Khoảng mươi lăm năm trở lại đây, trong khoa học xã hội ở ta, tuy chưa xuất hiện những công trình nghiên cứu ghi dấu những bước đột phá, nhưng nhiều vấn đề phong phú, phức tạp mà cả một thời gian dài bị né tránh hoặc được giải quyết một cách chiếu lệ đã được đặt lại một cách nghiêm túc, khách quan hơn, nhiều vấn đề mới cũng đã được đặt ra để suy nghĩ. Giữa những vấn đề thuộc lịch sử Việt Nam được nêu ra hoặc được đặt lại ấy, có việc xem xét, đánh giá lại vai trò của một số vương triều hay thế lực chính trị như nhà Triệu, nhà Hồ, nhà Mạc, nhà Nguyễn, các dòng chúa Trịnh, chúa Nguyễn…Riêng chủ đề “Chúa Trịnh vị trí và vai trò lịch sử” cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, với một mốc cụ thể là cuộc Hội thảo khoa học do Tạp chí Nghiên cứu lịch sử Viện Sử học Việt Nam và Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá phối hợp tổ chức năm 1995.Trong kỷ yếu của cuộc Hội thảo này, có tới trên dưới chục bản báo cáo trực tiếp hay gián tiếp đề cập tới vấn đề “cơ cấu chính quyền “kép” Lê Trịnh”. Dù sao, với những gì đã được công bố, chưa thể coi là vấn đề đã được triển khai đúng với tầm quan trọng của nó. Bài viết này lựa chọn chính vấn đề mà tác giả cho rằng còn cần được bàn tiếp, bàn thêm, sâu và kỹ hơn nữa ấy.
Trang 1LƯỠNG ĐẦU CHẾ THỜI LÊ TRỊNH VÀ NHỮNG HỆ QUẢ LỊCH SỬ
Mọi cơ chế quyền lực ở bất cứ thời đại và dân tộc nào một khi đạt tới trạng thái định hình của một quá trình vận động đều hoặc tự lý thuyết hoá bản thân nó, hoặc đều xác định sự tòng thuộc của nó đối với một (hay một vài) lý thuyết ý thức hệ đã và đang lưu hành trong vùng văn hoá mà cộng đồng cư dân đó hiện diện
Cho đến thời điểm hiện nay, người nghiên cứu nghiêm túc nếu muốn đề cập tới những đặc điểm loại hình của các thực thể quyền lực đã từng tồn tại trong lịch sử Việt Nam vẫn phải tự bằng lòng với điểm vươn tới xa nhất là vương triều do Triệu Đà lập nên Và cần nói ngay rằng,
đó là một thiết chế quyền lực mang nhiều đặc điểm tương đồng loại hình với những thiết chế quyền lực hiện hữu ở ngoại vi (périphérique), những thiết chế chịu ảnh hưởng mà cũng là phản hưởng đối trọng trong mối quan hệ với cả lý thuyết lẫn thực tế quyền lực trên đất Hoa Hạ Trung Quốc
Khảo sát lịch sử Việt Nam trong khung khổ từ thời điểm phục hồi chủ quyền và độc lập (938) cho tới tận khi thực dân Pháp áp đặt được sự “bảo hộ” lên Đông Dương (1884), hầu như mọi nhà nghiên cứu đều có thể dễ dàng thừa nhận rằng những đặc điểm mang tính loại hình của các triều đại ở Việt Nam càng về sau càng đậm tính chất Nho giáo hoá , nói khác đi, những đặc điểm loại hình nhà nước kiểu Nho giáo là những đặc điểm chủ đạo và xuyên suốt trong toàn bộ quá trình hơn chín thế kỷ tồn tại của các thiết chế quyền lực thực tế trên xứ sở này
Tuy nhiên, từ phía khác, lại cần nhận ra và khẳng định một thực tế phức tạp: Cực kỳ hiếm
có những thiết chế quyền lực thực tế lại chỉ là sản phẩm của một lý luận quyền lực nào đó, dù thứ lý luận ấy có tự khẳng định là hoàn thiện đến đâu chăng nữa Hơn thế, trong toàn bộ lịch sử tồn tại của chúng, các thiết chế quyền lực đều luôn luôn có xu hướng tự điều tiết để thích nghi với hoàn cảnh cụ thể bằng cách bổ sung vào khung khổ lý thuyết của chúng những nguyên lý và xác tín của một hay những lý luận về quyền lực khác, hoặc bằng cách tự đề xuất những khái quát hoá mới Việc bổ sung như thế thậm chí là điều kiện sống còn của các thiết chế quyền lực hiện thực
Khoảng mươi lăm năm trở lại đây, trong khoa học xã hội ở ta, tuy chưa xuất hiện những công trình nghiên cứu ghi dấu những bước đột phá, nhưng nhiều vấn đề phong phú, phức tạp mà
cả một thời gian dài bị né tránh hoặc được giải quyết một cách chiếu lệ đã được đặt lại một cách nghiêm túc, khách quan hơn, nhiều vấn đề mới cũng đã được đặt ra để suy nghĩ Giữa những vấn
đề thuộc lịch sử Việt Nam được nêu ra hoặc được đặt lại ấy, có việc xem xét, đánh giá lại vai trò của một số vương triều hay thế lực chính trị như nhà Triệu, nhà Hồ, nhà Mạc, nhà Nguyễn, các
dòng chúa Trịnh, chúa Nguyễn…Riêng chủ đề “Chúa Trịnh vị trí và vai trò lịch sử” cũng đã thu
hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, với một mốc cụ thể là cuộc Hội thảo khoa học do Tạp chí Nghiên cứu lịch sử - Viện Sử học Việt Nam và Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá phối hợp tổ chức năm 1995.Trong kỷ yếu của cuộc Hội thảo này, có tới trên dưới chục bản báo cáo trực tiếp hay gián tiếp đề cập tới vấn đề “cơ cấu chính quyền “kép” Lê - Trịnh”.Dù sao, với những gì đã được công bố, chưa thể coi là vấn đề đã được triển khai đúng với tầm quan trọng của nó Bài viết này lựa chọn chính vấn đề mà tác giả cho rằng còn cần được bàn tiếp, bàn thêm, sâu và kỹ hơn nữa ấy
Trang 2I.- QUÁ TRÌNH XUẤT HIỆN VÀ DUY TRÌ CƠ CHẾ LƯỠNG ĐẦU VỀ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM CÁC THẾ KỶ XVI – XVIII.
Lịch sử chính trị thế giới trên những nét đại thể có thể được khái quát thành hai xu thế cơ bản là xu thế tập quyền và xu thế tản quyền Trong bất cứ nền chính trị hiện thực nào cũng chứa chất vô số những biểu hiện cụ thể của cuộc đấu tranh giữa hai xu thế cơ bản ấy và mọi thiết chế chính trị đều là kết quả hiện thực mang tính cụ thể - lịch sử của cuộc đấu tranh, chuyển hoá và tác động qua lại phức tạp của hai xu thế này Khi xu thế tản quyền bị khống chế tối thiểu hoá thì mọi quyền cơ bản của con người cá nhân, nhất là quyền cơ bản của mọi cá nhân thuộc tầng lớp
bị cai trị, bị quản lý, bị lãnh đạo sẽ không được bảo đảm, ngược lại, khi xu thế tập quyền tỏ ra yếu đuối hoặc chưa tới ngưỡng, thì không thể xuất hiện những chính quyền mạnh, nhà nước mạnh, cộng đồng mạnh Không thể có những cộng đồng mạnh mẽ đích thực nếu đó là tập hợp của những cá nhân, cá thể yếu đuối, cũng không có những cá nhân hạnh phúc đích thực và “phát triển bền vững” nếu những cá nhân đó không được bảo trợ bởi những đại diện cộng đồng đầy đủ sức mạnh Tuy nhiên trong lịch sử hiện thực, những tương tác giữa cá nhân và cộng đồng bao giờ cũng được thể hiện ra bằng những mâu thuẫn biện chứng hết sức phức tạp, ở đó, những chu kỳ lịch sử thường xuyên được thể hiện ra như là chu kỳ của những sự thay thế lẫn nhau của những
xu thế đó, dẫn tới những thành tựu thực tế cuối cùng là chúng làm tiền đề cho nhau phát triển
“Lưỡng đầu chế” - hay “cơ cấu quyền lực kép” như có người định danh - ở Việt Nam thời
Lê - Trịnh không phải là một cơ chế phân quyền, càng không phải là cơ chế tản quyền, mà là một trạng thái đặc dị, “nhộng tính”, xét cho cùng là một trạng thái tồn tại đặc thù, kết quả của một sự đấu tranh và “chuyển hoá giữa các mặt đối lập” giữa hai xu thế tản quyền với xu thế tập quyền đang được đề cập
I.1.- Chưa có chứng cớ đầy đủ để khẳng định rằng việc Nguyễn Kim vào năm 1533 tìm được hậu duệ của vua Lê lưu lạc trong dân gian rồi dựng nên một “vương triều kháng chiến” trên đất Lào và vùng thượng du Thanh Hoá để chống đối lại nhà Mạc là một lối hành xử đi ra ngoài khuôn mẫu hành xử chính thống của Nho giáo Khởi nguồn của một tham vọng quyền lực mang tính thế tập ( ít nhất là bên cạnh ngai vàng) chỉ thực sự bắt đầu nơi cái triều đình nhà Lê đang phải đào vong này là từ lúc Trịnh Kiểm, người con rể cả của Nguyễn Kim, vốn được ông bố vợ yêu mến và tin dùng, từng giao cho một vài sứ mạng quan trọng, ra tay giết người em vợ, con trai lớn của Nguyễn Kim (Tả tướng Lãng quận công Nguyễn Uông), người bởi tuổi trẻ hơn anh
rể quá nhiều (mới ngoài 20) nên chưa thể tiếp tục sự nghiệp to lớn mà bố mình khởi xướng nhưng rồi bất ngờ bỏ lại do gặp phải cái chết bất đắc kỳ tử
Vào năm 1558, khi Nguyễn Hoàng phải cậy đến chị nói (khó) giùm với anh rể để được cử
đi trấn thủ vùng Thuận Hoá, thì do thế lực thực tế của tập đoàn Lê - Trịnh (lúc bấy giờ đã có thể coi là tập đoàn được rồi!) còn non yếu, Trịnh Kiểm hẳn chưa thể nghĩ tới (mà cả Nguyễn Hoàng hẳn cũng chưa ngờ được) đó chính là bước đầu tiên của một cuộc chia cắt đất nước kéo dài ngót hai trăm năm Chắc chắn rằng Trịnh Tùng là người xứng đáng hơn hẳn Trịnh Cối trong việc nuôi giữ và phát huy cái tham vọng xác lập cho bằng được một quyền lực chính trị hùng mạnh và vững bền lâu dài Chính Trịnh Tùng là người ép anh mình lâm vào tình thế phải đầu hàng nhà Mạc,.lại cũng chính Trịnh Tùng, khi sự nghiệp Cần vương trung hưng chưa thành (phải 20 năm sau mới chiếm lại được kinh đô) đã “can đảm” giết cả vua Lê (Anh Tông) Cũng Trịnh Tùng ấy
là người sẵn sàng và trên thực tế đã xuống tay không thương tiếc đối với bất cứ ai, dù người đó
Trang 3từng là chiến hữu, từng là tâm phúc, nếu phát hiện thấy ở “kẻ kia” những biểu hiện “dị chí” ngược lại với lợi ích của cá nhân mình,trong số đó có không ít người thuộc thân tộc họ Trịnh Tùng là hiện thân đầy đủ của thứ triết lý tự khẳng định nghiệt ngã: “Bất độc bất anh hùng”
Có lẽ cần dừng lại đôi chút để làm rõ hơn nguyên nhân thực của việc Trịnh Tùng , trong vòng 53 năm cầm quyền chính đã giết đến 2 “đấng quân vương”
Đây là lời của Đại Việt sử ký toàn thư, viết ra dưới thời chúa Trịnh: “Nhâm Thân, Hồng
Phúc năm thứ nhất,(1572) …Tháng 3, Lê Cập Đệ (là viên dũng tướng có nhiều công lao, quan hàm chỉ đứng dưới Trịnh Tùng, từng gắn bó với Tùng trong nhiều “phi vụ” – TNV thêm) ngầm
có chí khác, mưu giết tả tướng để đoạt binh quyền, từng rủ tả tướng (tức Trịnh Tùng – TNV thêm) đi thuyền ra giữa sông để giết Tả tướng biết được, mưu ấy không thành Từ đấy hai nhà thù oán nhau, bên ngoài thì giả vờ hiệp sức để lo đánh giặc, nhưng bên trong thì đều ngờ nhau,
đề phòng ám hại nhau.”… “(Mùa đông tháng 11 năm đó), Ngày 21, Lê Cập Đệ từng có chí khác, định mưu hại tả tướng Trịnh Tùng Tả tướng giả vờ không biết, gửi biếu nhiều vàng Khi Cập Đệ đến tạ ơn, Tùng sai đao phủ phục ở dưới trướng bắt giết đi rồi sai người nói phao lên rằng Cập
Đệ mưu làm phản, vua sai ta giết chết, tướng sĩ các người không được sợ hãi, kẻ nào chạy trốn làm phản thì phải giết cả họ.Thế là quân lính đều khiếp sợ, không ai dám hành động
Bấy giờ Cảnh Hấp và Đình Ngạn nói với vua rằng: “Tả tướng cầm quân, quyền thế rất lớn,
bệ hạ khó lòng cùng tồn tại với ông ta được” Vua nghe nói vậy hoang mang nghi hoặc, đương đêm bỏ chạy ra ngoài, đem theo bốn hoàng tử cùng chạy đến thành Nghệ An và ở lại đó Tả tướng bàn với các tướng rằng: Nay vua nghe lời gièm của kẻ tiểu nhân, phút chốc đêm ngôi báu xuôi giạt ra ngoài Thiên hạ không thể một ngày không có vua (sic!), bọn ta và quân lính sẽ lập công danh với ai được? Chi bằng trước hết hãy tìm hoàng tử lập lên để yên lòng người, rồi sau sẽ đem quân đi đón vua cũng chưa muộn Bấy giờ hoàng tử thứ năm là Đàm (mới lên 7 tuổi – TNV thêm) ở xã Quảng Thi huyện Thuỵ Nguyên (Thọ Xuân ngày nay), bèn sai người đi đón về tôn
lập làm vua, đó là Thế Tông” (Đại Việt ….t 3, bản in Nội Các quan bản, Chính hoà năm thứ 18
(1697) Nxb Văn hoá Thông tin, H 2000, từ tr 232 – 235) Tiếp liền sau đó, Trịnh Tùng đã thực hiện lời ước “đi đón vua” như thế này: “Bấy giờ,( Tháng Giêng, mùa xuân năm Gia Thái thứ 1,1573) Hồng Phúc Hoàng Đế xiêu giạt ở Nghệ An, các hoàng tử Bách, Lựu, Ngạnh, Tùng đều theo đi Tả tướng Trịnh Tùng sai bọn Nguyễn Hữu Liêu tiến quân đến thành Vua tránh ra ruộng mía Bọn Hữu Liêu quỳ ở ruộng nói: “Xin bệ hạ mau trở về cung để yên lòng mong đợi của thần dân trong nước, bọn thần không có chí gì khác cả” Bèn đem bốn con voi đực đón vua trở về, sai bọn Bảng quận công Tống Đức Vi theo hầu, ngày đêm cùng đi Ngày 22 về tới huyện Lôi Dương Hôm ấy vua băng Bấy giờ Tả tướng Trịnh Tùng sai Tống Đức Vi ngầm bức hại vua rồi nói phao là vua tự thắt cổ Dâng tôn hiệu là Anh Tông Tuấn hoàng đế”.(Sđd, tr 238)
Cần lưu ý rằng Lê Duy Bang (lúc lên ngôi vua là Lê Anh Tông) vốn chỉ là cháu bốn đời của Lê Trừ ( anh trai thứ hai của Lê Lợi) Việc Trịnh Kiểm sau khi Trung Tông mất (mới 22 tuổi)
mà không có con nối dõi, đã “cất công” tìm và tìm được người này là “giống cũ” “mang gieo” (như giai thoại vẫn đồn rằng đó là lời khuyên mà cũng là kế sách của Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cho Trịnh Kiểm) là một hành vi đầy tính quyền biến Cũng hầu như chắc chắn, trong con mắt của Trịnh Tùng, ông vua (chộp được) này không mấy thiêng, thậm chí lại trở nên người bạc phận Với một người sớm tỏ ra có “ hùng tài đại đởm” như thế (Tùng làm tất cả những việc “kinh thiên động địa” như vừa đề cập khi chỉ mới 22 – 23 tuổi!) những ông “vua đất sét” sẽ chẳng bao giờ
Trang 4trở nên là đối tượng để tôn trọng, có giá trị chăng chỉ đơn giản là giá trị lợi dụng! Kể từ đây, theo
lẽ tự nhiên, tất cả các đời vua Lê tiếp sau đó chỉ có thể là càng ngày càng xa với dòng chính thống.Vậy nên, việc lập lên hay phế bỏ, thậm chí giết chết bất cứ vị vua nào đối với các chúa Trịnh là việc “dễ như thò tay lấy đồ vật trong túi”
Trịnh Tùng tham chính 53 năm, trong đó có đến 50 năm ngự trên đỉnh cao nhất của tập đoàn Lê - Trịnh (1573 – 1623), nói theo lối sử xưa là “trải thờ 4 đời vua” trong đó tự ông ta đã
“diệt gọn” 2 vua, về quan hệ là ông cháu
Cho tới và kể cả Trịnh Sâm, dù cũng có những thời điểm chao đảo nhất định, họ Trịnh đã tạo được tới 9 đời chúa có thực quyền, chấp chính suốt từ năm 1545 tới tận năm 1782 Xét tới thực chất, thì ngay các vương triều lớn từng hiện hữu trong lịch sử Việt Nam, có lẽ không một vương triều nào nắm được thực quyền lâu đến như vậy Đối chiếu tuổi thọ và thời gian ở ngôi của các vua Lê với tuổi thọ và thời gian nắm quyền của các chúa Trịnh (cho đến vị Chúa nắm được thực quyền cuối cùng) song hành trên trục thời gian, dễ dàng nhận thấy số phận của các vua Lê sao mà mong manh dễ vỡ:
- Trịnh Kiểm (1503 – 1570) cầm quyền 25 năm
- Trịnh Tùng (1549 – 1623) cầm quyền 53 năm
- Trịnh Tráng (1577 – 1657) cầm quyền 30 năm
- Trịnh Tạc (1606 – 1682) cầm quyền 25 năm
- Trịnh Căn (1633 – 1709) cầm quyền 27 năm
- Trịnh Cương (1689 – 1728) cầm quyền 19 năm
- Trịnh Giang (Khương) (? – 1740) cầm quyền 12 năm
- Trịnh Doanh (1719 – 1767) cầm quyền 27 năm
- Trịnh Sâm (1739 – 1782) cầm quyền 15 năm
Trong số các vị chúa nói trên, người bị coi là “yếu kém” nhất là Trịnh Giang, nhưng chính ông chúa này lại là người bức tử Lê Đế Duy Phường (1732), sau khi đã vu cho vị vua này tội
“thông dâm với cung phi của Chúa trước” (?), bêu riếu bằng cách giáng làm Hôn Đức Công rồi giết
Ứng với các đời chúa nói trên là 16 đời vua, mà thực chất là 15 người:
- Lê Trang Tông (Duy Ninh) (1515 - 1548) ở ngôi 15 năm
- Lê Trung Tông (Huyên) (1535 – 1556) ở ngôi 8 năm
- Lê Anh Tông (Duy Bang) (1532 – 1573) ở ngôi 16 năm
- Lê Thế Tông (Duy Đàm) (1567 – 1600) ở ngôi 27 năm
- Lê Kính Tông (Duy Tân) (1588 – 1619) ở ngôi 20 năm, con rể Trịnh Tùng, bị chính Trịnh Tùng bức phải thắt cổ chết
- Lê Thần Tông (Duy Kỳ) (1607 – 1662) ở ngôi 2 lần, nhường ngôi 6 năm, cộng làm vua
38 năm
- Lê Chân Tông (Duy Hựu) (1630 – 1649) được Thần Tông nhường ngôi 6 năm (1643 – 1649), 20 tuổi thì mất
Trang 5- Lê Huyền Tông (Duy Vũ, Cương mục chép là Duy Củ) (1654 – 1671) lên ngôi lúc 9 tuổi,
ở ngôi 9 năm
- Lê Gia Tông (Duy Hợi – có bản chép Duy Cối) (1660 – 1675) lên ngôi lúc 11 tuổi, ở ngôi
4 năm (Thần Tông là cha của cả 3 vua chết trẻ này)
- Lê Hy Tông (Duy Hợp, cũng là con Thần Tông, khi Thần Tông mất mới hoài thai 4 tháng) (1663 – 1716), ở ngôi 29 năm., nhường ngôi làm thượng hoàng 12 năm
- Lê Dụ Tông (Duy Đường) (1680 -1731), ở ngôi 25 năm, nhường ngôi làm thượng hoàng
2 năm
- Lê Đế Duy Phường (? – 1735) Con thứ Lê Dụ Tông nhưng vì là cháu ngoại Trịnh Cương, nên được Trịnh Cương chọn làm Thái tử và buộc Dụ Tông nhường ngôi Nhưng chỉ được 3 năm, khi Trịnh Cương đột ngột mất, thì ông vua xấu số này bị “tân chúa” là Trịnh Giang vu hãm, bị giết chết cùng năm với việc Giang chọn anh trai Duy Phường làm vua kế vị
- Lê Thuần Tông (Duy Tường) (1699 - 1735) ở ngôi 4 năm.Con trưởng Dụ Tông, được Trịnh Giang chọn lập sau khi phế Duy Phường
- Lê Ý Tông (Duy Thìn, Cương mục chép là Thận) (1719 – 1759), ở ngôi 6 năm.(1735 –
1740), bị Trịnh Doanh ép phải nhường ngôi cho Duy Diêu là con trưởng của Thuần Tông
- Lê Hiển Tông (Duy Diêu) (1717 – 1786) Ở ngôi 46 năm, là ông vua duy nhất của triều
Lê sống đạt tới ngưỡng 70 tuổi, cũng là ông vua bị thế nhân nghị bình là nhu nhược, vô tích sự bậc nhất trong các vua chúa! Hẳn Lê Hiển Tông là ông vua mà các đời chúa Trịnh
“mong mỏi” nhất, nên mới được “tại vị” lâu nhất
Quyền lực của phủ chúa là điều không ai cần thiết phải nghi ngờ Về cách thức mà các
chúa Trịnh nói chung chọn người kế vị ngai vàng, có lẽ đoạn văn sau đây của Cương mục phản
ánh điển hình và mang nhiều hàm ý hơn cả:
“Giang lập Duy Thận, em nhà vua lên ngôi, đổi niên hiệu, đại xá
Duy Thận, con thứ mười một của Dụ Tông và là em Thuần Tông Lúc ấy Duy Thận 17 tuổi, kém Duy Diêu, con cả nhà vua (hoàng trưởng tử) 2 tuổi Nhưng Trịnh Giang e rằng Duy Diêu tuổi đã trưởng thành, và nhận thấy Duy Thận là cháu ngoại bà Thái phi Vũ Thị (vợ Trịnh Cương ), trước kia vẫn nuôi nấng ở trong phủ, thân cận yêu thương có phần dễ kiềm chế Giang mới nói thác ra rằng diện mạo Duy Thận giống như tiên đế, nên quyết ý lập làm vua Bầy tôi không ai dám nói gì cả Ngày Giáp Ngọ, làm lễ cáo Thái Miếu, ngày Bính Thân lên ngôi vua (tức
Ý Tông)… (Quốc sử quán triều Nguyễn.Khâm định Việt sử thông giám cương mục.T.2, Bản in
của Nxb Giáo dục, H., 1998, tr.494)
Nhưng có chuyện khác cần bàn rõ hơn: phải chăng uy quyền của “vế thứ hai” trong phương trình, tức uy quyền của vua Lê, rộng hơn, của cung đình các vua Lê, như vẫn được khẳng định xưa nay, chỉ là hão, ảo, mang tính chất thuần tuý tượng trưng, “ ngồi chơi xơi nước”? I.2.- Quả là các chúa Trịnh đã bằng “trăm phương ngàn kế” để vô hiệu hoá vai trò của các vua Lê, không ngần ngại sử dụng cả những biện pháp bạo lực tàn độc quyết liệt nhất Kết quả là trong khoảng thời gian hơn hai trăm năm “đồng tồn tại”, không có một vị vua nào của nhà Hậu
Lê (Lê Trung hưng) thể hiện được mình trong nền chính trị hiện thực là người làm chủ quốc gia, làm chủ vương triều Căn cứ vào sử liệu, không một người quan sát hay nhà nghiên cứu nghiêm
Trang 6túc nào từng dành cho các vua Lê thời ấy những lời nhận định, đánh giá tích cực Vậy nhưng, bất chấp tất cả những điều đó, chỉ tính từ năm 1592 trở đi (thời điểm tập đoàn Lê - Trịnh chiếm lại được kinh đô Thăng Long, chính thức trở lại vị thế quyền lực chính trị trung ương) cho đến tận khi Lê Chiêu Thống rước quân Thanh vào, các vua Lê vẫn cứ là “những vị quốc chủ” – đó không đơn giản chỉ là hình thức Có nhiều lý do có sức nặng hiện thực hơn người ta vẫn tưởng khiến cho các vua Lê duy trì được vị thế tuy mong manh, lay lắt mà hoá ra vẫn khá bền vững ấy
Lý do quan trọng đầu tiên: vương quyền của nhà Lê là điều kiện sống còn để duy trì sự tồn tại của thế lực chính trị họ Trịnh Trên thực tế, việc họ Mạc giành được ngôi vua vốn đã diễn ra trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt rối ren, bởi từ sau thời điểm Lê Hiến Tông mất (1504), quyền lực chính phủ trung ương đã bắt đầu khủng hoảng Hơn 20 năm tiếp theo, cho đến 1527, có đến 5
vị vua thay thế, tranh giành, sát hại lẫn nhau Triều chính càng rối ren, quyền lực thực tế càng dễ dàng, và trên thực tế là đã trôi nổi trong tay các võ tướng nắm được bộ phận binh quyền chủ yếu nhất Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam lại xuất hiện những ông vua bị cả người trong lẫn ngoài nước định danh là “vua quỷ”, “vua lợn” như Tương Dực, Uy Mục Rồi, ngẫu nhiên sao, kẻ
bề tôi thực sự giết vua (chứ không phải do nội bộ hoàng tộc tranh giành, cũng không phải do cáo buộc xằng để hãm hại ) đầu tiên chính là một người họ Trịnh: Trịnh Duy Sản (1516), một người
họ Trịnh khác - Trịnh Duy Đại - thực hiện một hành vi không tiền khoáng hậu tiếp theo: cướp lấy vua nhỏ mới được lập chưa kịp định niên hiệu (là Quang Trị, 8 tuổi) mang về Tây Đô Đám quần thần võ tướng còn lại bèn nhanh chóng tìm lập ngay một “vua nhóc” khác (mới 14 tuổi) Một thời gian sau do không hình thành nổi vương triều với ông vua mình cướp mang đi ấy, Trịnh Duy Đại giết Quang Trị.Nhưng rồi số phận và hình tích của Chiêu Tông Thần Hoàng đế cũng chẳng thể tốt lành Lời cẩn án của sử thần đời sau thiết tưởng quá rõ: “…ở ngôi 7 năm, bị Mạc Đăng Dung giết, thọ 26 tuổi, chôn ở lăng Vĩnh Hưng Bấy giờ trong buổi loạn lạc, quyền bính không ở trong tay, bên trong thì nghe lời xiểm nịnh gian trá, bên ngoài thì lại ham mê săn bắn chim
muông, ngu tối bất minh, ương ngạnh tự phụ, bị nguy vong là đáng lắm!” (Đại Việt sử ký toàn thư Sđd t.3, tr.127).
Việc Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê, giết cả hai vua (Chiêu Tông và Cung Hoàng) vào năm 1527 diễn ra thậm chí cơ hồ yên ả, không gây xáo trộn gì đáng kể Sử thần Đăng Bính về sau bàn rằng: “Trong lúc ấy, các đại thần cả triều đều trơ mắt ngậm miệng,người nọ liếc trộm người kia….Lúc bấy giờ kẻ quyền gian thế lớn, bọn thần hạ khác lòng, thiên tử bị cô lập ở trên,
cả triều không một ai có thể uỷ thác được, muốn không sụp đổ, có thể được không?” (Sđd Tr 174) Thật ra, thì cũng có được một người dám bày tỏ sự bất đồng, là Trương Phu Duyệt, thượng thư Lại bộ, cự nự từ chối việc mà ông “được” các quan khác yêu cầu, là nhân danh vua Lê thảo chiếu nhường ngôi cho Mạc Đăng Dung Còn thì cả 56 “khai quốc công thần” của nhà Mạc, tức
là “bộ sậu” của vương triều cũ, hầu như đều yên vị, dẫu vương quyền đã đổi chủ!
Vào đúng thời điểm Nguyễn Kim tìm được hậu duệ của vua Lê rồi dựng cờ Cần vương ở tận đất Ai Lao (1533), thì nhà Mạc đã kịp làm cho “nước giàu dân mạnh” Chính sử thần nhà Lê
về sau cũng phải thừa nhận rằng vào thời gian đó “Họ Mạc ra lệnh cấm người các xứ trong, ngoài không được cầm giáo mác và dao nhọn, can qua, cùng những binh khí khác hoành hành trên đường đi.Ai vi phạm thì cho phép quan ty bắt giữ Từ đấy, người buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ cần mỗi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc của mình Trong
Trang 7khoảng vài năm, người đi dường không nhặt của rơi, cổng ngoài không phải đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên” (Sđd Tr 182) Việc trị nước an dân của nhà Mạc, nếu không bị can qua làm rối loạn và gián đoạn, hẳn đã cũng có thể đạt tới những thành tựu đầy ấn tượng
Vậy thì lý do gì khiến cho lòng người vẫn không nhất tâm hướng theo chính quyền Mạc, một chính quyền dù sao mặc lòng vẫn đáp ứng được những nguyện vọng tối thiểu của một cư
dân nông nghiệp là “an cư lạc nghiệp” như thế? Lời chiếu vào dịp thu phục lại kinh đô Thăng
Long năm 1592, tuy về danh nghĩa là được vua Lê ban ra, mà chắc chắn đã được Trịnh Tùng cân nhắc, ngẫm ngợi từng câu chữ, giải thích phần nào lý do chính yếu: “ Nhà nước ta, Thái Tổ Cao
hoàng đế ứng mệnh trời, thuận lòng người, thừa cơ mở vận, theo nghĩa lớn dẹp hung tàn, được thiên hạ rất chính đáng (tôi nhấn mạnh – TNV),quy mô dựng nước đã rộng lớn lại lâu dài Thái
Tông Văn hoàng đế nối lời dạy bảo, xướng suất kẻ dưới; Nhân Tông Tương hoàng đế rạng công người trước, rõ sáng đức xưa; Thánh Tông Thuần hoàng đế sáng lập pháp chế, mở ra muôn đời văn minh; Hiến Tông Duệ hoàng đế kê xét điển chương, chấn chỉnh bốn phương dường mối
Mọi điển chương pháp độ để giữ cơ nghiệp đã tường tận và đầy đủ cả rồi (tôi nhấn mạnh –
TNV) Các đời truyền nối, mưu lớn công to, mở mang phò tá, đều theo lẽ chính, người sau có thể giữ mãi đời đời”.(Sđd Tr 284 – 285)
Nói theo ngôn ngữ ngày trước, thì vương triều Lê sơ, kể cho đến Lê Hiến Tông, đã góp cho
lịch sử nước nhà những kỳ tích lớn lao cả về võ công, cả về văn trị, vậy nên đầy đủ lý do để
“trường tồn mãi mãi” Xét đoạn lời chiếu đã dẫn bằng cái nhìn lịch sử chính trị học ngày nay, vẫn có thể nhận định rằng những lời lẽ đó về cơ bản là xác đáng
So với nhà Lê, nhà Mạc không có võ công gì đáng kể đối với đất nước, không những thế, còn bị “bêu tên” nặng là “bán nước”, nhẹ là “làm nhục quốc thể”, mà về văn trị cũng chưa đủ
mới mẻ, vượt lên cao, đi xa hơn một cách đáng kể, tuy ở một vài phương diện có những bước tiến nhất định, so với thịnh thời của nhà Lê Mô hình tổ chức và quản lý xã hội trong lịch sử Việt
Nam, như đã rõ, đạt tới trạng thái cổ điển của một hình thái lịch sử, là dưới triều Lê Thánh Tông,
vị hoàng đế sáng danh nhất trong lịch sử quốc gia – dân tộc “Lòng người” - chủ yếu là “dân ý”,
“dân tâm”,- vẫn “quyến luyến nhà Lê” là một sự thật lịch sử Đây có thể coi là lý do căn bản nhất
để ngôi vị hoàng đế của nhà Lê vẫn cứ được duy trì như một thành tố quan trọng của cơ chế quyền lực
Không bàn tới hành trạng, nhân cách và tài năng của từng vị chúa Trịnh cụ thể, từ góc nhìn
vĩ mô, có thể khẳng định rằng sự tồn tại của ngôi chúa và bộ máy quyền lực phái sinh của phủ chúa bên cạnh ngôi vua không đem lại được những đóng góp mang tầm lịch sử khác biệt về chất
vì lợi ích quốc gia – dân tộc Nếu gác việc khuông phò, giúp rập triều đình nhà Lê ra ngoài, vương phủ Trịnh tộc không còn lý do tồn tại
Suốt hơn 200 năm tồn tại của chính quyền Lê - Trịnh, triều đình vẫn được phân biệt một cách bắt buộc đối với phủ liêu.Cũng trong suốt thời gian đó, nếu từ phía các chúa Trịnh chưa bao
giờ nguôi khát vọng “xoá sổ” Lê Triều, từ Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng cho tới Trịnh Sâm đều “mong mỏi đến cháy lòng” được tự xưng là Trẫm, được bá quan tung hô “vạn tuế”, và mọi toan tính lẫn hành vi hiện thực đầy dẫy để thực thi khát vọng đó đều nhất loạt có chung một kết cục là thất bại, trong khi đó từ phía các vua Lê và hoàng tộc, từ phía nhiều ông quan phụng sự triều đình, thậm chí từ cả nhiều thành viên xuất sinh từ gia tộc họ Trịnh vẫn thường xuyên xuất hiện những cá nhân và/ hoặc nhóm người nuôi dưỡng và khi có cơ hội hoặc tưởng rằng có cơ hội sẵn sàng tiến
Trang 8hành những hoạt động nhằm lật nhào ngôi chúa, dẹp bỏ cái “vương phủ” mà họ nhất tề coi là nghiệp chướng Chính nhận thức ấy tâm thế ấy cũng là nhân tố thường trực ở sĩ dân trong nước, khiến “bạo loạn” nhân danh việc chống lại kẻ “bức hiếp vua ta” vẫn đời nối đời diễn ra
Không thể khẳng định giản đơn, rằng ngôi vua của các vua Lê chỉ là chiếc ngai vàng vô hồn trống rỗng, dù đa số hầu như tuyệt đối các ông vua nhà Lê từ thời trung hưng trở đi là vô vị
Cá nhân là một chuyện, cơ chế lại là chuyện khác Đó là một chân lý sơ đẳng cần phải được nhận thức trong chính trị học!
Cơ chế lưỡng đầu về quyền lực là một thực tế lịch sử thời Lê - Trịnh
Xét từ một góc độ khác, ngôi vị của nhà Lê càng trở nên tất yếu trong các quan hệ đối ngoại, vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ Đàng Ngoài.Nếu các chúa Trịnh truất bỏ và thay thế ngôi
vị của vua Lê, chắc chắn các chúa Nguyễn ở Đàng Trong không vì lý do gì mà không tự lập thành một quốc gia thực thụ Cũng chắc chắn rằng trong mối quan hệ ngoại giao với triều đình nhà Minh rồi sau đó là triều đình nhà Thanh, quốc hiệu An Nam, tước vị An Nam quốc vương,
họ Trịnh khônglàm cách gì để được các Thiên tử của “Thiên triều” thừa nhận Chưa nói rằng, ngoái nhìn vào lịch sử, mà là cận sử, nhãn tiền, họ Trịnh cũng sẽ được các sử gia chính thống xem xét không khác gì nhà Mạc, thậm chí còn có thể bị coi là tệ hại hơn!
II.LƯỠNG ĐẦU CHẾ THỜI LÊ - TRỊNH TRONG SỰ QUY CHIẾU VỚI LÝ LUẬN
VỀ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA NHO GIÁO
II.1.- Lý luận Nho giáo về quyền lực chính trị và về ngôi vị quân chủ:
Xem xét từ khởi nguyên, Nho giáo là một học thuyết có quá trình hình thành rất lâu dài, có thể là lâu dài bậc nhất trong lịch sử các học thuyết tôn giáo – chính trị - triết học từng được biết tới Xét riêng từ góc độ một lý luận về quyền lực, Nho giáo không phải là học thuyết duy nhất
mà cũng không phải là toàn bộ lý luận về quyền lực từng xuất hiện và “hành thế” trên đất nước Trung Hoa cổ đại
Ngay từ thời điểm loài người thoát dần ra khỏi trạng thái bầy đàn tự nhiên, đã lần lượt xuất hiện những nỗ lực định hướng tổ chức và quản lý xã hội “theo kiểu con người” Một trong những công việc có tầm quan trọng hàng đầu được đặt ra để cân nhắc, suy tư và thử nghiệm, đó là việc tìm đáp án cho câu hỏi nên tổ chức và quản lý, lãnh đạo xã hội theo những quy mô và tính chất nào Đương nhiên, đáp án thích hợp, đúng hơn, tối ưu, chỉ có thể được phát lộ dần dà qua một quá trình dằng dặc những thí nghiệm xã hội Thử và sai, lại thử, lại sai Sau những lần thử và sai
ấy là tội ác, là xương máu, sinh mạng Nhưng dù sao, đó cũng là “những đau khổ cần thiết” mà nhân loại buộc phải trả giá cho những tiến bộ, những bước phát triển
Như đã nói, ở mọi thời đại, mọi xã hội đều tiềm tàng hai xu thế nghịch chiều của sự hình dung về quy mô và kết cấu quyền lực, là xu thế tập quyền và xu thế tản quyền Trên đất Trung Hoa xưa, ngay từ thuở chưa xuất hiện các suy tư và những nhận định khái quát hoá lên thành các
“giáo”, các “thuyết”, thì thực tế của tồn tại xã hội đã buộc người cầm quyền phải đưa ra và thực hiện những giải pháp thực tiễn Thư tịch còn lại đến nay cho phép người nghiên cứu hình dung
về hai lối ứng xử quyền lực nghịch lưu ấy, một, hậu lai được đại diện phát ngôn bởi những người thuộc phái Lão – Trang, một nữa, có tông thống truyền thừa vững chắc và lâu dài hơn hẳn trong lịch sử, đó là Nho giáo Với nghị luận “ Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu “, “Thiên địa vô công, thánh nhân vô danh”, các đại biểu lỗi lạc nhất của phái Lão Trang đã dễ dàng hình dung về
Trang 9một lối tổ chức và cai trị thuần giản: “tiểu quốc, quả dân”, lối ứng xử xã hội “bất tranh, vô cầu”, lối sống “vị ngã, tự tại”.Lựa chọn con đường “tuyệt thánh khứ trí”, “phi mệnh, vô thượng” như vậy cũng là sự lựa chọn của nhiều “yếu nhân” thuộc nhiều “phái, giáo” khác nhau nữa trong Bách gia chư tử
Lịch sử Trung Quốc hiện thực đã không vận hành theo hướng đó, mà ngược lại, vận hành theo quỹ đạo càng ngày càng tích hợp những yếu tố tập quyền.Dĩ nhiên, các bước lựa chọn của lịch sử về mô hình và tính chất của bộ máy quyền lực đã diễn ra trên xứ sở này thông qua vô số những chuyển động quanh co, phức tạp, lắm khi dường hỗn loạn, mất hướng.Tuy vậy, quan sát
trên trục thời gian và bằng những đại lượngmétrique vĩ mô, sẽ không khó khăn gì để nhận ra sự
tồn tại hiện thực hoá của cái “cảm hứng lịch sử” vươn cao, vươn xa, tới tận quy mô “Mục tiêu của chúng ta là toàn thế giới”(Mao Trạch Đông) Các bậc thánh vương Nho giáo Trung Hoa xưa coi “bốn biển là nhà”, nên nhất định phải “nắm thiên hạ trong lòng bàn tay” ( “doãn chấp quyết trung”)
Lựa chọn con đường xây dựng mô hình quyền lực chuyên chế, lối kiến tạo cộng đồng xã hội theo hướng đại thống nhất, đại tập trung vốn đã là sự lựa chọn từng xuất hiện một cách “tiền
lý luận” trong thực tế cai trị thời cổ đại.Chính vì vậy mà trong số các lý luận về trị nước của Bách gia chư tử thời Xuân thu - Chiến quốc, Pháp gia và Nho gia – các học thuyết điển hình nhất theo xu hướng này – đã được cân nhắc để vận dụng vào thực tiễn Chúng tôi từng cho rằng điểm chung lớn nhất của hai học thuyết mà khi được triển khai vận dụng vào thực tế đã trở thành hai
kẻ thù chính trị “bất cộng đái thiên” ( không đội trời chung, chữ của chính nhà Nho bàn về mối quan hệ giữa hai phái ) này chính là sự nhất trí tôn sùng đến mức tuyệt đối hoá, thần thánh hoá
địa vị của “đế vương”.Những điểm khác biệt quan trọng nhất giữa hai học thuyết này nằm ở cách xác định địa vị, vai trò và thân phận của những tầng lớp, thành phần dân cư còn lại và ở những biện pháp cơ bản, chính yếu để đạt tới mục tiêu “lý tưởng”.
Việc Nho giáo được lựa chọn và trở nên học thuyết ý thức hệ độc tôn kéo dài hơn hai ngàn năm trong lịch sử chính trị Trung Quốc, hàng nghìn năm trong lịch sử chính trị Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam đã tạo ra áp lực khổng lồ, đè nén và ngăn chặn có hiệu quả mọi định hướng dân
chủ hoá, cũng đồng thời tạo ra tính chính đáng (légitimité – legitimacy) cho sự đàn áp, tiêu diệt
nhằm vào mọi tổ chức, lực lượng hay hoạt động chống đối lại định hướng tập trung, thống nhất
mà cũng là chuyên chế đó của nhà nước trung ương.Trong tư cách là một lý luận ý thức hệ, nghĩa là lý luận về quyền lực thống trị, Nho giáo đã tìm ra một thứ bảo bối để duy trì địa vị
“dường như không thể bị thay thế” của nó, đó chính là sự đảm bảo về lòng trung thành tuyệt đối
và vô điều kiện của mọi tín đồ của học thuyết này đối với ngôi vua, vị trí quyền lực tối cao, duy nhất cá thể hoá ở mỗi và mọi thời điểm cụ thể, một dòng họ chính thống duy nhất xét trong quan
hệ truyền thừa giữa các đời.
II.2.- Tương tác giữa lý luận Nho gia với thực tiễn chính trị Việt Nam kể từ thời điểm khôi phục chủ quyền quốc gia dân tộc Thực chất của kết cấu lưỡng đầu chế thời Lê -Trịnh:
Cần thiết phải ít nhiều ngoái nhìn lại cung đường mà các vương triều ở Việt Nam đã trải qua kể từ năm 938 trở đi để nhận thức về tính khuynh hướng trong nền chính trị hiện thực ở Việt Nam, đặng cắt nghĩa một cách thuyết phục về đặc điểm của cách cai trị ở từng triều đại cụ thể
Trang 10Trước hết, xin tự trích dẫn một vài dòng từng bàn trước đây lên quan đến vấn đề đang được
đề cập
“Trong số các sử gia đời trước, Ngô Thì Sĩ là người đề cao Ngô Quyền nhất, song có lẽ đúng mức hơn lại là lời bàn của Ngô Sĩ Liên :“Nhà Tiền Ngô khởi lên, không những có công đánh giặc thắng lợi, lại còn đặt ra trăm quan, dựng ra nghi lễ trong triều, định màu sắc các đồ mặc, cũng đã thấy sơ qua về quy mô đế vương; thế mà hưởng ngôi vua không được lâu dài, chưa
thấy có kết quảgì về chính trị, thật là đáng tiếc”.(Dẫn theo Quốc sử quán triều Nguyễn Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd , T.I, tr 91).
Điều mà Ngô Sĩ Liên gọi là “chưa thấy có kết quả gì về mặt chính trị” thể hiện ra ngay sau khi Ngô Quyền mất: (em vợ là) Dương Tam Kha cướp ngôi của cháu, tự xưng là Bình Vương [Cần chú rằng Dương Tam Kha là con trai Dương Đình Nghệ Trong cách hình dung của tôi, loại trừ một số quan lại gốc Hán, loại nhân vật nổi bật trên sân khấu chính trị Việt Nam suốt từ thời
Lý Bôn, Triệu Quang Phục qua Phùng Hưng, ….đến tận lúc này là người hào trưởng Vai trò của
người hào trưởng sẽ còn kéo dài cho đến tận Lê Lợi, anh em nhà Tây Sơn…Đấy là một loại hình nhân vật lịch sử xứng đáng được dành cho một chuyên khảo riêng]
Có độc lập, có chủ quyền, nhưng chưa dễ có ngay kinh nghiệm cũng như lý luận tổ chức xã hội theo hướng một nhà nước tập quyền thực thụ Lịch sử chính trị Việt Nam thế kỷ thứ X là lịch
sử của một sự vươn tới, vừa phải chấm dứt trạng thái lệ thuộc, lại vừa phải tự mình khẳng định
và trưởng thành, khắc phục tình trạng “bán quốc gia” (demie-d’États) Bản chất của cái gọi là
“Loạn thập nhị sứ quân” là gì? Là tình trạngentropie cố hữu, nạn cát cứ cố hữu, trạng thái kém
phát triển cố hữu của tư duy chính trị và trình độ tổ chức xã hội Cái “kết quả về chính trị” mà Ngô Sĩ Liên yêu cầu chính là việc cho ra đời một nhà nước có quy mô dân tộc, thống nhất được
cả về lãnh thổ hành chính lẫn quyền lực đối với mọi tầng lớp và mọi khu vực cư dân Nhà Đinh
ra đời năm 968 chính là đáp án của những đòi hỏi lịch sử như vậy Ta hiểu rõ tại sao các tác giả
-mà không chỉ các tác giả, bởi đằng sau họ là cả vua và triều đình - của hai bộ sử lớn trước đây
đều lấy mốc 968 làm năm khởi đầu cho phần chính biên hay bản kỷ còn trước đó là tiền biên hay ngoại kỷ.
Nếu nhà Đinh có công lớn trong việc lập nên một triều đại mà cùng với triều đại ấy là sự khởi đầu của một nhà nước dân tộc tập trung và thống nhất, thì công lao lịch sử của nhà Tiền Lê
là củng cố, khẳng định nhà nước đó, trước hết và chủ yếu là thông qua võ công Cả Đinh Bộ Lĩnh, cả Lê Hoàn (và có thể nói thêm Đinh Liễn nữa) đều là những võ tướng, những thiên tài quân sự lỗi lạc Chính quyền mà họ xây dựng nên, tương tự và nói theo cách lỗ mãng của Lưu
Bang Hán Cao Tổ, là “Nãi ông mã thượng nhi đắc thiên hạ” Quả “Bạo lực là bà đỡ của chính
quyền” Tuy nhiên, thật khó mà yên ổn lâu dài với ý định giữ gìn chính quyền và phát triển xã hội chỉ bằng sức mạnh bạo lực Nhà Lý ra đời như một bước đột biến của phong cách và trình độ
tư duy chính trị trong lịch sử Việt Nam” (Xem thêm: Trần Ngọc Vương.- Cấu trúc và diễn tiến
hệ tư tưởng ở Việt Nam đầu thời Lý.In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Lý Công Uẩn và vương triều Lý (kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội ) Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001).
Trong lịch sử Việt Nam, chắc chắn rằng chỉ những triều đại được lập nên thông qua con đường dẹp loạn thành công, “quy giang sơn về một mối”, hoặc ra đời sau một cuộc chiến chống ngoại xâm, hoàn thành sứ mạng giải phóng dân tộc thì mới đắc nhân tâm, mới có điều kiện để tồn tại lâu dài.Không ai đặt vấn đề nghi ngờ tính chính thống của những triều đại như thế.Ngay