1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương QLNN về đô thị

25 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 33,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 22: phân tích mục đích và ý nghĩa của việc đăng ký nhà ở và đất ở đô thịtất cả nhà ở và đất ở tại đô thị đều phải đăng ký tại UBND cấp xã đề nhằm mục đích hỗ trợ cho các cơ quan quản

Trang 1

Câu 22: phân tích mục đích và ý nghĩa của việc đăng ký nhà ở và đất ở đô thị

tất cả nhà ở và đất ở tại đô thị đều phải đăng ký tại UBND cấp xã đề nhằm mục đích hỗ trợ cho các cơ quan quản lý nhà ở và đất ở nếu được tình hình sử dụng đất đai ở đô thị và tình hình xây dựng nhà ở đô thị

Cụ thể:

-đăng ký sử dụng đất đô thị

Mọi tổ chức, cá nhân sử dụng đất đều phải đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc này không chỉ đảm bảo quyền lợi mà còn là nghĩa vụ bắt buộc đối với những đối tượng đang sử dụng đất, việc đăng ký giúp cho nhà nước nắm được hiện trạng sử dụng đất đai ở đô thị, trên cơ sở đó còn thường xuyên theo dõi, quản lý việc sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch và mục đích sử dụng đất

-đăng ký nhà ở đô thị là nộ dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về nhà ở đô thị, nó không chỉ đảm bảo quyền làm chủ hợp pháp của người chủ sở hữu nhà và công trình trước pháp luật, mà còn là cơ sở cho các cơ quan quản lý nhà nước nắm được hiện trạng nhà ở tại đô thị mình quản lý trên cơ sở đó lập ra các

kế hoạch phát triển nhà ở đô thị, ban hành các quy chuẩn, quy chế cho việc xây dựng nhà ở đô thị đồng thời phát hiện sớm các cương mắc, tranh chấp xung

quanh vấn đề nhà đất ở đô thị, và tìm ra giải pháp để giải quyết kịp thời các tình trạng trên theo đúng pháp luật

*trên cơ sở đăng ký nhà ở, đất ở đô thị, thì nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất và quyền sở hữu nhà ở theo nghị định 60/CP ngày 5/7/1994

*điều tra thông kê nhà ở theo định kỳ nhằm giúp các cơ quan quản lý nắm được thực trạng, tình hình nhà ở trong cả nước cũng như trong từng đô thị, điiêù này có

ý nghĩa to lớn cho việc hoạch định chính sách phát triển nhà ở và dự trữ đất ở trongkhu vực đô thị

*theo quy định của pháp luật, thì chính phủ định kỳ việc tổ chức điều tra, thống kê nhà ở trong phạm vi cả nước-UBND tỉnh, thành phố thuộc trung ương tổ chức chỉ đạo UBND cấp dưới trược tiếp tiến hành điều tra, thống kê nhà ở tại địa phươngCâu 10:Nguyên nhân thất nghiệp và biện pháp tạo việc làm hiện nay trong các đô thị VN, hiện tượng thất nghiệp là rất phổ biến và rất nhiều, nó gây khó khăn cho đời sống của con người và ảnh hưởng đến việc phát triển đô thị nói chung và hiện tượng thất nghiệp này là cho các nguyên nhân sau đây:

Trang 2

-tốc độ phỏt triển dõn số của cỏc đụ thị qỳa nhanh, nhưng lại họ tương xứng với tốc

độ và trỡnh độ phỏt triển kinh tế của cỏc đụ thị, ngoài việc tăng dõn số tự nhiờn, cũn

cú hiện tượng tăng dõn số cú học, cú nghĩa là dõn cư ở cỏc vựng nụng thụn hay phụcõn thành phố di cư vào để sinh sống và tỡm kiếm việc làm, trong khi đú kinh tế chưa phỏt triển nờn gõy nờn tỡnh trạng thất nghiệp, và phỏt sinh ra từng lớp lao động chưa thật sự cần thiết cho hoạt động kinh tế xó hội ở đụ thị

-khi đi sõu vào nghiờn cứu cỏc hiện tượng thất nghiệp, thỡ đa số là ngững người khụng cú trỡnh độ, hay là lao động phổ thụng, là thất nghiệp nhiều hơn cả,vi vậy cúthể thấy một nguyờn nhõn nữa là lao động của chỳng ta chưa cú trỡnh độ cao,chưa qua đào tạo nghề nghiệp vỡ vậy khụng cú chất lượng cao Khụng đỏp ứng được nhucầu thực tế sử dụng lao động

-ngoài những người lao động phổ thụng thất nghiệp ra, thỡ cựng cú rất nhiều người

cú trỡnh độ cũng thất nghiệp, điều này là do chớnh sỏch đào tạo lao động của chỳng

ta chưa phự hợp, khụng nghiờn cứu việc đào tao lao động, gõy nờn tỡnh trạng, ngành này thỡ thiếu nhưng ngành khỏc thỡ thừa

-ngoài ra thỡ tốc độ phỏt triển kinh tế của nước ta cũn thấp, chưa đấp ứng được nhu cầu về việc làm cho lương dõn cư đụng

*từ những nguyờn nhõn trờn, chỳng ta cú thể đưa ra cỏc giải phỏp khỏc phục tỡnh trạng thất nghiệp như sau:

-đẩy mạnh đầu tư phỏt triển kinh tế tại cỏc đụ thị bằng cỏch kờu gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước để tạo ra nhiều việc làm cho lao động

-hạn chế việc dốn dõn, tự do vào cỏc đụ thị bằng cỏch giải quyết việc làm tại chố, ởnụng thụn cho lao động bằng cỏch chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phỏt triển cỏc ngànhnghề thủ cụng, cụng nghiệp hoỏ nụng thụn để tạo việc làm cho nhõn dõn để trỏnh tỡnh trạng vào thành phố tỡm việc làm

-đào tạo nghề cho lao động phỏt triển, nõng cao chất lượng của lao động, khuyến khớch những người được đào tạo đi làm ở cỏc vựng sõu vựng xa miền nỳi bằng cỏch chớnh sỏch ưu đói

-mở nhiều trung tõm mụi giới dịch vụ việc làm để giới thiệu việc làm cho lao động,đẩy mạnh việc hợp tỏc và xuất khẩu lao động sang cỏc nước khỏc

Cõu 37: Phân tích nguyên nhân gây ngập úng ở đô thị, phơng hớng và biện pháp khắc phục

Trang 3

việc thoát nước mưa cũng như nước thải ở các đô thị, ở các đô thị nước ta giải quyết chưa tốt, nên hiện tượng ngập úng, gây ô nhiễm môi trường còn khá phổ biến, nặng nề đang ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân ở đô thị

Nguyên nhân: hệ thông cống rãnh tiêu thoát nước đã cũ, lưu lượng thoát nước nhỏ lại ùn tắc lại do rác thải bùn đất làm đầy cống tiêu thoát nước tắc nghèn dòng chảy-nhiều kênh mương, ao hồ trong các đô thị bị san lấp lấn chiếm để xây dựng nhà ở

và các công trình phái viên dòng chảy và diện tích hồ chứa nước bị thu hẹp gây tình trạng ngập úng thường xuyên khi có mưa to kéo dài

-một số khu vực trong đô thị thì chưa được xây dựng hệ thống tiêu thoát nước, hoặc không được nạo vét, sửa chữa thường xuyên gây tình trạng xuống cấp nghiêmtrọng

-tại các đô thị việc các đơn vị thi công các công trình kỹ thuật chưa được phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ còn gây nên việc đơn vị thì đào lên để thi công đ[n vị thì lấp đi, lại đào lên, gây ảnh hưởng đến việc tiêu thoát nước trong đô thị

*phương hướng và biện pháp

-định hướng phát triển hệ thống thoát nước ở đô thị về lâu dài đến năm 2010, 80% đạt nước thải ở đô thị được tiêu thoát

-trong tương lai gần phảu xoá bỏ tình trạng ngập úng trong mùa mưa, ưu tiên các

đô thị loại 1, 2, cải thiện một phần hệ thống thoát nước mưa ở đô thị loại 3, 4, cải thiện khả năng tiêu thoát nước từ 30%-40% hiện nay đến 50%-60%

*biện pháp: cải tạo, nâng cấp xây mới các hệ thông thoát nước thải tại các đô thị, xây dựng các khu xử lý nước hải trong đô thị và khu công nghiệp và khu chế xuất -ban hành các căn, chính sách thu phí thoát nước đô thị để phát triển nguồn thu đầu

tư cho phát triển hệ thống tiêu thoát nước

-phối hợp giữa các ngành để giải quyết tốt việc tiêu thoát nước

Trang 4

âu1:Trình báy và phân tích những cơ sở hình thành, phát triển, và vai trò của đô thịtrong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta.

*Cơ sở hình thành xà phát triển:

-Sự phân công lao động: trong quá trình phát triển của xã hội loại người, từ thủa sơkhai, con người đã sống du mục, và họ tồn tại bằng cách săn bắn líu lươm những sản vật sắn có trong thiên nhiên, và dần dần thiên nhiên không còn đáp ứng đủ nhu cầu của con người, nên con người phải định cư tự lao động sản xuất và họ tập hợp lại sống trong 1 điểm dân cư, từ đây họ tự khai thác thiên nhiên và trồng cây, chămnuôi ra các sản phẩm nuôi sống mình

-Sự phát triển của dịch vụ: khi con người định cư họ đã sản xuất ra rất nhiều của cải vật chất, đủ đáp ứng nhu cầu hàng ngày và còn dư thừa và 1 bộ phận lao động tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp để làm dịch vụ trao đổi hàng hoá

+Bên cạnh đó do nhu cầu cuộc sống ngày càng phát triển, xã hội ngày càng văn minh và 1 bộ phận lao động khác nữa cũng tách ra khỏi nong nghiệp để phát triển tiêu thủ công nghiệp và dịch vụ, quản lý xã hội -> Tất cả lao động này cùng gia đình của họ tập trung lại sinh sống ở 1 điểm thích hợp với công việc sản xuất kinh doanh của họ và từ đó hình thành lên đô thị và ngày càng phát triển

*Vai trò của đôthị trong trong qua trình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta

VN là 1 quốc gia đang phát triển và có tốc độ đo thị hoá khá cao, và đo thị ngày càng có vai trò to lớn đối với đời sống kinh tế xã hội của đất nước như cùng cấp hơn 60% nguồn thu ngân sách và chiếm tới 23,5% dân số cuẩ cả nước đô thị của

VN là những trung tân kinh tế, chính trị, văn hoá quan trọng của từng vùng Vậy cụthể đô thị VN có vai trò như thế nào trong qua trình phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ sau:

-Thời kỳ phong kiến trước 1958 thì đô thị VN chủ yếu là các sở lỵ, trung tâm hành chính, cai trị của vua chúa, quan lại, nó chưa có nhiều chức năng khác, nó chỉ có phát triển thương mại buôn bán ở các đo thị có vị trí thuận lợi, chưa phát triển mạnh sản xuất, -> đô thị thời này chưa phát triển mạnh, và chưa có vai trò to lớn.-Thời kỳ thuộc địa và kháng chiến chống Pháp(1858-1954) xã hội VN là xã hội thuọc địa nửa phong kiến, nên các đô thị này chủ yếu là trung tâm hành chính của

bộ máy thực dân phong kiến, là trung tâm buôn bán, giao lưu, chung chuyển tài nguyên khai thác được ở VN về chính quốc Thời kỳ này đô thị đã được nâng cao vai trò hơn thời kỳ phong kiến, nhưng nhìn chung sự phát triển đô thị vấn còn kém

Trang 5

-Thời kỳ 1954 đến nay: đô thị đã khá phát triển vì có vai trò quan trọng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới công nghiệp và dịch vụ phát triển nền nhiều đo thị và trung tâm công nghiệp mới hình thành, đô thị được mở rộng và góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiẹn đại hoá của cả nước, đã tạo ra 51% tổng GDP/ 7000 của cả nước, thời kỳ này đô thị đã phát triển thành hệ thống với hơn

600 đô thị với bộ mặt ngày càng đẹp đẽ và văn minh

Câu2: Phân tích mục đích ý nghĩa và cơ sở khoa học thực tiễn của phân loại, phân cấp quản lý đô thị VN, theo nghị định số 72NĐ-CP/5/10/2001

*Mục đích ý nghĩa:

-Mục đích: Nhằm xác lập cơ sở cho việc tổ chức xắp xếp và phát triển hệ thống đô thị trong cả nước

+Xác định cơ sở để phân cấp quản lý đô thị

+Phân rõ trách nhiệm và quản lý Nhà nước cho các cấp chính quyền , phát huy quyền chủ động sáng tạo cho cấp chính quyền quản lý Nhf nước về đô thị

+lập và xét duyệt quy hoạch đô thị

+Quản lý đô thị nhằm xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật các tiêu chuẩn chính sách và cơ chế quản lý phát triển đô thị

-Ý nghĩa theo nghị định 72NĐ-CP/05/10/2001của chính phủ thì sự phân cấp đô thị này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

+ Nó xác định được các tiêu chí cơ bản của phân loại đô thị( 5 tiêu chí quqy mô dân số là 4000 người

#Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp là 65% phát triển trong tổng số lao động

#Một đô thị dân cư phù hợp quy mô tính chất của từng đô thị

#Cơ sở hạ tầng đủ đáp ứng các hoạt động của dân cư đạt 70% nhu cầu

#Là trung tâm tổng hợp hoặc chuyển ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế

xã hội của vùng lẫnh thổ nhất định )

+Nó phản ánh được sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn đồng thời phù hợp với thực trạng và định hướng phát triển của hệ thống đô thị VN cũng như điều kiệncủa từng vùng VN Như các đô thị ở vùng núi, vùng sâu, xa có các tiêu chuẩn thấp hơn( tối thiểu là 70%) mức tiêu chuẩn quy định đối với đô thị ở vùng đồng bằng

Trang 6

+Phân loại đô thị đã phân rõ được trách nhiệm quản lý về mặt hành chính cho các cấp chính quyền từ TW đến địa phương, chính vì vậy nó là cơ sở quan trọng để tổ chức quản lý xắp xếp và phát triển hệ thống đô thị trong cả nước.

*Cơ sở khoa học và thực tiễn để phân loại đô thị:

dựa vào cơ sở phân loại theo nghị định 71, thì có 5 cơ sở sau đây:

-Là trung tâm tổng hợp hay chuyên môn có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xãhội của vùng lãnh thổ

-Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động trong khu vực nội thành nội thị, nội trấn, thuộc các ngành kinh tế không thuộc ngành sản xuất nông nghiệp.+Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động đời sống của dân cư tối thiểu phải đạt 70% tiêu chuẩn quy định đối với từng loại đô thị

+Quy mô dân số bao gồm số dân thường trú và tạm trú trên 6 tháng tại khu vực nộithành, nội thị, nội trấn

+1 đô thị dân số được xác định trên cơ sở quy mô dân số đô thị và diện tích đất đô thị

Câu3: Tại sao chúng ta phải định kỳ điêù chỉnh phân loại phân cấp quản lý Nhà nước về đô thị

*Chúng ta phải phân loại, phân cấp quản lý Nhà nước về đô thị là nhằm mục đích phù hợp với sự phát triển của các đô thị đang ngày càng gia tăng

-Điều chỉnh này là căn cứ xác thựcđể Nhà nước hoạch định chính sách đầu tư phát triển đô thị

-Trình bày quy trình thực hiện điiêù chỉnh phân loại đô thị khi có nhu cầu điều chỉnhloại đô thị, UBND tỉnh, thành phố trục thuộc TW tổ chức nguyên cứu lập hồ

sơ, đề án để phân loại đô thị, trỉnh cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.+Đối với các đô thị loại 1,2, đặc biệt tiến trình này được tiến hành theo quy trình sau:

#Trường hợp đô thị là thành phố thuộc TW, thì UBND thành phố giao cho cơ quanquản lý kiến trúc quy hoạch thành phố chủ trì và lập hồ sơ đề án phân loại đô thị, trình UBND thành phố thuộc TW xem xét và trình HĐND cùng cấp thông qua trước khi trình chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ theo quy định tại NĐ72/CP Bộ

Trang 7

xây dựng sau đó sẽ tổ chức thẩm định đề án phân loại đô thị trước khi trình chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định, công nhận loại đo thị.

#Trong trường hợp đô thị là thành phố thuộc tỉnh thì UBND tỉnh giao cho UBDN thành phố lập hồ sơ trình duyệt đề án phân loại đô thị, trình hội động ND cùng cấp thông qua trước khi trình UBND tỉnh UBND tỉnh xem xét trình HĐND tỉnh thông qua bằng nghị quyết trước khi trình thủ tướng chính phủ, Bộ xây dựng tổ chức thẩm định dự án trước khi trình thủ tướng chính phủ xem xét quyết định loại đô thị

#Đối với đô thị loại 3,4 UBND tỉnh, thành phố trục thuộc TW giao cho UBND cấphuyện lập đề án phân loại đô thị, trình HĐND cùng cấp thông qua trước khi trình UBND cấp tỉnh Cơ quan quản lý kiến trúc, quy hoạch cấp tỉnh tổ chức thẩm định trước khi trình UBND tỉnh, UBND cấp tỉnh xem xét và trình HĐND cùng cấp thông qua trước khi trình Bộ xây dựng, Bộ xây dựng tổ chức thẩm định đề án trướckhi quyết định công nhận loại đô thị

#Đối với đo thị loại 4, UBND cấp tỉnh giao cho UBND cấp huyện lập hồ sơ trình duyệt đề án, trình HĐND huyện thông qua trước khi trình UBND cấp tỉnh, cơ quanquản lý quy hoạch cấp tỉnh tổ chức thẩm định đề án trình UBND tỉnh xem xét quyết định công nhận đô thị

Câu4: Phân tích trực trạng phát triển hệ thống đô thi và quản lý đô thị VN hiện nay

*Quản lý đô thị VN hiện nay nhìn chung quản ký đô thị chưa làm chủ đước tình hình phát triển đô thị, còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của đô thị hiện nay

cụ thể, tình trạng phát triển đô thị khá lộn xộn, chỉ phát triển ở dọc các trục quốc lộkhông theo quy định và pháp luật còn khả phổ biến, mặc dù vậy vấn chưa có biện pháp để ngăn chặn, vai trò của các cấp chính quyền vấn chưa được phát huy đầy đủtrong công việc tổ chức thực hiện pháp luật và các quy hoạch đô thị

-Các quy hoạch đô thị chi tiết:còn thiếu, chưa khả thi hay kém chất lượng, kiến trúc đô thị chưa được định hướng kỹ nhiều di sản kiến trúc văn hoá truyền thống đang bị vi phạm biến dạng 1 cách nghiêm trọng, cần được khôi phục lại

-Hiện nay còn có nhiều cơ quan đơn vị tham gia vào việc quản lý đô thị, nhưng lại thiếu hẳn cơ quan điều phói chung, nó gây ra nhiều vấn đề chồng chéo, phức tạp vàkhông hợp lý

Trang 8

-Trong công tác quản lý đô thị, thì thủ tục hành chính trong vấn đề cấp đất, giấy phép xây dựng, thẩm định các dự án đầu tư còn nhiều phiếu hà, vấn đề về thuế, phícòn bất hợp lý chưa phù hợp với thực tiễn nên gây khó khan cho các nhà đầu tưvà nhaan dân, dẫn đến tình trạng xây dựng không phép, chuyển nhượng ngầm đất đai,

-> Nói chung thực trạng quản lý như hiện nay nói lên rằng đô thị nước ta rất lộn xộn, các trật tự kỷ cương bị vi phạm, môi trường sinh thaí xuống cấp, tệ nạn xã hội

ra tăng và khá phức tạp điều đó là tại sự yếu kém trong khâu quản lý

*Sự phát triển đô thị: Nước ta hiện nay khá phức tạp nó đều có các ưu và nhược điểm, cụ thể là các ưu điểm

-Tốc độ phát triển đô thị nước ta khá nhanh cả về số lượng và chất lượng, tạo nên 1

số lượng cơ sở hạ tầng bằng mấy chục năm trước đây, đã đáp ứng được sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước đồng thời nó troẻ thành nhân tố quan trọngcủa quátrình phát triển các đô thị đã đảm nhận được vai trò là trung tâm của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…

-Đô thị đã đảm bảo được việc tăng ngân sách Nhà nước, đảm bảo vững nên quốc phòng an ninh

-Phương pháp quản lý Nhà nước về đô thị trong thời gian qua đã đổi mới 1 cách đáng kể thể hiện ở các văn bản pháp luật, quản lý quy hoạch, đất đai xây dựng đô thị đã được soạn thảo và ban hành tương đối đầy đủ, đồng bộ góp phần tăng cường quản lý đô thị trên cả lĩnh vực đặc biệt là trong việc đổi mới lập xét duyệt quy hoạch đô thị, tăng nguồn vốn thu tài chính

-Đô thị đã được cải tạo từ hình thức manh mún nhỏ lẻ sang xây dựng tập trung theoquy hoạch, dự án

-Việc triển khai cải cách các thủ tục hành chính nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về đô thị đã thu được 1 số kết quả đáng quan tâm

Bên cạnh các ưu điểm đã đạt được thì trong quá trình phát triển đô thị của nước ta vừa qua cũng còn nhất nhiều điểm tồn tại

-Cơ sở kinh tế kỹ thuật của đô thị còn yếu, tăng trưởng kinh tế chưa cân xứng với dân số,gây nên tình trạng thất nghiệp ngày càng cao, số dân cư từ nông thôn di cư

ra đô thị nhiều làm tăng tình trạng vô giá cư gây bức xúc lớn

Trang 9

-Tình trạng phân bố dan cư và sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng đô thị đang là 1 nguy cơ lớn đối với vấn đề an ninh lương thực, thực phẩm, hiện nay 70% số dân cư đô thị đang ở các vùng đòng bằng ven biển nơi tập trung chủ yếu quỹ đất nông nghiệp của nước.

-Hệ thống các đô thị tại trung tâm vẫn chưa hình thành, đều khắp các vùng, khoảng50% tập trung tại 2 đô thị lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh, các vùng sau, xa, núi hải đảo thiếu đô thị trung tâm, thiếu động lực phát triển.-Cơ sở hạ tầng nhìn chung cònyếu kém, không đảm bảo được các điều kiện cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, hạ tầng không đồng bộ, môi trường sống bị ô nhiễm, xuống cấp, mạng lưới giao thông chưa phát triển, giao thông công cộng chiếm tỷ lệ thấp dẫn đến tìnhtrạng ách tắc giao

-Vấn đề cấp thoát nước rất kém, chỉ có 47% dân cư được dùng nước sạch, còn 45%

bị thất thoát, mạng lưới cổng thoát nước, vệ sinh đô thị chưa được giải quyết còn hiện tượng ngập úng, ô nhiễm

-Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng nhưng cũng đặt ra cho chúng ta 1 nhiệm

vụ là bảo vệ môi trường vì ở đô thị bị xuống cấp nghiêm trọng, nước, không khí, đất đai bị ô nhiễm nặng nè…

Câu5:Phân tích công cụ chủ yếu của quản lý Nhà nước về xây dựng, phát triển và quản lý đô thị

Để quản lý tốt các vấn đề xây dựng, phát triển và quản lý đô thị, thì Nhà nước ta đã

áp dụng hàng loạt các công cụ để quản lý 1 cách có hiệu quả, sau đây là các công

cụ chủ yếu:

-Quy hoạch xây dựng đô thị: đây là hoạt động định hướng của con người nhằm tổ chức xắp xếp không gian lãnh thổ của đô thị trên tất cả các mặt đời sống sinh hoạt, sản xuất ở đô thị để đáp ứng 1 cách tốt nhất yêu cầu sản xuất, tổ chức sinh hoạt củangười dân, bảo vệ cảnh quan môi trường sống của đô thị

-Quy hạch bao gồm chung cho toàn bộ phạm vi của đô thị và quy hoạch chi tiết cho từng phần thuộc phạm vi đất đô thị, do các tổ chức chuyên môn lập bao gồm

đồ án quy hoạch chung và đồ án quy hoạch chi tiết

-Đồ án quy hoạch xây dựng đô thị chung và xác định phương hướng phát triển không gian đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo lập môi trường sống thích hợp có dẫn đến việc tạo lập sự cân đối hài hoà giữa phát triển đô thị và sản xuất nông, lâm ngư nghiệp, đảm bảo quốc phòng an ninh, cùng các hoạt động văn hoá khác

Trang 10

-Đồ án quy hoạch đô thị chung phải thể hiện bằng sở đồ định hướng phát triển đô thị trong vòng 15-20 năm, đây là cơ sở để lập chi tiết và chuyên môn.

-Đồ án quy hoạch chi tiết: được lập trên cơ sở bản đồ địa hình và địa chính gồm có quy hoạch chi tiết, sử dụng đất đai, quy hoạch này phải có tỷ lệ 1/2000-1/5000 và quy hoạch chi tiết chia lơ lập cho các khu xây dựng tập trung tỷ lệ là 1/500-1/2000 nhằm cụ thể hoá và tuân theo các quy định của đồ án quy hoạch chung và được lập đồng bộ cho từng khu vực ở đô thị

-Đồ án quy hoạch chi tiết là căn cứ để lập các dự án đầu tư, lựa chọn xét duyệt địa điểm, cấp chứng chỉ quy hoạch, quyết định giao đất và cấp giấy phép xây dựng.-Quy hoạch đô thị nhằm đảm bảo sự thống nhất tập trung quản lý của Nhà nước, là căn cứ lập kế hoạch xây dựng và phát triển đô thị, đảm bảo môi trường cảnh quan

đô thị, phát triển cân đối hài hoà

-Trong qua trình xây dựng quy hoạch đô thị phải tuyệt đối tuân thủ quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt, quy hoạch phải được công khai, minh bạch

+Kế hoạch hoá: là bao gồm việc xác định phương hướng mục tiêu, chỉ tieu và việc

sử dụng các nguồn lực

+Kế hoạch hoá phải đảm bảo sự thống nhất và tập trung giữa các bộ máy quản lý

về đô thị, sử dụng hợp lý các nguồn lực

-Trong kế hoạch phải phối hợp được các hoạt động có liên quan đến đô thị của các

tổ chức cá nhân nhằm đưa đô thị phát triển đúng hướng đã định

-Công cụ pháp luật: Nhà nước dùng pháp luật để điều chỉnh các mối quản hệ xã hộinhằm đưa xã hội theo 1 trật tự nhất định, trong quá trình xây dựng và phát triển đô thị phải tuân thủ nghiêm ngặt các văn bản luật và dưới luật

Câu6: Phân tích vai trò của nhà nước trong xây dựng và phát triển đô thị

-Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội củ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước, sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và xây dựng phát triển đô thị nói riêng có sự tham gia của các thành phần kinh tế, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và quyết định vai trò này thể hiện cụ thể như sau:

+Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển hệ thống đô thị quốc gia và hệ thống

đô thị các vùng trên cơ sở chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nhà nước soạn thảo ban hành các chiến lược phát triển hệ thống đô thị quốc gia và từng vùng, thông qua đồ án quy hoạch lãnh thổ và đồ án quy hoạch vùng,

Trang 11

nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và của các địa phương.

+Thể chế hoá các luật và văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho xây dựng, phát triển và quản lý đô thị

+Nhà nước lập quy hoạch, xây dựng phát triển các đô thị trên cơ sở định hướng phát triển hệ thống đô thị quốc gia của vùng và các quy định quy chế chính sách các tiêu chuẩn quy phạm, chính phủ và các cấp chính quyền địa phương xác lập các quy hoạch đô thị thuộc thẩm quyền của mình, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng vàquản lý tăng trưởng các đô thị

+Nhà nước xây dựng các chính sách huy động vốn đầu tư, khai thác các nguồn vốntrong và ngoài nước, thành lập quỹ đầu tư xây dựng đô thị, ngoài nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước thì chính quyền địa phưỡn xây dựng các chính sách tạo vốn, tạo nguồn thu để phát triển đô thị, đồng thời tạo mọi điều kiện và khuyến khích động viên các thành phần kinh tế cùng tham gia phát triển đo thị

+Nhà nước thực hiện quản lý toàn diện trên mọi lĩnh vực, mọi địa bàn, đối với các thành phần kinh tế xã hội, các tổ chức cá nhân ở đô thị phải chấp hành theo đúng pháp luật

+Nhà nước tiến hành thanh tra kiểm tra, xử lý các vi phạm về xây dựng và quản lý

đô thị theo đúng quy định của pháp luật, bảo vệ trật tự an toàn đô thị

Câu7: Phân tích các nguyên nhân gia tăng của hiện tượng di dân tự do vào các đô thị lớn

Hiện nay tốc độ tập trung dân cư vào các đô thị lớn đang ngày càng gia tăng, nó đã trở thành 1 hiện tượng xã hội nổi bật, theo các nhà dân số học thì hiện nay có khoảng 50% dân số thế giới đang sống tại các đô thị lớn gấp nhiều lần so với năm

1900 là 14%, và di dân tự do này vào các đô thị lớn có rất nhiều nguyên nhân cụ thể

-Nguyyen nhân cụ thể là do sức hấp dẫn của các đo thị đối với những người dân sống ở vùng nông thôn, vì đô thị là vùng đất có thể kiếm được nhiều việc làm, với thu nhập cao hơn gấp nhiều lần so với vùng nông thôn,

-Bên cảnh đó hàng năm số lượng lao động do nông dân đổ về các khu đô thị để kiếm việc làm ngày càng tăng do ở vùng nông thôn không chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp kiến cho thời gian nhàn rỗi nhiều, các lao đọng này rồn về các đôthị để kiếm việc làm

Trang 12

-Mặt khác ở đô thị chất lượng các dịch vụ cao, đời sống phục lợi xã hội tốt, các cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật nhiều, điều kiện cho giáo dục y tế, giải trí nhiều hơn, nên đã thu hút đông dân cư, người lao động từ nông thôn về sinh sống và tìm kiếm việc làm.

Như vậy dòng người di cư này ngày càng đông đã góp phần làm tăng tỷ lệ dân số

cơ hội và cùng với việc tăng dân số tự nhiên của các đô thị đã làm bùng nổ dân số

ở các đô thị gây ra hàng loạt các vấn đề như nạn ách tắc giao thông, thiếu nhà ở, gây nên tình trạng quá tại cho ác chương trình phúc lợi, gây nên sức ép về việc làmcho các đô thị làm gia tăng lượng người thất ngiệpvà các tệ nạn xã hội

Câu8: Nội dung và biện pháp để xử lý vấn đề này của nước ta

Để hạn chế tốc độ gia tăng dân số ở các đô thị lớn như hiện nay là 1 vấn đề hết sức khó khăn, đòi hỏi Nhà nước phải kết hợp nhiều biện pháp để khắc phục được bức

ép này

-Trước hết chính phủ phải tăng cường xây dựng, phát triển và đặc biệt là quản lý

đo thị phải theo quy hoạch và kế hoạch, như xây dựng và phát triển được các đô thịlớn có quy mô, cơ sở hạ tầng hiện đại, chịu được sức ép

-Nhà nước phải đề ra các chính sách, biện pháp tránh tập trung qua nhiều vào các

đô thị, như giải quyết việc làm tại chỗ ở nông thôn, đối với sinh viên khi học xong khuyến khích tạo điều kiện cho họ đi vùng khác làm việc…

-Cùng với các biện pháp trên là cần phát triển các đô thị vừa và nhỏ, các đô thị vệ tinh xung quanh để giảm sức ép về việc làm, nhà ở, y tế, giáo dục cho các đô thị lớn, trung tâm, và làm hạn chế việc tập trung dân cư ở các đô thị này

-Và 1 biện pháp quan trọng đối với dân cư nông thôn là chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, tạo nhiều công ăn việc làm tại chỗ cho người dân để họ không về các đô thị để kiếm việc làm Ngoài ra cần có các chính sách phát triển kinh tế các vùng ngoài đô thị để tạo cho người dân có việc làm, tạo được sự công bằng xã hội thì sẽ thu hút các dòng người ra khỏi đô thị lớn…

Câu9: Tại sao chúng ta phải hạn chế tối đa tập trung dân cư, và sản xuất vào khu vực nội thành của các đô thị lớn, phương hướng thực hiện định hướng trên của VN

*Hiện nay tốc độ gia tăng dân số ở nước ta không hoàn toàn dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp và dịch vụ mà là do khoảng cách qua lớn giữa đô thị và nông thôn, điều này đã tạo ra sức ép lớn cho các đô thị Vì vậy chúng ta phải hạn chế tối

Ngày đăng: 03/11/2016, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w