình luận, đánh giá, xúc cảm của nhà văn là nhằm mài sắc sức mạnh sự thực Trong khi đó truyện chỉ lấy sự thực làm nguyên liệu, sự thực được nhào nặn, tái tạo, hư cấu để biểu hiện một nhận thức, một quan niệm nghệ thuật của

nhà văn Đọc những lá thư trong Từ tuyến đầu Tổ quốc chúng ta biết được bao

sự thật đau lòng như: “Ở Điện Bàn, chị Th có mang bảy tháng, bị chúng bắt tra tấn suốt mấy ngày, cuối cùng bị một cú đã giày vào bụng, đứa con chưa đủ tháng bị phọt ra ngoài Chị cầm cái thai vừa rú lên vừa chạy ra đường Một loạt tiểu liên bắn theo”; Ở Thăng Bình, chị T bị chúng cột chặt đầu ống quần lại bỏ vào năm con rắn Chị ngã ra đất chết ngất Đến nay, đêm đến là chị rùng mình, đang ngủ vùng dậy kêu la: “Nó nhiều quá, nó nhiều quá”…[57, tr.112] Tiến sĩ nông nghiệp Lương Định Của khi đọc xong và “chứng kiến” những sự thật như thế đã phải thốt lên: “Trong đời tôi, chưa có một cuốn sách nào gây cho tôi một

cảm động mạnh mẽ và những xúc động liên tục như tập Từ tuyến đầu Tổ quốc

Trang 17

[13, tr.145] Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao ta

biết tuy có những nguyên mẫu nhân vật, hoàn cảnh trong thực tế song nó vẫn mất đi tính xác thực, cụ thể, không hoàn toàn trùng khít với hiện thực mà nó nhằm bộc lộ những dụng ý tư tưởng của nhà văn về hiện thực, về con người thời đó

Sự thực còn là nguyên tắc xây dựng hình tượng kí Sáng tạo hình tượng

kí bao giờ tác giả cũng cố gắng cung cấp những thông tin xác thực về hình tượng: ngày tháng đối với sự kiện, số liệu đối với hiện tượng, địa chỉ đối với nhân vật Ghi chép về việc lên kinh, Lê Hữu Trác giới thiệu cụ thể: “Tháng Giêng, năm Nhâm Dần, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 43, gặp lúc trời xuân sáng láng, hoa cỏ tốt tươi, mấy cây ở trước sân nhà U trai của tôi nở hoa kết trái, tuyết rủ hương bay”… Kể về người nữ anh hùng, Nguyễn Thi viết: “Tại xã Tam Ngãi huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh có một người đàn bà có sáu con tên là

Nguyễn Thị Út…” Trong tùy bút Người lái đò sông Đà, ngoài những trang

viết cực kì phóng túng, tài hoa Nguyễn Tuân còn cho ta biết những số liệu rất

cụ thể, tỉ mỉ: “Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam, lấy tên là

Lí Tiên (theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì tên Trung Quốc của sông Đà lại

là Bả Biên Giang),… tính toàn thân sông Đà thì chiều dài là 883 nghìn thước mét” Trong Tờ hoa Nguyễn Tuân đã đóng vai trò của một nhà sinh vật học khiến ta bất ngờ, lí thú: “Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến đi, đi từ tổ nó đến các nơi có hoa quanh vùng Và trong một nửa lít mật ong đóng chai, phân chất

ra được 5 vạn thứ hoa Tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số”

Ngược lại, ta thấy hình tượng trong truyện có thể chỉ là một A.Q, một Chí Phèo, một K,…không rõ tên tuổi, quê quán, gốc tích… Nói cách khác,

Trang 18

những thông tin về nhân vật chỉ là ước lệ mà thôi.Như vậy, có thể nói rằng, sự thực là thước đo giá trị trong kí Đó là giá trị cung cấp tri thức về cuộc sống và giá trị tư liệu lịch sử quý giá Phó giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã khẳng định:

“Ngoài gây hiệu quả khoái cảm mĩ học, thể kí gây ở người đọc những khoái thú thuần trí tuệ bằng việc cung cấp những tri thức người đọc quan tâm” [24, tr.14] Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng có ý kiến tương tự: “Cùng với cảm xúc văn học, bút kí còn chứa đựng cõi thực vốn là bản gốc của tác phẩm Sức nặng

ấy được chuyển đi không giống như một cảm giác mĩ học mà như một quả táo Niutơn rơi xuống tâm hồn người đọc” [56, tr.83] Còn trong khi tìm hiểu truyện, người ta có thể hoàn toàn đắm chìm trong thế giới hư cấu của nhà văn

Ở đây sự thực chỉ có giá trị là nguyên liệu để nhà văn tái tạo, hư cấu, tưởng tượng Trong kí, mỗi con số, mỗi sự kiện, mỗi nhân vật, mỗi chi tiết bản thân

nó đã mang giá trị thẩm mĩ bởi nó đã qua sự chọn lọc của nhà văn, đã tươi rói sắc màu sự sống Và còn bởi “ngay trong sự thật cũng đã có cái thẩm mĩ” như Sécnưsepxki nói: “Trong hiện thực có nhiều sự kiện đáng tôn là kịch và tiểu thuyết y như những vở kịch và tiểu thuyết mà các nhà văn vĩ đại đã viết ra” [46, tr.120] Đọc những đoạn văn sau đây ta cảm nhận được một hình ảnh Trường Sơn đầy thi vị rộn rịp trong bước quân đi: “Tiếng lá ngụy trang rào rào Nước đựng trong chiếc bi đông đã vơi đập vào thành bình róc rách Những bao gạo dài vắt trên vai vỗ vào ba lô.Tiếng những chiếc đế giày mới ót ét Hơi thở gấp của những lá phổi khỏe mạnh làm ấm cả núi rừng Đoàn quân trải dài trên những quả núi phân biệt với màu xanh của cây rừng bằng sự chuyển động Trường Sơn trầm mặc bỗng xốn xang với mùa xuân, với những bước êm nhẹ của đoàn quân Những búi cây vông vang nở đầy hoa như có hàng ngàn con bướm trắng đang từ đó bay lên…” [13, tr.168]

Nhằm khiến người đọc tin vào sự thực, mô hình tự sự trong kí thường là

mô hình tự sự ngôi thứ nhất, tình thái khách quan với tiêu cự tự sự bên ngoài là

Trang 19

sự thống nhất các điểm nhìn trần thuật Trong kí, khác với truyện, người kể chuyện thường lộ diện trực tiếp trong hình thức người kể chuyện xưng tôi, ít đi sâu vào diễn biến nội tâm nhân vật, luôn giữ khoảng cách với đối tượng miêu

tả bằng cách xen vào những lời nghị luận phẩm bình, mọi sự kiện trong kí cũng nằm trong tầm quan sát của một nhân vật duy nhất Đọc những thiên phóng sự của Vũ Trọng Phụng người ta biết những sự kiện, nhân vật được tác giả nói đến chưa hẳn là có thực tất cả song nó vẫn thuyết phục, hấp dẫn người đọc và tin là thật bởi sự xuất hiện của người kể chuyện xưng tôi trùng với tác giả, bởi

sự thống nhất xuyên suốt một điểm nhìn bên ngoài tình thái khách quan

Như vậy, trần thuật người thật việc thật là đặc trưng cơ bản của kí Đúng như B.Pôlêvôi đã nói: “kí sự có địa chỉ chính xác của nó” [12, tr.57] Và sự thật trở thành nguyên tắc tối cao trong kí, bởi nó chi phối cả người sáng tác trong quá trình chọn lọc đời sống, xây dựng hình tượng, tổ chức mô hình trần thuật, chi phối cả người đọc trong việc tiếp nhận tác phẩm; là bản giao ước ngầm giữa tác giả và độc giả Phá vỡ nguyên tắc này, tác phẩm kí mất đi giá trị hoặc chuyển thành thể loại khác: trữ tình, chính luận hoặc truyện ngắn… Tôn trọng tính xác thực, tác phẩm kí không những có được tính thời sự, giá trị nhận thức

mà còn mang giá trị thẩm mĩ, gây ấn tượng sâu sắc với người đọc Đặc trưng nói trên là cơ sở chính tạo nên sức lôi cuốn, hấp dẫn của các tác phẩm kí Bởi

“cái đẹp của kí là cái có thật, nét hấp dẫn của kí cũng chính là cái thật của cuộc sống” [26, tr45] Chính cái đẹp ấy là tác nhân cuốn hút nhà văn và bạn đọc vì

nó giúp họ nhận thức được nhiều chân giá trị trong đời sống xã hội muôn màu

Có thể nói, cái đẹp – chân thật ấy chính là thước đo thẩm mĩ của kí văn học

Thừa nhận một vấn đề lí thuyết không thể chối cãi: bản chất của kí là sự thật, xác thực là nguyên tắc tối cao trong kí song vấn đề đặt ra: quan niệm thế

Trang 20

nào là sự thật trong kí? Khảo sát thực tiễn sáng tác và những công trình nghiên cứu về kí trong lịch sử chúng tôi thấy tồn tại những thực tế sau:

Trong văn học trung đại Việt Nam, mặc dù các tác giả kí trung đại thường cam đoan trong các lời tựa, lời bạt về sự thật “mắt thấy tai nghe” trong tác phẩm, song ta có thể thấy trong kí trung đại vẫn đầy ắp những chi tiết kì ảo

hoang đường Công dư tiệp kí của Vũ Phương Đề có riêng một phần Thần quái chép những chuyện kì lạ: Truyện ngôi đền Thượng ở xã Bộ Đầu, Truyện dị

nhân làng Hạ Bí…Lại có một phần Âm phần dương trạch ghi chép về mối

quan hệ giữa âm phần và công tích Và ngay trong phần ghi chép về thế gia, danh thần, danh nho, tiết nghĩa, tiết phụ xen lẫn những chi tiết xác thực có ngày tháng, địa điểm, nhân vật là những chi tiết hoang đường

Trong Vũ trung tùy bút, mặc dù tác giả bày tỏ sự hoài nghi với những

chuyện thần kì ma quái trong các đền chùa miếu mạo, song vẫn chép lại những

sự kiện bí ẩn hoang đường mà tác giả tin là “điềm trời”, “điềm quái gở”, “việc tai dị”: ngọn lửa trên bãi cát làng Bát Tràng, mặt trời tách làm hai ở phố Hà Khẩu…

Ngay cả trong những tác phẩm kí lịch sử như: Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, Đại Việt sử kí toàn thư của Lê Văn Hưu ta vẫn thấy những yếu tố kì

ảo: “Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang chiếu sáng rực và mùi thơm

ngào ngạt khắp làng” (Đại Việt thông sử- Lê Quý Đôn - chép về sự ra đời của

vua Lê Thái Tổ)

Như vậy, sự thật trong kí trung đại thực chất không phân biệt sự thật nghệ thuật và sự thật lịch sử, trộn lẫn với các yếu tố kì ảo hoang đường Điều

ấy dường như mâu thuẫn với quan niệm của các tác giả trung đại về kí

Trang 21

Trong văn học 1930- 1945, người ta thường nhìn sự thật là những gì xấu

xa, đen tối Những nhà văn tả chân là những nhà văn bóc trần những bất công, thối nát, ung nhọt trong xã hội Những tác phẩm tả chân thường là những tác phẩm nói về cuộc sống của những hạng người dưới đáy, phản ánh những tệ nạn

xã hội Điểm qua tên gọi những phóng sự giai đoạn này ta cũng có thể thấy

điều đó: Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Lục sì, Cơm thầy cơm cô (Vũ Trọng Phụng), Tôi kéo xe, Long cụt cán (Tam Lang), Thanh niên trụy lạc, Ngoại ô,

Ngõ hẻm (Nguyễn Đình Lạp)…

Trong văn học 1945- 1975, sự thật được coi trọng là những cái tốt đẹp, cao cả của cuộc kháng chiến: là chiến công vĩ đại, là những tấm gương anh hùng, là gương người tốt việc tốt… Chính vì vậy, đã có thời người ta cho là bóp méo và sai lạc sự thật tất cả những gì đi chệch khỏi quỹ đạo của cuộc kháng chiến, ngay cả cái đau thương cũng phải biến thành quật khởi, không có chỗ cho những cảm xúc đau buồn, đã là chiến sĩ, là anh hùng thì phải hoàn toàn tốt đẹp…Nguồn cảm hứng phê phán không có chỗ tồn tại, nhường chỗ cho cảm hứng ca ngợi, biểu dương Hiện thực cuộc sống như chúng ta thấy không hề đơn giản, xuôi chiều và lí tưởng như vậy

Như vậy trong thực tiễn sáng tác kí ta thấy nổi lên một mâu thuẫn: bản chất của kí là mô tả sự thật, song ở mỗi giai đoạn của thực tiễn sáng tác, sự thật lại mang một dáng vẻ khác nhau Vậy quan niệm thế nào là sự thật, đâu là thước đo sự thật chính là vấn đề mà nghiên cứu kí cần phải giải quyết

Để giải quyết mâu thuẫn trên chúng tôi nghĩ cần phân biệt sự thật nghệ thuật và sự thật lịch sử Vì không phải bất cứ sự thật lịch sử nào cũng trở thành

sự thật nghệ thuật

Mặc dù sự thật nghệ thuật có nguồn gốc từ sự thật lịch sử song chúng nằm trong hai lĩnh vực hoàn toàn khác: sự thật lịch sử thường nằm trong thế

Trang 22

giới vật chất khách quan, trong khi sự thật nghệ thuật thuộc lĩnh vực tinh thần chủ quan, nằm trong tác phẩm nghệ thuật Chúng được chuyển hóa lẫn nhau qua tư duy và hoạt động sáng tạo của con người, đồng thời vẫn giữ mối ràng buộc chặt chẽ với nhau Sự thật lịch sử vô cùng rộng lớn, phong phú, phức tạp trong khi sự thật nghệ thuật là sự chọn lọc, điển hình, dựa theo quan niệm của nhà văn Có thể nói sự thật nghệ thuật chính là cố gắng của nhà văn để mô hình hóa thế giới theo quan niệm nghệ thuật của bản thân họ Sự kiện máy bay B52

bị bắn rơi ở làng Ngọc Hà đi vào kí của Nguyễn Tuân trở thành: “Cánh B52 bị rụng xuống một thôn hoa” đã mang đậm nét cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân- nhà văn có tài khám phá những mối tương đồng, đối lập bất ngờ trong những việc bình thường nhất, nhà văn nhìn thế giới qua lăng kính cái đẹp, tôn vinh sự chiến thắng của cái đẹp Sự kiện ở đây trở nên có ý nghĩa kép: không những cùng một lúc phản ánh hai đối tượng mà còn vừa miêu tả hiện thực, vừa biểu hiện quan niệm

Có thể nói, miêu tả sự thật lịch sử là công việc của báo chí, sử học, địa lí…Miêu tả sự thật nghệ thuật là nhiệm vụ của văn học Nếu sự thật trong tác phẩm chỉ đơn thuần là sự phản ánh nguyên vẹn, sao chép cuộc sống, không hé

lộ một quan niệm, một cái nhìn cá nhân người viết, nó sẽ khô cứng lại và thuần túy chỉ là sự thật lịch sử Thổi hồn vào sự thật, biến cái quen thuộc của đời sống thành cái sáng tạo, thành cái lạ trong văn chương, mở rộng thêm những tầng nghĩa của nó, đó mới thật sự là những sự thật nghệ thuật Công việc ấy đòi hỏi sự từng trải cuộc sống, tâm huyết với cuộc sống, giác quan nghệ thuật tinh

tế và tài năng sử dụng ngôn ngữ của nhà văn

Hiểu được sự không đồng nhất giữa sự thật nghệ thuật và sự thật lịch sử, chúng ta sẽ thấy sự thật trong kí là một sự thật mang tính quan niệm Quan niệm đó tùy thuộc vào thế giới quan và quan niệm văn học của nhà văn Và để

Trang 23

giải quyết mối mâu thuẫn giữa quan niệm về thể loại của tác giả và thực tiễn sáng tác nêu trên, cần phải đi sâu tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của thời đại đã quy định tính chất, đặc trưng của sự thật trong từng giai đoạn lịch sử

Xác định bản chất cốt lõi của kí là xác thực, song một câu hỏi nữa đặt ra

là sự thật trong kí có loại trừ hư cấu hay không?

Vấn đề hư cấu vốn là tâm điểm của nhiều cuộc tranh luận về kí Sở dĩ chưa có sự thống nhất về vấn đề này là do sự đối lập tuyệt đối giữa sự thật và

hư cấu, sự tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về hư cấu Người thì cho rằng, kí không được phép hư cấu bởi quan niệm hư cấu là sự xuyên tạc, bịa đặt, thêm thắt làm méo mó sự thật Người lại xác định kí có thể hư cấu trong phạm vi và mức độ cho phép bởi hư cấu là một biện pháp bổ sung cho sự thật, khiến cho hình tượng nghệ thuật trở nên sống động Và còn có người khẳng định kí tất yếu phải hư cấu, bởi hư cấu là bản chất của hoạt động sáng tạo nghệ thuật

Để giải quyết vấn đề này, theo chúng tôi trước hết cần thống nhất khái niệm “hư cấu”

Hư cấu, theo Hêghen, “là một hoạt động có tính chất sáng tạo’’ “Hoạt động sáng tạo này trước hết đòi hỏi phải có một biệt tài và một mẫn cảm nắm được hiện thực và hình thức của nó, nhờ đó mà con người có hư cấu trong khi lắng nghe, quan sát, ghi lại trong tâm hồn mình những hình ảnh đa dạng nhất của cái tồn tại, đồng thời có được một trí nhớ chắc chắn giữ được cái bức tranh sặc sỡ của những hình thức đa dạng Về mặt này (…) nghệ sĩ cần gạt bỏ những cái gọi là lí tưởng về thực chất tẻ nhạt và bước vào lĩnh vực của hiện thực” [23, tr.455] Nhưng “hư cấu không chỉ dừng lại ở việc tri giác hiện thực bên ngoài

và bên trong” [23, tr.456] Như vậy, hư cấu, theo Hêghen, không chỉ bắt nguồn

từ hiện thực mà còn là sự chiếm lĩnh hiện thực ở chiều sâu

Trang 24

M.Arnaudop cũng khẳng định: “Một sự thể hiện trung thực nhất các sự kiện vẫn có chứa đựng một sự hư cấu nào đó và mọi hồi ức tiểu sử tự thuật cũng như các tài liệu khác được suy nghĩ với tính chính xác lịch sử, đều là, theo cách nói cổ điển của Gớt, một sự kết hợp khăng khít của thơ và sự thật” [1, tr.159]

Như vậy, trong sáng tạo nghệ thuật không có sự phân biệt tuyệt đối sự thật và hư cấu Hư cấu nào cũng dựa trên cái tồn tại và một sự thật nghệ thuật trung thực nhất vẫn chứa đựng hư cấu, bởi sự thật nghệ thuật bao giờ cũng được chuyển hóa vào tác phẩm qua quá trình ghi nhớ, chọn lọc, sắp xếp của nhà văn, mà bất cứ một hoạt động phản ánh ý thức nào cũng có phần bộc lộ chủ thể Dù chủ trương một đường lối nghệ thuật tả chân, chỉ “toàn một giống

sự thật”, chúng ta vẫn không thể không nhận ra dấu vết của hư cấu trong phóng

sự Vũ Trọng Phụng Hư cấu bộc lộ ở việc ghi nhớ và chọn lọc sự kiện: tại sao giữa muôn vàn sự kiện và hiện tượng đời sống Vũ Trọng Phụng chỉ săm soi những tệ nạn ung nhọt trong xã hội? Hư cấu bộc lộ trong lối so sánh liên tưởng tạt ngang hết sức khiêu khích: “cái phất trần do chính bà Ách Nhoáng cầm để thỉnh thoảng giơ tay vụt xuống một cái cũng khá tàn ác những mà thong thả từ

tốn như một vị quan viên già tờ mờ điểm những tiếng trống chầu xinh” (Kĩ

nghệ lấy Tây) “Một thằng nhỏ không biết thêu dệt như một nhà văn thì câu

chuyện của thằng nhỏ kể có thể tin được là đến chín mươi phần trăm sự thật”

(Cơm thầy cơm cô) Tất cả những hình thức hư cấu ấy chịu sự chi phối của

nhãn quan hiện thực của nhà văn: một cái nhìn hằn học, phẫn uất, phản kháng

trước một xã hội chó đẻ, nhố nhăng và vô nghĩa lí

Có thể nói, hư cấu không thủ tiêu sự xác thực mà chỉ làm cho sự thật đời sống trong tác phẩm sinh động hơn và bộc lộ sâu sắc quan niệm nghệ thuật của nhà văn Đành rằng không gì thay thế được sự thật của đời sống, sự thật đời

Trang 25

sống tự nó đã mang giá trị, nhưng nếu không có hư cấu, nó không thể trở thành

sự thật nghệ thuật

Như vậy, bản chất của kí là sự thật song sự thật trong kí không đồng nhất với sự thật đời sống, sự thật được phản ánh trong báo chí, lịch sử, bởi nó được khúc xạ qua lăng kính sáng tạo của nhà văn Hư cấu không đối lập tuyệt đối với tính xác thực của kí mà là hoạt động cần thiết, tất yếu để sáng tạo hình tượng nghệ thuật

Nhìn lại lịch sử phê bình nghiên cứu kí ở Việt Nam chúng tôi thấy rằng vấn đề hư cấu trong kí từng là một trọng điểm của cuộc thảo luận, trao đổi về các thể kí văn học do Tạp chí văn học tổ chức năm 1966 Đa số ý kiến cho rằng: trung thành tuyệt đối với sự thật là nguyên tắc cứng rắn chung cho các thể kí; còn vấn đề hư cấu mỗi người quan niệm mỗi khác Trần Cư trong bài

viết Kí có cần hư cấu như truyện không (Tạp chí văn học số 8.1966) khẳng

định: “kí không cần hư cấu”, “hư cấu làm giảm tác dụng của kí” (trang 23) Nguyễn Kim Hoa cũng có ý kiến tương tự: “Hư cấu là biện pháp điển hình hóa trong văn học song kí không cần hư cấu vẫn xây dựng được điển hình” [25, tr.95] Một số ý kiến khác tỏ ra gay gắt hơn: kí “tuyệt đối không hư cấu” hoặc

“phản đối hư cấu vì nó làm mất tính xác thực của người thật, việc thật”, phủ

nhận cả việc “hư cấu có mức độ, phạm vi, liều lượng”(Hoàng Tuấn Phổ- Kí

không cần hư cấu, Tạp chí văn học số 11 1966, tr.55) Bên cạnh đó, lại có

những ý kiến chấp nhận trong kí có khả năng hư cấu đến một mức độ nhất định Chẳng hạn ý kiến của Chế Lan Viên: “Cần vận dụng hư cấu khi nó là một chức năng, một phương pháp làm việc” (Chế Lan Viên- Hãy xây dựng một nền văn học cân đối và toàn diện Tạp chí văn học, số 8.1966, tr 29) Hoặc ý kiến của Châu Giang và Kỳ Thanh: “kí cho phép hư cấu song hư cấu ở kí không

Trang 26

giống như ở tiểu thuyết: hư cấu chỉ là chọn lọc, xếp đặt lại hiện thực cuộc sống” [20, tr.57]

Vấn đề hư cấu còn trở lại trong khá nhiều bài viết, bài nghiên cứu về kí trong đó tiêu biểu là ý kiến khá xác đáng của giáo sư Hà Minh Đức: “Hư cấu nghệ thuật là cần thiết với kí nhưng được thực hiện theo những tiêu chuẩn nghiêm nhặt phù hợp với đặc trưng của kí Hư cấu có tác dụng bồi đắp làm nổi đậm hơn những đường nét của điển hình, bồi đắp những khoảng trống, tô điểm thêm cho sự sống có da thịt Hư cấu trong kí không được vi phạm hoặc phá vỡ khuôn khổ của người thật, việc thật…” [13, tr.26]

Ở đây, theo cách xác định vấn đề hư cấu và những lập luận của chúng tôi như đã nói ở trên, chúng tôi khẳng định lại một lần nữa là kí văn học luôn luôn tồn tại hư cấu, bởi hư cấu vốn có trong tất cả các sự thật được nói đến trong tác phẩm kí Ngoài ra còn bởi hư cấu cũng là một nét bản chất của sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn học Còn phạm vi, mức độ của việc hư cấu trong kí như thế nào, chúng tôi nghĩ đây còn là một vấn đề ngỏ cần tìm hiểu thêm

1.2.2 Nhân vật trần thuật trong kí

1.2.2.1 Vai trò của nhân vật trần thuật xưng tôi

Là một biến thể của thể loại tự sự, trong kí có sự xuất hiện của nhân vật trần thuật Song khác với trong truyện, nhân vật trần thuật dù xuất hiện ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba đều là hình thức ẩn mình của tác giả; ở trong kí nhân vật trần thuật thường chính là tác giả đúng như nhà phê bình Xô Viết Priliút đã nói: “Thông thường tôi trong kí là tác giả, mặc dù không trừ hình thức người trần thuật ước lệ” [40, tr.432] Tác giả trong kí đóng một vai trò rất quan trọng

và đa dạng, “vừa là nhân vật- nhân chứng cho các sự kiện đời sống và là nhân

tố tổ chức, xâu chuỗi các chi tiết, sự kiện vừa là tác giả bàn bạc, đánh giá về

Trang 27

đối tượng phản ánh và bộc lộ lập trường, quan điểm, cảm xúc của bản thân” [35, tr.51]

Trong kí nhân vật trần thuật là một nhân vật- nhân chứng của hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm Với vai trò này, nhân vật trần thuật dẫn dắt người đọc đến mọi hang cùng ngõ hẻm của đời sống, trò chuyện với những nhân vật khác để tìm tòi, phơi bày những mặt trái, góc khuất của hiện thực Theo chân người kể chuyện- nhân chứng này, người đọc như được tận mắt chứng kiến những bằng chứng- sự thật sinh động, đáng tin cậy Vì vậy, sự xuất hiện của nhân chứng “tôi” này tạo nên niềm tin nơi người đọc vào độ xác thực của kí Khi khoác áo phu xe, Tam Lang không ngoài mục đích thuyết phục người đọc cũng thấm thía như mình nỗi cơ cực của hạng “người ngựa ngựa người”: bị đánh đập, bắt bớ, lừa gạt, coi khinh, ngỡ ngàng vì những mánh khóe nghề nghiệp và phẫn nộ trước tình trạng bất bình đẳng trong xã hội Khoác lên mình tấm áo “cơm thầy cơm cô”, Vũ Trọng Phụng có thể đưa ra “đủ những mẫu hạng người về giới cơm thầy cơm cô”, cung cấp cho người đọc một cái nhìn đúng đắn về hiện thực

Nhân vật trần thuật xưng tôi trong kí còn là nhân tố tổ chức, xâu chuỗi các chi tiết, sự kiện vào một điểm nhìn thống nhất để kết cấu nên tác phẩm Tất

cả những sự kiện, số liệu về hiện thực tưởng chừng như rời rạc bỗng được xâu chuỗi, liên kết với nhau, giới hạn trong tầm nhìn của một cái tôi duy nhất Không phải ngẫu nhiên mà có người gọi tác phẩm kí văn học là một dạng “văn

tư liệu” Điều này cũng có lí do của nó Có những thiên kí mà trong đó xuất hiện dày đặc những số liệu, chi tiết mà khi đọc lên cho ta cảm giác rời rạc, khô cứng, không liền mạch nếu người đọc không tinh ý nhận ra dụng ý và sự sắp xếp của tác giả Chắc hẳn phải có một lí do, dụng ý nào đó của người viết chứ?

Để phục vụ cho dụng ý này, người viết phải có cách tổ chức, xâu chuỗi, liên

Trang 28

kết riêng của họ Chẳng hạn, ở những bút kí đậm màu sắc trữ tình của Hoàng Phủ Ngọc Tường thường không được tổ chức thông qua hành động của “tôi” trong không gian mà thường qua sự suy biện, liên tưởng, xúc cảm trong chiều sâu thời gian Trong kí Hoàng Phủ Ngọc Tường thường xuất hiện nhiều những

“tôi cảm thấy hình như có một cái gì đang lắng xuống thêm một chút nữa trong thành phố vốn hàng ngày đã rất yên tĩnh này”, “tôi chợt cảm thấy bỡ ngỡ như

vừa bắt gặp một điều mới lạ”, “tôi cảm thấy điều đó một cách tự nhiên”…(Rất

nhiều ánh lửa) Phương thức nối kết sự kiện bằng một cái tôi đượm những xúc

cảm, cảm giác suy tư ấy khiến cho kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường thường man mác, da diết một chất trữ tình riêng, trầm tư, sâu lắng

Mặt khác, nhân vật trần thuật xưng tôi còn là bộc lộ trực tiếp những lập trường quan điểm, tư tưởng, cảm xúc của nhà văn Nói như giáo sư Phương Lựu là “nhân vật người trần thuật đóng vai trò nhà thơ và nhà hùng biện trong các tác phẩm kí văn học” [40, tr.433] Có thể nói đây là tiêu chí phân biệt khá

rõ truyện và kí, bởi trong kí tác giả có thể phát biểu trực tiếp quan điểm và lập trường, thái độ của mình một cách công khai, không như trong truyện tác giả chỉ có thể bộc lộ mình trong các đoạn trữ tình ngoại đề, song sự bộc lộ này cũng rất hạn chế và không phải bao giờ cũng đáng tin cậy Theo tác giả Nguyễn Đăng Na, trong văn học trung đại, khi “người cầm bút tách mình khỏi các sự kiện, các nhân vật mình miêu tả như người ngoài cuộc thì đấy là truyện, còn tác giả hòa mình vào các sự kiện, các nhân vật với tư cách là người trong cuộc thì đấy là kí” [36, tr.37]

1.2.2.2 Lập trường, thái độ người viết

Tuy lập trường, thái độ của người viết luôn có trong bất kì thể loại văn học nào nhưng ở kí thì nó có một sắc diện nổi bật rất đậm nét Vì vậy có thể nói lập trường, thái độ người viết kí là một biểu hiện có nét riêng trong đặc

Trang 29

trưng của kí Vấn đề lập trường, thái độ người viết có quan hệ mật thiết đến vấn đề sự thật trong kí và được biểu hiện trực tiếp qua nhân vật trần thuật xưng tôi Khác với truyện và các thể loại văn học khác, trong kí luôn đòi hỏi sự có mặt trực tiếp của người viết với tính chất là chứng nhân của hiện thực để quan sát, nhận xét, chứng kiến… Nguyên tắc ấy góp phần đảm bảo cho tác phẩm kí giữ được tính xác thực lịch sử tạo nên niềm tin nơi người đọc về giá trị của tác phẩm Chính lập trường thái độ ấy là hạt nhân để làm nên giọng điệu nghệ thuật trong kí Lập trường tôn giáo làm nên giọng triết lí trong các bài bi kí, minh kí ở văn học trung đại Lập trường phê phán làm nên giọng mỉa mai, châm biếm hoặc đả kích thẳng thừng cay độc trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng Lập trường cộng đồng làm nên giọng điệu biểu dương ca ngợi trong kí cách mạng Lập trường công dân làm nên giọng điều trần, chất vấn trong phóng sự, bút kí sau đổi mới Giọng điệu nghệ thuật làm nên diện mạo riêng, sức hấp dẫn riêng của mỗi tác phẩm kí

Dù chịu sự chi phối của hiện thực đời sống song lập trường thái độ của người viết lại quyết định nội dung sự thật trong tác phẩm Bởi đứng trên mỗi góc độ, mỗi quan điểm nhất định, hiện thực cuộc sống lại hiện hình trong những dáng vẻ khác nhau Hiện thực ngột ngạt, bế tắc, tăm tối, khủng hoảng những năm trước cách mạng cùng với sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực phương Tây quyết định lập trường phê phán của các nhà văn hiện thực, lập trường này lại chi phối nội dung sự thật trong kí hiện thực, khiến cho nó nhuốm màu đen tối Tính chất kì vĩ của cuộc chiến tranh nhân dân quyết định lập trường cộng đồng trong văn học kháng chiến nói chung và kí nói riêng, và lập trường này lại ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghệ thuật trong tác phẩm kí thời

đó Những mối quan hệ chặt chẽ này tạo nên nét riêng, sự vận động của mỗi loại hình kí

Trang 30

Lập trường, thái độ người viết còn chịu ảnh hưởng của phương pháp sáng tác của nhà văn Cùng một hiện thực những năm tiền cách mạng, phương pháp lãng mạn khiến mọi hiện tượng đời sống được cảm nhận trong kí Thạch Lam, Vũ Bằng theo lập trường hoài cổ Họ là những nhà văn có ý thức truy tìm

vẻ đẹp văn hóa truyền thống để phần nào vượt thoát những ngột ngạt, tăm tối đương thời Phương pháp sáng tác hiện thực lại hướng ngòi bút Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Tam Lang… vào khám phá những vấn đề nóng bỏng của dân sinh trên lập trường phê phán tố cáo…Vì bị chi phối bởi phương pháp sáng tác, lập trường, thái độ người viết kí cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc thế giới quan của nhà văn

Tóm lại, vấn đề xác định lập trường người viết kí là vấn đề hết sức quan trọng khi tìm hiểu đặc trưng mỗi loại hình kí song bởi nó nằm trong mối quan

hệ chặt chẽ với những yếu tố xung quanh: thế giới quan, phương pháp sáng tác, hiện thực, đời sống, mà những yếu tố này đều vận động không ngừng nên lập trường người viết kí cũng là một phạm trù lịch sử mang tính cụ thể

2 Kí là một hiện tượng lịch sử, cụ thể

2.1 Thể loại văn học là một hiện tượng lịch sử, cụ thể

Theo M Bakhtin, thể loại chứ không phải phương pháp hoặc trường phái sáng tác “là những nhân vật của tấn kịch lịch sử văn học”, “thể loại là cái trí nhớ siêu cá nhân của nghệ thuật, nơi tích lũy đúc kết những kinh nghiệm nhận thức thẩm mĩ thế giới Mỗi thời đại có hệ thống thể loại của mình, trong

đó những thể loại chính thể hiện tập trung nhất, nổi bật nhất tâm thức, tầm nhìn, những mối quan tâm, những quan niệm và chuẩn mực giá trị của con người trong thời đại đó” [3, tr.7] Và “thể loại bao giờ cũng vẫn thế, bao giờ cũng đồng thời vừa cũ vừa mới Thể loại được tái sinh và đổi mới trong từng

Trang 31

giai đoạn mới của sự phát triển văn học và trong từng tác phẩm, cá biệt của thể loại đó Và đó là đời sống của thể loại” [40, tr.346] Như vậy là trong thể loại

có các yếu tố ổn định, truyền thống, lại vừa có các yếu tố đổi mới do tiến trình văn học và do tài năng sáng tạo của nhà văn đóng góp vào

Thực tế trong quá trình vận động của văn học, sự hình thành, phát triển

và mất đi của các thể loại văn học là hiện tượng phát triển bình thường Cơ sở

xã hội, nhu cầu của các tầng lớp giai cấp về mặt nhận thức cuộc sống, thị hiếu thẩm mĩ,…sẽ quy định đến sự phát triển của các thể loại văn học Trong thời kì

cổ đại, thể anh hùng ca cổ điển phát triển với những tác phẩm nổi tiếng như

Iliát, Ôđixê Sự xuất hiện của những tác phẩm này gắn liền với những điều kiện

phát triển xã hội của thời kì cổ đại, với cái nôi thần thoại Hi Lạp giàu có và trình độ tư duy của con người còn chịu sự chi phối của thế giới quan thần linh

Về sau này khi những điều kiện xã hội riêng của nó mất đi do sự đổi thay và phát triển thì thể loại này cũng không có điều kiện để tồn tại và phát triển như trước nữa Kể cả những hình thức mô phỏng kiểu như tác phẩm La Hangriat của Vônte cũng trở nên không thích hợp với điều kiện xã hội mới Anh hùng ca

đã trở thành “thể loại một đi không trở lại” Như vậy các thể loại văn học không phải là nhất thành bất biến mà thay đổi qua các thời kì lịch sử Trong quá trình ấy có những yếu tố thể loại sẽ bị xưa cũ đi, không thích hợp để biểu hiện những chất liệu và nội dung trong văn học của thời đại mới Có những yếu

tố bền vững mà năng động có khả năng cải biến để đáp ứng được những yêu cầu mới

Sự thay đổi và phát triển của các thể loại văn học cũng ghi nhận một thực tế về tính chất tương đối của các loại thể văn học Không có một thể loại nào trường tồn bất biến qua thời gian Các đặc tính của một thể loại vừa có mặt

ổn định lại vừa phát triển đổi thay Do đó việc nghiên cứu thể loại bao giờ cũng

Trang 32

phải đặt trong những điều kiện lịch sử cụ thể Nói khác đi, thể loại là một hiện tượng lịch sử, cụ thể.

2.2 Kí cũng là một hiện tượng lịch sử, cụ thể

Bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng có sự ra đời, hình thành và phát triển tại một thời điểm nhất định, trong một giai đoạn lịch sử nhất định Do đó chúng đều là sản phẩm của lịch sử Điều này cũng đúng với thể loại văn học nói chung và thể kí nói riêng Là một thể loại văn học nên kí hiển nhiên là một hiện tượng lịch sử, cụ thể bởi lẽ:

2.2.1 Xem xét nguồn gốc ra đời của kí cho thấy rằng, ở bất cứ nền văn học nào

kí thoạt kì thủy ra đời để đáp ứng nhu cầu ghi chép trực tiếp những sự kiện của hiện tại đang sinh thành, để nắm bắt dòng sống còn đang trôi chảy Vì thế, ban đầu, kí là sự ghi chép tổng hợp mọi phương diện của đời sống, từ tự nhiên đến

xã hội Ngoài ra kí còn bắt nguồn từ nhu cầu bày tỏ một cách trực tiếp lập trường, thái độ của người viết Như vậy, nhu cầu ghi chép đời sống và bộc lộ chủ quan thúc đẩy sự ra đời của kí Song thực tiễn sáng tác cho thấy, kí chỉ thực sự phát triển rực rỡ trong những thời điểm bão táp của lịch sử, ở thời điểm bắt đầu khủng hoảng của một chế độ xã hội, hay chặng khởi hành đầy chông gai của cái mới, khi nhu cầu nhận thức thực tại, nhu cầu sự thật trở nên bức xúc

và ráo riết Ở Việt Nam, cuối thế kỉ XVIII, khi chế độ phong kiến đã bắt đầu nứt rạn, mục ruỗng, thể kí vốn khiêm nhường trong hệ thống thể loại lúc bấy giờ bỗng đạt đến đỉnh cao, hoàn toàn tách khỏi văn học chức năng với một lối

tự sự cặn kẽ, tỉ mỉ, xác thực, sinh động xen lẫn những đoạn trữ tình phóng

túng, tự do trong Thượng kinh kí sự; lối khảo cứu đậm chất thời sự và cũng uyển chuyển, tinh tế, phóng khoáng trong Vũ trung tùy bút Những năm đầu

của thế kỉ XX, đặc biệt là vào những năm 30, ở thời điểm xã hội ngột ngạt dưới ách cai trị của thực dân và đầy biến động với các cuộc đấu tranh xã hội, kí

Trang 33

bùng nổ với những trang phóng sự làm chấn động dư luận của Tam Lang (Tôi

kéo xe), Ngô Tất Tố (Việc làng, Tập án cái đình), Vũ Trọng Phụng (Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô)… Những năm đầu của cuộc kháng

chiến chống Pháp và chống Mỹ, ở thời điểm bộn bề, ngổn ngang sự kiện của cuộc chiến tranh, kí cũng lao mình vào dòng thác của đời sống kháng chiến để

tạo nên những tác phẩm xuất sắc của Nam Cao (Ở rừng ), Nguyễn Huy Tưởng (Ký sự Cao Lạng), Trần Đăng (Trận phố Ràng)… Đặc biệt, những năm đầu

của chặng đường đổi mới, ở thời điểm đầy sóng gió của sự nghiệp xây dựng CNXH, kí trở thành món ăn tinh thần của mỗi người dân, với những bút kí,

phóng sự đầy tinh thần chiến đấu như: Cái đêm hôm ấy đêm gì? (Phùng Gia Lộc), Người đàn bà quỳ (Trần Khắc), Đêm trắng (Hoàng Hữu Các)…

Sự phát triển của loại hình kí hiện thực và kí thời kì sau đổi mới cũng minh chứng cho điều này Ảnh hưởng của luồng gió dân chủ trong văn hóa phương Tây tạo nên ý thức cá nhân hết sức sâu sắc của người cầm bút đã khiến Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố… dám công khai sự thật, đấu tranh cho sự thật Không khí đổi mới theo hướng dân chủ hóa đời sống xã hội sau đại hội Đảng VI đã thúc đẩy sự ra đời của hàng loạt bút kí, phóng sự gây xôn xao

dư luận Là phát ngôn cho lập trường cá nhân, dân chủ, kí mang tính chiến đấu mạnh mẽ và góp phần dân chủ hóa đời sống xã hội Như vậy có thể thấy kí là một hiện tượng lịch sử, gắn chặt với lịch sử

2.2.2 Hơn thế, khi xem xét bản chất thể loại của kí ta càng thấy rõ vấn đề này:

Trong thực tiễn sáng tác và nghiên cứu kí thấy có một vấn đề nổi cộm là: bản chất của kí là mô tả sự thật song ở mỗi giai đoạn của thực tiễn sáng tác, sự thật lại mang một dáng vẻ khác nhau tùy thuộc vào thế giới quan và quan niệm của nhà văn, của thời đại Điều này cũng là một bằng chứng chứng tỏ kí là một

Trang 34

hiện tượng lịch sử, cụ thể bởi bản chất sự thật trong kí mang tính vận động, biến đổi

Vấn đề lập trường, thái độ người viết kí cũng là một đặc trưng quan trọng của kí Nó lại luôn luôn nằm trong mối quan hệ với những yếu tố khác xung quanh như: thế giới quan, phương pháp sáng tác, hiện thực đời sống,…mà những yếu tố này đều vận động không ngừng nên lập trường người viết kí cũng là một phạm trù lịch sử, mang tính cụ thể Nó cũng luôn vận động, biến đổi trong dòng lịch sử Điều này giúp ta khẳng định một cách đầy đủ hơn, chắc chắn hơn kí là một hiện tượng lịch sử, cụ thể

*

* *

Tóm lại, qua việc tìm hiểu và trình bày sơ bộ một số vấn đề lí thuyết thể loại kí như trên có thể giúp chúng ta hình dung được diện mạo chung của loại hình kí trong đời sống thể loại văn học Bên cạnh những vấn đề cơ bản trên, khi bàn về kí người ta vẫn thường đề cập đến một số vấn đề khác như: việc phân biệt kí văn học và kí báo chí, phân loại kí song thực tế vẫn chưa có sự lí giải thấu đáo và thuyết phục Ở đây chúng tôi không có ý định đi sâu trình bày một cách cặn kẽ về chúng vì xét thấy những vấn đề đó thuộc phạm vi tìm hiểu của một chuyên luận riêng về thể loại kí thì thích hợp hơn Nhưng cũng là rất cần thiết khi nêu ra và khẳng định một số luận điểm nhỏ sau đây:

1 Kí là một thể loại văn học bao gồm nhiều tiểu loại (hoặc thể) như nhận định của phó giáo sư Hoàng Ngọc Hiến: “Kí là một thuật ngữ được dùng

để gọi tên một thể loại văn học bao gồm nhiều thể hoặc tiểu loại: bút kí, hồi kí,

kí chính luận, du kí, phóng sự, tùy bút, tạp văn, tiểu phẩm ”[24, tr.7] Và ngay trong phạm vi của các thể kí nêu trên tình hình phân loại cũng chưa phải là đã

Trang 35

rõ ràng, dứt khoát Nói chung, đây là một luận điểm chưa có sự thống nhất hoàn toàn trong giới nghiên cứu về kí (Như Tô Hoài từng nói: “Có một chuyện thời sự được bàn cãi sôi nổi Câu chuyện có mấy loại kí ” [13, tr.56] Bởi, thông thường, mỗi thể loại văn học thường chủ yếu là gắn với một phương thức biểu hiện, riêng với kí lại gắn với nhiều phương thức biểu hiện khác nhau Trong kí có sự thâm nhập của cả phương thức tự sự lẫn phương thức trữ tình,

Do đó khi nghiên cứu về kí ta còn gặp nhiều khó khăn, nhất là khi đi vào từng tiểu loại cụ thể của nó

2 Trên thực tế vẫn tồn tại sự lẫn lộn kí văn học và kí báo chí, những hiện tượng trung gian kí và truyện, kí và thể loại chính luận, trữ tình Kí văn học gần gũi với kí báo chí là bởi tính xác thực thời sự, bởi sự xuất hiện của người trần thuật xưng tôi đồng thời là tác giả Kí lại dễ lẫn với truyện bởi nó có cốt truyện, có nhân vật, có người kể chuyện Kí khó phân biệt với chính luận, trữ tình bởi nó có sự bày tỏ trực tiếp lập trường, cảm xúc người viết… Do đó, việc xuất hiện nhiều những ý kiến không thống nhất xoay quanh vấn đề phân biệt giữa kí văn học và kí báo chí, giữa các thể kí văn học và các hoạt động phản ánh, ghi chép trong đời sống là có cơ sở Chẳng hạn, ý kiến của B.Pô- lê- vôi cho rằng kí văn học là một hoạt động hỗ trợ có hiệu quả cho báo chí và cùng mang tính chất của báo chí: “Kí sự trở thành một thể tài văn nghệ có phong cách độc đáo vũ trang cho báo chí Nó khác với thể tài nghị luận khác là

vì có thành phần miêu tả nghệ thuật và hình tượng, nó khác với thể tài văn nghệ khác vì nó căn cứ vào sự thật cụ thể, có thành phần văn chương nghị luận

và luận văn có tính chất nghiên cứu” [13, tr.15] Còn đây là ý kiến của M.Gorki: “Kí đứng giữa nghị luận có tính chất nghiên cứu và truyện ngắn” [13, tr.14] … Tổng hợp lại, theo ý kiến của chúng tôi thì xét ở một góc độ nào đó có thể xem kí là một thể loại văn học trung gian giữa báo chí và nghệ thuật (tiêu chí phân biệt giữa chúng là phương thức xây dựng hình tượng, một bên hoàn

Trang 36

toàn không hư cấu, chỉ là một hình thức đưa tin, thông tin sự thật còn bên kia nhất thiết là có hư cấu); trung gian giữa “truyện và nghiên cứu” (M Gorki), bởi theo giáo sư Hoàng Ngọc Hiến thì: “Thể loại này vừa có những yếu tố của truyện tựu trung là những “hình ảnh có hồn” (…) hoặc những hình ảnh thổi hồn vào đối tượng được miêu tả Còn tư duy nghiên cứu chủ yếu cung cấp những dữ kiện, những tri thức nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người…” Nói khác đi, trong kí có “sự hợp nhất giữa tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học” và “có thể xem đây là một đặc trưng của tư duy viết kí” [24, tr.9] Ngoài ra kí còn có thể xem là thể loại trung gian giữa văn nghệ thuật và văn chính luận (chỉ khác là khi xem xét hình tượng chủ thể trong chúng, ta thấy hình tượng chủ thể trong văn nghệ thuật thường được giấu đi, còn trong văn chính luận hình tượng chủ thể lại được bộc lộ một cách rõ ràng)

Để chứng minh một cách cụ thể hơn, sống động hơn cho những luận điểm lí thuyết nêu trên về kí (kí là một thể loại văn học, kí như một hiện tượng lịch sử cụ thể, kí là một thể loại văn học trung gian…) chúng tôi chọn nghiên cứu hiện tượng kí của Vũ Bằng Những vấn đề lí thuyết trên đây là chìa khóa gợi mở giúp chúng tôi có một định hướng đúng đắn về mặt thể loại, nội dung của một hiện tượng kí cụ thể Thông qua đó có thể làm rõ được cái độc đáo, riêng biệt và đặc sắc của gương mặt kí Vũ Bằng, cũng như những đóng góp của ông cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG KÍ VŨ BẰNG

1 Sơ lược tiểu sử và quá trình đến với kí của Vũ Bằng

1.1 Thân phận của Vũ Bằng trước những biến động lớn của lịch sử đất nước từ trước 1945 - 1975

Cuộc đời, số phận mỗi con người đều gắn với một thời đại, một giai đoạn lịch sử nhất định Những biến đổi trong cuộc đời mỗi người phụ thuộc vào sự ứng xử của người đó với môi trường xã hội Cuộc đời Vũ Bằng là một minh chứng cho sự gắn kết lịch sử- con người như thế Mọi biến động lớn trong đời của nhà văn này đều gắn với những biến động của lịch sử đất nước Tìm hiểu ông trong mối quan hệ đó sẽ lí giải vì sao trong nhiều năm qua tên tuỗi Vũ Bằng còn xa lạ với một bộ phận độc giả Việt Nam, vì sao văn học

nước nhà lại có những tác phẩm như: Cai, Miếng ngon Hà Nội, Thương nhớ

mười hai, Bốn mươi năm nói láo…

Vũ Bằng sinh ngày 3.6.1913 tại Hà Nội Cha mất sớm, Vũ Bằng ở với

mẹ từ tấm bé Mẹ ông đã gửi ông vào trường Albert Sarraunt- một trường trung học Pháp nổi tiếng thời ấy với mong muốn sau này Vũ Bằng đi đi du học bên Pháp và trở thành một thầy thuốc Nhưng Vũ Bằng đã không làm theo được nguyện ước của mẹ Ông sớm “ném thân mình” vào làng báo Lòng đam mê, nhiệt thành và năng khiếu vốn có đã đưa Vũ Bằng tới những thành công nhất định Nhưng sự lựa chọn nghề báo cũng là một đầu mối cho rất nhiều biến động phức tạp của cuộc đời Vũ Bằng

Trước 1945, “bấy giờ nước ta đang trải qua một thời kì hỗn độn Tôi cũng như số đông bạn trẻ không có tinh thần mạnh, cả ngày chỉ nằm đọc những sách chán đời Dần dần mình đâm ra chán mình, tôi tìm những cuộc dật dục vong nhân

để tiêu ma sức khỏe Tinh thần ngày càng bạc nhược thêm…” [4, tr.32] Nhưng

Trang 38

cũng vào thời điểm này, Vũ Bằng đã sống được bằng nghề viết văn, làm báo như bao nhà báo khác lúc bấy giờ, “ông viết văn, viết báo như một cách mưu sinh Hơn thế, ông viết như một nghiệp chướng Bao nhiêu sung sướng, bao nhiêu bất hạnh, cả cái vinh và cái nhục cũng từ đấy mà ra cả” [17, tr.13]

Từ sau sự kiện kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12.1946), Vũ Bằng cùng gia đình phải đi tản cư Cuộc sống của gia đình Vũ Bằng nói riêng và của những người tản cư nói chung càng ngày càng khó khăn Sự thiếu thốn về vật chất đã tác động rõ rệt đến tinh thần của mỗi người dân tản cư Với nhiều động

cơ khác nhau, có khá nhiều người, kể cả một số người trong đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ đã “dinh – tê” (Rentrer: vào trong) Những người hồi cư như vậy đều phải chịu sự phán xét nghiêm khắc của quần chúng nhân dân ở cả đại bàn hồi cư và ở cả ngoài vùng kháng chiến

Trong hoàn cảnh ấy, Vũ Bằng đã đưa cả gia đình về Hà Nội Hành động này đồng nghĩa với việc chấp nhận bản án “phản bội cách mạng”, “phản bội nhân dân” Có điều đặc biệt: Vũ Bằng chủ động chấp nhận cái án đó Ông vẫn viết, vẫn hoạt động, âm thầm và lặng lẽ Vì sự “dinh-tê” ấy hoàn toàn không xuất phát từ động cơ ích kỉ cá nhân mà vì đáp ứng lời kêu gọi của sự nghiệp cách mạng dân tộc- Vũ Bằng là một chiến sĩ tình báo Những lời đồn đại, những tai tiếng xung quanh việc hồi cư là một áp lực rất nặng nề đối với Vũ Bằng, song ông chấp nhận nó để làm vỏ bọc an toàn nhất cho cuộc đời hoạt động tình báo

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7.5.1954), tình hình đất nước có nhiều thay đổi Mĩ đã nhanh chóng thế chân Pháp ở miền Nam, miền Bắc hoàn toàn giải phóng Trợ giúp Mĩ là bọn phản cách mạng hoạt động chính trị ráo riết Chúng tuyên truyền, dụ dỗ, lôi kéo đồng bào, trí thức, văn nghệ sĩ đặc biệt là đồng bào công giáo rời khỏi miền Bắc để vào Nam Vũ Bằng đã nhập vào đoàn

Trang 39

người này, tiếp tục lòng hi sinh cao cả của mình cho sự nghiệp cách mạng của đất nước Nhưng với dư luận lúc bấy giờ, Vũ Bằng lại phải nhận thêm một cái

án nữa: theo bọn phản động vào Nam Đó là “một cái án bất thành văn tuyên phạt Vũ Bằng” [17, tr.20] Chỉ có điều nặng nề hơn vì lần này Vũ Bằng vào Nam một mình, chịu đựng những điều tai tiếng cũng một mình Trong hồi kí

Bốn mươi năm nói láo Vũ Bằng viết: “Nhưng Nam, Bắc cùng là đất nước, sao

lại phải coi chuyến đi này là một cuộc di cư mà không phải là một vụ đi chơi bậy bạ để tiêu sầu khiển hứng?” Cách giải thích này cho thấy quan niệm của

Vũ Bằng khá thoải mái Phải chăng đó là một lời giải thích hợp lí nhất cho sự

an toàn của chính nhà văn trong tình hình lúc bấy giờ?

Bề ngoài thì thế những thực chất bên trong con người ấy luôn có một nỗi đau buốt sắc Chia tay với vợ con, quê hương để vào Nam, Vũ Bằng luôn tin rằng có thể sau hai năm nữa sẽ có hiệp thương thống nhất, Bắc Nam sum họp Lúc đó ông sẽ được trở về, đoàn tụ cùng gia đình và sống trong lòng Bắc Việt thân yêu Song niềm tin ấy cứ mờ dần, chuyển thành hi vọng, thành mong ước, nguyện ước cháy bỏng trong lòng người con xa quê khi hiện thực lịch sử đất nước diễn biến phức tạp 30.4.1975, đất nước hoàn toàn giải phóng nhưng nguyện ước của Vũ Bằng vẫn không được thực hiện Cái án di cư của ông chưa được xóa bỏ trong khi ông vẫn tận tụy với công tác tình báo Tổ ấm gia đình và miền Bắc yêu thương trở thành một hình ảnh đẹp trong kí ức, một giấc mơ không bao giờ với tới được của Vũ Bằng Hi vọng đã chuyển thành thất vọng, bất lực và buồn đau, nhất là khi ông được tin người vợ ông rất mực yêu thương

đã mất nơi quê nhà Vũ Bằng đã mang trọn nỗi đau, niềm nhớ thương ấy vào cõi vĩnh hằng Năm 1984 ông ra đi, âm thầm và lặng lẽ như cuộc đời phục vụ cách mạng của mình vậy Ông ra đi khi lịch sử lúc bấy giờ chưa làm được công việc lẽ ra phải làm từ lâu của nó: xác minh một sự thật về cuộc đời Vũ Bằng

Vì vậy, tai tiếng về cuộc đời con người Vũ Bằng vẫn chưa được làm sáng rõ

Trang 40

Mãi đến 1.3.2000 Cục tình báo chiến lược quân sự (Bộ quốc phòng) mới làm được điều đó

1.2 Những căn nguyên đưa Vũ Bằng đến với kí

Điểm qua những nét chính của cuộc đời Vũ Bằng như trên ta có thể thấy rằng: cuộc đời Vũ Bằng là một trong những trường hợp đặc biệt của đội ngũ những nhà văn Việt Nam hiện đại từ trước đến nay Cuộc đời ấy xem qua cũng

đủ thấy là có nhiều những éo le, trắc trở Do vậy, như một nhu cầu tự thân- nhu cầu được giải thoát tâm hồn, cộng với những năng khiếu vốn có đã thúc đẩy ông tìm đến để kí thác tất cả nỗi lòng, tâm sự, trăn trở của mình vào việc sáng tác văn học Và có lẽ vì vậy mà ông tìm đến với thể loại hồi kí, tùy bút Bởi, hồi kí là thể loại phù hợp nhất với nhu cầu bộc lộ tinh thần chủ quan và nhu cầu tự thú của bản thân người viết hơn tất cả những thể loại khác trong kí khi viết về người thật, việc thật Hơn thế, “bất kì quyển sách nào cũng là lời tự thú,

và quyển sách hồi ức thì chính là lời tự thú mà tác giả không cố ý dấu mình

dưới cái bóng của các nhân vật hư cấu” [16, tr.20] Ngay từ Cai (1943- 1944),

“nhân câu chuyện mình đã nghiện thuốc phiện thế nào, rồi đã Cai ra sao, Vũ

Bằng muốn làm một cuộc tự thú về những sa đà lầm lẫn mà mình từng mắc phải, và cách thức vận dụng tất cả nghị lực để vượt lên trên những lầm lỡ ấy…” [4, tr.8] Phải chăng đấy là sự sám hối với chính bản thân mình để trả món nợ tinh thần và vật chất mà những người thân của ông đã từng một thời lao đao khốn khó cùng ông trong cơn kiếp nạn của toàn xã hội lúc bấy giờ?

Còn những năm tháng hoạt động tình báo cách mạng, con người kỉ luật của một chiến sĩ đã lấn át, áp chế, ra lệnh cho chính bản thân ông Song rõ ràng

ở Vũ Bằng, tiếng nói của một con người nghệ sĩ, một tình nhân vẫn luôn luôn muốn trỗi dậy, muốn phá cách Có một mâu thuẫn giằng xé trong Vũ Bằng, đó

là việc vừa phải giữ trọn danh tiết, vừa phải tạo ra vỏ bọc an toàn để hoạt động

Ngày đăng: 05/11/2016, 22:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w