1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình lưỡng đầu chế thời lê trịnh (1599 1786)

81 813 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng đến đầu thế kỷ XVI, khi mà sự mục nát của nhà Lê đã xuống tới cực điểm và Mạc Đăng Dung giành lấy ngôi vua vào năm 1527 thì đó cũng là sự mở đầu của một thời kỳ hầu như nội chiến p

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học ThS NGUYỄN VĂN NAM

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành khoá luận em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, của gia đình và bạn bè

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành, lòng biết ơn vô hạn đến các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử cũng như toàn thể các thầy cô giáo trong trường đã giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt bốn năm học

Qua đây em cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người luôn ở bên động viên và chia sẻ với em trong học tập cũng như trong cuộc sống

Đặc biệt em xin gửi lời tri ân sâu sắc tới thầy giáo, ThS Nguyễn Văn Nam đã tận tình quan tâm, chỉ dạy và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên

Vũ Đình Triệu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi và không trùng với kết quả của tác giả khác

Sinh viên

Vũ Đình Triệu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH MÔ HÌNH “LƯỠNG ĐẦU CHẾ” THỜI LÊ -TRỊNH (1599 - 1786) 7

1.1 TRIỀU LÊ SUY VONG VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỤC DIỆN NAM -BẮC TRIỀU 7

1.1.1 Triều Lê suy vong 7

1.1.2 Nhà Mạc thành lập 9

1.1.3 Nguyễn Kim tôn phò nhà Lê và thành lập Nam triều 12

1.2 CUỘC GIAO TRANH GIỮA NAM - BẮC TRIỀU VÀ CỤC DIỆN ĐÀNG TRONG, ĐÀNG NGOÀI 14

1.2.1 Cuộc giao tranh giữa Nam - Bắc triều 14

1.2.2 Nguyễn Hoàng trấn thủ vùng Thuận Hóa và hình thành cục diện Đàng Trong, Đàng Ngoài 16

1.2.2.1 Nguyễn Hoàng trấn thủ vùng Thuận Hóa 16

1.2.2.2 Nội chiến Trịnh - Nguyễn và sự phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài 17 1.3 SỰ XÁC LẬP MÔ HÌNH “LƯỠNG ĐẦU CHẾ” THỜI LÊ – TRỊNH (1599 – 1786) Ở NƯỚC TA 19

1.3.1 Yếu tố lịch sử 19

1.3.2 Yếu tố chính trị 20

1.3.3 Xuất phát từ tương quan lực lượng giữa các phe phái phong kiến 21

Chương 2 TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH “LƯỠNG ĐẦU CHẾ” THỜI LÊ TRỊNH (1599-1786) 25

2.1 SỰ PHÂN ĐỊNH QUYỀN HẠN GIỮA HAI NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU NHÀ NƯỚC 25

Trang 5

2.1.1 Quyền hạn của triều đình nhà Lê 25

2.1.2 Quyền của chúa Trịnh 30

2.2 SỰ PHÂN ĐỊNH VỀ QUYỀN HẠN GIỮA HAI CƠ QUAN GIÚP VIỆC CHO HAI NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU NHÀ NƯỚC 32

2.2.1 Tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính trung ương 32

2.2.1.1 Triều đình và Phủ đường 33

2.2.1.2 Các văn thư phòng 35

2.2.1.3 Lục bộ và Lục phiên 38

2.2.1.4 Các cơ quan chuyên môn 40

2.2.2 Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương 41

2.2.3 Một số bộ phận, cơ quan khác 42

2.2.3.1 Lục khoa 42

2.2.3.2 Ngự sử đài 43

2.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIỀU ĐÌNH VUA LÊ VÀ PHỦ CHÚA TRỊNH 44

2.3.1 Mối quan hệ tương trợ, công hợp giữa vua Lê và chúa Trịnh 44

2.3.2 Tính hai mặt của chúa Trịnh 47

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ HỆ QUẢ CỦA MÔ HÌNH “LƯỠNG ĐẦU CHẾ” THỜI LÊ – TRỊNH (1599 – 1786) 52

3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA MÔ HÌNH “LƯỠNG ĐẦU CHẾ THỜI LÊ - TRỊNH (1599 – 1786) 52

3.1.1 Đây là thể chế của hai dòng họ, giữa vua và chúa kết hợp với nhau trong sự đối trọng, hoà hợp 52

3.1.2 Đây là sản phẩm của quá trình liên kết lực lượng nhằm duy trì sự ổn định của đất nước 53

3.1.3 Mô hình “lường đầu chế” thời Lê – Trịnh có sự khác biệt về quyền lực giữa vua và chúa 54

Trang 6

3.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê – Trịnh chặt chẽ, thống

nhất, trong đó có một số yếu tố đã được luật pháp hóa 55

3.1.5 Các văn thư phòng thời Lê - Trịnh có thay đổi nhiều hơn về số lượng và phân công thực thi nhiệm vụ cũng như trách nhiệm rõ ràng hơn 56

3.2 HỆ QUẢ CỦA MÔ HÌNH “LƯỠNG ĐẦU CHẾ” THỜI LÊ - TRỊNH (1599 - 1786) 57

3.2.1 Về mặt chính trị 57

3.2.2 Trên phương diện hành chính 58

3.2.3 Trong lĩnh vực kinh tế 60

3.2.4 Về mặt xã hội 61

3.2.5 Về văn hóa, giáo dục 63

3.2.6 Về phương diện tư tưởng 65

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 1

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dòng chảy lịch sử Đại Việt luôn diễn ra cuộc đấu tranh theo hai xu hướng đó là cát cứ và thống nhất lãnh thổ Thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ luôn là ý chí và nguyện vọng của nhân dân Sau khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước (968) cho tới tách Đàng Trong, Đàng Ngoài (1672), thì các triều đại phong kiến nước ta ra sức củng cố bộ máy chính quyền, thống nhất từ trung ương tới địa phương Nhưng đến đầu thế kỷ XVI, khi mà sự mục nát của nhà

Lê đã xuống tới cực điểm và Mạc Đăng Dung giành lấy ngôi vua vào năm

1527 thì đó cũng là sự mở đầu của một thời kỳ hầu như nội chiến phân liệt triền miên giữa các tập đoàn phong kiến, tuy rằng có xen kẽ một số thời gian ngắn quốc gia được thống nhất tạm thời

Từ năm 1599 đến 1786 là một thời kỳ có rất nhiều biến cố lịch sử sôi động, phức tạp và thể chế nhà nước cũng có nhiều nét đặc thù Chính quyền

Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài tồn tại từ năm 1592 đến 1786 với 17 đời vua song song với 12 đời chúa Đây là mô hình “lưỡng đầu chế” điển hình trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, điển hình về độ dài của thời gian tồn tại, điển hình cả về độ sâu của các yếu tố cấu thành của một thể chế lưỡng đầu Mô hình “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh là chính quyền của hai dòng họ, hai thế lực phong kiến lớn, vừa phải dựa vào nhau để trị nước quản dân vừa mâu thuẫn với nhau về quyền lực và quyền lợi

Một đất nước chịu sự cai trị của hai thế lực, giữa một bên là Triều đình của các đời vua Lê và phủ Chúa của các chúa Trịnh, cùng song song tồn tại, đối trọng nhau về quyền lợi nhưng lại dựa vào nhau, phối hợp với nhau cùng thực hiện công việc trị nước an dân, và cơ chế lưỡng đầu ấy cùng tồn tại bên nhau trong suốt một thời gian dài (hơn hai thế kỷ) trong lịch sử mà hầu như không

Trang 8

xảy một biến cố lớn nào và đã trở thành một nét đặc trưng trong lịch sử tiến trình phát triển của nền hành chính Việt Nam

Mặc dù nằm trong một thời kỳ phát triển của kiểu nhà nước phong kiến, nhưng cơ chế hoạt động của nhà nước thời kỳ vua Lê - chúa Trịnh với những đặc điểm riêng có của mình, cho đến ngày nay, cũng để lại nhiều bài học lịch sử quý giá

Xuất phát từý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, tôi quyết định chọn đề

tài: “Mô hình “Lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh (1599 - 1786)” làm đề tài cho

khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Mô hình “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh là một loại hiện tượng lịch sử đặc biệt Cơ chế lưỡng phân của quyền lực tối cao này đã đưa lại những tác động to lớn, phức tạp và lâu dài trong lịch sử Việt Nam Nó đã được không ít nhà nghiên cứu quan tâm và trình bày trong các công trình nghiên cứu của

mình

Thứ nhất, sách chuyên khảo nói về mô hình “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh (1599 -1786) có cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam do GS Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (Nhà xuất bản Giáo dục, 2001), cuốn Tiến trình lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên) (Nhà xuất bản Giáo dục, 2007), cuốn Nhà nước và Pháp luật thời phong kiến Việt Nam của Bùi Xuân Đính (Nhà xuất bản Pháp lý, 2005)…đều có nhắc tới mô hình nhà nước “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh trên phương diện lịch sử Tuy nhiên lại chưa đưa ra được khái niệm về “lưỡng đầu chế” mà mới chỉ viết chung chung đó là mô hình nhà nước vua Lê, chúa Trịnh đứng đầu và cùng cai trị đất nước Đặc biệt, cuốn Văn hóa chính trị Việt Nam - Chế độ chính trị Việt Nam thế kỉ XVII - XVIII của Lê Kim Ngân (Viện Đại học Sài Gòn, 1974) đã đưa ra được khái niệm về

“lưỡng đầu chế” Trong đó khẳng định thể chế lưỡng đầu thể chế nhà nước

Trang 9

(còn gọi là thiết chế) là toàn bộ cơ cấu xã hội do pháp luật quy định Thể

“lƣỡng đầu chế” là một chế định tiêu biểu và độc đáo trong lịch sử Việt Nam

Đó là thể chế mà ở đó tồn tại đồng thời hai thế lực có địa vị, quyền hạn ngang nhau Hay nói cách khác, “Lƣỡng đầu chế” là một chế độ trong đó có hai nhân viên hoặc một nhân viên và một ủy ban đứng đầu nền hành chính, trông coi việc cai trị trên cùng một lãnh thổ

Thứ hai là các tạp chí, báo cáo nghiên cứu về vấn đề mô hình “lƣỡng

đầu chế” thời Lê - Trịnh Tiêu biểu phải kể tới bài viết: “Lưỡng đầu chế thời

Lê - Trịnh và những hệ quả lịch sử của nó” (bài viết đăng trên website Viện

nghiên cứu Hán Nôm) của PGS TS Trần Ngọc Vƣợng - Đại học quốc gia Hà Nội bài viết không chỉ nói về quá trình xuất hiện cơ chế lƣỡng đầu về quyền lực chính trị ở Việt Nam thế kỉ XVI- XVII mà còn đƣa ra những hệ quả đa chiều mà cơ chế lƣỡng đầu chế Lê - Trịnh gây ra trong lịch sử Việt Nam (thế

kỉ XVI, XVII, XVIII) Tuy nhiên lƣợng trang viết có hạn nên nội dung chỉ

dừng lại ở mức độ khái quát Riêng chủ đề “Chúa Trịnh - vị trí và vai trò lịch

sử” cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, với mốc cụ thể là

cuộc Hội thảo khoa học do Tạp chí Nghiên cứu lịch sử - Viện Sử học Việt Nam và Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá phối hợp tổ chức năm 1995 Trong kỷ yếu của cuộc Hội thảo này, có khoảng chục bản báo cáo

trực tiếp hay gián tiếp đề cập tới vấn đề “cơ cấu chính quyền “kép” Lê -

Trịnh” Tuy nhiên, với những gì đã đƣợc công bố, chƣa thể coi vấn đề đã

đƣợc triển khai đúng với tầm quan trọng của nó

Thứ ba, vấn đề mô hình lƣỡng đầu chế thời Lê - Trịnh cũng đƣợc đề

cập nhiều trong khóa luận tốt nghiệp, tiêu biểu là đề tài: “Phân tích và đánh

giá cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính ở nước ta dưới thời vua Lê - chúa Trịnh (1599 - 1786)” của sinh viên Bùi Thị Hòa -Lớp

KH8G - Học viện Hành chính Quốc gia Khóa luận đã trình bày một cách có

Trang 10

hệ thống từ hoàn cảnh, khái quát vai trò quyền hạn của vua Lê, chúa Trịnh, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính nước ta thời vua Lê - chúa Trịnh Từ đó phân tích và đánh giá về cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính nước ta thời vua Lê - chúa Trịnh Mặc dù vậy khóa luận chỉ mới khái quát mà chưa đi sâu vào nghiên cứu về vai trò của vua Lê

và chúa Trịnh cũng như mối quan hệ của vua Lê và chúa Trịnh

Như vậy, có thể nhận thấy vấn đề mô hình “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh (1599 - 1786) ngày càng được quan tâm nghiên cứu Nhưng tất cả các công trình trên, mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu ở một khía cạnh của mô hình đặc biệt này mà vẫn chưa xuất hiện một công trình nghiên cứu cơ bản thuộc bất cứ lĩnh vực nào của khoa học xã hội nghiên cứu chuyên sâu về hiện tượng chính quyền kép “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh (1599 - 1786)

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu kể trên là nguồn tài liệu quý giá giúp tôi thực hiện đề tài của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Mô hình “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh (1599 - 1786) nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:

Trang 11

Thứ nhất: Khóa luận nghiên cứu cơ sở hình thành mô hình “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh Từ đó có cái nhìn tổng quan về điền kiện hình thành thiết chế lưỡng ở nước ta thời Lê - Trịnh

Thứ hai: Đi sâu nghiên cứu về mô hình đặc biệt trong lịch sử Việt Nam

đó là thiết chế lưỡng đầu thời Lê - Trịnh (1599 - 1786)

Cuối cùng là rút ra được những đặc điểm cũng như tác động của mô hình trên các mặt như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tư tưởng…

3.3 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: Khóa luận nghiên cứu mô hình “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài

Phạm vi thời gian: Từ năm 1599 đến năm 1786

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Để hoàn thành khóa luận, tôi đã khai thác các nguồn tài liệu sau:

Nguồn tư liệu thứ nhất: Là các giáo trình lịch sử, các công trình nghiên cứu về thời Lê - Trịnh của các học giả Việt Nam và nước ngoài đang lưu ở thư viện Quốc Gia, thư viên trường Đại học sư phạm Hà Nội, thư viện trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, thư viện trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

Nguồn tài liệu thứ hai: Tôi tham khảo thêm các sách, báo, tạp chí, các bài báo viết về thời Lê - Trịnh từ 1599 đến 1786

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ khoa học đặt ra, tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành cơ bản: phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Ngoài ra còn sử dụng phương pháp liên ngành như phân tích, tổng hợp,

so sánh, sơ đồ hóa và các phương pháp khác để có kết luận khoa học

Trang 12

5 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã thu thập, tập hợp và xử lý các tài liệu liên quan tới mô hình “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh (1599 - 1786) Từ đó trình bày một cách

có hệ thống từ sự hình thành, tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê – Trịnh

Trên cơ sở đó, tôi cũng rút ra những đặc điểm và tác động mà mô hình đặc biệt này tạo ra Từ đó góp phần quan trọng trong công cuộc cải cách hành chính nước ta hiện nay

Khóa luận cũng là nguồn tư liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề mà các nhà nghiên cứu đang quan tâm

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ

lục, khóa luận gồm 3 chương nội dung:

Chương 1: Sự hình thành mô hình “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh (1599 - 1786)

Chương 2: Tổ chức và hoạt động của mô hình “lưỡng đầu chế” thời Lê

- Trịnh (1599 - 1786)

Chương 3: Đặc điểm và hệ quả của mô hình “lưỡng đầu chế” thời Lê - Trịnh (1599 - 1786)

Trang 13

Chương 1

SỰ HÌNH THÀNH MÔ HÌNH “LƯỠNG ĐẦU CHẾ”

THỜI LÊ -TRỊNH (1599 - 1786) 1.1 TRIỀU LÊ SUY VONG VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỤC DIỆN NAM - BẮC TRIỀU

1.1.1 Triều Lê suy vong

Quốc gia Đại Việt đã trải qua hàng trăm năm thống nhất, với một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ngày càng được củng cố Nhưng đến đầu thế kỷ XVI, thì đất nước ta đã nhanh chóng suy yếu Tình hình ấy diễn ra ngày càng nghiêm trọng trong năm đời vua cuối cùng của thời Lê sơ là: Lê Túc Tông (1504 - 1505), Lê Uy Mục (1505 - 1510), Lê Tương Dực (1510 - 1516), Lê Chiêu Tông (1516 - 1522) và Lê Cung Hoàng (1522 - 1527)

Lê Hiến Tông ham nữ sắc nhưng vẫn còn quan tâm đến nông nghiệp Đến đời vua Lê Túc Tông chỉ mới ở ngôi được sáu tháng đã mất không rõ nguyên nhân

Lê Uy Mục là “vua quỷ’ (quỷ vương) - khắc họa của Hứa Thiên Tích,

sứ thần nhà Minh sang Đại Việt năm 1507, từng tiếp kiến với nhà vua [8,

tr.42] Còn các sử thần triều Lê thì nhận xét:

Nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, tàn hại người tông thất, giết ngầm tổ mẫu Họ ngoại hoành hành, trăm họ oán giận… mầm loạn đã xuất hiện từ đây Từ khi lên ngôi vua, vua đêm nào cũng cùng cung nhân vui đùa uống rượu vô độ Khi say rượu giết cả cung nhân [8, tr.42]

Đến lượt vua Lê Tương Dực lên ngôi, cũng chỉ được “buổi đầu lên

ngôi, ban hành giáo hóa, thận trọng hình phạt”, còn sau đó “chơi bời vô độ, xây dựng liên miên, dân nghèo thất nghiệp, trộm cướp nổi lên, dẫn đến nguy vong là bởi ở đây” [8, tr.52] Cuối cùng vua Lê Tương Dực bị chính viên

Trang 14

tướng Trịnh Duy Sản - kẻ từng theo lệnh nhà vua đem quân đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở vùng Sơn Tây - sai võ sĩ cầm giáo đâm ngã ngựa rồi giết chết, đem thiêu xác

Sau cái chết của Lê Tương Dực, đến lượt Lê Ỷ mới tám tuổi do phái Trịnh Duy Sản, Lê Nghĩa Chiêu lập lên ngôi năm 1516 tức vua Lê Chiêu

Tông Nhà vua “trong buổi loạn lạc, quyền bính không ở trong tay” [8, tr.80],

mà thuộc về các võ tướng là Nguyễn Hoằng Dụ, Trịnh Tuy

Có thể thấy, trong số các vua kể trên, vua ở ngôi lâu nhất và thọ nhất là

Lê Hiến Tông (ở ngôi 7 năm, 43 tuổi) Các vua còn lại đều chỉ 16 đến 24 tuổi,

ở ngôi từ sáu tháng đến vài năm Trong 20 năm sau cùng, cả bốn vua đều bị giết chết Những cái chết bất thường của các vua do thanh toán lẫn nhau trong nội bộ triều đình đến đầu thế kỷ XVI đã trở nên phổ biến Đó là hậu quả tất yếu của những tranh giành, mâu thuẫn gay gắt về quyền lực giữa các phe phái trong cung đình triều Lê vốn từng âm ỷ thường xuyên, tích tụ nay có dịp bùng phát dữ dội

Triều đình năm bè bẩy mối, tiêu diệt lẫn nhau bằng mọi biện pháp tàn bạo là điều kiện biến quan trường thành chốn để bọn quan lại các cấp nhân đó cậy thế ỷ quyền, gây bè cánh, đục khoét, vơ vét Tình hình ấy đã được phản ánh phần nào trong chính chiếu chỉ của vua Lê Hiến Tông từ các năm 1498,

1499:

Dung túng che dấu cho nhau Lâu ngày quen nết Thậm chí hùa nhau

làm trò nhơ nhuốc Mặt dày nịnh bợ, quỳ gối chui luồn nuôi chứa lòng gian, gây mối tệ hại, không sao kể xiết, không đoái chi đến phép tắc của triều đình, người lo việc nước thì ít, kẻ thiếu trách nhiệm, bỏ chức phận thì nhiều Bọn viên lại thì quá nhiều, rất nhũng tạp Có kẻ

ăn may, chỉ một nghề là được bổ dụng Có kẻ cậy nhờ nhiều ngón, mong được chỗ hơn, hối lộ công khai, thăng quan vượt cấp Lại còn

Trang 15

có kẻ không viết nổi một bản thảo tờ tâu, phải bỏ tiền thuê người viết

hộ, cũng có kẻ không chép nổi sách, chỉ mánh khóe để kiếm ăn Bệnh trong tim óc năm tháng đã lâu [8, tr.12 - 15]

Như vậy là đến những năm 20 của thế kỷ XVI, cùng với triều đình suy đồi, năm bè bẩy mối, chính quyền nhà Lê không đảm đương nổi nhiệm vụ quản lý đất nước Quốc gia Đại Việt bị rối loạn từ trong triều đình đến các địa phương Đây là cuộc khủng hoảng của vương triều xây dựng theo thiết chế chế độ quân chủ tập quyền Chế độ quân chủ tập quyền theo mô hình Nho giáo này đã phát triển đến đỉnh cao dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) và đã phát huy nhiều tác dụng tích cực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đưa nước Đại Việt thời đó trở thành một quốc gia độc lập thống nhất và thịnh đạt Nhưng khi kinh tế hàng hóa chưa phát triển đến mức

độ tạo lập những điều kiện kinh tế xã hội bền vững cho sự thống nhất quốc gia - dân tộc thì chế độ quân chủ tập quyền vẫn phải dựa trên cơ sở chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất và quan hệ bóc lột tô thuế của nhà vua đối với thần dân, kết hợp với một thiết chế quyền lực tập trung cao độ Do đó, mỗi khi triều đình trung ương suy yếu thì tất yếu dẫn đến sự phân hóa và xung đột cung đình nhằm tranh ngôi đoạt chức do các thế lực quân sự cầm đầu Sự rối loạn và xung đột cung đình làm cho chính quyền trung ương mất vai trò quản

lý xã hội, quản lý các công trình thủy lợi và dẫn đến những hậu quả kinh tế,

xã hội như mất mùa, đói kém, nhân dân đói khổ, bất bình… Sự suy sụp của triều đình, những cuộc xung đột của các thế lực phong kiến và những cuộc nổi dậy của dân chúng tất nhiên sẽ đưa nhà Lê đến chỗ bại vong

1.1.2 Nhà Mạc thành lập

Trong bối cảnh chính trị xã hội như vậy, từ chính trong cung đình triều

Lê xuất hiện một thế lực mới, đứng đầu là Mạc Đăng Dung Từ một người làm nghề đánh cá, khi lớn có sức khỏe, thi đỗ lục sĩ xuất thân, được dùng vào

Trang 16

quân Túc vệ, năm 1508 được phong Đô chỉ huy sứ vệ Thần vũ, trong vòng 20 năm sau đó, Mạc Đăng Dung đã vươn lên đến tước hiệu cao nhất, quyền lực nhất trong đám đình thần triều Lê: Năm 1511, được phong Vũ Xuyên bá; Năm 1516, được phong Phó tướng tả đô đốc, trấn thủ Sơn Nam - phên dậu đặc biệt quan trọng phía nam kinh thành Thăng Long; Năm 1519, được phong Minh Quận công; Năm 1520, làm Tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh; Năm

1521, đầu năm phong là Nhân Quốc công tiết chế các doanh quân thủy bộ 13 đạo, tháng 7 đã gia phong Thái phó; Năm 1524, được phong Bình chương quân quốc trọng sự thái phó Nhân Quốc công; đến tháng 4 năm 1527 lại được phong An Hưng vương

Trên thực tế, Mạc Đăng Dung đã nắm được thực quyền mạnh nhất trong các phe phái đương thời Mạc Đăng Dung không phải là tướng có tài thao lược quân sự Những lần trực tiếp cầm quân đi đánh, không phải lần nào Mạc Đăng Dung cũng thắng đối phương Nhưng Mạc Đăng Dung đã được cất nhắc rất nhanh Một mặt, chính sự yếu ớt của vua Lê lúc đó cần sự che chở, bảo vệ của những người như Mạc Đăng Dung Mặt khác, Mạc Đăng Dung là người hoạt động chính trị thực tế, mưu lược, biết tận dụng thời cơ, quyền biến, quyết đoán Nếu trong các biện pháp để củng cố quyền lực triều Lê ở đầu thế kỷ XVI đã triển khai như trên, lại tạo thành cơ hội và chiêu bài để các phe nhóm dương lên, lợi dụng, thì trong các phe nhóm lợi dụng đó, Mạc Đăng Dung là người dương cao và tận dụng có hiệu quả nhất Là người mưu trí biết lợi dụng danh nghĩa để bảo vệ ngai vàng vua Lê Mạc Đăng Dung không những che dấu được lực lượng của mình mà còn tổ chức phát huy lực lượng, lần lượt loại trừ được hầu hết những thế lực cản trở, không ăn cánh với mình

Khi biết lực lượng của mình còn chưa đủ mạnh, Mạc Đăng Dung biết

né tránh những cuộc đụng đầu không cần thiết để dung hòa, chờ thời Đám triều thần đều biết và bản thân vua Lê cũng biết thế lực của Mạc Đăng Dung

Trang 17

Sau khi đám tàn quân của Trần Cảo bị dẹp hoàn toàn, tình hình tạm yên, tháng 7 năm 1522 vua Lê đã ngầm mưu với Phạm Hiến, Phạm Thứ sai người vào Thanh Hóa gọi Trịnh Tuy ra nghênh viện đón vua ra ngoài cung Lúc đó, Mạc Đăng Dung với cương vị Thái phó kiêm Tiết chế các doanh quân thủy

bộ, thế lực đã lớn đến mức độ mọi âm mưu toan tính và mọi cố gắng của đám vua quan nhà Lê đều trở thành vô vọng

Năm 1527, khi trên thực tế mọi quyền lực đã nắm trong tay, Mạc Đăng Dung đã bắt ép Cung Hoàng nhường ngôi, giành lấy ngôi vua về tay mình, lập

ra triều Mạc

Như vậy, hơn 20 năm suy yếu, suy sụp của triều đình Lê sơ, trong tình trạng phân liệt không tránh khỏi của thể chế chính trị và những biến động xã hội đã làm nảy sinh, nuôi dưỡng và dọn đường, chuẩn bị trực tiếp cho Mạc Đăng Dung vươn lên thâu tóm quyền hành, từng bước tiến tới ngai vàng

Có thể thấy, khi triều đình nhà Lê đã không làm nổi nhiệm vụ quản lý đất nước, duy trì trật tự an ninh xã hội, thậm chí làm kiệt quệ và đặt đất nước bên bờ vực thảm họa, không ít thế lực, phe phái phong kiến trong triều đình

đã đả kích tấn công tiêu diệt lẫn nhau, thậm chí giết cả vua, nhưng vẫn tiếp tục đặt lên ngai vàng một vua Lê khác, tức là tiếp tục ủng hộ, duy trì vương triều đó, để mưu cầu lợi ích bản thân phe phái mình

Khác với các phe phái ấy, Mạc Đăng Dung phế truất Cung Hoàng, không lập lại vương triều Lê suy tàn mà lập vương triều mới Đó là một thái

độ quyết đoán, đáp ứng yêu cầu thay đổi vương triều - điều đã từng diễn ra không ít lần trong lịch sử chế độ quân chủ đến thế kỷ XVI Thành công của Mạc Đăng Dung phản ánh kết quả tổng hợp của những điều kiện khách quan thuận lợi và chứng tỏ tính thực tế, khôn khéo, mưu lược của vị vua mở đầu vương triều mới

Trang 18

Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận quan lại quý tộc cao cấp trong triều đình nhà Lê lúc đó hoặc vì tư tưởng trung quân hoặc chủ yếu vì địa vị, quyền lợi vốn gắn chặt với nhà Lê mà không dễ dàng chấp nhận vương triều mới do Mạc Đăng Dung thành lập

Nhà Mạc thành lập không phải sự phản kháng của một lực lượng mới, đang mâu thuẫn, hay phủ định một mô hình kinh tế xã hội, một thiết chế tổ chức và quản lý cũ Trong bối cảnh cuối những năm 20 của thế kỷ XVI hành động của Mạc Đăng Dung phù hợp với nhu cầu bức xúc về mặt xã hội - tâm

lý của nhiều tầng lớp xã hội, kể cả bộ phận quý tộc phong kiến lúc đó

1.1.3 Nguyễn Kim tôn phò nhà Lê và thành lập Nam triều

Năm 1527, Triều Mạc thành lập nhưng một bộ phận quan lại tướng tá

vì quyền lợi đẳng cấp gắn chặt với triều Lê hàng trăm năm, lại được choàng lên tư tưởng trung quân, chính thống vẫn không thần phục nhà Mạc và có tư tưởng chống Mạc, khôi phục lại triều Lê Hoạt động “phù Lê” diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt sôi động ở vùng Thanh Hóa, là quê hương của triều đình nhà Lê Công cuộc trung hưng của nhà Lê chính thức được khởi dụng với sự nghiệp của Nguyễn Kim

Nguyễn Kim người huyện Tống Sơn (nay là Hà Trung) Thanh Hóa, là con của Nguyễn Hoằng Dụ - một danh thần nhà Lê Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi, Nguyễn Kim lánh sang vùng Sầm Châu (Sầm Nưa thuộc Lào) nương náu Được vua Ai Lao lúc đó là Sạ Đẩu giúp đỡ, cấp cho đất và dân để nuôi dưỡng quân lính, chiêu nạp tướng sĩ, ngầm mưu khôi phục nhà Lê Nguyễn Kim xây dựng căn cứ ở vùng núi Tây Nam Thanh Hóa thuộc biên giới Việt - Lào, thuận tiện cho việc qua lại, tiếp tế, ẩn náu Năm 1531, Nguyễn Kim đã dẫn quân từ Ai Lao về Thanh Hóa Mạc Đăng Dung sai quân

đi đánh, bị thua

Trang 19

Theo biên niên sử triều Lê, đầu năm 1533, Nguyễn Kim tìm được một người con của vua Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh (Lê Trang Tông) lên ngôi hoàng đế, niên hiệu là Nguyễn Hòa, là vua khởi đầu triều Lê Trung hưng Nguyễn Kim được phong là Thái sư Hưng Quốc công, trông coi mọi việc quân binh triều chính

Những năm sau đó, Nguyễn Kim đem quân về chiếm cứ một số địa phương vùng Thanh - Nghệ, đưa Lê Chiêu Tông về Tây Đô (1543), xây dựng các thành điện, thành tại ở Vạn Lại, Yên Trường (đều thuộc Thọ Xuân - Thanh Hóa) Đông đảo hào kiệt và nhân dân cách nơi kéo về hưởng ứng, thanh thế càng mạnh

Trong đám tướng sĩ theo Nguyễn Kim từ hồi khởi binh nổi bật có Trịnh Kiểm, người huyện Vĩnh Phúc (Vĩnh Lộc - Thanh Hóa), xuất thân bình dân,

võ nghệ tài giỏi Nguyễn Kim yêu mến, gả con gái là Ngọc Bảo cho, cùng đốc xuất quân đội xông pha trận mạc

Năm 1545, Nguyễn Kim đem đại binh đi đánh Mạc ở Sơn Nam Đến Yên Mô, bị hàng tướng Mạc là Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất đầu độc, sát hại Mọi quyền hành về tay Trịnh Kiểm

Ngoài vệc chủ yếu là tập chung binh lực tấn công quân Mạc (Bắc triều), chính quyền Nam triều vẫn không quên xây dựng một chính quyền quy

củ và một hậu phương vững chắc Triều đình Lê - Trịnh thu phục nhiều hàng tướng Mạc và những nho sĩ bỏ Mạc theo Lê, kết giao với Ai Lao, cắt cử các tướng trấn giữ địa phương Một số biện pháp kinh tế, văn hóa cũng từng bước được tiến hành như chiêu dụ dân lưu tán, đo đạc ruộng đất, chỉnh đốn thuế

má, tổ chức thi Hương và Chế khoa tuy chưa đều kỳ, nhằm duy trì sức người sức của trong nhân dân vào cuộc chiến

Trang 20

1.2 CUỘC GIAO TRANH GIỮA NAM - BẮC TRIỀU VÀ CỤC DIỆN ĐÀNG TRONG, ĐÀNG NGOÀI

1.2.1 Cuộc giao tranh giữa Nam - Bắc triều

Cuộc nội chiến Lê - Mạc kéo dài trong vòng 60 năm (1533-1592), kể từ khi Nguyễn Kim phù lập Lê Duy Ninh lên ngôi đến khi Trịnh Tùng tổng tấn

công ra Bắc diệt Mạc, chiếm lại kinh đô Thăng Long

Trong 60 năm nội chiến, hai bên đã tiến hành tất cả 38 trận đánh lớn nhỏ, hầu như xảy ra hàng năm Vùng kiểm soát của hai bên không có ranh giới cố định, nhiều lúc thay đổi không rõ ràng Nhìn chung, căn cứ của nhà Mạc là kinh đô Thăng Long và đồng bằng Bắc Bộ, đương thời thường gọi là Đông Việt hay Giang Đông Trong khi đó, căn cứ của Lê - Trịnh là vùng đất Thanh - Nghệ và các dải đất rừng núi phía tây, thường gọi là Tây Việt Chiến trường chủ yếu và giằng co lâu dài nhất là Bắc Thanh Hóa và Nam Sơn Nam (Ninh Bình, Nam Định)

Chiều hướng diễn biến của cuộc nội chiến khá quanh co phức tạp, có thể chia thành 3 giai đoạn chính:

Từ năm 1533 đến năm 1570: từ khi Nam triều Lê Trung hưng chính thức thành lập đến khi Trịnh Kiểm mất, Trịnh Tùng lên thay Đây là thời kỳ

Lê - Mạc cầm cự giằng co, chưa bên nào thắng bên nào Nam triều đánh chiếm, xây dựng căn cứ ở vùng Thanh - Nghệ, tấn công vùng Sơn Nam và ra

cả những vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nhưng không có thắng lợi quyết định Bắc triều tổ chức phản công, tấn công căn cứ địa của Nam triều ở Thanh Nghệ, nhưng cũng không thành công Số lần tấn công của Nam triều nhiều hơn Bắc triều Cũng trong thời gian này, hào kiệt các nơi và nhiều tướng lĩnh Mạc đã về Thanh Hóa theo Nam triều

Từ năm 1570 đến năm 1580: Từ khi Trịnh Tùng nắm bình quyền đến khi tướng Mạc Kính Điển chết Năm 1570 Trịnh Kiểm ốm chết, gây nên cuộc

Trang 21

tranh chấp quyền lực, làm suy yếu nội bộ Nam triều Con trưởng Trịnh Kiểm

là Trịnh Cối được thay lĩnh binh quyền, nhưng kiêu ngạo phóng túng, mất lòng quân sĩ Con thứ Trịnh Tùng là tướng giỏi, quyết đoán được nhiều người ủng hộ, bèn điều quân làm binh biến Hai bên dàn trận chống cự, công kích nhau

Lợi dụng những khó khăn nội bộ của Nam triều, trong vòng 10 năm các tướng Mạc đều đem quân tấn công vào vùng Thanh - Nghệ của Nam triều, tuy rằng sau đó đều đã rút quân về Bắc mà không ở lại chiếm giữ đất Đổi lại, quân Lê - Trịnh đã tổ chức phòng ngự, chặn quân Mạc phản công tại chỗ mà không chủ động kéo quân ra Bắc tiến đánh Mạc lần nào

Từ năm 1580 đến năm 1592: Từ khi danh tướng Mạc Kính Điển chết đến khi Trịnh Tùng tổng tấn công ra Bắc diệt Mạc, thu phục thành Thăng Long Thế lực Mạc suy yếu, lui về xây đắp thành lũy, phòng ngự Quân Lê - Trịnh lớn mạnh, chuyển sang phản công thắng lợi

Cuộc tổng phản công ra Bắc của Lê - Trịnh năm Nhâm Thìn (1592): Thấy thời cơ đã chín muồi Trịnh Tùng quyết định mở cuộc tổng tấn công ra Bắc Trịnh Tùng huy động 6 vạn quân, chia thành 5 đạo, từ Tây Đô theo đường thượng đạo qua Ninh Bình, Hòa Bình đến vùng ven sông Hát (Hà Nội)

Sau khi bị đánh bật khỏi Thăng Long, thế lực Mạc chiếm cứ các vùng Hải Dương, An Quảng (Quảng Yên) là nơi gần quê hương bản bộ của Mạc, sau đó rút lên cố thủ ở vùng rừng núi Cao Bằng, gần biên giới Việt - Trung Như vậy từ sau khi mất kinh thành, họ Mạc vẫn tồn tại thêm 85 năm (1592 - 1677) tại một số nơi và chủ yếu ở Cao Bằng với các vua: Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan, Mạc Kính Vũ Gần như trong suốt thời gian tồn tại, nhà Mạc phải liên tục đương đầu với các thế lực chống đối Nhà Mạc đã phải huy động đến cùng cực nhân tài, vật lực vào cuộc chiến

Trang 22

Những yêu cầu và thực tiễn hoạt động quân sự, chính trị đó một mặt là hạn chế quan trọng, khiến chính quyền Mạc không còn đủ thời gian trí lực, tiềm lực dành cho các hoạt động kinh tế, xã hội Mặt khác trở thành tác động chính, thường xuyên, nổi bật nhất đến nhiều mặt của đời sống kinh tế tư tưởng, văn hóa xã hội đương thời Sau khi khôi phục Thăng Long năm 1592 triều Lê đã Trung hưng nhưng chính quyền thuộc về các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong

Như vậy, sau khi Trịnh Tùng đem quân đánh bại nhà Mạc ở Thăng Long (1592) thống nhất Bắc Hà, triều Lê được khôi phục, vua Lê bấy giờ là

Lê Thế Tông Tuy nhiên, cậy có công dẹp nhà Mạc khôi phục triều Lê, Trịnh Tùng lộng hành Năm 1599 Trịnh Tùng buộc vua Lê phải phong mình làm Đô nguyên súy, Tổng quốc chính, Thượng phụ bình an vương Từ đây Trịnh Tùng nắm mọi quyền hành trong nước, định ra luật lệ, sắp đặt Thế tử của triều

Lê và được người đương thời gọi là Chúa Năm 1600 cho lập Phủ đình (Vương phủ) bên cạnh triều đình vua Lê, đặt thêm hai chức Tham tụng, Bối tụng cùng Chúa bàn việc nước, lại đặt các chức võ quan cao cấp cùng chỉ đạo chung Quyền lực nằm cả trong tay họ Trịnh; chế độ vua Lê - chúa Trịnh hình thành từ đây

1.2.2 Nguyễn Hoàng trấn thủ vùng Thuận Hóa và hình thành cục diện Đàng Trong, Đàng Ngoài

1.2.2.1 Nguyễn Hoàng trấn thủ vùng Thuận Hóa

Ngay từ khi cuộc chiến Nam - Bắc triều còn đang tiếp diễn, trong nội

bộ Nam triều đã nảy sinh mầm mống của sự chia rẽ Sau khi Nguyễn Kim bị sát hại vào năm 1545, vua Lê trao mọi quyền bính cho con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm Hai họ Trịnh - Nguyễn vốn đã từng được gắn kết bởi mục đích chung phò giúp vua Lê gây dựng lại cơ nghiệp lại được thắt chặt thêm bằng quan hệ hôn nhân, đến đây bắt đầu có dấu hiệu bị rạn nứt, Trịnh Kiểm thâu

Trang 23

tóm mọi quyền hành trong tay mình và tìm mọi cách loại bỏ dần ảnh hưởng của họ Nguyễn Mâu thuẫn càng trở nên gay gắt hơn khi người con trai trưởng của Nguyễn Kim là Tả tướng Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm lập mưu giết hại Biết sớm muộn cũng sẽ đến lượt mình, Nguyễn Hoàng theo lời gợi ý của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã nhờ chị gái là Ngọc Bảo (vợ Trịnh

Kiểm) xin cho được vào trấn thủ ở Thuận Hóa để tránh nguy cơ bị ám hại

Tháng 10 năm 1558, Nguyễn Hoàng vào nhận chức ở Thuận Hóa,

“những người bộ khúc đồng hương ở Tống Sơn và những người nghĩa dũng ở

xứ Thanh Hoa đều vui lòng theo đi” [7, tr.28] Năm sau, Vùng Thanh Hóa -

Nghệ An bị lụt lội, nhân dân mất mùa đói kém, nhiều người kéo nhau vào vùng đất Thuận Hóa để kiếm kế sinh nhai

Khi vào xứ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng thực thi một chế độ cai trị

khoan hòa, khuyến khích sản xuất, thu phục nhân tâm “Chúa vỗ về quân dân,

thu dung hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục, bấy giờ thường xưng là chúa Tiên Nghiệp đế dựng lên, thực là xây nền từ đấy” [7, tr.28]

Đối với triều Lê, Nguyễn Hoàng tỏ ra hết sức mềm dẻo, khiến cho họ Trịnh không một chút nghi ngờ Nguyễn Hoàng vừa lo phát triển kinh tế vừa

lo củng cố quyền thống trị để thoát ly dần sự lệ thuộc vào họ Trịnh Dần dần khu vực Thuận - Quảng trở thành vùng đất cát cứ của họ Nguyễn

1.2.2.2 Nội chiến Trịnh - Nguyễn và sự phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài

Từ năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp cha (Nguyễn Hoàng) quyết định thiết lập một hệ thống chính quyền riêng, do người Đàng Trong đảm nhiệm Chúa đứng đầu tất cả, nhưng chỉ tự xưng là quốc công,

nhân dân gọi là chúa

Năm 1744, chúa Phúc Khoát quyết định xưng vương và thay đổi bộ máy hành chính Các ti ở Chính dinh được đổi thành 6 bộ Hàn lâm viện được

Trang 24

thành lập Phú Xuân được dựng thành kinh đô Các dinh đều có trấn thủ đứng đầu.

Quân đội có bộ binh, thủy binh, tượng binh và pháo binh Thủy binh rất mạnh Đại bác là một loại vũ khí được đặt ở các chiến lũy, chiến thuyền Tất

cả dân dinh từ 18 - 50 tuổi đều phải ghi tên vào sổ đinh để nhà nước xét duyệt lấy lính theo chế độ suốt đời

Về đối ngoại: Nước Chăm Pa suy yếu dần và hòa nhập vào lãnh thổ Đàng Trong Chúa Nguyễn đặt quan hệ thân thiện với Chân Lạp

Từ năm 1627 đến năm 1672, quân Trịnh đã sáu lần tấn công với quy

mô lớn vào khu vực phía Nam sông Gianh, trong khi quân Nguyễn chỉ duy nhất một lần đánh ra phía bắc sông Gianh, chiếm đóng bảy huyện Nghệ An trong 5 năm Nhìn toàn cục, lực lượng quân Trịnh mạnh hơn quân Nguyễn

Có lúc chúa Trịnh đã huy động hơn 20 vạn quân thủy, bộ với 600 chiến thuyền, 500 thuyền vận tải và 500 voi cho một trận đánh Trong khi đó quân đội thường trực của Đàng Trong chỉ có khoảng 4 vạn bộ binh với hơn 200 chiến thuyền Nhưng do phải điều động quân đi xa và gặp phải rất nhiều khó khăn trước hệ thống lũy phòng ngự kiên cố của chúa Nguyễn nên quân Trịnh không lần nào giành được thắng lợi quyết định Sau 7 lần đánh nhau, có lúc

đã lôi kéo cả người nước ngoài vào cuộc chiến, mà kết cục không bên nào thôn tính được bên nào Cuối cùng, hai bên không thể kéo dài được cuộc chiến, đã quyết định lấy sông Gianh làm ranh giới phân định khu vực thống trị Nhìn bề ngoài thì đây là một cuộc chiến không phân định thắng bại, nhưng xét về mục đích thì bên thất bại là chính quyền Lê - Trịnh Họ Nguyễn đã bước đầu thực hiện được ý đồ cát cứ của mình Cuộc chiến tranh đã tiêu hủy sức người, sức của của nhân dân, triệt phá đồng ruộng, xóm làng Điều vô cùng nguy hại là cuộc chiến tranh này đã dẫn đến việc chia đôi cơ thể của đất nước Đại Việt thống nhất thành giang sơn riêng của hai dòng họ

Trang 25

Vùng đất từ sông Gianh trở ra bắc (Bắc Hà) nằm dưới quyền cai trị của chính quyền Lê - Trịnh gọi là Đàng Ngoài Họ Trịnh xưng vương, lập phủ chúa, tuy vẫn duy trì triều đình vua Lê, nhưng trên thực tế đã thâu tóm mọi quyền hành trong tay, biến vua Lê thành bù nhìn Vùng đất từ sông Gianh trở vào nam (Nam Hà) gọi là Đàng Trong của chính quyền chúa Nguyễn độc lập

và đối lập với chính quyền Đàng Ngoài của vua Lê - chúa Trịnh Mặc dù vậy thì theo quan niệm của dân gian thì Đàng Trong và Đàng Ngoài trước sau vẫn chỉ là hai khu vực của quốc gia Đại Việt

1.3 SỰ XÁC LẬP MÔ HÌNH “LƯỠNG ĐẦU CHẾ” THỜI LÊ – TRỊNH (1599 – 1786) Ở NƯỚC TA

1.3.1 Yếu tố lịch sử

Thể chế lưỡng đầu đã bước đầu được hình thành từ đầu thời Lê Trung hưng, tức là giai đoạn Nam triều Trong đó, bên cạnh vua Lê là Nguyễn Kim rồi họ Trịnh nắm thực quyền Sau khi đánh đổ được nhà Mạc (Bắc triều), họ Trịnh không thể không tiếp tục duy trì vua Lê ở Đàng Ngoài và kết quả của

quá trình liên kết lực lượng nhằm duy trì sự ổn định của đất nước

Tuy nhiên, cũng chính từ lý do liên kết giữa hai lực lương, hai dòng họ khác nhau này đã tiềm ẩn những mâu thuẫn, những toan tính, tranh chấp giữ các phe phái - nguy cơ của sự đổ vỡ và từ đó không thể tránh khỏi những hạn

chế trong tổ chức và vận hành bộ máy hành chính nhà nước đương thời

Mặc dù triều Lê từ sau triều đại Lê Thánh Tông (1460-1497) đã quá tàn

tệ không còn đủ sức để khôi phục lại vị thế tập quyền của vương triều mình như trước đây nữa, trong thời buổi hỗn loạn đó triều đình vua Lê muốn tồn tại được phải nhờ cậy vào thế lực của chúa Trịnh; ngược lại, chúa Trịnh muốn tiêu diệt được các đối thủ của mình cũng phải dựa vào “cái bóng” của vua Lê… Hay nói một cách công bằng, cả hai tập đoàn phong kiến này đều phải cần đến nhau để tồn tại Vì thế chúa Trịnh không cướp ngôi của vua Lê

Trang 26

Bên cạnh đó, chúa Trịnh là người tinh thông thời cuộc lúc đó Trong bối cảnh từ XVI đến XVIII ở nước ta có 4 thế lực phong kiến tham gia tranh giành quyền lực (Lê, Trịnh, Mạc, Nguyễn), trong đó có ba thế lực cát cứ thành quốc gia riêng đó là: Bắc triều (Mạc), Nam triều (Lê - Trịnh), Đàng Trong (Nguyễn) Từ năm 1668 chỉ còn hai thế lực đó là chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong Thế nhưng theo quan điểm của phong kiến thời điểm đó dù có bốn, ba hoặc hai thế lực phong kiến cùng tồn tại thì chỉ có vua Lê là “chính danh” thực quyền và đã được “Thiên triều” (Trung Quốc) ban sắc phong Về mặt này, chúa Trịnh là người tinh thông thời cuộc nghe theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh

Khiêm “Giữ chùa thì ăn oản”; nếu cướp ngôi của vua Lê, chúa Trịnh sẽ bị

phạm hai điều cấm kỵ: Thứ nhất chúa Trịnh sẽ bị coi là “phản nghịch” (giặc),

dư luận trong nước sẽ phản đối Thứ hai bị “Thiên triều” của Trung Quốc trừng phạt Vì thế nên chúa Trịnh không những không cướp ngôi của vua Lê giống như Mạc Đăng Dung (1527) và cũng không “lộ mặt” chống đối nhà Lê như các tập đoàn phong kiến khác, lại càng không có mưu đồ cát cứ kiểu như tập đoàn phong kiến Nguyễn ở Đàng Trong; mà chúa Trịnh đã khôn khéo

“lựa thời” từng bước lấn át, tiến tới tiếm quyền của vua Lê, biến vua Lê thành

“cái bóng” và thực sự vua Lê đã bị biến thành “cái bóng” từ lúc nào không biết Tinh ranh hơn, chúa Trịnh còn biết dùng “cái bóng” của vua Lê để che đậy cho những toan tính riêng của mình và rất thành công

Trang 27

dòng họ, nhưng không bao giờ được phân lập hay chia sẻ Tất cả các quốc gia, các chính thể tuyên bố lấy Nho giáo làm học thuyết cai trị đều luôn luôn coi đó là một tín điều không thể thay đổi hay điều chỉnh.

Nhưng thực tế lịch sử Việt Nam ở các thế kỷ XVI – XVIII đã tồn tại một bộ máy quyền lực mà ở cấp cao nhất có hai nhánh, đó là loại thiết chế vừa có vua lại vừa có chúa Thiết chế nhà nước Lê - Trịnh là một loại hiện tượng lịch sử đặc thù, về nguyên tắc hàm chứa nhiều mâu thuẫn với những nguyên lý, lý thuyết về quyền lực của Nho giáo Nhưng chính thiết chế ấy lại vẫn tuyên bố rằng chính nó là sự hiện diện tuân theo đạo lý thánh hiền Điều này cũng chính là biểu hiện của sự sa sút của hệ tư tưởng Nho giáo ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng chính là một trong những căn nguyên của những mâu thuẫn, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền Lê - Trịnh

1.3.3 Xuất phát từ tương quan lực lượng giữa các phe phái phong kiến

Trong giai đọan lịch sử này, giữa tập đoàn họ Lê và tập đoàn họ Trịnh, giữa phong kiến Đàng Ngoài và phong kiến Đàng Trong có sự tương quan về lực lượng rõ ràng Do sự ảnh hưởng sâu sắc của nhà Lê tới xã hội phong kiến Đại Việt nhiều sĩ phu phong kiến và thần dân vẫn hướng về nhà Lê Nhưng nhà Lê lúc này ngày càng suy yếu để tồn tại được phải dựa vào thế lực nhà Trịnh Họ Trịnh là tập đoàn phong kiến mới trội lên và có thế lực nhất lúc bấy giờ Chúa Trịnh là một thế lực mới để khôi phục lại xã hội đang bị suy yếu bởi sự mục ruỗng của các vua cuối triều Lê, nhưng đồng thời họ Trịnh muốn cai trị phải dựa vào uy quyền của nhà Lê Đồng thời ở Đàng Trong, chúa Nguyễn cũng giương chiêu bài “phù Lê, diệt Trịnh” nên các chúa Trịnh muốn tập hợp các lực lượng ở Đàng Ngoài để chống lại chúa Nguyễn do đó không thể bỏ vua Lê

Trang 28

Chính trong những mối tương quan như vậy, bộ máy hành chính nhà nước Lê - Trịnh ra đời và tồn tại vừa nhằm mục đích thâu tóm quyền lực về tay chúa Trịnh vừa phải đối phó với các tập đoàn phong kiến khác nên bản thân thể chế hành chính đó đã luôn tồn tại những mẫu thuẫn và bất ổn với những cố gắng điều chỉnh mang tính gượng gạo, gò ép

Họ Trịnh không phải là một tập đoàn phong kiến tiến bộ nên không

có cơ sở xã hội vững chắc trong nhân dân, không được toàn dân ủng

hộ mà trái lại còn bị nhân dân nhiều lần nổi dậy bạo động, phản đối Trong lúc đó thì những dịch thủ của họ Trịnh vẫn tồn tại ở mặt phía Bắc, phía Nam và chờ cơ hội để phản công lại [19, tr.63]

Ở phía Bắc có hai đối thủ: Thứ nhất “Thiên triều” ở phương Bắc

(phong kiến Trung Quốc) luôn dình dập chỉ chờ cơ hội là hành binh dưới danh nghĩa “phù Lê, diệt Trịnh”, điều này các đời chúa Trịnh luôn canh cánh bên lòng không bao giờ quên Thứ hai, sau năm 1592 ở Cao Bằng vẫn còn tàn

dư nhà Mạc, lại được nhà Minh ủng hộ luôn là mối đe dọa đối với tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh Vì thế họ Trịnh không dám cướp ngôi nhà Lê làm thay đổi cả một triều đại

Phía Nam là tập đoàn phong kiến Nguyễn - kẻ thù không đội trời chung của họ Trịnh Sau cuộc tấn công không thành năm 1620, mối mâu thuẫn giữa hai tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài, Nguyễn ở Đàng trong ngày càng sâu sắc và đến lúc không thể điều hòa được nữa Tình trạnh này làm cho không khí chính trị ở nước ta hết sức căng thẳng Hai bên đã chuẩn bị lực lượng cho một cuộc chiến mới Đến năm 1627, cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn chính thức bùng nổ, kép dài hơn một nửa thế kỷ Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, nhưng cả thảy hai bên đã đánh nhau tới 7 lần lớn, lúc quân Trịnh đánh vào, lúc họ Nguyễn đánh ra Cuối cùng không phân thắng bại, hai bên đã lấy sông Gianh làm ranh giới chia đôi đất nước (1672)

Trang 29

Như vậy, qua đây cho thấy chính quyền của họ Nguyễn ở Đàng Trong (đối thủ số một của chúa Trịnh) rất mạnh, phát triển về mọi mặt từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội…đã làm cho chúa Trịnh ở Đàng Ngoài luôn phải cảnh giác phòng bị Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho họ Trịnh không thể cướp ngôi nhà Lê, dẫn tới sự tồn tại của thể chế chính trị vua Lê-chúa Trịnh trong một thời gian rất dài từ 1599 đến 1786

Tóm lại sự tồn tại một thể chế của hai dòng họ là kết quả trực tiếp của hoàn cảnh lịch sử, trong đó nhân tố hệ tư tưởng xã hội giữ vai trò quan trọng Đây là một trong những nét độc đáo của thời Lê - Trịnh không chỉ về mặt tổ chức quyền lực mà còn thể hiện ở mối quan hệ giữa hai dòng họ đứng đầu nhà nước

Tiểu kết chương 1

Đầu thế kỷ XVI, các Hoàng đế Lê sơ mất dần thực quyền, bắt đầu phải nhờ đến các thế lực võ quan để duy trì địa vị thống trị của mình Không lâu sau đó, Mạc Đăng Dung đã lật đổ nhà Lê, lập ra triều Mạc (1527)

Sau khi nhà Lê bị họ Mạc cướp ngôi, phất ngọn cờ “phù Lê, diệt Mạc”, Nguyễn Kim đứng ra tập hợp lực dựng Lê Duy Ninh lên ngôi Hoàng Đế (1533), mở ra thời kỳ trung hưng của triều Lê (1543) Sau cái chết đột ngột của Nguyễn Kim (1545), mọi binh quyền được trao vào tay con rể là Trịnh Kiểm Nhờ tài năng của Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, quân nhà Lê dần dần thắng thế và đến năm 1688 nhà Mạc bị tiêu diệt hoàn toàn

Đánh bại nhà Mạc, quyền hành họ Trịnh trên thực tế đã lấn át triều Lê Với quyền lực như vậy, các chúa Trịnh có thừa khả năng để phế truất nhà Lê, lập ra triều đại riêng của mình Tuy nhiên, họ đã không đi vào vết xe đổ của

họ Mạc Các chúa Trịnh hiểu rằng thành công của sự nghiệp trung hưng phần lớn là dựa trên ảnh hưởng và uy tín của nhà Lê, trong điều kiện mới, ngọn cờ

Trang 30

chính trị “tôn phù Lê thất” vẫn nguyên giá trị Nhận thức đƣợc tình thế đó, các chúa Trịnh đã áp dụng một định chế mà ở đó ngôi vị của vua Lê vẫn đƣợc bảo tồn, đồng thời họ Trịnh vẫn duy trì đƣợc địa vị thống trị của mình và đảm bảo thực thi quyền lực Đó là mô hình đặc biệt trong lịch sử phong kiến Việt Nam

- mô hình “lƣỡng đầu” vua Lê - chúa Trịnh

Trang 31

Chương 2

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH

“LƯỠNG ĐẦU CHẾ” THỜI LÊ TRỊNH (1599-1786)

2.1 SỰ PHÂN ĐỊNH QUYỀN HẠN GIỮA HAI NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU NHÀ NƯỚC

2.1.1 Quyền hạn của triều đình nhà Lê

Trong con mắt của bá quan và dân chúng, vua Lê vẫn là “thiên tử”, người có quyền năng tối thượng, đại diện hợp pháp duy nhất của quốc gia Chính vì thế, các vua Lê vẫn luôn được đề cao

Về mặt quốc tế, vua Lê được nhà Thanh (Trung Quốc) công nhận làm

An Nam quốc vương, còn chúa Trịnh làm An Nam phó quốc vương

Về mặt hình thức, vua Lê có những đặc quyền không ai có được Chỉ

có vua quần thần Pháp luật nhà Lê nghiêm cấm tất cả các quan lại và dân chúng không được sử dụng sắc phục của nhà vua Trong mọi điển lễ quốc gia, những nghi thức cử hành đối với Hoàng đế luôn là trang trọng nhất Tất cả biểu thị sự trang nghiêm trước quyền uy của đấng trị vì muôn dân

Về mặt pháp lý, chỉ có vua Lê mới được coi là vị vua độc tôn duy nhất trên toàn cõi Đại Việt và chỉ có vua Lê mới có niên hiệu, còn Trịnh vương chỉ

là bầy tôi nhưng là bầy tôi vượt trên tất cả các bầy tôi khác Quyền lực của chúa tuy được coi là phát sinh từ đế quyền của vua song thực tế lại lấn át hết

cả quyền của vua, bao trùm lên hầu hết mọi lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp, tài chính thuế khoá, quân sự…

Về phương diện lập pháp, không chỉ vua Lê mà cả chúa Trịnh cũng có quyền lập pháp Triều đình vua Lê có vai trò chức năng của một Hội đồng Nhà nước mở rộng Một tháng hai ngày kỳ (ngày sóc - mồng một và ngày vọng - rằm âm lịch) và những dịp đại lễ vua Lê họp triều ở điện Thị Triều trong Cung thành, triệu tập đông đảo các quan đến dự, nghi thức rất long

Trang 32

trọng Chúa Trịnh ngồi bên tả, ngang hàng cạnh vua Lê, nhưng bệ ngồi thấp hơn một chút Vua Lê ngự trên ngai vàng, nghe tấu sớ, ban thưởng phạt, sai công bố những chiếu dụ nêu lên những đường hướng chính trong công việc trị nước

Trên danh nghĩa vua ban hành các văn bản có tính chất chung chung, còn chúa ban hành các văn bản mang tính tính ứng dụng nêu rõ những trường hợp, đối tượng và công việc áp dụng Tuy nhiên sự phân định này cũng không

rõ ràng, trên thực tế hầu hết các dụ, sắc dụ, hay chỉ, chiếu do vua ban hành đều do phủ chúa chuẩn bị và đưa sang; hoặc những việc xét bên điện vua đều phải chuyển sang phủ chúa để chúa cùng xét Chúa Trịnh cũng rất ít sang chầu vua, có khi một tháng không chầu được một lần, nên vua Lê uỷ các quan triều sang phủ chúa để trình chúa những việc đã xét bên điện vua, và để chúa cùng quyết định

Trong lĩnh vực hành pháp, vua Lê nắm quyền tuyển bổ, thăng, giáng, ban phẩm hàm cho các chức quan từ tam phẩm trở lên; những chức từ tứ phẩm trở xuống do chúa định đoạt Về nghi thức, nhà vua là người ra sắc dụ hay chiếu chỉ phê chuẩn tất cả các quyết định, kể cả quyết định của chúa Trịnh Nhưng trong thực tế, với chức Tổng quốc chính do vua Lê phong, chúa Trịnh tự mình tuyển bổ, thăng giáng, ra lệnh cho các quan mà không thông qua nhà vua Ngay cả với các chức quan cao cấp thuộc quyền tuyển bổ, thăng giáng của nhà vua cũng không nằm ngoài vòng cương toả của chúa Trịnh Như vậy có thể thấy việc bổ nhiệm hai chức quan Thượng thư này (thuộc quyền của vua) vào hai Bộ có chức năng và quyền hạn lớn nhất chịu ảnh hưởng khá lớn từ phủ chúa Có thể thấy, trong lĩnh vực hành pháp trên danh nghĩa vua có quyền lớn hơn chúa nhưng trên thực tế chúa lại là người nắm thực quyền Có thể thấy, nhà Lê từ Trung hưng về sau, vua mất đi, thường

Trang 33

theo ý chúa muốn lập ai thì lập, con đích hay con thứ, ít tuổi hay nhiều tuổi, không cần gì cả… Quyền ở trong tay, không ai dám nói gì

Về mặt tư pháp, các vụ án đã được xét xử ở địa phương nhưng còn chống án thì Ngự sử đài của triều đình xét phúc thẩm Nếu đương sự còn thấy oan ức thì có thể kêu sang phủ chúa - là cấp chung thẩm Mặc dù mất quyền

là vị quan tòa tối cao trong các cấp xét xử, nhưng vua Lê vẫn là vị thẩm phán cao nhất về phương diện biểu kiến Như vậy, về tư pháp, chúa Trịnh mới thực

sự có quyền tài phán cao nhất, vua Lê chỉ có chức năng ban bố lệnh đại xá, đặc xá, giảm miễn tội cho các phạm nhân

Trong lĩnh vực quân sự, với chức Đại nguyên soái, chúa Trịnh được vua Lê chính thức công nhận là người đứng đầu quân đội, là tổng chỉ huy quân đội, nắm toàn quyền về việc điều động tướng sĩ, ấn định chính sách quốc phòng Hầu hết những mệnh lệnh liên quan đến công việc quốc phòng do Chỉ

dụ của chúa ban hành Chẳng hạn như Chỉ dụ nuôi nấng quân sĩ ban hành năm 1662, chỉ dụ về việc thải lính ban hành năm 1666 Từ năm 1721, chúa Trịnh đặt chế độ thi võ Ba năm một lần thi sơ cử ở trấn và một lần thi bác cử

ở kinh thành Còn vua Lê chỉ giữ vai trò là người chủ toạ thêm phần trang trọng cho các lễ ban chiếu xuất chinh hay lễ ban chiếu chỉ phong chức khi có chinh phạt hoặc bổ nhiệm những chức vụ cao cấp trong quân đội

Về tài chính - thuế khoá, chúa Trịnh ngày càng nắm trọn quyền về tài chính, thuế khoá, vua Lê không còn chút quyền gì về phương diện này Ở thời

kỳ đầu chúa Trịnh đặt ra Hộ phiên để trông coi việc thu thuế trong cả nước và chi tiêu của Phủ liêu Lúc đó chúa đã tự thực hiện quyền ban hành những văn bản về thuế khoá, tài chính như chỉ dụ về lệ thu thuế ruộng công ban hành năm 1684 chỉ dụ về cấm đúc trộm tiền năm 1679 Ấn định các loại thuế khác nhau như thuế chợ, thuế đò, thuế sắt Tuy nhiên lúc này tiền thu thuế được

Trang 34

chuyển sang bộ Hộ và sự chi tiêu của Phủ liêu chịu sự kiểm soát của triều đình

Từ năm 1718 trở đi Phủ liêu không chỉ nắm trọn quyền thu thuế mà còn

ấn định mọi việc chi tiêu và chính sách tài chính của quốc gia Thậm chí chi tiêu của triều đình còn bị Phủ liêu kiểm soát Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục có viết:

Về phần vua Lê, thì chế độ bổng lộc chỉ để một ngàn xã làm lộc

thượng tiến (bổng lộc dâng lên vua); quân lính túc vệ và hộ vệ thì trong nội điện có 5.000 lính, 7 thớt voi, và 20 chiếc thuyền rồng Nhà vua chỉ chỉnh chện mặc áo long bào, cầm hốt ngọc nhận lễ triều yết mà thôi [15, tr.222]

Qua đây ta có thể thấy phạm vi quyền hạn của vua bị thu hẹp lại đến mức nào Không còn là người đứng đầu thiên hạ với uy quyền tối cao, dưới gầm trời này đâu cũng là đất của vua, ai ai cũng là thần dân của vua; vậy mà thực tế chỉ nắm trong tay có 1000 xã Vương quyền của chúa đã lấn át hết cả

đế quyền của vua

Tuy nhiên chúa Trịnh vẫn để vua nắm một số quyền mang nặng tính nghi lễ và không ảnh hưởng đến thực quyền của chúa như:

Về ngoại giao, chỉ vua Lê mới có quyền tiếp sứ giả nước ngoài và đứng tên trong các văn thư ngoại giao Và thực tế quyền hạn của vua cũng chỉ bó gọn trong mấy công việc mang tính nghi lễ, hình thức như vậy Do triều đình

Lê - Trịnh luôn thuần phục các triều đại phong kiến Trung Hoa, giữ quan hệ hoà hiếu Vì thế các Hoàng đế Trung Hoa tấn phong cho vua Lê là An Nam quốc vương Bởi vậy chỉ có vua Lê mới có quyền tiếp sứ giả nước ngoài và đứng tên trong các văn thư ngoại giao nhưng đó chỉ là các công việc mang tính nghi lễ và hình thức mà thôi Trên thực tế chúa Trịnh mới là người nắm

Trang 35

toàn quyền định đoạt các chính sách ngoại giao và cử sứ giả của nhà vua đi nước ngoài

Trong lĩnh vực thần quyền, Vua Lê vẫn được coi là người đứng đầu bách thần trong cả nước, có toàn quyền phong sắc cho thánh thần điều động thánh thần (quy định nơi thờ cúng cho thánh thần) Nhà vua là người duy nhất được quyền làm chủ lễ tế Nam giao - lễ tế trời đất Tuy nhiên sau khi một vị thần nào đó đã được vua phong sắc và chỉ - và cho phép xã nào thờ phụng thì phủ chúa có quyền ban lệnh dụ phát tiền cho xã đó và ra lệnh cho các quan địa phương kiểm soát xem dân xã đó thờ phụng theo đúng thể lệ của triều đình hay không

Như vậy về phương diện thần quyền chúa Trịnh đã không can thiệp nhiều vào vai trò của vua Lê bởi lẽ đây là lĩnh vực nhạy cảm trong đời sống tâm linh của quốc gia và trong lĩnh vực này cũng không làm suy giảm thế quyền của chúa Tuy nhiên, cả vua và chúa đều lập miếu thờ tổ tông, trước đó chỉ là độc quyền của nhà vua nhưng các lễ tế trong một năm ở cung miếu của chúa lễ vật to gấp đôi so với lễ thái miếu của vua, nghi thức làm lễ thì đại khái giống nhau chỉ khác chỗ vua thì nói "tấu" còn chúa thì nói "khải" Có thể thấy, danh phận vua và chúa không khác xa bao nhiêu, trong việc tế lễ này vua còn không được độc tôn cho thấy chủ quyền ngày một kém

Có thể thấy, nhà vua kế thừa sự nghiệp của tổ tông, bước lên ngôi báu

để tiếp giữ gìn tông miếu, xã tắc, phát huy đức độ, thừa hưởng và bảo tồn uy phúc của tổ tiên Còn việc trị nước an dân, nhà vua hoàn toàn nhờ cậy Trịnh vương giúp đỡ, trông coi Thiết chế lưỡng đầu được đặc trưng bởi tính nhị nguyên trong phân chia ngôi vị vua - chúa và bản chất quyền lực của hai cương vị đó Trong cơ chế này, vua là một biểu tượng quan trọng nhưng chỉ

có hư quyền; còn chúa ở địa vị thứ yếu nhưng lại nắm thực quyền lực cai trị đất nước Tất cả được phản ánh trong câu nói ngắn gọn nhưng súc tích thường

Trang 36

được người đương thời nhắc đến: “Hoàng gia giữ uy phúc, Vương phủ nắm

quyền bính”

2.1.2 Quyền của chúa Trịnh

Trên danh nghĩa pháp lý, chỉ có Lê đế mới được coi là vị vua độc tôn duy nhất trên toàn cõi Đại Việt và chỉ có vua Lê mới có niên hiệu, còn Trịnh Vương vẫn chỉ là bầy tôi của nhà vua nhưng là một bầy tôi đặc biệt, vượt lên trên tất cả các bầy tôi khác; chúa Trịnh chỉ là thần tử của vua Lê, thay nhà vua

trông coi bá quan và bách tính

Về danh nghĩa, quyền lực nhà nước là của vua Lê, còn quyền của chúa Trịnh là quyền phát sinh bắt nguồn từ đế quyền của nhà vua Theo thông lệ trước đây của nhà Lê, thường chỉ có con cháu của nhà vua mới được phong tước vương, nhưng ở thời Trung hưng, cụ thể là từ đời Lê Thế Tông và Trịnh Tùng trở đi, vua phải phong vương cho chúa Để tăng uy quyền và danh vị của mình, các chúa Trịnh đều buộc các vua Lê phải tổ chức nghi lễ phong vương cho mình một cách trọng thể, nhưng Trịnh vương không phải là vua,

“vương” chỉ là tước, một tước vị cao nhất Vì thế, trong một số nghi thức nhất định, chúa Trịnh không được phép vượt quá giới hạn trên Chẳng hạn, trong lễ phục của các chúa Trịnh chỉ được mặc tử bào, đồng sắc với triều phục của các quan tước công và Thượng thư Lục bộ Tuy nhiên khi họp riêng với các quan tại phủ đường, chỉ có chúa mới được mặc tử bào và đội mũ xung thiên, còn các quan không kể tước phẩm đều chỉ được mặc y phục màu lam, nhằm phân biệt và làm nổi bật địa vị bá chủ của nhà chúa Các nghi lễ với nhà chúa cũng được giản tiện hơn nhưng vẫn thể hiện rõ tính quân cách, biểu dương sự uy dũng của vị Đại nguyên soái đứng đầu quân đội toàn quốc Tuy vậy, trong thực tế, chúa Trịnh có một phạm vi quyền lực rất rộng lớn

Về phương diện lập pháp, chúa cũng có quyền ban hành những văn bản

có tính pháp quy dưới dạng các lệnh hay lệnh dụ (nếu có tính chất ngăn cấm,

Trang 37

khuyên răn) hoặc chỉ hay chỉ truyền (để ban bố những thể lệ, luật lệnh) Các văn bản pháp luật do chúa ban hành có tính ứng dụng cao, là sự cụ thể hóa các chiếu, sắc dụ của nhà vua trong đời sống thực tiễn Nhà vua hay triều đình cũng không có sự can thiệp hay kiểm soát nào đối với các văn bản lập pháp

do chúa ban hành Mỗi khi cho ban hành những lệnh dụ hay chỉ truyền mới, nhà chúa cũng cho tổ chức tại phủ đường nhưng với nghi thức ít trọng thể hơn

so với khi ban chiếu hay dụ bên triều đình

Về phương diện tư pháp, chúa Trịnh đã hoàn toàn thay thế vua Lê trong vai trò vị thẩm phán tối cao của mọi vụ án Theo thông lệ tổ chức tư pháp thời Trung hưng, chúa Trịnh là vị quan tòa cao nhất, có quyền chung thẩm các vụ

án, quyết định các hình thức xử phạt hoặc miễn giảm, ân xá cho các phạm nhân, dù rằng, để cho hợp thức phải thông qua các sắc, chiếu của vua Lê Chúa Trịnh cũng là người đứng đầu nền hành chính quốc gia Với chức Tổng quốc chính do vua Lê phong, chúa Trịnh có toàn quyền trong việc tuyển

bổ, thăng giáng, bãi miễn các chức quan và ban hành lệnh dụ, chỉ truyền đối với các quan ngoại nhiệm, quan hàm từ tam phẩm trở xuống, mà trên thực tế

họ mới chính là những người thực sự điều hành nền nội chính Chúa Trịnh cũng có quyền ban hành những mệnh lệnh có tính lập quy, những quyết định hành chính liên quan đến việc điều động mọi chức quan lại trong ngoài Với chức Đại nguyên soái, chúa Trịnh cũng chính là vị tổng chỉ huy quân đội cả nước, toàn quyền điều động, tuyển bổ binh lính, thăng giáng tướng lĩnh, quyết định những chính sách quốc phòng và nắm quyền cao nhất về việc đảm bảo

an ninh quốc gia Chúa Trịnh còn là người kiểm soát toàn bộ nền kinh tế, tài chính trong nước

Trên phương diện bang giao, chúa Trịnh nắm thực quyền trong việc quyết định đường lối ngoại giao, đón tiếp các sứ thần ngoại quốc và cử người

đi sứ nước ngoài

Trang 38

Nhìn chung lại, chúa Trịnh nắm hầu hết quyền hành cai trị đất nước, còn vua Lê chỉ tồn tại trên danh nghĩa, rất ít quyền lực Địa vị, chức tước và quyền lực của chúa được cha truyền con nối, cũng như sự thế tập ngôi báu hư

vị của vua Điều đó trở thành tập quán chính trị bền vững của cơ chế lưỡng đầu Lê - Trịnh và chi phối toàn bộ cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, mối quan hệ của các cơ quan phụ tá cho vua ở triều đình và phụ tá cho chúa ở Phủ liêu Nhà Lê từ thời Trung hưng về sau, chúa Trịnh chuyên giữ chính sự, quyền hành về hết phủ chúa, nhà vua chỉ mang hư danh ở trên, gọi là còn phận vị chỉ

có khác ở màu áo mặc và nghi vệ mà thôi

2.2 SỰ PHÂN ĐỊNH VỀ QUYỀN HẠN GIỮA HAI CƠ QUAN GIÚP VIỆC CHO HAI NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU NHÀ NƯỚC

2.2.1 Tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính trung ương

Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy hành chính trung ương thời Lê - Trịnh

Triều đình được chia làm hai ban: Văn ban (đứng đầu là Quốc sư hay Chính đường) và Võ ban (đứng đầu là Tiết chế, thường do Thế tử đảm nhận,

Lục khoa

Ngũ phủ

Phủ liêu

Lục phiên

CHÚA

PHỦ ĐƯỜNG VUA

TRIỀU ĐÌNH

Trang 39

hoặc Đại tư đồ, thường giao cho hoàng tử) Thông thường, các chức quan cao cấp này đã do các quan đứng đầu bên phủ chúa kiêm nhiệm

Về hình thức, triều đình vua Lê vẫn được tổ chức theo mô hình thời Lê

sơ bao gồm các quan đại thần, Lục Bộ, Lục Khoa, Lục Tự và các cơ quan khác Các cơ quan này, về cơ bản, vẫn có cơ cấu tổ chức và chức năng như trước đây nhưng quyền hạn ngày càng bị hạn chế bởi các cơ quan bên phủ chúa

Chỉ với danh nghĩa thần tử chúa Trịnh đã thâu tóm mọi quyền hành của vua Lê Song, để đảm bảo địa vị của mình, chúa Trịnh còn lập ra Phủ đường (Phủ liêu) trong thế đối sánh với Triều đình nhà Lê Nếu Triều đình có các văn thư phòng giúp việc Hoàng đế, có Lục bộ để điều hành các việc chuyên môn; thì Phủ chúa cũng lập ra các văn phòng riêng, có Lục phiên để quản lý mọi hoạt động của đất nước Tuy cùng thực hiện chung một nhiệm vụ, nhưng các cơ quan bên cung vua và bên phủ chúa lại không hề có sự chống chéo, dẫm chân lên nhau; mà ngược lại chúng luôn có sự phân công rõ ràng, phối hợp nhịp nhàng khi triển khai công việc

2.2.1.1 Triều đình và Phủ đường

Triều đình (hay triều đường) là nơi dự bàn quốc sự của đại thần văn võ

bá quan Chính vì thế, cách bài trí cũng như những nghi thức cử hành nơi triều đường luôn trang trọng, thể hiện vẻ tôn nghiêm và quyền uy của Hoàng

đế Trong những ngày thiết triều, từ chúa Trịnh, các quan văn võ từ nhất phẩm đến cửu phẩm và những người được phong tước công, hầu, bá, tử… đều

tề tựu đông đủ Nếu ai vắng mặt, Lại Khoa có trách nhiệm ghi tên và làm tờ khai lên chúa để phạt tiền theo thứ bậc Tuy nhiên, dưới thời Trung hưng vai trò họp bàn chính sự của triều Lê không còn Đây trở thành nơi hội tụ của quần thần chủ yếu để thăm viếng, chúc tụng vua Lê theo nghi lễ định kỳ hàng tháng vào các ngày sóc (mồng một), vọng (ngày rằm) hoặc những ngày đại lễ

Trang 40

khánh hạ hay khi vua ban hành các sắc dụ, chiếu chỉ Hoạt động thường nhật

của triều đình do Lục bộ tiến hành cũng không còn như trước

Phủ đường là nơi chúa Trịnh tụ họp các đại thần để luận bàn những việc quân quốc trọng sự và điều hành toàn bộ hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Dưới thời Trung hưng, các chúa Trịnh trực tiếp nắm quyền điều động Ngũ phủ quân, thường xuyên hội họp các tướng sĩ và các đại thần

để bàn việc quân cơ nên nơi ấy thường được gọi là Phủ đường Saukhi lên ngôi chúa, Trịnh Tùng đặt chức Tham tụng và Bồi tụng đứng đầu hàng văn bên Phủ đường, gọi là quan Phủ liêu; còn đứng đầu hàng võ (tức đứng đầu Ngũ phủ quân) là chức Chưởng phủ, Thự phủ và Quyền phủ, gọi là quan Ngũ phủ; hợp nhất các chức Tham tụng, Bồi tụng, Chưởng phủ, Thự phủ và Quyền phủ gọi là quan Ngũ phủ Phủ liêu

Tuy cách bài trí và các nghi lễ cử hành nơi Phủ chúa không trang nghiêm và phức tạp như bên Triều đình nhưng đây thực sự là nơi họp bàn chính sự dưới thời Trung hưng Theo quy định, các quan văn võ đại thần phải đến hầu chúa đều đặn vào chín ngày trong tháng là mồng hai, mồng năm, mồng tám, mười một, mười bốn, hai mươi hai, hai mươi ba, hai mươi sáu và hai mươi chín để bàn định việc công Phủ đường trở thành nơi chúa ngự điện thính chính, chủ tọa mọi cuộc luận bàn quốc sự Ngoài ra, vào những ngày đại

lễ, như lễ phong Vương cho chúa, phong Tiết chế cho Thế tử, lễ sinh nhật của chúa… các quan cũng phải có mặt đông đủ để chúc mừng Trong những buổi

mở Phủ đường, những người dự họp gồm quan Ngũ phủ Phủ liêu và các quan viên khác có mặt tại kinh đô Khi có việc khó hoặc hệ trọng cần giải quyết, chúa thường ban lệnh dự họp chính phủ tại Nghị sự đường để bàn định Trong buổi họp này, chúa không dự mà thành phần chỉ có các quan chính phủ, gồm: Tham tụng, Bồi tụng và sáu viên Tri phiên Thể thức họp như vậy được gọi là đình nghị

Ngày đăng: 04/11/2016, 11:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1956), Lịch sử việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (quyển thượng), Chuyên san Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (quyển thượng)
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1956
2. Đào Duy Anh (1956), Lịch sử việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (quyển hạ), Chuyên san Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (quyển hạ)
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1956
3. Đào Duy Anh (1995), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1995
12. Bùi Xuân Đính (2005), Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 2005
13. Học viện hành chính quốc gia, Giáo trình lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam (2007), Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam (2007)
Tác giả: Học viện hành chính quốc gia, Giáo trình lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 2007
14. Phạm Xuân Huyên (1996), Sự nghiệp các chúa Trịnh trong lịch sử Đại Việt, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp các chúa Trịnh trong lịch sử Đại Việt
Tác giả: Phạm Xuân Huyên
Năm: 1996
16. Trần Trọng Kim (1951), Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt, Hà Nội 17. Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (2001), Đại cương lịch sử Việt Nam, NxbGiáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lược," Nxb Tân Việt, Hà Nội 17. Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (2001), "Đại cương lịch sử Việt Nam
Tác giả: Trần Trọng Kim (1951), Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt, Hà Nội 17. Đinh Xuân Lâm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tân Việt
Năm: 2001
18. Phan Huy Lê (2012), Lịch sử Việt Nam (tập II), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam (tập II)
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
20. Lê Kim Ngân (1973), Chế độ chính trị Việt Nam (thế kỷ XVII – XVIII), Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ chính trị Việt Nam (thế kỷ XVII – XVIII)
Tác giả: Lê Kim Ngân
Năm: 1973
21. Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên) (2000), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình lịch sử Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
22. Ngô gia văn phái (1978), Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Lê nhất thống chí
Tác giả: Ngô gia văn phái
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1978
23. Trường Đại học luật Hà Nội (2009), Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2009
25. Viện sử học (1998), Lê triều hình luật, Nxb văn hóa thông tin, Hà Nội. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê triều hình luật
Tác giả: Viện sử học
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 1998
26. Antoshchenko Vladimir (1998), Dòng họ các chúa Trịnh ở Việt Nam(thế kỷ XVI – XVIII), Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng họ các chúa Trịnh ở Việt Nam(thế kỷ XVI – XVIII)
Tác giả: Antoshchenko Vladimir
Năm: 1998
27. Alecxander de Rhodes (1994), Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Ủy ban đoàn kết Công giáo Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài
Tác giả: Alecxander de Rhodes
Năm: 1994
28. Dampier W (1931), Voyages and Discoveries (1688), London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Voyages and Discoveries (1688)
Tác giả: Dampier W
Năm: 1931
15. Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (tập II) (1998), Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
19. Phan Huy Lê (1960), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam (tập III), Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy hành chính trung ương thời Lê - Trịnh - Mô hình lưỡng đầu chế thời lê   trịnh (1599   1786)
Sơ đồ 1 Tổ chức bộ máy hành chính trung ương thời Lê - Trịnh (Trang 38)
Sơ đồ 2: Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương thời Lê - Trịnh - Mô hình lưỡng đầu chế thời lê   trịnh (1599   1786)
Sơ đồ 2 Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương thời Lê - Trịnh (Trang 47)
Hình ảnh 1: Phủ chúa Trịnh - Mô hình lưỡng đầu chế thời lê   trịnh (1599   1786)
nh ảnh 1: Phủ chúa Trịnh (Trang 78)
Hình ảnh 2: Cung vua Lê - Mô hình lưỡng đầu chế thời lê   trịnh (1599   1786)
nh ảnh 2: Cung vua Lê (Trang 79)
Hình ảnh 3:  Chúa Trịnh Sâm uống trà với Đặng Thị Huệ ở Tả Vọng Đình  (Hồ Gươm) - Mô hình lưỡng đầu chế thời lê   trịnh (1599   1786)
nh ảnh 3: Chúa Trịnh Sâm uống trà với Đặng Thị Huệ ở Tả Vọng Đình (Hồ Gươm) (Trang 80)
Hình ảnh 4:  Cảnh rước vua Lê và chúa Trịnh (tranh do các họa sỹ Tây vẽ) - Mô hình lưỡng đầu chế thời lê   trịnh (1599   1786)
nh ảnh 4: Cảnh rước vua Lê và chúa Trịnh (tranh do các họa sỹ Tây vẽ) (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w