Các tác giả của nghiên cứu Fabienne PERUCCA, Trưởng đại diện Triangle Génération Humanitaire Fanny QUERTAMP, Đồng giám đốc PADDI, Trung tâm Dự báo và Nghiên cứu Đô thị Charles GALLAVARD
Trang 1Ủy ban nh}n d}n Quận 8, TPHCM
NGHIÊN CỨU NGHÈO ĐÔ THỊ
CÁC CHÍNH SÁCH CÔNG VỀ GIẢM NGHÈO TỪ NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP Ở
QUẬN 8, TPHCM
Tháng 4 năm 2012
Trang 2Nghiên cứu được Vùng Rhône - Alpes tài trợ trong khuôn khổ một dự án do Tổ chức đoàn kết quốc tế Triangle Génération Humanitaire phối hợp với PADDI thực hiện
Các tác giả của nghiên cứu
Fabienne PERUCCA, Trưởng đại diện Triangle Génération Humanitaire
Fanny QUERTAMP, Đồng giám đốc PADDI, Trung tâm Dự báo và Nghiên cứu Đô thị Charles GALLAVARDIN, Tư vấn
Marie BRILLET, Trưởng đại diện Triangle Génération Humanitaire
Đơn vị phối hợp thực hiện
Viện nghiên cứu phát triển TPHCM
LÊ VĂN THÀNH, nhà dân số học, Trưởng phòng Văn hóa – Xã hội TRẦN THỊ LỆ, Chuyên viên xã hội học
PHAN ĐÌNH PHƯỚC, Chuyên viên địa lý
VŨ THỊ THU HƯƠNG, Chuyên viên dân tộc học PHẠM HOÀNG PHƯỚC, Chuyên viên xã hội học KIỀU THUY NGỌC, Chuyên viên dân tộc học
Với sự phối hợp của UBND Quận 8
Bà NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH, Phó chủ tịch UBND Quận 8
ẢNH TƯ LIỆU :Julien SMITH, Ảnh chụp: Charles GALLLAVARDIN
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 5
VIẾ T TẮ T 6
GIỚI THIỆU 7
1 TRÌNH BÀY VỀ BỐI CẢNH, QUẬN 8 VÀ PHƯƠNG PHÁP .11
1.1 BỐI CẢNH THỂ CHẾ VÀ KINH TẾ 11
1.1.1 TPHCM TRONG SƠ ĐỒ TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH VÀ LÃNH THỔ CỦA VIỆT NAM 11
1.1.2 PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG 13
1.1.3 SỰ NĂNG ĐỘNG ĐÔ THỊ Ở TPHCM 15
1.1.4 ĐÔ THỊ HÓA VÀ TÌNH HÌNH NGHÈO Ở TPHCM 19
1.2 CÁC ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA QUẬN 8 21
1.2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CHÍNH VỀ DÂN SỐ 21
1.2.2 SỬ DỤNG ĐẤT VÀ CƠ CẤU KINH TẾ : BIẾN ĐỔI VỀ KHÔNG GIAN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI 24
1.2.3 CHIẾN LƯỢC VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN 26
1.2.4 NGƯỜI NGHÈO Ở QUẬN 8 29
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2 CHÍNH SÁCH CÔNG VỀ GIẢM NGHÈO : CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VÀ PHÁ T TR IỂ N ĐỊA PHƯƠNG 34
2.1 LỊCH SỬ CÁC CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO 34
2.1.1 KẾT HỢP CHIẾN LƯỢC GIẢM NGHÈO VÀ CÁC CHÍNH SÁCH QUỐC GIA 34
2.1.2 CHIẾN LƯỢC TĂNG TRƯỞNG VÀ GIẢM NGHÈO, 2002-2005 35
2.1.3 CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO, 2006-2010 35
2.2 KHUÔN KHỔ HÀNH ĐỘNG Ở CẤP QUỐC GIA 37
2.2.1 NGƯỠNG NGHÈO 37
2.2.2 KHUNG PHÁP LÝ: NGHỊ QUYẾT 80 VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG, 2011-2020 38
2.2.3 PHÂN CHIA VAI TRÕ VÀ TRÁCH NHIỆM Ở CẤP QUỐC GIA 39
2.3 KHUÔN KHỔ HÀNH ĐỘNG Ở CẤP THÀNH PHỐ 40
2.3.1 NGHÈO VÀ NGƯỠNG NGHÈO Ở TPHCM 40
2.3.2 TIÊU CHÍ ĐƯỢC CẤP MÃ SỐ HỘ NGHÈO 41
2.3.3 KHUNG PHÁP LÝ: QUYẾT ĐỊNH 22/2010/QĐ-UBND 43
2.3.4 PHÂN CHIA VAI TRÕ VÀ TRÁCH NHIỆM Ở CẤP THÀNH PHỐ 50
2.4 TRIỂN KHAI THỰC HIỆN Ở CẤP QUẬN: QUẬN 8 51
2.4.1 TỔ CHỨC VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC Ở QUẬN 8 51
Trang 4Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 4
2.4.2 TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH Ở QUẬN 8 55
3 K ẾT QUẢ K HẢO SÁT 60
3.1 ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI – NHÂN KHẨU HỌC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH ĐƯỢC KHẢO SÁT 60
3.2 THU NHẬP VÀ CHI TIÊU, CÂN BẰNG NHƯNG BẤP BÊNH 62
3.3 CÓ VIỆC LÀM ỔN ĐỊNH LÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ THOÁT NGHÈO BỀN VỮNG 71
3.4 TIẾP CẬN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ 78
3.5 Y TẾ VÀ TIẾP CẬN CHĂM SÓC SỨC KHỎE 84
3.6 TIẾP CẬN NGUỒN TÍN DỤNG 88
3.7 NHÀ Ở VÀ TÁI ĐỊNH CƯ 92
3.8 CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ MÔI TRƯỜNG SỐNG 100
3.9 SỰ THAM GIA VÀ QUAN NIỆM VỀ NGHÈO 103
4 PHÂN T ÍCH V À K IẾN NGHỊ 108
4.1 ĐO LƯỜNG VÀ XÁC ĐỊNH TÌNH TRẠNG NGHÈO 109
4.1.1 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ NGHÈO VÀ NGƯỠNG NGHÈO 109
4.1.2 NGHÈO MANG TÍNH ĐA CHIỀU 115
4.1.3 NHẬN DẠNG NGƯỜI NGHÈO VÀ NHẬN DẠNG ĐỐI TƯỢNG MỤC TIÊU 120
4.2 PHÂN TÍCH CÁC NGUỒN HỖ TRỢ CHO HỘ NGHÈO 131
4.2.1 HỖ TRỢ CỦA GIA ĐÌNH VÀ HÀNG XÓM 131
4.2.2 LĨNH VỰC Y TẾ 132
4.2.3 GIÁO DỤC 133
4.2.4 ĐÀO TẠO VÀ VIỆC LÀM 135
4.2.5 TÍN DỤNG 137
4.2.6 NHÀ Ở VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG 139
4.3 KHUYẾN NGHỊ 142
4.3.1 CÁC HƯỚNG HÀNH ĐỘNG TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CHÍNH 142
4.3.2 CÁC HƯỚNG HÀNH ĐỘNG LIÊN NGÀNH ĐỂ QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH 157
TỔNG HỢP 162
TÀI LI ỆU THAM K HẢO 172
PHỤ LỤC 174
Trang 5LỜI CẢM ƠN
TGH và PADDI xin chân thành cảm ơn Quận 8 và đặc biệt là Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích đã cho phép tiếp cận địa bàn nghiên cứu, hỗ trợ, đọc rất kỹ bản thảo và góp ý cho nghiên cứu này
Nghiên cứu này cũng nhận được sự hợp tác chặt chẽ của Viện nghiên cứu phát triển (HIDS) trong việc thực hiện cuộc khảo sát Ngoài ra, HIDS còn đóng góp ý kiến, phân tích thêm cho bản thảo Đây là dịp để hai bên học hỏi lẫn nhau Những đóng góp của các nhà nghiên cứu thuộc HIDS dưới sự chủ trì của Ông Lê Văn Thành giúp làm phong phú hơn và làm rõ thêm nội dung nghiên cứu
Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn :
- các gia đình đã dành thời gian tiếp đón đoàn khảo sát và cung cấp thông tin về hoàn cảnh của mình,
- các cán bộ đã dành thời gian trả lời phỏng vấn và chia sẻ thông tin
Vùng Rhône - Alpes đã hỗ trợ tài chính và rất quan tâm đến hợp tác với TPHCM Chúng tôi hy vọng nghiên cứu này sẽ tạo nền tảng cho các dự án trong tương lai
Trang 6Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 6
VIẾT TẮT
APD Viện trợ phát triển chính thức
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BAsD Ngân hàng phát triển Châu Á
BM Ngân hàng thế giới
CPRGS Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo
(Comprehensive Poverty Reduction and Growth Strategy) DELISA Sở Lao động – Thương binh – Xã hội
GSO Tổng cục thống kê
MOLISA Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội
MPI Bộ Kế hoạch – Đầu tư
OMC Tổ chức thương mại thế giới
OMD Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
ONG Tổ chức phi chính phủ
PCV Đảng cộng sản Việt Nam
PIB Tổng sản phẩm quốc nội
PME Doanh nghiệp nhỏ và vừa
SEDP Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
SEDS Social Economic Development Strategy (Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội)
UE Liên minh Châu Âu
Trang 7GIỚI THIỆU
Năm 2010, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình và đang thực hiện được phần lớn các Mục tiêu Thiên niên kỷ vì sự phát triển (ODM) ở cấp quốc gia1 Từ khi triển khai thực hiện chính sách Đổi mới (1986), tăng trưởng kinh tế luôn được giữ ở mức cao, 5,3% vào năm
2009 và 7% vào năm 2010
Trong vòng chưa đầy 20 năm, Việt Nam đã giảm đáng kể số người nghèo: thành quả của tăng
trưởng kinh tế đã giúp cải thiện điều kiện sống của phần đông dân số Theo ước tính của Tổng cục thống kê (GSO), tỷ lệ nghèo đã giảm từ 58% vào năm 1993 xuống 28,2% vào năm 2002 và 14,5% vào năm 2008 Mức giảm ấn tượng này đồng nghĩa với việc 28 triệu
người Việt Nam đã thoát nghèo trong vòng khoảng 15 năm Đây là bước tiến rất đáng trân trọng Tương tự, tỷ lệ những người nghèo nhất trong số những người nghèo cũng đã giảm
từ 7,9 % dân số vào năm 1993 xuống còn 1,2% vào năm 2008 Các chỉ số khác, ví dụ chỉ số
về tiếp cận dịch vụ cơ bản (y tế, điện, nước, đường giao thông) cũng xác nhận xu hướng tích cực này (Viện Khoa học xã hội Việt Nam - VASS, 2011)
Tuy nhiên, như một số nước có thu nhập trung bình và thành công trong việc vừa đảm bảo tăng trưởng nhanh vừa giảm được nghèo, Việt Nam cũng gặp phải nhiều khó khăn Đó là vừa đảm bảo tăng trưởng đều đặn, công bằng cho mọi tầng lớp vừa tạo việc làm, với mức lương thỏa đáng cho người lao động, kể cả đối với hàng trăm ngàn người lao động mới tham gia vào
thị trường lao động mỗi năm Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế quốc gia đã cho thấy rõ nhu cầu tăng trưởng đều đặn và có chất lượng tốt hơn, nhằm đảm bảo cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và các mục tiêu phát triển xã hội và nhân văn, đặc biệt là đối với những người dễ bị tổn thương và người nghèo
ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI NGHÈO THAY ĐỔI
Sự phát triển kinh tế đã kéo theo nhiều thay đổi về mặt xã hội Đặc điểm của người nghèo cũng thay đổi và trở nên phức tạp hơn Nếu như trước kia, ta có thể xem phần lớn
người nghèo là người sống ở nông thôn, làm việc trong ngành nông nghiệp, có trình độ học vấn thấp và chỉ dựa vào hoạt động nông nghiệp để sinh sống, thì trong vòng 15 năm trở lại đây, các đặc điểm này đã có nhiều thay đổi Xã hội Việt Nam không còn thuần nhất nữa ; cấu trúc xã hội và hệ thống tương trợ thay đổi nhanh chóng Vì thế, các chính sách công ban hành trước đó không hẳn còn phù hợp với thực tế mới
Tỷ lệ hộ nghèo xuất thân từ người dân tộc thiểu số gia tăng đáng kể, từ 17,7% vào năm
1993 tăng lên đến 40,7% vào năm 2008 (VASS 2011) Đây là điểm nổi bật trong bức tranh
chung về tình hình nghèo khó ở Việt Nam vào năm 2011 Ngoài ra, còn có sự mất cân đối về địa lý : Bắc Trung bộ, Tây nguyên và Trung bộ là những nơi tập trung phần lớn người nghèo
1
Xem phụ lục 1
Trang 8Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 8
(đây cũng chính là những nơi có nhiều người dân tộc thiểu số) Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng là hai khu vực có tỷ lệ người nghèo thấp nhất (tương ứng là 0,8% và 3,8%) Ngoài con số tuyệt đối về số lượng người nghèo, còn có sự gia tăng bất bình đẳng giữa nhóm những người giàu nhất với nhóm những người nghèo nhất Hiện tượng này diễn ra gần đây và mang lại một số yếu tố mới Tỷ lệ hộ nghèo giảm ở cả khu vực đô thị lẫn khu vực nông thôn, nhưng tốc độ giảm ở nông thôn (66,4% vào năm 1993 giảm còn 18,7% vào năm 2008) mạnh
hơn nhiều so với ở đô thị (25,% vào năm 1993 giảm còn 3,3% vào năm 2008) Như vậy, nghèo ở đô thị là một dạng thức mới trong bức tranh nghèo ở Việt Nam, và đây chính là điểm mà nghiên cứu này quan tâm đến Thật vậy, vì nghèo ở Việt Nam có rất nhiều dạng,
nên cần xác định rõ từng dạng để đề ra các cách tiếp cận mới với các giải pháp giảm nghèo mới
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP: QUẬN 8, TPHCM
TPHCM là một địa bàn rất tốt để nghiên cứu các biến đổi và tính phức tạp của các yếu tố liên
quan đến tình trạng nghèo Là Trung tâm kinh tế, TPHCM cũng là nơi tập trung nhiều nguồn lực và có tốc độ tăng trưởng đô thị cao (từ năm 1999 đến năm 2009, tốc độ tăng dân
số đô thị trung bình là 3,6 % mỗi năm, UNDP 2010) Việc tập trung các hoạt động sản xuất ở TPHCM cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đặt ra vấn đề mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo: tỷ lệ nghèo ở TPHCM giảm một phần là nhờ sự đi lên nói chung trong
xã hội hơn là nhờ các chính sách của nhà nước, điều này cho thấy tác động của các chương trình giảm nghèo cũng còn mang tính tương đối Sự năng động và cơ hội phát triển kinh tế làm tăng thêm sức hấp dẫn của TPHCM, đặc biệt là đối với người dân ở các tỉnh lân cận :
TPHCM là nơi người nhập cư tìm đến (theo ước tính, số người nhập cư vào TPHCM là hơn
200.000 người/năm) với hy vọng có được cuộc sống tốt đẹp hơn Mối liên hệ giữa tình trạng nghèo và người nhập cư là một khía cạnh khác trong vấn đề nghèo và cần được nghiên cứu sâu thêm
Để giải quyết các thách thức về kinh tế và dân số, nhiều khoản đầu tư lớn đã được thực hiện trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, một bộ phận người lao động không tiếp cận được với các khoản đầu tư này Đó là những người làm việc trong khu vực phi chính thức, chiếm gần 50% việc làm, và nằm ngoài tầm bao phủ của hệ thống an sinh xã hội chính thức Một trong những đặc điểm chính của TPHCM là hiện nay Thành phố là nơi chứng kiến và tạo ra các thay đổi về văn hóa và xã hội
TPHCM là nơi tập trung những người thuộc tầng lớp giàu nhất và cũng là nơi sinh sống của những người rất nghèo Ngoài những biểu hiện nghèo thông thường (nhà cửa lụp xụp, sống ở
vùng ven), ta còn thấy có những biểu hiện nghèo mới (việc làm bấp bênh, bệnh tật, mối đe
dọa của biến đổi khí hậu) Ngoài thu nhập thấp, nhiều biểu hiện khác của tình trạng nghèo như chất lượng môi trường sống, điều kiện làm việc, nhà ở tạm bợ, cảm thấy không được an toàn, cũng được ghi nhận ở TPHCM và các quận nghèo của Thành phố Do đó, chúng tôi thấy sẽ rất thú vị khi tiếp tục các suy nghĩ đã có từ khoảng 10 năm nay về những biểu hiện mới này
Trang 9Địa bàn được chọn nghiên cứu là Quận 8, một quận còn tương đối bị cô lập và đứng thứ
4 trong số những quận nghèo nhất của Thành phố (người nghèo chiếm 7,9% dân số toàn quận 2 ) và là quận nghèo nhất trong số các quận trung tâm Quận 8 dường như đã bị
« thiệt thòi » trong quá trình đô thị hóa và biến đổi kinh tế - xã hội: nền kinh tế của quận đã chuyển từ thương mại và giao thông thủy sang công nghiệp Nhưng công nghiệp chưa thật phát triển và ngành dịch vụ chưa thật sự năng động Mạng lưới kênh, rạch trên địa bàn đã trở thành rào cản và làm cho quận bị cô lập so với khu trung tâm Thành phố Ngoài ra, Quận 8 cũng là nơi nhiều người nhập cư tìm đến Ủy ban nhân dân (UBND) Quận 8 nhận thức được những khó khăn về kinh tế và xã hội của một bộ phận đáng kể người dân trong quận Mặc dù Quận 8 đang triển khai thực hiện chương trình quốc gia về giảm nghèo, nhưng tác động trong dài hạn của các hành động đã thực hiện vẫn chưa như mong muốn Vì thế, Quận 8 đề nghị được hỗ trợ để thực hiện có hiệu quả các chính sách giảm nghèo
THÁCH THỨC
Tổ chức tương trợ quốc tế (Tổ chức phi chính phủ) Triangle Génération Humanitaire (TGH)
và PADDI, Trung tâm dự báo và nghiên cứu đô thị phối hợp với Quận 8 để hỗ trợ quận trong suy nghĩ thực hiện Bằng việc tập trung vào một địa bàn cụ thể, nghiên cứu mong muốn hiểu
rõ hơn các vấn đề của tình trạng nghèo ở đô thị và các thành tố của nó nhằm hành động vì 3 mục tiêu: (1) hỗ trợ tốt hơn cho người nghèo nhất, (2) mang đến các hình thức hỗ trợ phù hợp cho các hộ gia đình để giúp họ thoát nghèo và (3) chấm dứt tình trạng tái nghèo Không có tham vọng tìm được ngay giải pháp cho vấn đề phức tạp này, TGH, PADDI và Quận 8 đã chọn nhân tố chính của nghiên cứu là ngưỡng nghèo Thật vậy, chúng tôi xuất phát từ yếu tố trung tâm này vốn là yếu tố quyết định hiện nay xem một người có thuộc diện người nghèo hay không Ở TPHCM, ngưỡng nghèo hiện nay là mức thu nhập 1.000.000 VND/người/tháng (Báo cáo của UNBD TPHCM)
Ngưỡng nghèo do chính phủ xác định và các chính sách hỗ trợ tùy thuộc vào ngưỡng này Do
đó, cần nghiên cứu về cơ chế hỗ trợ để phân tích những trường hợp được hỗ trợ phù hợp nhất
và xác định các nhu cầu cần được hỗ trợ trong tương lai Như vậy, ý tưởng ở đây là cần phân tích kỹ hiện trạng để xây dựng các chính sách một cách cụ thể hơn và xác định tốt hơn các hoạt động hỗ trợ, nhằm giúp cho việc sử dụng ngân sách hỗ trợ cho người nghèo ở Quận 8 tốt hơn và cải thiện rõ nét điều kiện sống của người dân
Ngoài ra, việc chọn ngưỡng nghèo là đầu vào nghiên cứu cũng cho phép đề cập một cách tổng quát đến tình trạng nghèo ở đô thị, thậm chí có thể xem xét lại tiêu chí ngưỡng nghèo,
vốn chỉ dựa trên duy nhất yếu tố thu nhập Nếu các yếu tố phi tiền tệ (ô nhiễm, an toàn, việc làm, điều kiện nhà ở, nguy cơ bị lạm dụng…) được xem xét một cách xác đáng trong đánh giá
về tình trạng nghèo, thì bức tranh nghèo ở đô thị có thể thay đổi một cách đáng kể (VASS, 2011)
2
Số liệu cuối năm 2010
Trang 10Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 10
MỤC TIÊU
Nhờ vào hỗ trợ tài chính của Vùng Rhône-Alpes, TGH và PADDI tiến hành nghiên cứu theo hướng này trong năm 2011 và 2012 Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM (HIDS) cũng tham gia thực hiện nghiên cứu trong khuôn khổ các hoạt động của Viện về chủ đề nghèo ở đô thị và
đã hỗ trợ thực hiện khảo sát thực địa cũng như phương pháp nghiên cứu Chính quyền Quận 8 cũng tham gia vào nghiên cứu này (xây dựng đề cương nghiên cứu, theo dõi khảo sát thực địa, đọc và góp ý cho bản thảo, tham gia hội thảo báo cáo kết quả nghiên cứu) Nội hàm trong thực tế của khái niệm « nghèo ở đô thị » sẽ được xác định thông qua nghiên cứu kinh tế - xã hội này nhằm đề ra nhiều cấp độ can thiệp có thể được các chủ thể thụ hưởng nghiên cứu này thực hiện Trước hết là UBND Quận 8, nghiên cứu này giúp cho UBND Quận 8 nắm bắt thêm
về tình hình trên địa bàn Kế đến là Vùng Rhône - Alpes, nghiên cứu này giúp cho Vùng Rhône - Alpes xác định hướng hành động để tiếp tục hợp tác với TPHCM trong lĩnh vực hỗ trợ phát triển TGH, PADDI, HIDS và các chủ thể khác có liên quan đến mảng nghiên cứu – hành động và triển khai thực hiện dự án cũng có thể sử dụng kết quả nghiên cứu này Mỗi chủ thể hành động ở mỗi cấp độ và khía cạnh khác nhau với các mục tiêu khác nhau (hành động trên thực địa, nghiên cứu, xác định dự án) và thời hạn hành động cũng khác nhau (đề xuất các
dự án ngắn hạn, trung hạn và dài hạn) Nghiên cứu này mong muốn đáp ứng được yêu cầu của các chủ thể nêu trên
Mục tiêu là xác định các yếu tố chính của tình trạng nghèo, phân biệt rõ đặc điểm của các nhóm hộ nghèo và đề xuất một số khuyến nghị nhằm cải thiện chính sách giảm nghèo Đặc biệt, nghiên cứu cũng sẽ xác định các chính sách công nên tập trung vào những
mảng nào để tạo đòn bẩy giúp các hộ gia đình thoát nghèo bền vững
Trong phần một, chúng tôi sẽ trình bày bối cảnh thể chế và kinh tế ở TPHCM để hiểu rõ hơn các xu hướng phát triển đô thị Các đặc điểm của Quận 8 về mặt địa lý, dân số, kinh tế và đặc biệt là người nghèo trên địa bàn quận cũng sẽ được trình bày Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu cũng sẽ được mô tả chi tiết
Phần hai sẽ trình bày tổng quan về khuôn khổ hành động của nhà nước, về các chính sách giảm nghèo Sau khi nhắc lại lịch sử chính sách giảm nghèo, các cơ chế hỗ trợ triển khai thực hiện ở cấp quốc gia, cấp thành phố và cấp quận cũng như các chủ thể tham gia cải thiện điều kiện sống của người dân cũng sẽ được mô tả cụ thể
Để làm rõ thực tế cuộc sống của người nghèo ở Quận 8, các kết quả quan trọng nhất của cuộc khảo sát thực địa sẽ được trình bày trong phần ba Ngoài đặc điểm kinh tế - xã hội của các hộ được khảo sát, phần này cũng trình bày các khía cạnh của tình trạng nghèo : thu nhập, việc làm, giáo dục, y tế, đào tạo nghề, tín dụng, nhà ở, cơ sở hạ tầng, sự tham gia
Trong phần bốn, chúng tôi sẽ trình bày một số kết luận chính rút ra từ nghiên cứu : các phân tích tập trung vào các giải pháp và ngưỡng nghèo, khoảng cách giữa các chính sách và việc triển khai thực hiện Điều này sẽ giúp đề ra một số khuyến nghị cho các chủ thể đang hoặc sẽ hoạt động trên địa bàn Quận 8
Trang 111 TRÌNH BÀY VỀ BỐI CẢNH, QUẬN 8 VÀ
PHƯƠNG PHÁP
Các thành phố ở Việt Nam vừa là chứng nhân vừa là chủ thể của sự thay đổi ở Việt Nam hiện
nay TPHCM, trung tâm kinh tế, nơi tập trung tăng trưởng kinh tế và người nghèo, là
một địa bàn thích hợp để nghiên cứu các thay đổi về dân số, kinh tế và xã hội
Trước hết, phần giới thiệu này nhằm nhắc lại vị trí của TPHCM trong tổ chức thể chế và kinh
tế của cả nước Tiếp theo, chúng tôi sẽ trình bày địa bàn nghiên cứu ở Quận 8, một Quận nghèo nằm trong khu vực Trung tâm Thành phố, nơi bức tranh nghèo ở đô thị sẽ được phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau Cuối cùng, các vấn đề chính và phương pháp nghiên cứu cũng sẽ được trình bày chi tiết
hành chính địa phương lớn nhất ở Việt Nam và
được chia thành nhiều quận/huyện Quận/huyện
sau đó lại được chia thành phường/xã/thị trấn
Phường/xã/thị trấn tiếp tục được chia thành khu
phố và tổ dân phố, khu phố và tổ dân phố không
phải là cấp hành chính
TPHCM có 7,4 triệu dân vào năm 2010 3
, trong đó có 6 triệu dân ở đô thị, chiếm 8,5%
dân số cả nước Thành phố sẽ đạt 10 triệu dân
vào năm 2020 TPHCM được chia thành 24
Quận/Huyện trong đó có 19 quận và 5 huyện
Quận 8, địa bàn nghiên cứu, có 16 phường
Quận/Huyện (vd
Quận 8)
Phường (vd Phường 14) / xã / thị trấn
Trang 12Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 12
Bản đồ 1: cấu trúc hành chính của TPHCM
CƠ CẤU TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH Ở ĐỊA PHƯƠNG Về mặt pháp lý, chính quyền địa phương
là phân nhánh của chính quyền Trung ương để tổ chức thực hiện các chính sách quốc gia tại địa phương và ngân sách của địa phương chỉ là một phần của ngân sách Trung ương Mô hình tổ chức của chính quyền địa phương tuân theo mô hình tổ chức của chính
quyền Trung ương, với các sở, ban ngành địa phương tương ứng với các Bộ ngành Trung ương (Tài chính, Kế hoạch - Đầu tư, Xây dựng, Y tế, Giáo dục, ) Tuy nhiên, sự phát triển gần đây của Việt Nam đã dẫn đến thay đổi dần dần của chính quyền địa phương theo hướng tăng cường thẩm quyền và sự tự chủ cho cấp tỉnh/thành phố
Là thành phố trực thuộc trung ương, TPHCM chịu trách nhiệm về phần lớn các dịch vụ công tại địa phương (giao thông công cộng, cơ sở hạ tầng, y tế và giáo dục, cấp - thoát nước, rác thải,…)
Chính quyền địa phương được tổ chức thành Hội đồng Nhân dân (cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương) và Ủy ban Nhân dân (về mặt hành pháp) Trên thực tế, trách nhiệm tập trung vào một số thành viên chủ chốt của cơ quan hành pháp (Chủ tịch UBND và các thành viên của UBND)
Trang 13(Theo Albrecht, Hocquard, Papin, 2010)
Chủ tịch UBND Thành phố điều phối hoạt động của các Sở, ban ngành và UBND quận/huyện Hoạt động của các Sở, ban ngành đôi lúc còn chưa có sự phối hợp chặt chẽ với nhau ; các công cụ quản lý và chia sẻ thông tin còn ít được sử dụng
Đảng Cộng sản và Mặt trận tổ quốc là các chủ thể ít được nhìn thấy hơn, nhưng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị Mặt trận tổ quốc tập hợp các lực lượng, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và là cơ quan bổ trợ cho Đảng Các tổ chức đoàn thể (Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh…) đều có ở tất cả các cấp hành chính và góp phần triển khai thực hiện các chính sách
1.1.2 PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ MẠNH MẼ Chính sách Đổi Mới (1986) đánh dấu bước đầu của quá
trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN Từ năm 1990 đến năm 2010, kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng với tốc độ tăng trung bình hàng năm là 7,3%, có giảm một chút trong các năm có khủng hoảng (1998, 2011) và thu nhập bình quân đầu người tăng gần 15 lần, đạt 1.160 USD/người vào năm
20104
Là quốc gia có thu nhập trung bình vào năm 2010, Việt Nam đặt ra mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Chính phủ đã đầu tư rất mạnh từ hơn 15 năm nay thông qua nhiều chương trình giảm nghèo Thành công trong công tác giảm nghèo là rất đáng ghi nhận Các dữ liệu cho thấy tỷ lệ nghèo đã giảm từ 58,1% vào năm 1993 còn 14,5% vào năm 2008 Các tiến
bộ đã thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu Phát triển của Thiên niên kỷ Các bất bình đẳng chưa quá sâu, mặc dù có xu hướng gia tăng (hệ số Gini : 0,385
) Hầu hết các đô thị là khu vực thụ hưởng nhiều nhất từ sự tăng trưởng này vì đô thị cũng là nơi tập trung nhiều
Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS), 2008
•Tổng bí thư và Bộ chính trị; Ban chấp hành Trung Ương Đảng; Ủy ban thường vụ Quốc hội; Thủ tướng
Đảng / Quốc
hội/Chính phủ
•Đảng (Bí thư thành ủy, Ban thường vụ Thành ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ Tp)
•UBND (Chủ tịch, Thường trực Ủy ban ;) TPHCM
•Đảng (Bí thư; Ban thường vụ quận ủy, Ban chấp hành đảng bộ quận)
•UBND (Chủ tịch ; Ban Thường trực ; ) Quận/Huyện
•Đảng
•UBND Phường/xã/thị trấn
Trang 14Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 14
nhất các bất bình đẳng xã hội Người nghèo cũng là người chịu tác động mạnh nhất của các
biến động về kinh tế
Thật vậy, trong những năm gần đây, Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn biến động về kinh
tế vĩ mô : lạm phát ở mức hai con số, phá giá đồng nội tệ, nhà đầu tư quốc tế mất lòng tin, rút vốn đầu tư Mức nợ công (42% GDP) được Ngân hàng Thế giới đánh giá là ở ngưỡng trung bình và tương tự với các nước khác trong khu vực ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam Á) Tốc độ tăng trưởng cao của Việt Nam dựa trên các yếu tố tích cực như sự phát triển đô thị, ổn định chính trị, giá nhân công thấp, chỉ số giáo dục cơ bản tốt (tỷ lệ người biết đọc, biết viết là 92,5%) Tuy nhiên, sự tăng trưởng này cũng làm lộ rõ một số vấn đề mới về cơ cấu, đặc biệt
là về chất lượng tăng trưởng và tính bền vững của tăng trưởng : ô nhiễm nặng, thiếu đa dạng hóa, giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu chưa cao, tính cạnh tranh bị đe dọa do sản xuất điện
sẽ không đáp ứng được nhu cầu trong tương lai, chi phí vận tải và giá bất động sản tăng cao, thiếu nhân lực có chuyên môn,…
CƠ CẤU KINH TẾ Sự phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào kinh tế nhà nước Hiện nay, kinh tế
nhà nước chiếm hơn 1/3 GDP, 50% đầu tư toàn xã hội, 50% vốn tín dụng và khoảng 10% số việc làm (Albrecht, Hocquard, Papin, 2010) Sự trổi dậy của khu vực kinh tế tư nhân năng
động tạo ra một đầu tàu mới cho tăng trưởng trong những năm gần đây Kinh tế tư nhân được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thông qua việc tái cơ cấu khu vực kinh tế nhà nước để nhà nước chỉ tập trung vào các ngành « chiến lược » Điều này được thể hiện cụ
thể bằng việc số doanh nghiệp tư nhân được thành lập mới và số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên
Nông nghiệp vẫn còn là lĩnh vực kinh tế chủ đạo của Việt Nam và cũng đã có nhiều thay đổi,
năng suất lao động tăng cao Điều này giúp ngành nông nghiệp trở thành ngành xuất khẩu Từ năm 1995 đến năm 2005, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP đã giảm từ 27% xuống còn 21%, trong khi đó tỷ trọng ngành công nghiệp tăng từ 29% lên 41% Các sản phẩm
xuất khẩu chủ yếu của ngành công nghiệp chế tạo là may mặc, giày dép và gỗ
Kinh tế phi chính thức là một mảng khá quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và góp phần đáng kể vào sự năng động của nền kinh tế nhờ vào chi phí thấp và khả năng dễ thay đổi, linh hoạt Ở Hà Nội và ở TPHCM, kinh tế phi chính thức tạo ra 50% số việc làm trong các ngành thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp
ĐẦU TƯ CÔNG Ở ĐỊA PHƯƠNG Quá trình chuyển đổi kinh tế đi liền với việc tổ chức lại thể chế, đặc biệt là công tác quản lý tài chính công Quốc hội phê duyệt ngân sách, kể cả việc phân bổ ngân sách cho các địa phương Hiện nay, đầu tư công do chính quyền địa phương thực hiện chiếm 62% so với 42% cách đây 15 năm
Các nguồn lực ở địa phương gồm thuế (tiền sử dụng đất, thuế đất, thuế chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân), phí và lệ phí
Chính quyền địa phương giữ lại một phần ngân sách thu được và phân bổ cho các hoạt
Trang 15động của mình Tiền sử dụng đất là một nguồn thu lớn của những địa phương năng động như TPHCM
TPHCM, ĐẦU TÀU KINH TẾ Theo Quyết định 22/2010/QĐ-UBND phê duyệt Chương trình giảm hộ nghèo, tăng hộ khá của TPHCM giai đoạn 2009 – 2015, tăng trưởng kinh tế của TPHCM trong giai đoạn 2006 – 2010 được dự báo là khoảng 12%/năm, và khoảng 11%/năm cho giai đoạn 2011 – 2015 Tổng kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu thô) đạt 11 tỷ USD (năm 2010) và 26 tỷ USD (năm 2015) Theo GSO, thu nhập bình quân đầu người của TPHCM đã được cải thiện trong những năm gần đây và tăng từ 10,8 triệu vnd/người/năm vào năm 2002 lên 32,8 triệu vnd/người/năm vào năm 2010, tức khoảng 1.600 USD/người/năm TPHCM phấn đấu đạt thu nhập bình quân đầu người 6.000 USD/người/năm vào năm 2020
Cơ cấu việc làm ở TPHCM không phản ánh cơ cấu việc làm ở quy mô quốc gia: 2% số việc làm trong ngành nông nghiệp, 36% trong ngành công nghiệp và 62% trong ngành dịch vụ Mỗi năm, có từ 230.000 đến 240.000 người có được việc làm trong đó có 120.000 –
150.000 việc làm mới Tỷ lệ thất nghiệp là 5,5% vào năm 2008, và mục tiêu là giảm còn 5% vào năm 2010 và 4% vào năm 2020
Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 23,7% vào năm 1999 lên 29,6% vào năm 2009, tức 3,4%/năm Ở Vùng Đông Nam Bộ, dân số đô thị tăng từ 30% lên 57% trong giai đoạn từ 1999 đến
2009 nhờ vào sức hút của TPHCM Trên quy mô cả nước, 62,7% dân số đô thị tập trung ở 5
thành phố lớn (TPHCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ) Tuy Việt Nam vẫn còn là một nước có tỷ lệ đô thị hóa thấp so với các nước ở khu vực Đông Nam Á và tuy tăng trưởng
đô thị trong giai đoạn 1999 đến 2009 chủ yếu là do việc sáp nhập địa giới hành chính, nhưng
áp lực lên cơ sở hạ tầng đô thị vẫn ngày càng tăng và trong tương lai sẽ còn tăng hơn nữa Theo Quyết định 445/QĐ-TTg, ngày 7 tháng 4 năm 2009, dân số đô thị sẽ đạt 38% vào
năm 2015 và 45% vào năm 2020
Sự gia tăng dân số kéo theo việc mỗi năm có khoảng 1 triệu thanh niên tham gia thị trường lao động và các thành phố lớn như TPHCM là nơi thu hút người dân không có việc làm ở nông thôn Từ năm 1989 đến năm 2009, dân số thường trú ở TPHCM tăng từ 3,92
triệu lên 7,12 triệu Nếu trong giai đoạn 1979 – 1989, tốc độ tăng dân số ở các quận vào
6
Ngân hàng Thế giới http://data.worldbank.org/country/vietnam
Trang 16Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 16
khoảng 2%, thì trong giai đoạn 1989 – 1999, tốc độ gia tăng dân số cơ học ở các quận rất cao
Trái lại, từ cuối thập niên 1990, ta thấy có hiện tượng tái phân bố dân cư từ khu Trung tâm ra vùng ven Cụ thể, dân số ở các quận thuộc khu Trung tâm lịch sử giảm, trong khi dân
số ở các quận vùng ven tăng Khu Trung tâm vẫn là nơi có mật độ dân số cao nhất, lớn hơn 15.000 người/m2
Bản đồ 2: phân bổ dân số đô thị ở TPHCM năm 2009
Trang 17QUY CHẾ CƯ TRÖ VÀ « DÂN SỐ VÃNG LAI » 7 Khái niệm thường trú liên quan đến hệ thống
hành chính về đăng ký cư trú Mỗi phường được chia thành nhiều khu phố và mỗi khu phố có
nhiều tổ dân phố Ở khu vực nội thành, mỗi tổ dân phố có khoảng từ 30 đến 100 hộ Mỗi gia đình có một sổ hộ khẩu Trên lý thuyết, việc thay đổi địa chỉ cư trú phải được khai báo cho chính quyền nơi ở cũ và chính quyền nơi ở mới Có 4 dạng cư trú : từ KT1 đến KT48
Các hộ sống trong một tổ được xếp vào một trong bốn dạng (KT1, KT2, KT3 và KT4) Những người thuộc diện KT3 và KT4 chỉ được ghi nhận sau khi đăng ký với chính quyền địa phương
Luật cư trú năm 20069
đã giảm đáng kể các điều kiện để có hộ khẩu thường trú Việc có hộ khẩu thường trú vẫn còn được hưởng một số thuận lợi trong cuộc sống hàng ngày, nhưng các thuận lợi gắn với hộ khẩu thường trú đã giảm bớt Trong điều kiện đó, nhiều người quyết định không làm các thủ tục cần thiết để hợp pháp hóa tình trạng cư trú của mình ; một số người khác không muốn có hộ khẩu thường trú ở thành phố vì có thể sau này họ sẽ trở về quê (Gubry & al., 2011)
Do đó, ngoài dân số thường trú ở đô thị, còn có thêm một bộ phận dân số sống ở thành phố, tham gia vào nền kinh tế đô thị, sản xuất, tiêu dùng, sử dụng cơ sở hạ tầng và dịch
vụ công, mà ta không biết rõ số lượng là bao nhiêu Phần lớn trong số họ có lẽ làm việc trong khu vực phi chính thức và có thể chiếm phần đông trong số những người nghèo ở
đô thị Phần lớn những người này không được tính đến trong các số liệu thống kê chính thức
Ở TPHCM, theo ước tính, có ít nhất 15 % dân số là người nhập cư từ nông thôn lên, không có
quy chế cư trú hợp pháp và làm nghiêm trọng thêm tình hình nhà ở phi chính thức Việc đánh giá hiện tượng này và đưa nó vào trong các chính sách là một điều kiện để đảm bảo công tác quản lý và sự phát triển của thành phố
cư trú”) Do đó, các cuộc điều tra dân số ở Việt Nam không tính đến những người thuộc dạng “vãng lai” (Gubry & al., 2011, p.16)
8
KT là viết tắt của từ « Kiểm tra » Có 4 dạng KT (Gubry & al., 2011)
KT1: người thường trú là người sống ở nơi đăng ký hộ khẩu thường trú;
KT2: có 2 dạng :
- người sống ở một phường, nhưng đăng ký hộ khẩu thường trú ở một phường khác cùng quận ;
- người sống ở một quận, nhưng đăng ký hộ khẩu thường trú ở quận khác ;
KT3: người tạm trú trong một thời gian dài (trên thực tế là có xu hướng ở lâu dài) ;
KT4: người tạm trú trong một thời gian ngắn hoặc vãng lai (sẽ đi khỏi nơi tạm trú)
9
Luật cư trú đã được phiên họp thứ 10, quốc hội khóa 11 thông qua và ngày 29 tháng 11 năm 2006, có hiệu lực vào tháng 7 năm 2007
Trang 18Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 18
CÁC ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH TRONG ĐỒ ÁN ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH CHUNG XÂY DỰNG TPHCM
Quy hoạch chung xây dựng TPHCM năm 1998 đã được điều chỉnh và được Thủ tướng phê duyệt vào tháng 1 năm 2010 Tầm nhìn trong Đồ án này được mở rộng về thời gian, đến năm
2025 và về không gian, có tính đến sự phát triển của các tỉnh lân cận TPHCM
Bản đồ 3: Quy hoạch chung xây dựng TPHCM đến năm 2025
Trung tâm Thành phố sẽ bao gồm khu trung tâm lịch sử và khu đô thị mới Thủ Thiêm, bốn trung tâm phụ cũng sẽ được phát triển Đô thị hóa sẽ được tập trung ở 4 hành lang chính : phát triển đô thị mật độ cao ở khu vực phía Đông, dọc theo đường cao tốc TPHCM – Long Thành – Dầu Giây và dọc theo quốc lộ 1 và hướng phía Nam, dọc đường Nguyễn Hữu Thọ ra cảng Hiệp Phước Các dự án đô thị lớn như Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Khu Nam Sài Gòn, Khu đô thị Tây Bắc, dọc theo bờ sông Sài Gòn sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư và tạo ra diện mạo mới cho Thành phố Năm tuyến metro đang được nghiên cứu xây dựng cũng sẽ tăng cường năng lực vận tải hành khách công cộng của Thành phố
TPHCM đang quy hoạch, mở rộng đô thị, lập các khu đô thị mới, xây dựng và cải tạo cơ sở
hạ tầng kỹ thuật và xã hội để đáp ứng nhu cầu của người dân 1/3 vốn đầu tư là từ ngân sách
Tuy nhiên, sự phát triển cơ sở hạ tầng và công trình công cộng vẫn còn thấp so với nhu cầu của nền kinh tế thị trường và cần phải huy động nguồn tài chính lớn, đặc biệt là trong
các lĩnh vực cấp nước, xử lý rác và môi trường
Trang 19Bốn xu hướng được ghi nhận:
- « Cải tạo » khu Trung tâm : xóa bỏ các khu nhà ở lụp xụp dọc theo kênh, rạch và tái định cư người dân ra vùng ven (ví dụ : dự án Nhiêu Lộc-Thị Nghè);
- Giảm mật độ, đặc biệt là ở khu Trung tâm, nơi có mật độ rất cao;
- Quyết tâm « quốc tế hóa » và « dịch vụ hóa » khu Trung tâm, với mục tiêu đưa Hà Nội
và TPHCM trở thành các « thành phố quốc tế »;
- Các chương trình xây dựng ở vùng ven : vùng ven của TPHCM là nơi phát triển các chương trình xây dựng các khu dân cư (Khu Phú Mỹ Hưng « Nam Sài Gòn » Quận 7, khu Thủ Thiêm, Quận 2)
Các xu hướng chính và tác động đối với TPHCM
(Theo ITS Consultancy, HIDS 2011)
1.1.4 ĐÔ THỊ HÓA VÀ TÌNH HÌNH NGHÈO Ở TPHCM
Di dân, phát triển đô thị ở vùng ven chưa có cơ sở hạ tầng đầy đủ, phát triển kinh tế đã dẫn đến nhiều biến đổi về cơ cấu kinh tế và xã hội của TPHCM Các hộ nghèo rất đa
dạng: hộ thành thị/nông thôn, người nhập cư, hộ gia đình đông con, hộ có nhiều người bị bệnh, khuyết tật…Tác động của nghèo đến các hộ này cũng khác nhau
Đô thị hóa nhanh cùng với những thuận lợi về mặt khí hậu, thời tiết tạo cho thành phố Hồ Chí Minh trở thành miền đất hứa cho người dân từ các tỉnh phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam Từ sau những năm chín mươi, làn sóng người nhập cư ào ạt đổ về thành phố, họ sống trong những khu nhà trọ lụp xụp hay khá hơn là mua đất và định cư ở những vùng ven Điều này làm cho cơ sở hạ tầng đô thị không đáp ứng đủ nhu cầu
•Năm 2050, gần 20%
dân số của Việt Nam và
của TPHCM sẽ hơn 65
tuổi, điều này dẫn đến
tỉ lệ phụ thuộc tăng lên
Thay đổi về dân
số
•Theo WB, tốc độ tăng trưởng trung bình của Việt Nam sẽ là 5,8%
cho đến năm 2050, và 6,6% đối với TPHCM
Tăng trưởng kinh
tế
•Tỉ lệ tăng hàng năm 2000 -
2009 : xe gắn máy 11,2%,
xe hơi cá nhân : 13,5%, điều này làm tăng ùn tắc giao thông và nhu cầu giao thông công cộng có sức chở lớn
Gia tăng tỉ lệ cơ giới hóa
•Xu hướng hiện đại hóa đe dọa các di sản kiến trúc, cuộc sống cộng đồng và
có thể ảnh hưởng đến đặc trưng của thành phố
Thách thức và nguy
cơ đồng hóa các thành phố
•Tỉ lệ đô thị hóa ở Việt
Nam vẫn còn thấp, 28%
nhưng có thể vượt 60%
vào năm 2050 TPHCM đón nhận thêm 200.000 người nhập cư mỗi năm
Đô thị hóa
•Xuất nhập khẩu tăng mạnh hơn GDP, dấu hiệu cho thấy Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với kinh
tế thế giới Toàn cầu hóa
•Theo OECD, TPHCM là một trong 5 thành phố
có nguy cơ bị ngập cao nhất do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu
Trang 20Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 20
Nhiều nghiên cứu về tình hình nghèo đã chứng tỏ nghèo ở đô thị phức tạp hơn và thường nghiêm trọng hơn so với ở nông thôn, nơi sự giúp đỡ lẫn nhau trong gia đình đóng vai trò quan trọng Ngoài yếu tố thành phần gia đình, còn có các yếu tố khác mang
tính đặc trưng của tình trạng nghèo ở đô thị : nơi ở, tiếp cận các dịch vụ và cơ sở hạ tầng, nhà
ở bấp bênh Do đó, cần lồng ghép vào tiêu chí kinh tế, các tiêu chí khác để có thể đánh giá tình trạng nghèo một cách toàn diện hơn, ví dụ như :
- Sống ngoài lề xã hội (sống dọc theo kênh rạch, sống trên tàu),
- Bị phân biệt về mặt xã hội (người nhập cư, sống trên tàu, người khuyết tật, người già, người bệnh, người liên quan đến tệ nạn xã hội, người mù chữ…),
- Mức độ dễ bị tổn thương (về bệnh tật, nợ nần, khủng hoảng gia đình…),
- Việc làm bấp bênh,
- Điều kiện môi trường (ô nhiễm),
- Chưa tham gia vào các hoạt động xã hội,
- Không được bảo đảm an toàn về đất đai, nhà cửa (tái định cư…)
Bản đồ 4: Tỷ lệ nghèo ở TPHCM năm 2009
PADDI, 2012, Theo dữ liệu của UBND TPHCM năm 2009 (ngưỡng nghèo là 12 triệu vnd/người/năm)
Trang 21Trên địa bàn TPHCM, tỷ lệ hộ nghèo ở các quận nội thành và các huyện ngoại thành là khác nhau: tỷ lệ hộ nghèo ở nội thành là khoảng 8%, trong khi đó ở ngoại thành là 30%
Hơn nữa, sự phân bổ này theo dạng vết dầu loang với tâm nằm ở các quận trung tâm lịch sử (Quận 1, Quận 3, Quận 5…) nơi có tỷ lệ hộ nghèo khoảng 4% đến 6%, sau đó đến các quận gần khu Trung tâm như Quận 10, Quận 11, Quận 8, Quận Phú Nhuận, Quận Gò Vấp…và cuối cùng là đến các quận ven như Thủ Đức, Quận 9, 12 và 2 nơi có tỷ lệ hộ nghèo khoảng từ 10% đến 20%
TPHCM, trung tâm kinh tế, nơi có sự biến đổi đô thị mạnh mẽ và thu hút rất nhiều người nhập cư: thách thức về dung hòa giữa phát triển kinh tế và giảm nghèo;
Vai trò của chính quyền cấp tỉnh/thành phố ngày càng quan trọng trong việc triển khai thực hiện các chính sách phát triển;
Biến đổi đô thị, cần cải thiện cơ sở hạ tầng.
1.2 CÁC ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA QUẬN 8
Theo báo cáo Quy hoạch chung xây dựng Quận 8 đến năm 2020, Viện Quy hoạch đô thị TPHCM và Quyết định 706/QĐ-UBND ngày 4 tháng 2 năm 2009 về việc ban hành Đề án thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Quận 8 (giai đoạn 2009 – 2011, định hướng đến 2015 – 2020)
1.2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CHÍNH VỀ DÂN SỐ
Quận 8 nằm ở khu vực Tây – Nam của TPHCM, phía Đông giáp với Quận 7 (theo rạch Ông), phía Nam và phía Tây giáp với Huyện Bình Chánh và phía Bắc giáp với quận 5 và 6 Với diện tích 19,18 km2 (2009), Quận 8 trải dài từ Đông sang Tây, dọc theo hai kênh – Bến Nghé- Tàu Hủ và Kênh Đôi – và là một trong những quận đang đô thị hóa với tốc độ nhanh, chịu ảnh hưởng của sự phát triển của khu Nam Sài Gòn (huyện Bình Chánh, Quận 7)
Quận 8 có 16 phường và dân số là 411.574 người (30/06/2010) Từ sau đợt điều tra dân số năm 1979, tỷ lệ dân số của quận 8 trong tổng dân số đô thị ở TPHCM không ngừng tăng lên
Từ những năm 1990, dân số Quận 8 tăng mạnh10 Tỷ lệ tăng dân số trong giai đoạn 2006-2010
là khoảng 3% Mật độ trung bình lớn hơn 20.000 người/km², tương đối thấp hơn so với các quận ở khu trung tâm (27.000 người/km²) Có sự mất cân đối lớn giữa 16 phường Thật vậy, các phường 1, 2, 3, 8, 9, 10, 12, 13 và 14, nằm gần khu Trung tâm, phát triển năng động hơn (tốc độ tăng trưởng từ 1% đến 2%/năm) và có mật độ dân số cao (từ 35.000 đến gần 90.000 người/km²) Các phường nằm ở phía Nam kênh Đôi và phía Tây Nam của Quận, có nhiều đất nông nghiệp, có mật độ dân số thấp hơn (phường 7 : 400 người/km²)
10
2,42%/năm từ 1989 - 1999, 1,6%/năm từ 1999 - 2006 (GSO, 1989, 1999)
Trang 22Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 22
Bản đồ 5: phân bổ dân số của quận 8
Hơn 65% số hộ có từ 4 nhân khẩu trở lên (trong đó 7,5% số hộ có hơn 10 nhân khẩu) 21% dân số dưới 14 tuổi và mỗi năm, 14.000 người tham gia thị trường lao động Người nhập cư dưới 5 năm chiếm 11% tổng dân số của quận Cư dân của Quận 8 đông nhất là người Kinh (chiếm khoảng 85,4%), kế đến là người Hoa (14,3%) có mặt ở Quận 8 từ rất sớm Ngoài ra, còn có người Chăm, Khmer (0,3%)
Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 73,04% dân số toàn quận Lực lượng này gồm công nhân
tự đào tạo và lao động có tay nghề (16%), kỹ thuật viên trung cấp chuyên nghiệp, người có trình độ đại học (8.5%) và lao động phổ thông không có tay nghề (62%)
Quận 8 là quận duy nhất ở đô thị có mạng lưới kênh, rạch phục vụ giao thông đường thủy dày đặc Trước kia, mạng lưới này đóng góp lớn cho sự phát triển của Quận, nhưng hiện nay nó được xem là rào cản và các tiềm năng của nó chưa được khai thác
Trang 23Bản đồ 6: mạng lưới đường thủy ở Quận 8
Tổng chiều dài của mạng lưới kênh, rạch là 106 km, với 21 đường nước và chiếm hơn 13% diện tích của Quận Tàu, thuyền đều qua lại được trên phần lớn các kênh, rạch ở đây : sông Chợ Đệm – Bến Lức, Cần Giuộc, kênh Đôi, kênh Tẻ, kênh Tàu Hủ - Lò Gốm, rạch Ông Lớn, Xóm Củi…Theo đánh giá của Viện quy hoạch đô thị TPCHM, mạng lưới kênh rạch là một thế mạnh của Quận 811
: « Mạng lưới kênh rạch cho phép phát triển giao thông đô thị bằng
đường thủy và quy hoạch công viên cũng như không gian thư giãn Quận 8 cũng là địa bàn có
vị trí chiến lược, là nút giao thông đường bộ và đường thủy Ngoài ra, các kho hàng, bến bãi trên địa bàn tạo thành quỹ đất dự trữ rất tốt cho sự phát triển hiện nay và trong tương lai của Quận 8 »
Tuy nhiên, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới và thủy triều, và với độ cao địa hình chỉ từ
0,5m đến 2m, nên Quận 8 là một trong những quận có nguy cơ bị ngập nặng nhất Lượng
mưa trung bình hàng năm là 1.743 mm và đỉnh triều dao động từ 1,36 m đến 1,46 m Các khu vực có nguy cơ bị ngập lớn nhất nằm dọc theo kênh Tàu Hủ, dọc theo đường Phạm Thế Hiển
đô thị của huyện Bình Chánh và có triển vọng đô thị hóa mạnh mẽ
11
Phỏng vấn tháng 9 năm 2011
Trang 24Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 24
1.2.2 SỬ DỤNG ĐẤT VÀ CƠ CẤU KINH TẾ: BIẾN ĐỔI VỀ KHÔNG GIAN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI
Nằm giữa khu Trung tâm Thành phố đầy năng động, hướng đến phát triển dịch vụ và khu Nam Sài Gòn, nên không gian đô thị của Quận 8 đã có nhiều biến đổi trong vòng 15 năm gần
đây Từ 1996 đến 2006, diện tích đất nông nghiệp đã giảm một nửa (từ 28% còn 15%) để chuyển thành đất ở (từ 26% lên 38%) và đất công nghiệp (từ 4% lên 10%) Sự biến đổi
này thể hiện quá trình đô thị hóa và thay đổi về kinh tế-xã hội theo hướng tăng cường hoạt động thương mại, dịch vụ và công nghiệp Năm 2008, tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ là 69%, công nghiệp 31% Tỷ lệ bình quân hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực thương mại là 54%, dịch vụ 21% và công nghiệp 25% Hoạt động nông nghiệp (lúa và hoa màu) giảm (năng suất thấp) và chủ yếu tập trung ở các phường 7, 15 và 16 Hiện nay, một phần lớn đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng để phục vụ cho các dự án lớn
Thương mại: doanh thu thương mại chiếm tỷ trọng bình quân 66% tổng doanh thu trên địa bàn 12 Thương mại và dịch vụ chủ yếu đáp ứng các nhu cầu tại chỗ, ở khu vực lân cận, được phát triển dọc theo các tuyến đường và tuyến kênh, rạch
Hoạt động thương mại chủ yếu tập trung ở 16 chợ13
đáp ứng nhu cầu của người dân địa phương, với thu nhập thấp và không ổn định
8 có mức sống thấp, sức mua kém; công tác quản lý nhà nước chưa thật sự hiệu quả; các phường và cơ quan chức năng chưa kiên quyết xử lý các trường hợp lấn chiếm lòng lề đường; hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị phát triển ở các quận lân cận
Trang 25Dịch vụ: trong thời gian qua, do chưa được sự quan tâm đúng mức, nên hoạt động dịch vụ trên địa bàn quận 8 chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của quận Tỷ trọng ngành dịch
vụ còn thấp, chiếm 7,34% tổng doanh thu của quận14
và tốc độ tăng trưởng hàng năm là 34,33% Dịch vụ chủ yếu tập trung vào ngành : ăn uống chiếm 3,27%, vận tải chiếm 23,89%, các dịch vụ khác chiếm 72,84% bao gồm : dịch vụ kho bãi, tin học, môi giới địa ốc, lưu trú…trên tổng doanh thu ngành dịch vụ Mạng lưới dịch vụ do các hộ kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn Các văn phòng môi giới bất động sản (gần 200 đơn vị) và khách sạn cũng được phát triển trong thời gian gần đây
Công nghiệp: hoạt động công nghiệp chủ yếu tập trung vào các ngành nghề sản xuất thực
phẩm, đồ uống (chiếm 19,8% tổng giá trị sản xuất công nghiệp) chủ yếu ở các phường 4, 10,
12, 14 ; dệt may (chiếm 6,9%) chủ yếu ở các phường 6,12,16 ; các sản phẩm từ da thuộc (16,4%) tại phường 2,3,6,10 ; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ (9,3%) ; in và các sản phẩm
từ giấy (7,2%) ; sản xuất – gia công các sản phẩm từ cao su – plastic (18,14%) tại các phường
6, 7,11, 16 ; sản xuất các sản phẩm từ kim loại (8,7%) tại các phường 3, 7, 11, 13, 14 Ngành dệt may chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị xuất khẩu của Quận (bình quân 52,25%), kế đến
là ngành chế biến thủy sản 11,18% và sản xuất – gia công giày, dép 17,48% Ngành công nghiệp có các doanh nghiệp lớn như nhà máy bột mì Bình Đông, giấy Vĩnh Tiến, Nhôm Kim Hằng, Giày Hiệp Hưng và có cụm công nghiệp Bình Đăng nằm ở phường 6 với 59 doanh nghiệp hoạt động trên diện tích 33 ha
Do việc di dời các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm, nên số hộ làm việc trong ngành công nghiệp đã giảm trong những năm gần đây Các kho hàng, nhà xưởng cũ và nguồn lao động dồi dào là thế mạnh của Quận 8 Thật vậy, Quận 8 có 159 kho bãi, với tổng diện tích là 58.361,9m2 tập trung ở các phường 11, 13, 14, 15 Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng kho bãi không cao và hầu hết đang trong tình trạng xuống cấp Các kho bãi này có thể được sử dụng cho chương trình chỉnh trang đô thị, phát triển sản xuất và thương mại Ngoài ra, việc san lấp một nhánh của rạch Ụ Cây (phường 10 và 11) sẽ tạo ra mặt bằng khoảng 20ha phục vụ cho công tác xây dựng
Một số nhà xưởng trong cụm công nghiệp Bình Đăng đã được chuyển đổi công năng (văn phòng, dịch vụ, tái định cư…) Cảng Phú Định ở phường 16, với diện tích 50 ha, đang suy giảm hoạt động và sẽ được phát triển trở lại Việc giảm hoạt động của cảng tác động đến việc
làm trong khu vực và có nguy cơ làm tăng tình trạng nghèo Điều này cho thấy những biến đối về kinh tế có ảnh hưởng lớn đến tính chất của việc làm: trước kia, công việc yêu cầu chủ yếu là phải có sức khỏe (ví dụ: khuân vác phục vụ cho vận tải đường thủy); hiện nay, học vấn là yêu cầu hàng đầu (dịch vụ hóa dần dần) Quá trình đô thị hóa dường như làm cho Quận 8 suy yếu hơn xét dưới góc độ tính năng động kinh tế và cơ hội tạo ra của cải vật chất; hiện nay, Quận 8 cần tìm ra điểm tựa cho sự phát triển của mình
CƠ SỞ HẠ TẦNG Nhìn chung, mạng lưới giáo dục và y tế của Quận 8 có chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng được các chỉ tiêu Quận 8 có 17 trường mầm non công lập, 5 trường mầm non
tư thục, 29 nhóm trẻ gia đình, 21 trường tiểu học, 11 trường THCS và 5 trường THPT Ngoài
ra, quận còn có 6 cơ sở đào tạo nghề, 1 trường đại học tư thục (Đại học công nghệ Sài Gòn), 1 trường trung cấp chuyên nghiệp lương thực, thực phẩm
14
Năm 2008, doanh thu dịch vụ là 1.756,78 tỷ đồng, tăng 39,50% so với năm 2007
Trang 26Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 26
Điều kiện vệ sinh môi trường vẫn còn rất thấp do mạng lưới đường thủy dày đặc và do các cơ
sở công nghiệp cũ Ô nhiễm nước khá nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân trong khu vực Không gian xanh theo quy hoạch cũng không được xây dựng vì ngân sách hạn chế
1.2.3 CHIẾN LƯỢC VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Hiện nay, Quận 8 chưa được hưởng lợi từ sự phát triển của khu trung tâm Thành phố và của khu Nam Sự phát triển của các khu vực bên ngoài chưa tác động đến Quận 8 Tuy nhiên, tiềm năng phát triển của Quận là có thật Sự phát triển của Khu Nam Sài Gòn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đô thị hóa ở Quận 8 Ngoài ra, Đại lộ Võ Văn Kiệt, cảng Phú Định
và mạng lưới đường giao thông thủy cũng góp phần thu hút đầu tư nhằm hiện đại hóa Quận 8 Quận 8 là cửa ngõ ra vào Thành phố cho các tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL Mạng lưới cầu và giao thông đường thủy sẽ được phát triển mạnh trong 10 năm tới để liên kết Quận 8 với các quận 1 và 5 nằm ở khu vực Trung tâm thành phố, quận 7 ở phía Đông (đầu tàu phát triển) và Huyện Bình Chánh ở phía Nam (cũng có tiềm năng đô thị hóa mạnh trong 10 năm tới) Chủ tịch UBND phường 14 nói về các thế mạnh của Quận 815
:
«Quận 8 nằm ở vị trí chiến lược giữa Quận 5 và Quận 7 Hệ thống kênh rạch cũng là
một thế mạnh của Quận vừa tạo hình ảnh đô thị vừa tạo thu nhập cho địa phương vào dịp Tết Việc cho thuê bờ kênh để bán hoa kiểng có thể mang lại 500 triệu đồng thu nhập chỉ trong vòng 1 tuần Cũng có thể dự kiến phát triển giao thông công cộng bằng đường thủy và phát triển du lịch Việc cải tạo bờ kênh đã thật sự thành công»
Chiến lược của Quận 8 trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế là ưu tiên phát triển dịch vụ, thương mại và công nghiệp Sự phát triển này sẽ tập trung vào các trục đường chính như đường Tạ Quang Bửu, Phạm Thế Hiển, đường Nguyễn Văn Cừ mở rộng ; vào việc xây dựng các khu dân cư mới ; vào việc cải tạo, chỉnh trang các khu vực hiện hữu ; thực hiện kết nối với các quận 5, 6, 7 và Bình Chánh Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng nhắm đến việc tổ chức lại đầu tư một cách tốt hơn, thông qua việc phát triển các trung tâm thương mại và khách sạn gắn với sự phát triển dịch vụ ở cảng Phú Định, chợ đầu mối Bình Điền, dọc theo kênh Tàu
Hủ - Kênh Đôi và Trung tâm thương mại – dịch vụ Bình Đăng.16
UBND Quận 8 mong muốn đưa quận trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa của Thành phố và của các tỉnh lân cận
Kế hoạch phát triển một số ngành, lĩnh vực sẽ được soạn thảo (dịch vụ phân phối, quảng cáo, công nghệ thông tin, du lịch, ngân hàng, vận tải, kho bãi và cảng)
Trang 27Chính sách di dời các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm nhằm cải thiện điều kiện vệ sinh, môi trường của quận, vốn đang có nhiều biến động kinh tế và diện mạo Các cơ sở công nghiệp cũ, kho tàng và đất nông nghiệp sẽ tạo thành quỹ đất phục vụ cho các dự án phát triển đô thị (chủ yếu ở các phường 16, 15 và 7) Ngoài ra, theo dự kiến, quỹ đất dọc kênh, rạch và mặt nước cũng sẽ được khai thác tốt hơn sau khi xóa các khu nhà lụp xụp để cải thiện cảnh quan và môi trường của Quận Mạng lưới kênh, rạch và các khu vực trũng thấp vừa là yếu tố cản trở sự phát triển vừa là thế mạnh, tiềm năng để phát triển giao thông đường thủy và các dự án cải tạo
bờ kênh thành các không gian công cộng cho người dân
Bản đồ 7: đất chưa có công trình xây dựng ở Quận 8 – 2011
Thực hiện C Gallavardin, 2011, từ Google maps
Toàn bộ các khu vực ẩm thấp tạo thành quỹ đất cho chính quyền địa phương để thực hiện phát triển bền vững, Tuy nhiên, cần chú ý đến vấn đề ngập nước để tránh việc « bê tông hóa » quá mức Đây là vấn đề đáng lo ngại ở Quận 8 vì mức nước kênh, rạch khá cao và một số khu vực trong quận thường xuyên bị ngập khi triều cường Việc xây dựng cơ sở hạ tầng làm cho đất mất đi chức năng tự nhiên của nó (thấm, lọc nước, điều tiết vi khí hậu…) Tốc độ bê tông hóa càng tăng, thì khả năng thấm nước của đất càng giảm Điều này làm tăng nguy cơ ngập nước
và làm cho đất mất ổn định
Ngoài vấn đề san lấp mặt bằng chuẩn bị cho các dự án trong tương lai, Viện quy hoạch đô thị TPHCM cũng nêu lên vấn đề thiếu diện tích thấm nước so với lượng nước trên địa bàn Do
đó, vấn đề là làm thế nào để quản lý dòng chảy nước mưa (dự kiến đủ độ dốc)
Quy hoạch chung xây dựng Quận 8 dự kiến 4 khu vực phát triển
Đất nông nghiệp hoặc tự nhiên Đất đã có cơ sở hạ tầng nhưng chưa
có công trình xây dựng Ranh giới của Quận
Trang 28Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 28
Bản đồ 8: quy hoạch các khu vực phát triển của Quận 8
Mặc dù quỹ đất dự trữ vẫn còn nhiều và có tiềm năng phát huy giá trị, nhưng một lượng lớn nhà ở lụp xụp dọc theo kênh, rạch, cùng với chi phí cho tái định cư ngày càng cao dường như
đã làm chùn bước các nhà đầu tư Quận 8 vẫn mang hình ảnh là quận nghèo và ít phát triển so với các Quận khác
Trang 291.2.4 NGƯỜI NGHÈO Ở QUẬN 8
Năm 2010, Quận 8 có 98.948 hộ, trong đó có 5.455 hộ nghèo, chiếm 5,5% tổng số hộ Năm
2011, Quận có 3.915 hộ nghèo, chiếm 4% tổng số hộ
Bảng 1 : Tỷ lệ và số hộ nghèo theo từng phường (2010 và 2011)
Phường Số hộ
% hộ/
tổng dân số
Số hộ nghèo năm 2009
Số hộ nghèo năm 2010
Số hộ nghèo năm
2011
Tỷ lệ hộ nghèo năm 2009
Tỷ lệ hộ nghèo năm
2010
Tỷ lệ hộ nghèo năm
Trang 30Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 30
Bản đồ 9: phân bổ người nghèo ở Quận 8, năm 2010
Về mặt dân số, không gian và xã hội, Quận 8 là một trong những quận có nhiều điểm tương phản nhất (năng động Đông/Tây và Bắc/Nam) và nằm ở vùng đệm giữa khu Trung tâm lịch sử và khu đô thị mới đang phát triển ở phía Nam;
4% tổng số hộ trong Quận được chính thức công nhận là hộ nghèo Mức độ nghèo ở các phường khác nhau
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu xoay quanh ngưỡng nghèo và các chiều kích của tình trạng nghèo ở đô thị, áp dụng cho Quận 8 Điều này dẫn đến việc cần đào sâu thông tin liên quan đến các chính sách quy hoạch của Quận 8 (không gian, cơ sở hạ tầng, dân số…), và các chính sách hỗ trợ xã hội, theo định hướng giảm nghèo
THU THẬP DỮ LIỆU Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào các dữ liệu định tính hơn là dữ liệu định lượng vì để có dữ liệu định lượng có ý nghĩa thật sự cần triển khai thực
Trang 31hiện khảo sát hộ gia đình ở quy mô lớn Dữ liệu định tính cho phép chúng ta đánh giá sâu hơn một số khía cạnh
Việc thu thập và phân tích dữ liệu được thực hiện bằng nhiều cách:
- Khai thác các tài liệu hiện có để làm rõ một số vấn đề cụ thể;
- Phân tích đô thị và bản đồ;
- Phân tích các chính sách công hiện hữu;
- Phỏng vấn sâu các đại diện của chính quyền Quận và các chủ thể phụ trách triển khai thực hiện các chính sách xã hội17
;
- Một phóng sự ảnh được thực hiện ở Quận 8 để minh họa các vấn đề mà những hộ nghèo đang gặp phải;
- Thực hiện khảo sát thực địa trên 100 gia đình
Phạm vi nghiên cứu bao gồm toàn bộ Quận 8 (phỏng vấn các cán bộ hành chính của quận) và phường 14, Quận 8 (khảo sát thực địa) Phường 14 đã được chọn dựa trên các tiêu chí cụ thể :
dữ liệu thống kê số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo, kết quả thực hiện các chính sách giảm nghèo,
tỷ trọng nhà ở tạm bợ, cơ sở hạ tầng, trình độ học vấn của người dân
PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU KHẢO SÁT HỘ GIA ĐÌNH Tổng mẫu có 100 hộ
Danh sách mẫu bao gồm 1.000 hộ ở phường 14 nằm trong danh sách do UBND phường 14 cung cấp Dựa trên dach sách mẫu đó, chúng tôi chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn giản với bước nhảy 10 Ngoài 100 hộ được chọn thì còn chọn thêm 20 hộ dự phòng Khi bắt đầu phỏng vấn, các chuyên viên khảo sát nhận thấy một số hộ có thu nhập cao hơn nhiều so với ngưỡng nghèo Đại diện của phường đi cùng với các chuyên viên khảo sát xuống thực địa
để chỉ cho họ các hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo trên danh sách 100 hộ đã chọn Cuối cùng, có
50 hộ trong danh sách ban đầu đã được phỏng vấn, 10 hộ trong số đó có thu nhập hơn 16 triệu vnd/người/năm
Ở lần khảo sát thứ 2, danh sách 1.000 hộ được UBND phường 14 và các chuyên viên khảo sát lấy lại và lập ra danh sách 552 hộ được phân bổ như sau : 478 hộ đã được ghi nhận là hộ nghèo và 74 hộ vừa thoát nghèo trong những năm gần đây Cách chọn ngẫu nhiên với bước nhảy là 5 Như vậy, đã chọn được 50 hộ trong đó có 42 hộ nghèo và 8 hộ đã thoát nghèo trong những năm gần đây
Các chủ hộ được phỏng vấn là người thường trú hoặc tạm trú và có tên trong danh sách của phường 14 Mỗi hộ gồm một hoặc nhiều nhân khẩu cùng sống chung trong một căn nhà,
cùng ngân sách và sống ở Quận 8, bất kể thời gian cư trú là bao lâu
17
Xem danh sách ở phần phụ lục
Trang 32Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 32
Bảng dưới đây thể hiện sự phân bổ của các hộ được phỏng vấn theo thu nhập :
Bảng 2: Phân bổ tỷ lệ hộ được phỏng vấn theo thu nhập
Nguồn : Bảng được thực hiện từ kết quả khảo sát hộ gia đình
Thu nhập của hộ gia đình được tính trên cơ sở tổng cộng các khoản thu của gia đình do chủ
hộ khai lúc phỏng vấn Do đó, có thể có một chút sai lệch vì người dân thường có xu hướng khai thu nhập thấp hơn so với thực tế Vì vậy, số hộ nằm trong nhóm thu nhập thấp nhất (0 - 8 triệu) có thể nhiều hơn so với số liệu thống kê của Quận 8
THỰC HIỆN KHẢO SÁT VÀ NHẬP DỮ LIỆU Sau khi lập và được Quận 8 phê duyệt, bảng câu hỏi đã được thử nghiệm trên 4 hộ ở phường 14 Công tác khảo sát hộ gia đình được thực hiện trong 3 tuần vào tháng 7 năm 2011 và việc thu thập thông tin được thực hiện trên cơ sở phỏng vấn sâu 5 chuyên viên khảo sát của HIDS đều được đại diện của Ban điều hành Khu phố đi cùng để gặp các chủ hộ mà họ đã hẹn trước đó Việc nhập dữ liệu được HIDS thực hiện trên phần mềm SPSS để khai thác sau này
HẠN CHẾ VỀ PHƯƠNG PHÁP Theo dự kiến ban đầu, cuộc khảo sát sẽ được thực hiện trên 200
hộ ở phường 14 và phường 9 Phường 14 nằm trong nhóm các phường có số lượng và tỷ lệ người nghèo giảm thấp nhất (-9% từ năm 2010 đến năm 2011) và Phường 9 là đại diện cho những phường còn nghèo nhưng đã đạt kết quả tích cực (giảm 19,1% hộ nghèo từ năm 2010 đến năm 2011) Tuy nhiên, công tác khảo sát hộ gia đình đã bị hủy bỏ trước khi tiến hành
Theo dữ liệu của UBND Quận 8, năm 2011, Phường 14 có 73 hộ nghèo mới, 152 hộ thoát nghèo và
394 hộ nghèo trong đó có 66 hộ trong nhóm thu nhập từ 6 – 8 triệu đồng, 231 hộ trong nhóm 8 – 10 triệu và 97 hộ trong nhóm 10 – 12 triệu
Mức thu nhập của hộ vnd/người/năm % số hộ % lũy kế
Trang 33thực hiện khảo sát ở phường 9 Mặc dù các chủ thể tham gia nghiên cứu đều thống nhất với nhau rằng nhìn chung phường 14 có nhiều điểm chung với các phường khác của Quận 8, nhưng phường 14 cũng có một số điểm đặc thù (đặc biệt là việc mua bán và sử dụng ma túy),
do đó, phường 14 ít mang tính đại diện cho tình hình chung ở Quận 8 Ngoài ra, do quy mô
mẫu (100 hộ) và với cách tiếp cận thiên về định tính, nên các kết quả của cuộc khảo sát chủ yếu cho thấy các xu hướng, chứ không có các con số định lượng mang tính đại diện cho tất cả các hộ nghèo ở Quận 8 Các cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ địa phương và thành phố
đã giúp bù lại được phần nào hạn chế này
Về mẫu khảo sát, danh sách 1000 hộ nghèo hoặc cận nghèo của UBND phường 14 chỉ bao
gồm những hộ thường trú, do đó cuộc khảo sát đã không đề cập đến tình trạng nghèo của các hộ không đăng ký cư trú (hộ vãng lai) Không có chủ hộ nào trong danh sách khảo sát
thuộc dạng hộ vãng lai (không đăng ký tạm trú) Tuy nhiên, một vài thành viên trong một số
hộ có thể thuộc nhóm khách vãng lai Vì thế, rất khó để biết được Quận 8 chịu ảnh hưởng như thế nào của hiện tượng này và hiểu được các đặc điểm của nhóm đối tượng vãng lai
Trang 34Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 34
2 CHÍNH SÁCH CÔNG VỀ GIẢM NGHÈO: CHIẾN LƯỢC
QUỐC GIA VÀ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG
Chính phủ Việt Nam đã xem giảm nghèo là một hoạt động liên ngành và đưa nó vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Các chính sách giảm nghèo được lồng ghép trong các chiến lược ở cấp quốc gia và cấp tỉnh/thành phố cũng như trong các tài liệu quy hoạch (Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm, 2001-2010, 2011-2015 và Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005, 2006-2010, 2011-2015)
Trước tiên, chúng tôi sẽ trình bày lịch sử của các chính sách giảm nghèo Sau đó, chúng tôi sẽ phân tích việc triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo ở 3 cấp (cấp quốc gia, cấp thành phố và cấp quận/huyện) ở các mặt : khuôn khổ pháp lý, ngân sách, các chủ thể và các chính sách đã được thực hiện Các tiêu chí xác định ngưỡng nghèo và được nhận mã số cũng sẽ được trình bày
2.1 LỊCH SỬ CÁC CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
Việt Nam đã có những cam kết mạnh mẽ trong cuộc chiến giảm nghèo, bằng cách triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu ngay từ năm 1998, sau đó xây dựng các chương trình đặc biệt, phù hợp và đồng bộ với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở cấp quốc gia Để hiểu
rõ hơn khuôn khổ của nghiên cứu này, chúng tôi sẽ trình bày các giai đoạn trước kia trong phần ngay bên dưới
2.1.1 KẾT HỢP CHIẾN LƯỢC GIẢM NGHÈO VÀ CÁC CHÍNH SÁCH QUỐC GIA
Chiến lược tổng thể của Việt Nam được xác định trong các kế hoạch 5 năm và 10 năm bao gồm các mục tiêu và tiêu chí rõ ràng Các chương trình mục tiêu gắn với kế hoạch tổng thể,
như Chương trình xóa đói giảm nghèo (Hunger Eradication and Poverty Reduction - HEPR)
được chính phủ thông qua vào năm 1998 Chương trình này nhằm xác định các chính sách và tìm giải pháp cho vấn đề đói và nghèo xuất hiện vào đầu những năm 1990 Với chương trình mục tiêu quốc gia này, lần đầu tiên, chính phủ đã đưa các mục tiêu cụ thể về xóa đói giảm nghèo vào quy hoạch và xác định cơ chế giám sát, các hoạt động và nguồn lực ở tất cả các
cấp Điều này thể hiện cam kết của Việt Nam trong cuộc chiến giảm nghèo
Trang 352.1.2 CHIẾN LƯỢC TĂNG TRƯỞNG VÀ GIẢM NGHÈO, 2002-2005
Năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã quyết định xây dựng quy trình lập Chiến lược giảm
nghèo Một ủy ban liên bộ đã được thành lập để xây dựng Chiến lược toàn diện về Tăng
trưởng và Xoá đói giảm nghèo (Comprehensive Poverty Reduction and Growth Strategy-
CPRGS) Ủy ban này gồm 52 đại diện chính thức của 16 cơ quan thuộc chính phủ, và do Bộ
Kế hoạch và Đầu tư (MPI) chỉ đạo Các nhà tài trợ song phương và đa phương, các đại diện của xã hội dân sự cũng đã được tham vấn trong quá trình này Trước khi xây dựng CPRGS, chỉ có Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội (MOLISA) phụ trách công tác giảm nghèo Trong CPRGS, công tác giảm nghèo được xem là một trục quan trọng trong chính sách của các Bộ
Tài liệu Chiến lược Giảm nghèo đã được công bố vào năm 2002 và được bổ sung thêm vào năm 2003 bằng một phần về cơ sở hạ tầng Đây là bước đầu tiên của chương trình Các trục chính của chiến lược này nằm trong kế hoạch hành động để triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội 2001-2005
2.1.3 CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO, 2006-2010
Trong giai đoạn 2 (2006-2010), Chương trình giảm nghèo đã được chính phủ đổi tên thành
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo Chương trình nằm trong Chiến lược phát triển
kinh tế xã hội 2006-2010, nhằm mục tiêu đưa Việt Nam từ một nước thu nhập thấp thành một nước có thu nhập trung bình vào năm 2010 Về mặt pháp lý, chương trình này dựa trên Quyết định 20/2007/QĐ-TTg của Chính phủ, ban hành ngày 5/2/2007
MỤC TIÊU
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 22% năm 2005 xuống còn 10-11% năm 2010 ;
- Thu nhập của nhóm hộ nghèo tăng 1,45 lần so với năm 2005 ;
- Giảm 50% số xã đặc biệt khó khăn
TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GỒM :
- Ban Chỉ đạo của Chính phủ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo và Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi (Chương trình 135) với sự tham gia của các Bộ, ngành, các tổ chức đoàn thể có liên quan ;
- Văn phòng điều phối Chương trình giúp Ban Chỉ đạo của Chính phủ (đặt tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại các địa phương triển khai thực hiện chương trình
Trách nhiệm được phân chia giữa cấp trung ương, cấp địa phương và các tổ chức đoàn thể
Trang 36Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 36
CÁC CHÍNH SÁCH LỚN VÀ HÀNH ĐỘNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO 2006 - 2010
TỔNG VỐN CHO CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO LÀ 43.488 TỶ ĐỒNG, trong đó 3.456 tỷ (8%) trực tiếp dành cho chương trình Kinh phí lồng ghép với các chính sách khác vào khoảng 40.032 tỷ đồng (tín dụng, y tế, giáo dục, hỗ trợ sản xuất, nhà ở và tiếp cận nước sạch cho đồng bào dân tộc thiểu số) trong đó 10.332 tỷ do ngân sách trung ương cấp
Biểu đồ: phân bổ nguồn vốn cho chương trình mục tiêu giảm nghèo quốc gia 2006-2010
CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CẦN ĐẠT ĐƯỢC
- Xây dựng cơ sở hạ tầng ở các xã nghèo, đặc biệt khó khăn ;
- Có 6 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi ;
- Thực hiện khuyến nông - lâm - ngư, chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn cách làm ăn cho 4,2 triệu lượt người nghèo ;
- Miễn, giảm học phí học nghề cho 150.000 người nghèo ;
- 100% nguời nghèo được Nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế ;
- Miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường cho 19 triệu lượt học sinh nghèo, trong đó có 9 triệu học sinh tiểu học ;
Chính sách, dự án và hoạt
động nhằm tăng thu nhập
•Tiếp cận tín dụng ưu đãi
•Hỗ trợ cho hộ nghèo là
người dân tộc thiểu số
•Dự án khuyến nông - lâm -
ngư và phát triển sản xuất
thủ công
•Xây dựng cơ sở hạ tầng ở
các địa phương nghèo
Chính sách tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch
vụ xã hội
•Chính sách hỗ trợ trong lĩnh vực y tế
•Chính sách hỗ trợ trong lĩnh vực giáo dục
•Chính sách hỗ trợ nhà ở và tiếp cận nước sinh hoạt
•Hoạt động giám sát, đánh giá
60%
29%
5% 5% 1%
Tín dụng Ngân sách trung ương Huy động từ cộng đồng Ngân sách địa phương Huy động quốc tế
Trang 37- Tập huấn nâng cao năng lực cho 170.000 cán bộ tham gia công tác giảm nghèo ở các cấp, trong đó 95% là cán bộ cấp cơ sở;
- Hỗ trợ để xoá nhà tạm cho 500.000 hộ nghèo;
- Phấn đấu 98% người nghèo có nhu cầu được trợ giúp pháp lý miễn phí
Quan tâm đến tình hình nghèo từ 15 năm nay;
Chính sách ngày càng mang tính liên ngành với sự chủ trì của MOLISA;
Hiện nay, chương trình đang ở giai đoạn 3;
Vốn tín dụng là chủ yếu
2.2 KHUÔN KHỔ HÀNH ĐỘNG Ở CẤP QUỐC GIA
2.2.1 NGƯỠNG NGHÈO
Việc cải thiện điều kiện sống của người nghèo được thể hiện trong các số liệu thống kê Theo
đó, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 22% năm 2005 còn 9,45% năm 2010 Như vậy, Việt Nam còn khoảng 8,2 triệu người nghèo
Hiện nay, có hai cách tiếp cận cho phép phân tích tình trạng nghèo ở Việt Nam : cách của Tổng cục thống kê (GSO) và cách của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội (MOLISA) Cách tiếp cận của GSO giống cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, với ngưỡng nghèo lương thực (chi tiêu để có được tối thiểu 2100 calo/người/ngày) và ngưỡng nghèo tổng quát (chi tiêu cho nhu cầu lương thực, thực phẩm - khoảng 70% và chi tiêu cho phi thực phẩm – khoảng 30%) GSO thực hiện khảo sát về tình trạng nghèo, chứ không xác lập chuẩn nghèo của Việt Nam MOLISA chọn cơ sở để xác định ngưỡng nghèo là mức chi tiêu cần thiết để một người có thể sống được và điều chỉnh ngưỡng nghèo tùy vào lạm phát hàng năm Chính phủ đã phê duyệt và công bố ngưỡng nghèo quốc gia cho các giai đoạn :1996-2000, 2001-
2005, 2005-2010 và 2011-2015, trên cơ sở đề xuất của MOLISA.
Bảng 3: các ngưỡng nghèo đã được chính phủ phê duyệt
Giai
đoạn
Quyết định của Thủ tướng
Ngưỡng nghèo ở nông thôn (vnd/người/tháng)
Ngưỡng nghèo ở đô thị (vnd/người/tháng)
Trang 38Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 38
Theo các tiêu chí mới để xác định hộ nghèo, một hộ được xem là nghèo khi thu nhập hàng tháng của từng người không vượt quá 400.000 vnd ở nông thôn, và 500.000 vnd ở đô thị Tuy nhiên, đối với hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM, năm 2011, ngưỡng nghèo là 1.000.000 vnd/người/tháng, tức 12 triệu vnd/người/năm Điểm này sẽ được phân tích sâu hơn ở phần cuối
2.2.2 KHUNG PHÁP LÝ: NGHỊ QUYẾT 80 VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG, 2011-2020
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2015 tập trung vào ba thách thức : kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cải thiện cơ sở hạ tầng
NGHỊ QUYẾT 80/NQ-CP NGÀY 19 THÁNG 5 NĂM 2011, về giảm nghèo bền vững cho giai đoạn 2011-202020 đưa ra các định hướng và mục tiêu cho giai đoạn 3 của chương trình Nghị quyết nhìn nhận : mặc dù điều kiện sống của người nghèo đã được cải thiện và tỷ lệ hộ nghèo trên bình diện quốc gia đã giảm, nhưng vẫn còn một số điểm hạn chế Nghị Quyết này cũng đề ra một số hướng cải thiện tình hình như sau :
- kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững ;
- số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao ;
- chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn ;
- đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ;
- mặc dù Nhà nước luôn dành nguồn lực lớn cho giảm nghèo, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ;
- một số chương trình, chính sách giảm nghèo chưa đồng bộ, còn mang tính ngắn hạn, thiếu sự gắn kết chặt chẽ ;
- cơ chế quản lý, chỉ đạo điều hành, phân công phân cấp còn chưa hợp lý ;
- việc tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở một số nơi chưa sâu sát ;
- một bộ phận người nghèo còn tâm lý ỷ lại
CÁC MỤC TIÊU CỤ THỂ CỦA NGHỊ QUYẾT 80
xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn
2 Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là về y
tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở;
người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản
3 Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo; xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như:
giao thông, điện, nước sinh hoạt
4 Khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư được thu hẹp
Trang 39MOLISA - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
• Là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo chương trình giảm nghèo, giúp Thủ tướng Chính phủ thống nhất chỉ đạo công tác giảm nghèo trong cả nước;
• Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011
- 2015 và giai đoạn tiếp theo, bao gồm các Đề án/Dự án giảm nghèo; hệ thống tiêu chí đánh giá công tác giảm nghèo quốc gia ;
• Chủ trì chỉ đạo tổ chức thực hiện Đề án/Dự án Hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo ;
• Hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện chính sách dạy nghề, tạo việc làm, xuất khẩu lao động cho người nghèo
MPI - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
• Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng trình ban hành tiêu chí phân bổ nguồn lực giảm nghèo; xây dựng, hướng dẫn cơ chế quản lý chương trình giảm nghèo,kiểm tra, đánh giá hiệu quả việc thực hiện cơ chế quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia của các Bộ, ngành, địa phương gắn với việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo
• Hàng năm, căn cứ vào định mức, tiêu chí được duyệt, chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội, Ủy ban Dân tộc lập kế hoạch, trình Chính phủ phân bổ nguồn lực giảm nghèo cho các địa phương, ưu tiên cho các địa phương có địa bàn đặc biệt khó khăn
MoF - Bộ Tài chính
• Hướng dẫn và bố trí vốn thực hiện chương trình, dự án và chính sách giảm nghèo theo quy định về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước hiện hành và yêu cầu của Nghị quyết này; hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững
Các Bộ và cơ quan ngang bộ khác cùng tham gia
• Bộ Y tế
• Ủy ban Dân tộc
• Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
• Bộ Tài nguyên Môi trường
Ngân hàng nhà nước Việt Nam
•Xây dựng, kiểm tra, trình ban hành chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, và các chính sách của Ngân hàng chính sách xã hội
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
• Kiện toàn hệ thống Ban chỉ đạo giảm nghèo các cấp trên địa bàn;
• Phân bổ nguồn lực ưu tiên cho các huyện, xã nghèo, nghiên cứu, bổ sung chính sách phù hợp để hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo trên địa bàn nhằm mục tiêu giảm nghèo bền vững
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
• Chỉ đạo các cấp hội cơ sở tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động hội viên và toàn dân hưởng ứng, tham gia các cuộc vận động hỗ trợ giảm nghèo như phong trào “Ngày vì người nghèo”; phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư”; xây dựng “Quỹ khuyến học”; vận động thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới 2.2.3 PHÂN CHIA VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM Ở CẤP QUỐC GIA
Trang 40Nghiên cứu nghèo đô thị, trường hợp Quận 8, TPHCM - tháng 4 năm 2012- 40
2.3 KHUÔN KHỔ HÀNH ĐỘNG Ở CẤP THÀNH PHỐ
2.3.1 NGHÈO VÀ NGƯỠNG NGHÈO Ở TPHCM
Đến cuối năm 2010, theo kết quả khảo sát do Sở Lao động – Thương binh – Xã hội (DELISA) thực hiện, TPHCM có chính thức 105.328 hộ nghèo với thu nhập dưới 12 triệu vnd/người/năm, chiếm 8,4% dân số toàn thành Trong số này, có khoảng 30.000 hộ thu nhập dưới 8 triệu vnd/người/năm Song song với việc nâng cao thu nhập, điều kiện sống của người nghèo cũng đã được cải thiện nhờ vào các chính sách xã hội và các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng
Từ năm 1992, chương trình giảm nghèo đã 6 lần điều chỉnh ngưỡng nghèo cho phù hợp với thực tế kinh tế-xã hội của TPHCM Ở cấp thành phố, DELISA là cơ quan tham mưu xác định ngưỡng nghèo Năm 2004, ngưỡng nghèo đã được điều chỉnh lên 6 triệu vnd/người/năm (500.000 vnd hàng tháng) không phân biệt nội thành hay ngoại thành, sau đó tiếp tục điều chỉnh lên 12 triệu vnd/người/năm (1 triệu vnd hàng tháng) vào năm 2010 Theo Ông Nguyễn Văn Xê, DELISA TPHCM21, ngưỡng nghèo ở TPHCM cao hơn ở các địa phương khác là vì mức sống cao hơn
« Sau khi ban hành chuẩn nghèo, lạm phát tăng lên và do đó phải tính toán lại
TPHCM đã quyết định điều chỉnh ngưỡng nghèo là 16 triệu đồng/người/năm, nhưng chưa được phê duyệt chính thức TPHCM có 92.000 hộ dưới ngưỡng 12 triệu đồng/người/năm và 57.000 hộ dưới 16 triệu đồng/người/năm Như vậy, so với chuẩn nghèo mới, TPHCM có 9% dân số thuộc diện nghèo »
Mặc dù đã có bước tiến đáng kể, nhưng ngưỡng nghèo hiện nay chỉ vừa đủ đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của các hộ, và không đủ để đáp ứng nhu cầu về y tế, giáo dục Triển vọng điều chỉnh ngưỡng nghèo 2009-2015 phụ thuộc vào tình hình kinh tế Thật vậy, tình hình kinh tế quyết định mức độ tổn thương của người nghèo và các nguồn lực của Thành phố
Ưu tiên của DELISA là : chương trình hiện nay cần tập trung vào nhóm gần ngưỡng nghèo, tức có thu nhập từ 10 đến 12 triệu đồng để giúp họ thoát nghèo Có hai phương án tùy theo tình hình phát triển kinh tế của Thành phố Mỗi phương án được chia thành 3 giai đoạn chủ yếu :
21
Phỏng vấn ngày 9 tháng 1 năm 2012