1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các đặc điểm Dịch vụ và Thương Mại Dịch Vụ của Dịch Vụ Logistics ở nước ta hiện nay

21 842 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các đặc điểm Dịch vụ và Thương Mại Dịch Vụ của Dịch Vụ Logistics ở nước ta hiện nay
Chuyên ngành Logistics
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2007
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 177 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Các đặc điểm Dịch vụ và Thương Mại Dịch Vụ của Dịch Vụ Logistics ở nước ta hiện nay

Trang 1

Đề bài: "Các đặc điểm Dịch vụ và Thương Mại Dịch Vụ của Dịch

Vụ Logistics ở nước ta hiện nay "

Lời nói đầu

Trên thế giới ngày nay, nền kinh tế không chỉ đơn thuần với các sản phẩm vậtchất cụ thể, mà bên cạnh đó còn tồn tại với các sản phẩm dịch vụ Dịch vụ đã đượccoi là ngành kinh tế thứ ba và là ngành công nghiệp không khói Ở các nước pháttriển, tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân thường rất cao Nhiều tổ chức

cá nhân đầu tư không ít tiền của vào các hoạt động dịch vụ bởi lẽ đơn giản là nóđem lại hiệu quả kinh tế cao và đang là xu thế thời đại

Logistics là một trong số các ngành dịch vụ có thu nhập cao cho ngành dịch vụnói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung Logistics có vị trí ngày càng quantrọng trong các nền kinh tế hiện đại và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tếcủa các quốc gia và toàn cầu Dịch vụ logistics ngày nay đã trở thành ngành dịch vụxương sống của hoạt động thương mại quốc tế

Logistics đã và đang được phát triển mạnh ở các nước có nền kinh tế pháttriển Những năm gần đây, dịch vụ logistics bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam Ngànhdịch vụ logistics tại Việt Nam đã và đang phát triển rất nhanh chóng, từ một vàidoanh nghiệp giao nhận quốc doanh của đầu thập niên 90 đến nay đã có hơn 600công ty được thành lập và hoạt động từ Nam, Trung, Bắc

Theo số liệu thống kê năm 2007, logistics đóng góp vào GDP khoảng 4,4%.Tuy nhiên, nhiều dự báo cho rằng đây sẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng, có thểđóng góp tới 15% GDP của cả nước trong tương lai không xa Với tầm quan trọng

và nguồn lợi từ logistics, việc phát triển cần một chiến lược dài hạn những cơ chếchính sách pháp lý phù hợp nhằm tạo điều kiện và thu hút sự đầu tư phát triển chongành này tại Việt Nam

Trang 2

Chương 1: Cơ sở Lý luận về dịch vụ và thương mại dịch vụ

1.1 Các Khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về Dịch vụ (DV)

Dịch vụ là một ngành, một lĩnh vực

- Dịch vụ thuộc khu vực phi sản xuất vật chất của nền linh tế quốc dân

- Dịch vụ là một ngành trong nền kinh tế quốc dân, là ngành kinh tế thứ ba saucông nghiệp và nông nghiệp

Dịch vụ là một sản phẩm, kết quả của một hoạt động

- Dịch vụ là con đẻ của sản xuất hàng hóa, khi kinh tế hàng hóa phát triển mạnh,đòi hỏi một sự lưu thông, thông suốt, để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao thìdịch vụ càng phát triển

- Quan điểm của ISO 8402: Dịch vụ là kết quả của hoạt động sinh ra khi tương tácgiữa bên cung ứng và khách hàng của hoạt động nội bộ bên cung ứng để đápứng nhu cầu khách hàng

- Dịch vụ là sản phẩm vô hình do sự tương tác giữa các yếu tố hữu hình và vôhình mà người tiêu dùng nhận được, phù hợp với quy cách và chi phí hai bênthỏa thuận

Dịch vụ là một hoạt động

- Theo Lưu Văn Nghiêm: Dịch vụ là hoạt động bao gồm các nhân tố không hiệnhữu giải quyết mối quan hệ của khách hàng hoặc tài sản của khách hàng với nhàcung cấp mà không chuyển giao quyền sở hữu

- Dịch vụ là hoạt động cung ứng lao động, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật nhằmđáp ứng nhu cầu về sản xuất kinh doanh , đời sống vật chất tinh thần, các hoạtbảo hiểm, tín dụng, cầm đồ (theo Trần Văn Bào và Nghiêm Văn Trọng)

- Thuật chinh phục khách hàng: Dịch vụ bao gồm toàn bộ các hỗ trợ mà kháchhàng mong đợi phù hợp với giá cả ngoài dịch vụ đó

Các quan niệm khác:

- Dịch vụ là hoạt động mang tính xã hội tạo ra các sản phẩm không tồn tại dướihình thái vật chất, không dẫn tới việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịpthời và hiệu quả hơn nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người

1.1.2 Khái niệm về thương mại dịch vụ (kinh doanh dịch vụ) (TMDV)

- Kinh doanh là thực hiện một số hoạt động trên thị trường với mục đích sinh lời

từ khâu tổ chức đến tiêu dùng

- Kinh doanh dịch vụ :

Trang 3

+ là hoạt động sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầukhách hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận.

+ là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn từ quá trình đầu tư

từ sản xuất cung ứng đến tiêu thụ trên thị trường nhằm mục địch sinh lời

1.2 Các đặc điểm của dịch vụ và thương mại dịch vụ.

- Dịch vụ có tính vô hình nên gây khó khăn cho các nhà sản xuất, khuyến khích

DV trên cơ sở vật chất kĩ thuật

 Khó khăn trong việc tăng năng suất DV, không sản xuất trước, chú trọngyếu tố tâm lý khách hàng, sợ rủi ro, sẵn sàng thay đổi nhu cầu chuyểnsang DV khác, đặc biệt là khi khách hàng tham gia vào dịch vụ

 Khó khăn trong việc có được bằng sáng chế và bảo vệ cho các sáng chế.Đối với hàng hóa là sản phẩm vật chất thì còn có thể đăng kí bản quyền

Do dịch vụ có tính vô hình, không hiện hữu của sản phẩm nên không thểmang dịch vụ đến cục sở hữu tuệ để đăng kí bản quyền

 Khó khăn trong việc vật chất hóa sản phẩm DV trong quá trình kinhdoanh

Cách tốt nhất để vật chất hóa là dựa vào cơ sở vật chất kĩ thuật Nhà cung cấp dịch

vụ cần quảng cáo, xúc tiến sản phẩm đến khách hàng, khẳng định chất lượng khơigợi niềm tin cho khách hàng, giảm tính sợ rủi ro cho khách hàng khi sử dụng dịchvụ

b. Tính không tách rời (đồng nhất)

- Thể hiện sự đồng thời về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùngdịch vụ

 Yêu cầu trong quá trình sản xuất kinh doanh:

+ sắp xếp trang thiết bị phù hợp => nhanh chóng, thuận lợi, dễ dàng, antoàn cho khách hàng

+ nhân viên phải đảm bảo trình độ kĩ năng, trình độ cung ứng dịch vụnhiệt tình chu đáo

+ có sự huấn luyện và khả năng phán đoán về khách hàng tốt nhằm cungứng đạt hiệu quả

Trang 4

+ tiến hành phân phối ở nhiều địa điểm khác.

 Không thể sản xuất hàng loạt, sản xuất trước các sản phẩm dịch vụ DV có tínhthời vụ nên do đó cần dự trữ tốt nguyên liệu, cần lên kế hoạch và dự báo đượcnhu cầu của khách hàng

c. Tính không xác định( không ổn định, không đồng nhất, dị chủng)

- Dịch vụ không giống nhau giữa các lần phục vụ khác dù là cùng một nhân viên,cùng một nhà cung cấp hay một loại hình dịch vụ phụ thuộc vào trình độ củanhân viên, tâm lý tình cảm phụ thuộc vào tâm lý, trình độ cảm nhận của kháchhàng

- Dịch vụ phụ thuộc nhiều vào yếu tố tâm lý, con người DV cần chú trọng huấnluyện tính chuyên nghiệp và việc phục vụ của nhân viên tránh phụ thuộc nhiềuvào tâm lý và thái độ của họ

d. Tính tồn kho ( không dự trữ)

- Dịch vụ không thể lưu trữ và lưu kho, quá trình sản xuất và tiêu dùng đồng thời.Doanh nghiệp cần tìm cách bán được nhiều nhất sản phẩm trong mỗi ngày( huấnluyện nhân viên, chính sách giảm giá, thu hút khách hàng, điều kiện kèm theo )

 Dịch vụ không có khả năng lưu kho nên doanh nghiệp cần sử dụng công cụ giámột cách hợp lý để tận dụng tối đa lợi nhuận và công suất bán Đồng thời vẫngiữ được chất lượng, uy tín của dịch vụ

1.2.2 Đặc điểm của thương mại dịch vụ.

Ngoài 4 đặc điểm kể trên của dịch vụ, thương mại dịch vụ còn có 4 đặctrưng sau:

a. Khách hàng là người cung ứng, tham gia vào tiến trình dịch vụ: thể hiện ở 4 tưcách

- Thông thường, khách hàng là người bỏ tiền ra mua dịch vụ vì họ là người tiếpnhận và sử dụng dịch vụ

- Khách hàng là yếu tố đầu vào của dịch vụ, nhân viên sử dụng công cụ lao độngtác động vào khách hàng tạo ra dịch vụ

Ví dụ: Trong sản xuất hàng hóa: con người sản xuất dựa vào công cụ lao động tạo

nên đối tượng lao động (nguyên liệu đầu vào) => sản phẩm hàng hóa

Trong sản xuất dịch vụ: cắt tóc sử dụng dao kéo được đầu tóc khách hàng tạo rakiểu đầu mới

- Khách hàng là người đồng sản xuất với nhà cung ứng

- Khách hàng là người quản lý : đồng thời thực hiện 4 chức năng: hoạch định, tổchức, lãnh đạo, kiểm soát

Trang 5

 Hoạch định : xác định mục tiêu, tình thế, lên kế hoạch.

 Tổ chức: xác định cơ cấu tổ chức, bố trí và sử dụng lao động phù hợpđiều chỉnh nhân viên

 Lãnh đạo: chỉ đạo thực hiện công việc, kiểm soát công việc, kiểm tra cóđúng yêu cầu không

 Kiểm soát: xác định mức tiêu chuẩn đo lường kết quả => điều chỉnh, sửchữa sai sót

 Doanh nghiệp nhận thức được vai trò quá trình cung ứng dịch vụ, chú trọng tớitâm lý khách hàng tạo nên hiệu quả kinh doanh

b. Sử dụng nhiều lao động trực tiếp, nhiều lao động nữ

- Tỷ lệ lao động sống cao, khó có thể sử dụng máy móc để tạo ra sản phẩm dịch

vụ, sử dụng lao động chân tay, lao động giản đơn, không sử dụng nhiều trình độcao, chỉ cần khéo léo, nhẫn nại, bền bỉ phù hợp với nữ

 Trả chi phí lương cao nên thay thế lao động sống bằng lao động máy móc trongphạm vi cho phép, bố trí sử dụng nhân viên phù hợp, tránh lãng phí nhân lực

c. Khách hàng quyết định địa điểm cung ứng dịch vụ

- Tùy thuộc vào từng loại hình dịch vụ khác nhau, khách hàng có vai trò nhất địnhtrong việc quyết định địa điểm khác

- Các mức độ quyết định địa điểm cung cấp của khách hàng như sau:

 Khách hàng có vai trò quyết định địa điểm cung cấp một số loại dịch

vụ

 Khách hàng có vai trò chi phối đến địa điểm cung cấp dịch vụ và nhàcung cấp có thể lựa chọn đặc điểm cung cấp dịch vụ thỏa mãn kháchhàng

 Khách hàng thỏa thuận với nhà cung ứng dịch vụ về đặc điểm củacung cấp dịch vụ , nhà cung cấp dịch vụ có quyền từ chối, khách hàngvẫn phải chấp nhận

 Doanh nghiệp cần nghiên cứu nhu cầu khách hàng, đặc điểm cung ứng dịch vụtrên thị trường để lựa chọn các dịch vụ cung ứng phù hợp

d. Đầu ra của kinh doanh dịch vụ khó đo lường nhưng có thể dự báo được

- Do đặc điểm của dịch vụ có tính vô hình nên không đo lường xác định đầu rađược, phải dựa vào thước đo trung gian để đo lường và quản lý dịch vụ

 Doanh nghiệp cần lựa chọn các đơn vị trung gian phù hợp để có thể đo lườngkết quả đầu ra của từng dịch vụ một cách chính xác

Chương 2: Thực trạng đặc điểm dịch vụ và thương mại dịch vụ Logistics ở nước ta hiện nay.

Trang 6

2.1 Khái quát chung về dịch vụ Logistics ở Việt Nam

2.1.1 Khái niệm về Logistics:

Trước khi đi vào tìm hiểu ngành dịch vụ Logistic ở Việt Nam chúng ta sẽ tìmhiểu một chút về Các Khái Niệm của Logistics:

+ Logistics được hiểu là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát sự lưu thông

và tích trữ một cách hiệu quả tối ưu các loại hàng hoá, nguyên vật liệu, thành phẩm

và bán thành phẩm, dịch vụ và thông tin đi kèm từ điểm khởi đầu tới điểm kết thúcnhằm mụch đích tuân theo các yêu cầu của khách hàng

+ Logistics có thể được định nghĩa là việc quản lý giòng chu chuyển và lưu kho

nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liênquan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng Hiểumột cách rộng hơn nó còn bao gồm cả việc thu hồi và xử lý rác thải (Nguồn :UNESCAP )

+ Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển và

lưu kho có hiệu quả hàng hoá, dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đếnnơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng (World MarintimeUnviersity‐ Đại học Hàng Hải Thế Giới, D Lambert 1998)

Thực ra Logistics được áp dụng rất rộng rãi trong nhiều ngành không chỉ trongQuân sự từ rất lâu, được hiểu là hậu cần, mà nó còn áp dụng trong sản xuất tiêu thụ,giao thông vận tải vv

 Vì vậy trên cơ sở Logistics tổng thể (Global Logistic) người ta chia hoạt độnglogistics thành Supply Chain Managment Logistics –Logistics quản lý chuỗi cungứng Transportation Management Logistics‐ Logistics quản lý vận chuyển hàng hóa.Warhousing/ Inventery Management Logistics –Logistics về quản lý lưu kho, kiểm

kê hàng hoá, kho bãi

Như vậy quản lý Logistics là sự điều chỉnh cả một tập hợp các hoạt động của nhiềungành cùng một lúc và chỉ khi nào người làm giao nhận có khả năng làm tất cả cáccông việc liên quan đến cung ứng, vận chuyển, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tụchải quan, phân phối….mới được công nhận là nhà cung cấp dịch vụ logistics

Vì lĩnh vực Logistics rất đa dạng, bao gồm nhiều quy trình và công đoạn khác nhaunên hiện nay người ta chia thành 4 phương thức khai thác hoạt động Logistic nhưsau:

 Logistics tự cung cấp:

Các công ty tư thực hiện các hoạt động logistics của mình Công ty sở hữu cácphương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả

Trang 7

con người để thực hiện các hoạt động logistics Đây là những tập đoàn Logistics lớntrên thế giới với mạng lưới logistics toàn cầu, có phương cách hoạt động phù hợpvới từng địa phương.

 Second Party Logistics (2PL)

Là việc quản lý các hoạt động logistics truyền thống như vận tải hay kho vận Công

ty không sở hữu hoặc có đủ phương tiện và cơ sở hạ tầng thì có thể thuê ngoài cácdịch vụ cung cấp logistics nhằm cung cấp phương tiện thiết bị hay dịch vụ cơ bản

Lý do của phương thức này là để cắt giảm chi phí hoặc vốn đầu tư

 Third Party Logistics (TPL) hay logistics theo hợp đồng.

Phương thức này có nghĩa là sử dụng các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạtđộng Logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý Logistics, hoặc chỉ 1 số hoạtđộng chọn lọc Cách giải thích khác theo TPL là các hoạt động do 1 công ty cungcấp dịch vụ Logistics thực hiện trên danh nghĩa khách hàng của họ, tối thiểu baogồm việc quản lý và thực hiện các hoạt động vận tải và kho vận ít nhất 1 năm hoặckhông có hợp đồng hợp tác Đây được coi như 1 liên minh chặt chẽ giữa 1 công ty

và nhà cung cấp dịch vụ Logistics, nó không chỉ thực hiện các hoạt động Logistics

mà còn chia sẻ thông tin, rủi ro và các lợi thế theo 1 hợp đồng dài hạn

 Fourth Party Logistics (FPL) hay Logistics chuỗi phân phối.

FPL là một khái niệm phát triển trên nền tảng của TPL nhằm tạo ra sự đáp ứng dịch

vụ, hướng về khách hàng và linh hoạt hơn FPL quản lý và thực hiện các hoạt độngLogistics phức hợp như quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát và cácchức năng kiến trúc và tích hợp các hoạt động Logistics FPL bao gồm lĩnh vựcrộng hơn gồm cả hoạt động của TPL, các dịch vụ công nghệ thông tin và quản lýcác tiến trình kinh doanh FPL được xem là 1 điểm liên lạc duy nhất, nơi thực hiệnviệc quản lý, tổng hợp các nguồn lực và giám sát các chức năng TPL trong suốtchuỗi phân phối nhằm vươn tới thị trường toàn cầu, lợi thế chiến lược và các mốiquan hệ lâu bền

2.1.2 Dịch vụ Logistics Việt Nam

Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quátrình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp

và thương mại mỗi quốc gia Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹlogistics đóng góp khoảng 10% GDP Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệnày có thể hơn 30% Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việcvận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chấtlượng Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chấtlượng sản phẩm dịch vụ

Trang 8

Dịch vụ logistics ở Việt Nam chiếm khoảng từ 15-20% GDP Ước tính GDP nước

ta năm 2006 khoảng 57,5 tỷ USD Như vậy, chi phí logistics chiếm khoảng 8,6-11,1

tỷ USD Đây là một khoản tiền rất lớn Nếu chỉ tính riêng khâu quan trọng nhấttrong logistics là vận tải, chiếm từ 40-60% chi phí thì cũng đã là một thị trường dịch

vụ khổng lồ

 Cơ hội lớn:

Theo dự báo, trong tương lai không xa, dịch vụ giao nhận kho vận (logistics) sẽ trởthành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đóng góp tới 15% GDP cả nước.Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể đạtmức 200 tỉ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng lớn Dự báo,đến năm 2010, hàng container qua cảng biển Việt Nam sẽ đạt từ 3,6-4,2 triệu TEU.Con số này đến năm 2020 chắc chắn sẽ lên đến 7,7 triệu TEU

Song hành cùng sự phát triển kinh tế là tăng trưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu,

do đó, ngành logistics lại thêm nhiều cơ hội phát triển Theo dự báo của Bộ ThươngMại, trong 10 năm tới kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước sẽ đạt tới 200 tỷUSD Điều đó cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam còn khá lớn

2.2 Đặc điểm Dịch vụ và Thương mại DV của Logistics ở Việt Nam hiện nay 2.2.1 Đặc điểm DV của DV Logistics

a Tính không hiện hữu

Khi mua một loại dịch vụ, nhiều khách hàng có cảm giác rằng họ có thể sẽ gặp phảimột rủi ro nào đó Bởi lẽ, khác với những sản phẩm mang tính vật chất, dịch vụ làmột thứ sản phẩm vô hình Khách hàng thật sự không thể biết trước mình sẽ nhậnđược những gì từ một dịch vụ cho đến khi họ bỏ tiền ra và thử nghiệm dịch vụ đó.Nói cách khác, bán một dịch vụ chính là bán một lời hứa rằng doanh nghiệp sẽ đemđến cho khách hàng một điều gì đó

Logistics thực hiện các công việc chu chuyển và lưu kho hàng hoá, cùng các dịch

vụ và thông tin có liên quan từ địa điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng do vậy nó

không phải là một sản phẩm vật chất hay một cái gì đó hiện hữu, do vậy khách hàngkhông thể cầm nắm, không thể cảm nhận được Logistics là sản phẩm như thế nào,

mà phải chờ đợi kết quả của quá trình vận chuyển, lưu kho… mới có thể cảm nhậnđược, do vậy logistics mang tính không hiện hữu

Tính không hiện hữu của dịch vụ Logistics gây ra một số khó khăn không nhỏ đốivới các công ty cung cấp dịch vụ Nó thể hiện ở chỗ khách hàng không trực tiếp tiếpcận với dịch vụ mà phải chờ đợi kết quả của quá trình vận chuyển điều này đem tớicho khách hàng tâm lý bất an vì vậy công ty cung cấp dịch vụ cần có những biện

Trang 9

pháp cụ thể để xóa bỏ tâm lý bất an trong khách hàng, làm cho khách hàng tin tưởnghoàn toàn vào dịch vụ mà công ty đã cung cấp

b Tính không tách rời (đồng nhất)

Tính không tách rời (đồng nhất) thể hiện ở sự đồng thời về không gian và thời giangiữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ Ví dụ như: khi khách hàng thuê một công tycung cấp dịch vụ Logistics, vận chuyển một hàng hóa nào đó từ nơi này tới nơi khácthì khi hàng hóa đang được vận chuyển thì lúc đó công ty đó đang cung cấp dịch vụvận chuyển và khách hàng thì đang tiêu thụ dịch vụ do công ty đó cung cấp Sựđồng nhất về không gian và thời gian cung cấp dịch vụ được thể hiện ngay từ đầuquá trình cung cấp dịch vụ: công ty cung cấp dịch vụ cho nhân viên tới tận nơikhách hàng yêu cầu và bốc xếp hàng hóa lên xe, vận chuyển tới nơi khách hàng yêucầu và bốc dỡ hàng hóa…sự đồng nhất giữa không gian và thời gian của quá trìnhsản xuất sản phẩm dịch vụ và quá trình tiêu thụ dịch vụ của khách hàng luôn luônđược thể hiện

Sự đồng nhất về không gian thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ dù đem lạinhững thuận lợi nhất định song cũng đặt ra một số yêu cầu mà nhà cung cấp trongquá trình sản xuất kinh doanh phải lưu tâm

c Tính không xác định (không ổn định, không đồng nhất, dị chủng)

Dịch vụ Logistics có thể không giống nhau trong các lần cung cấp dịch vụ khácnhau Có thể cùng một nhà cung ứng dịch vụ, cùng một nhân viên phục vụ, cùngmột loại hình dịch vụ nhưng đối với khách hàng khác nhau sẽ có cách tiếp cận,chăm sóc, phục vụ khác nhau tùy thuộc vào tâm lý, tình cảm, thái độ, cách thứcphục vụ khách hàng của từng nhân viên Đúng như vậy, nhân viên trong một công

ty cung cấp dịch vụ Logistics có thể phục vụ nhiều khách hàng khác nhau trongnhững lần khác nhau với thái độ chăm sóc phục vụ khách hàng khác nhau Phụthuộc vào vị trí mà khách hàng yêu cầu cần chuyển tới Ví dụ một khách hàng yêucầu vận chuyển hàng hóa từ nơi này tới nơi khác, trong thời gian bao lâu (các kháchhàng khác nhau có nhưng yêu cầu khác nhau)… thì công ty cung cấp dịch vụlogistics xem xét xem lên sử dụng phương tiện nào để phù hợp với từng loại hànghóa và thời gian cụ thể do khách hàng yêu cầu, có thể dùng các con đường vậnchuyển hàng hóa như đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không, đườngống Các loại hàng hóa với khối lượng lớn cần vận chuyển với các phương tiện nhưTàu hỏa và Tàu thủy, có thể dùng tới máy bay

Những khách hàng yêu cầu công ty cung cấp dịch vụ lưu kho, với những loại hànghóa khác nhưng thì công ty cung cấp dịch vụ cần thiết kế những kho lưu hàng với

Trang 10

diện tích hợp lý, và cần những phương tiện kĩ thuật để lưu trữ hàng hóa hiệu quảnhất, đảm bảo giữ gìn nguyên vẹn sơ lượng và chất lượng hàng hóa

d Tính không tồn kho

Dịch vụ Logistics không thể lưu kho và dự trữ được sản phẩm của mình do dịch vụLogistics có tính chất vô hình, sản phẩm dịch vụ của ngành không thể cầm nắmđược, nhìn thấy được Quá trình sản xuất và sử dụng dịch vụ là đồng thời do đó màsản phẩm dịch vụ không thể sản xuất ra hàng loạt

Đúng như vậy, những công ty cung cấp dịch vụ Logistics chỉ cung cấp dịch vụ khi

có khách hàng Khi khách hàng yêu cầu vận chuyển một hàng hóa nào đó tới mộtnơi nào đó, công ty mới cung cấp dịch vụ vận chuyển Không những vậy chúng tacòn thấy được rằng khi hàng hóa được vận chuyển thì lúc đó công ty đang cung cấpdịch vụ còn khách hàng thì đang tiêu thụ dịch vụ, hoạt động diễn ra đồng thời nênkhông gây ra sự tồn kho

2.2.2 Đặc điểm TMDV của DV Logistics

Ngoài bốn đặc điểm kể trên của DV, Thương mại dịch vụ của dịch vụLogistics còn bốn đặc trưng sau:

a Khách hàng là người cung ứng, tham gia vào tiến trình dịch vụ

- Khách hàng là một yếu tố đầu vào của doanh nghiệp:

Khách hàng ngày nay đã trở nên thông minh hơn nhờ vào lượng thông tin mà họtiếp thu qua mạng internet và nhiều kênh truyền thông khác nhau Việc đánh giá cácnhà cung cấp đã được mở rộng qua nhiều yếu tố trung gian như catalog, mang

Ngày đăng: 18/04/2013, 16:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w