1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

đề cương môn quản lý ngân sách nhà nước

12 581 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 119,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan thuộc chính phủ Các cơ quan thuộc Chính phủ như trên đã đều không được quy định là cơ quan tạo nên Chính phủ Nội các.. Nghị định của Chính phủ cũng quy

Trang 1

1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan thuộc chính phủ

Các cơ quan thuộc Chính phủ như trên đã đều không được quy định là cơ quan tạo nên Chính phủ (Nội các) Và tương đồng với các nước, đây là những cơ quan thuộc bộ máy hành pháp trung ương Hiến pháp không quy định cụ thể về cơ quan thuộc Chính phủ, mặc dù như trên đã nêu có lúc quy định việc thành lập đòi hỏi sự phê chuẩn của Ủy ban thường vụ Quốc hội Nhưng càng ngày, thành lập các cơ quan này hoàn toàn mang tính đặc trưng riêng của Chính phủ và cũng không đưa vào trong Luật tổ chức Chính phủ

Cơ cấu tổ chức của các cơ quan thuộc Chính phủ, cũng theo nguyên tắc chung phân chia thành các bộ phận Tuy nhiên, các cơ quan thuộc Chính phủ không có chức năng quản lý nhà nước nên không có Cục và Tổng cục Các đầu mối của các cơ quan thuộc Chính phủ do từng cơ quan đó đặt trên và Chính phủ phê duyệt

Học viện Hành chính Quốc gia trước đây là cơ quan thuộc Chính phủ

Và do đó, các đầu mối chính của Học viện Hành chính Quốc Gia đều tương được với Vụ của các Bộ[] Sau khi sáp nhập với Học viện Chính trị

- Hành chính Quốc Gia Hồ Chí Minh, cơ cấu tổ chức bộ máy của Học viện Hành chính Quốc Gia không thay đổi cả về mức độ tương đương phụ cấp

Hiện nay, Học viện Hành chính trở lại tên Học viện Hành chính Quốc Gia và là một cơ quan thuộc Bộ Nội vụ Và nếu xem xét ý nghĩa đó, Học viện Hành chính Quốc Gia sẽ là đầu mối tương đương với Tổng cục.

Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam là một trong tám cơ quan thuộc chính phủ hiện nay (2014) Cơ cấu tổ chức bộ máy gồm:

1 Ban Tổ chức cán bộ.

2 Ban Kế hoạch - Tài chính.

3 Ban Quản lý Khoa học.

4 Ban Hợp tác quốc tế.

5 Văn phòng.

6 Viện Triết học.

7 Viện Nhà nước và Pháp luật.

8 Viện Kinh tế Việt Nam.

9 Viện Xã hội học.

10 Viện Nghiên cứu Văn hoá.

11 Viện Nghiên cứu Con người.

12 Viện Tâm lý học.

13 Viện Sử học

14 Viện Văn học

15 Viện Ngôn ngữ học.

Trang 2

16 Viện Nghiên cứu Hán – Nôm.

17 Viện Dân tộc học.

18 Viện Khảo cổ học.

19 Viện Nghiên cứu Tôn giáo.

20 Viện Địa lý nhân văn.

21 Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới.

22 Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.

23 Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ.

24 Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên.

25 Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững Vùng.

26 Viện Kinh tế và Chính trị thế giới.

27 Viện Nghiên cứu Trung Quốc.

28 Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á.

29 Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.

30 Viện Nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á.

31 Viện Nghiên cứu Châu Âu.

32 Viện Nghiên cứu Châu Mỹ.

33 Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông.

34 Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam.

35 Viện Thông tin Khoa học xã hội.

36 Trung tâm Phân tích và Dự báo.

37 Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin.

38 Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

39 Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam.

40 Học viện Khoa học xã hội.

41 Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

42 Nhà xuất bản Từ điển bách khoa.

Nghị định của Chính phủ cũng quy định cụ thể vai trò của các tổ chức cấu thành bộ máy của Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam 5 đơn vị

là giúp việc cho Chủ tịch; 32 đơn vị hoạt động nghiên cứu khoa học và 5 đơn vị hoạt động mang tính sự nghiệp có thu.

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp còn lại trực thuộc Viện Hàn lâm[].

2 Phân chia các đơn vị hành chính lãnh thổ

Tất cả các quốc gia trên thế giới đều tiến hành phân chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ khác nhau để phục vụ cho mục đích quản lý các vấn đề của lãnh thổ đó

Tùy thuộc vào thể chế nhà nước đơn nhất hay liên bang mà việc quy định phân chia lãnh thổ thuộc pháp luật của Bang hay Liên bang hay của Nhà nước đơn nhất

Trang 3

Một trong những vấn đề được quan tâm trong việc tổ chức không gian lãnh thổ chính là những dạng, cách thức phân chia lãnh thổ Nhiều lĩnh vực, không chỉ địa lý mà các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, hành chính đều quan tâm

Nhiều mô hình nghiên cứu cách thức hình thành các vùng lãnh thổ Trong

đó, chú ý một số cơ sở/ căn cứ sau:

- Việc sở hữu các vùng lãnh thổ đó Đây chính là quá trình ban đầu hình thành nên từng vùng lãnh thổ do nhiều nguyên nhân khác nhau Sau đó, có sự thôn tính, sáp nhập thành lãnh thổ lớn hơn

- Cách thức kiểm soát vùng lãnh thổ đó Tức quyền quản lý các vấn

đề của vùng trong khuôn khổ nhất định

- Phân chia thành các vùng lãnh thổ trên quan điểm kinh tế Chi phí

và hiệu quả mang lại của các vùng lãnh thổ gắn với hoạt động kinh

tế Đây chính là nền tảng ra đời cho những cách tiếp cận về việc hình thành các vùng kinh tế

- Cách thức phân chia thành số lượng các đơn vị lãnh thổ trong một quốc gia, một vùng

- Vấn đề gắn với quyền quyết định

- Phân chia lãnh thổ theo mục tiêu thiết lập các vùng phục vụ công tác thống kê Phân chia vùng lãnh thổ nhằm mục đích thống kê như

hệ thống thống kê của Châu Âu[] Mỗi một vùng lãnh thổ nhất định

có mã số thống kê nhằm phục vụ cho mục đích thống kê Hoặc cũng có thể phân chia thành các vùng để thiết lập mã codes điện thoại

Nghiên cứu cách phân chia thành các đơn vị lãnh thổ tiếp tục gây tranh cãi trên nhiều phương diện thông tin gắn với việc kiểm soát vùng lãnh thổ đó bởi các chủ thể khác nhau- quyền quản lý Đây cũng chính là chủ

đề được nhiều người bàn đến

Hiện nay, xét về mục đích khác nhau của phân chia đơn vị lãnh thổ

quốc gia, có thể có rất nhiều dạng:

- Cách phân chia đơn vị lãnh thổ mang tính truyền thống theo nghĩa

để hình thành nên quyền quản lý đối với từng vùng lãnh thổ đó Đây mặc dù là xu hướng truyền thống nhưng lại ngày càng phổ biến Sự khác biệt có thể xảy ra ở xu hướng tách hay nhập lại thành các vùng lãnh thổ lớn hơn; hoặc mức độ tự quản nhiều hay ít

- Phân chia đơn vị lãnh thổ chỉ nhằm những mục đích cụ thể những không gắn với những hoạt động quản lý các vấn đề của vùng lãnh thổ Đó là việc phân chia các đơn vị lãnh thổ nhằm mục đích để hình thành các đơn vị bầu cử Điều này nhằm tạo ra một sự bình

Trang 4

đẳng hơn khi tính toán tương quan cử tri trong các cuộc bầu cử Nếu gắn đơn vị bầu cử với từng đơn vị hành chính lãnh thổ theo truyền thống có thể tạo nên lợi thế khác nhau Đây cũng là chủ đề được nhiều người quan tâm khi hình thành đơn vị bầu cử Đây cũng là cơ sở để thiết lập tính dẫn chủ, bình đẳng.Trong phân chia lãnh thổ thành các phần khác nhau để quản lý, có rất nhiều cách phân chia và không có những nguyên tắc để bảo đảm thống nhất Một số nhà nghiên cứu đề xuất một số định hướng sau:

- Tính lựa chọn đại diện;

- Bình đẳng;

- Độc lập, không thiên vị;

- Minh bạch, công khai;

- Không phân biệt

- Tính đại diện

Gắn liền với việc quản ly các vấn đề địa phương, công dân của vùng đó sẽ bầu ra cơ quan đại diện nhân danh họ để thực hiện các công việc này Làm thế nào để cử tri của cộng đồng có cơ hội để bầu ra người đại diện đích thực của họ Điều này cũng có nghĩa nếu chúng ta muốn xác lập địa giới hành chính gắn với bầu cử, thì ranh giới đó phải phù hợp với lợi ích chung Tuy nhiên, việc xác định lợi ích chung hay những vấn đề chung có thể rất khác nhau, nhưng chỉ khi nào đại diện cho người dân hay cử tri gắn với lợi ích chung

đó mới làm cho hoạt động của họ nhằm phục vụ cộng đồng Khi phân chia đơn vị lãnh thổ theo đơn vị bầu cử, các nhà tổ chức bầu

cử hướng đến: Bình đẳng đối với cử tri khi bầu; Ranh giới của vùng lãnh thổ sẽ được xác định đế mỗi một cử tri cũng có quyền ngang nhau trong việc bầu ra đại diện của mình

- Những mục đích tổ chức hiệu quả hơn việc cung cấp những loại dịch vụ đặc trưng khi không gian lãnh thổ có thể vượt ra ngoài ranh giới của một đơn vị hành chính lãnh thổ truyền thống Đây cũng chính là sự ra đời những tên gọi như quận trường học; quận dịch vụ

vệ sinh hay y tế

- Theo mục đích liên kết hoạt động kinh tế mang tính kỹ thuật hạ tầng Tận dụng những lợi ích theo sự hợp lý về mối quan hệ cung cấp – tiêu dùng trên quy mô hợp lý kinh tế (Economics of scale) Nếu chỉ để một đơn vị hành chính lãnh thổ cung cấp hay khai thác không tận dụng được lợi thể về chi phí phân bổ

Bộ là một tổ chức có chức năng quản lý một lĩnh vực cụ thể Về nguyên tắc không có mô hình cơ cấu thống nhất cho các Bộ hay cùng loại bộ ở các quốc gia Tùy theo điều kiện cụ thể cũng như thói quen, việc hình thành cơ cấu tổ chức của Bộ mang tính thực tiễn hơn là lý luận

3

Trang 5

3 Cơ cấu tổ chức của Bộ

Khi nghiên cứu, đánh giá cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ, có thể dựa trên những quan điểm chung về lý thuyết tổ chức Cách thức tổ chức dựa trên nguyên tắc:

• Phân chia công việc thành nhóm, bộ phận (chuyên môn hóa)

• Trực tuyến hay tham mưu

Cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ có thể theo 2 mô hình:

(1) Mô hình Bộ trưởng – Tổng thư ký (Bộ trưởng điều hành)

Trong trường hợp này, Tổng thư ký đóng vai trò chủ chốt trong việc điều hành công việc hàng ngày của Bộ Bên dưới Tổng thư ký sẽ có nhiều Phó Tổng thư ký, chịu trách nhiệm từng mảng công việc Các mảng công việc

có thể được chia thành nhiều bộ phận khác nhau và có thể sử dụng cụm từ

“Department” để chỉ các bộ phận đó (hoặc bureau)

(2) Mô hình Bộ trưởng – các Thứ trưởng

Trong mối quan hệ mang tính phân công, ủy quyền, Bộ trưởng giao trực tiếp những các công việc chính cho các Thứ trưởng

Các chức danh Thứ trưởng cũng có thể có những tên gọi khác nhau, tùy theo từng quốc gia

Ví dụ: Bộ Tài chính Nhật Bản bao gồm: Bộ trưởng; Thứ trưởng cao cấp; Thứ trưởng hành chính; Thứ trưởng nhân sự; Thứ trưởng vấn đề quốc tế; Thứ trưởng tổ chức quan hệ với Quốc hội.

Và chia thành 5 Cục (bureau) và một Văn phòng Thư ký Bộ trưởng Mỗi Cục chia thành các bộ phận, tên gọi có thể là Phòng.

Bộ Tài chính của New Zealand bao gồm: Bộ trưởng kiêm Phó Thủ tướng, đồng thời là Bộ trưởng của 2 Bộ khác; 2 Bộ trưởng giúp việc và chia thành nhiều cục.

Xu hướng chung hiện nay là các nước đang tổ chức lại bộ máy hành pháp Trung ương trên nguyên tắc giảm số lượng các Bộ Tuy nhiên không có công thức chung về số lượng bao nhiêu Bộ là hợp lý Vấn đề này tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có 2 yếu tố cơ bản:

• Năng lực điều hành của người đứng đầu (Thủ tướng hay Tổng thống)

• Đảng đa số cầm quyền hay liên minh cầm quyền

Đối với Chính phủ liên hợp, thông thường do sự đòi hỏi phải có số lượng

Bộ trưởng phân phối cho các các Đảng trong liên minh, nên số lượng Bộ đòi hỏi nhiều hơn

Trang 6

Năng lực hạn chế của Thủ tướng cũng có thể tạo nên số lượng Bộ nhiều hơn

Các vùng lãnh thổ có những đặc trưng kinh tế có thể khai thác lợi thế của nhau, nhưng không hình thành nên một đơn vị hành chính - lãnh thổ

Quan tâm chung vẫn chính là phân chia lãnh thổ hình thành nên các vùng hành chính – lãnh thổ (Administrative Division) với mục đích quản lý Đây không chỉ là vấn đề của nước có lãnh thổ nhỏ hay lớn mà là vấn đề chung của tất cả các nước

Như đã nêu trên, bản chất chung của nhà nước là chia đất nước ra các vùng khác nhau để dễ cai trị Đất nước rộng lớn như Liên bang Nga, Trung Quốc, Mỹ hay đất nước bé nhỏ như Antiga, Barbada (với dân số chỉ 100 ngàn người trên diện tích 441 km2) cũng đều chia thành các vùng, địa phương khác nhau để cai trị, quản lý

Có hai cách khác nhau để phân chia quốc gia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ với nghĩa để ra đời một chủ thể nhất định để quản lý các vấn đề của địa phương đó - chính quyền địa phương

- Phân chia địa phương theo khái niệm lãnh thổ tức chỉ nhằm thiết lập từng vùng lãnh thổ nhất định với những mục tiêu khác nhau.

- Phân chia địa phương theo cơ cấu tổ chức chính quyền nhà nước.

4 Một số Nội các điển hình

2.4.2.1.Nội các Chính phủ Mỹ - dạng Tổng thống không có Thủ tướng

Nội các của hành pháp Mỹ khá đơn giản do thể chế chính trị tạo ra Ngay

từ đời Tổng thống đầu tiên, Nội các được Tổng thống chỉ định có 4 thành viên

Nội các bao gồm những quan chức cao cấp của ngành hành pháp của Chính phủ Liên bang Họ là những người đứng đầu các Bộ (Bộ trưởng)

và một số người thuộc cấp hành pháp Nội các nhưng không có hàm Bộ trưởng

Các thành viên Nội các do Tổng thống chỉ định và được chuyển qua Thượng nghị viện xem xét chấp nhận hoặc phản đối bằng đa số đơn giản Nếu được phê duyệt, họ sẽ tuyên thệ nhậm chức và tên gọi của họ cho hàm Bộ trưởng là “Secretary”

Trang 7

Thành viên Nội các phải nhận được sự ưng thuận của Tổng thống trong quá trình làm việc, nếu không có thể bị cách chức hoặc chuyển qua vị trí khác Hiện nay Nội các của bộ máy hành pháp trung ương của Hợp chủng Quốc Hoa kỳ chỉ có 15 thành viên hàm bộ trưởng:

• Ngoại giao

• Kho bạc

• Viện chưởng lý

• Quốc phòng

• Nội vụ;

• Nông nghiệp;

• Thương mại;

• Lao động;

• Y tế

• Nhà ở

• Vận tải

• Năng lượng

• Giáo dục

• Vấn đề cựu chiến binh;

• An ninh nội địa

Bên cạnh 15 Bộ trưởng (2013), 8 nhân vật khác không có hàm Bộ trưởng cũng là thành viên Nội các (gọi chung là cấp Nội các):

• Phó Tổng thống

• Chánh Văn phòng Nhà Trắng;

• Tổng Giám đốc quản lý và ngân sách;

• Cơ quan bảo vệ môi trường

• Đại diện thương mại

• Đại sứ tại Liên hiệp quốc

• Hội đồng tư vấn kinh tế

• Cơ quan quản lý hoạt động kinh doanh nhỏ

2.4.2.2 Nội các Vương Quốc Anh (United Kingdom)- Nghị viện theo mô hình Westminster

Nội các của Chính phủ Vương quốc Anh gồm Thủ tướng và các Bộ trưởng Hoàng gia (Ministers of the Crown) và các Bộ trưởng Nội các Các Bộ trưởng Nội các là người đứng đầu Bộ

Các Bộ trưởng của Hoàng gia và Nội các được chọn từ các thành viên của

Hạ viện cũng như Thượng viện Thủ tướng sẽ quyết định chọn thành viên

Trang 8

Nội các Nội các của Vương quốc Anh là cơ quan quyết nghị tập thể của Chính phủ Hoàng gia Nội các bao gồm Thủ tướng và 22 Bộ trưởng Nội các (con số này không cố định tuyệt đối) Đó là những Bộ trưởng cao cấp nhất trong các Bộ trưởng của Chính phủ

Nội các trên thực tế của Vương quốc Anh là Ủy ban chấp hành của Hội đồng cơ mật (Privy Council) Đây là một cơ quan có cả ba quyền và có cả thành viên của Đảng đối lập Quyết định của Hội đồng Cơ mật sẽ được thực hiện hoặc bởi chính các Bộ trưởng hoặc bằng Sắc lệnh của Hội đồng

Cơ mật Nội các không hoạt động mang tính thường xuyên mà hàng tuần chỉ họp 1 lần vào những ngày cụ thể (thứ 3; thứ 5,v.v.) do Thủ tướng quyết định

Nội các chia thành một số tiểu ban,tập trung vào từng lĩnh vực cụ thể, đặc biệt những lĩnh vực đòi hỏi sự phối hợp nhiều Bộ

Nội các có hai tư cách trách nhiệm với Quốc hội: trách nhiệm tập thể của Nội các và trách nhiệm cá nhân của từng Bộ trưởng

Cuộc họp của Nội các có các thành viên là Bộ trưởng Nội các Nhưng một số Bộ trưởng không thuộc Nội các vẫn tham dự cuộc họp của Nội các

2.4.2.3.Nội các của chính phủ Nhật Bản ( Naikaku)

Nội các Chính phủ Nhật Bản có lịch sử lâu đời ( Năm1885) Đó là nhánh hành pháp của Chính phủ Nhật Bản Nội các bao gồm Thủ tướng và từ 14 đến 17 thành viên (chỉ có thể ít hơn)[] Nhật Hoàng bổ nhiệm Thủ tướng sau khi được Quốc hội thông qua và Thủ tướng bổ nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của Nội các

Bộ máy hành pháp Nhật Bản hiện nay bao gồm 48 Bộ, trong đó có 19 Bộ trưởng Do đó mỗi một cá nhân đảm nhận nhiều vị trí Bộ trưởng ở các Bộ[] Nội các Nhật hiện nay bao gồm Thủ tướng và 13 Bộ trưởng

2.4.2.4.Nội các của Chính phủ Malaysia

Hiến pháp Malaysia quy định về chủ thể được gọi là Nội các Đó là nhánh hành pháp của Chính phủ Malaysia Nội các là Hội đồng Bộ trưởng do Thủ tướng lãnh đạo và chịu trách nhiệm tập thể trước Quốc hội

Không có quy định số thành viên Nội các trong các văn bản pháp luật (khác với Nhật Bản quy định số lượng thành viên Nội các trong Luật Tổ chức Nội các) Số lượng thành viên Nội các phụ thuộc vào ý chí của Thủ tướng Một trong những quy định là vị trí của Bộ trưởng Bộ tài chính Thủ tướng về lý thuyết có Phó Thủ tướng Tuy nhiên, Thủ tướng có thể

Trang 9

thành lập Chính phủ mà không cần có Phó Thủ tướng Số lượng Phó Thủ tướng bị hạn chế - thường chỉ có 1 Phó thủ tướng Hàm Bộ trưởng của một Bộ có thể được trao cho 2 người (Xem phụ lục)

2.4.2.5.Nội các Chính phủ Hoàng gia Thái Lan

Thái Lan là nhà nước Quân chủ lập hiến Quốc vương đứng đầu nhà nước

và Thủ tướng đứng đầu bộ máy hành pháp

Nội các Chính phủ Thái Lan là Hội đồng Bộ trưởng Tuy nhiên, không phải tất cả thành viên của Nội các đều là Bộ trưởng

Nội các là tổ chức chính, chủ chốt của bộ máy hành pháp Thái Lan Tất

cả các thành viên của Nội các do Thủ tướng chỉ định và được bổ nhiệm chính thức bằng Sắc lệnh của nhà vua

Phần lớn (20) thành viên Nội các là người đứng đầu các Bộ và gọi chung

là Bộ trưởng nhà nước (Minister of State) Thủ tướng Chính phủ chủ trì Nội các Thuật ngữ Nội các cũng có thể gọi tắt là Chính phủ Thái Lan

2.4.2.6 Nội các chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung hoa

Bộ máy hành pháp của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gọi là Hội đồng Nhà nước (The State Council) hay còn gọi là Chính phủ hành pháp Trung ương của Trung Quốc Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Trung quốc (Chief administrative authority) Hội đồng Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, bao gồm những người đứng đầu các Bộ (Bộ trưởng) và các cơ quan khác

Nội các là từ không được ghi nhận, nhưng lại có cơ cấu tổ chức bộ máy tương tự như các nước Đó là một tập thể gồm một số quan chức cấp cao nhất của bộ máy hành pháp cùng với Thủ tướng Cũng có thể tạm gọi đó

là “Cơ quan thường trực của Chính phủ”

Năm 2013, cùng với Thủ tướng mới được bầu, Nội các bao gồm:

• Thủ tướng

• Các Phó Thủ tướng (4)

• Tổng Thư ký Hội đồng Nhà nước

• Bộ trưởng Tài chính ;

• Bộ trưởng Ngoại giao;

• Bộ trưởng Quốc phòng;

• Bộ trưởng Giáo dục;

• Bộ trưởng Thương mại;

• Chủ nhiệm Vấn đề Y tế và Kế hoạch gia đình;

• Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách và Phát triển;

• Bộ trưởng Giao thông;

• Bộ trưởng Nội vụ;

Trang 10

• Bộ trưởng Bộ Lao động

• Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

2.4.2.7.Nội các Chính phủ Cộng hòa Pháp

Cộng hòa Pháp theo chế độ bán Tổng thống và do đó, bộ máy hành pháp bao gồm Tổng thống và Thủ tướng Nội các được gọi là Hội đồng Bộ trưởng

Nội các của bộ máy hành pháp nhằm chỉ các thành viên của Chính phủ đặt dưới sự điều hành của Thủ tướng Nội các bao gồm các Bộ trưởng và các Bộ trưởng không Bộ (Junior)

Nội các chịu trách nhiệm với Nghị viện và do đó thông thường Nội các được chọn từ thành viên của Đảng đa số trong Nghị viện hoặc Đảng liên minh với Đảng đa số trong Nghị viện

Nội các không có quyền đưa ra các văn bản quy phạm nếu như không được sự phê chuẩn của Nghị viện Trong giới hạn nhất định, Thủ tướng

có thể đưa ra những sắc lệnh của Chính phủ

Nội các đóng vai trò chủ yếu trong việc xác định nghị sự của Nghị viện

2.4.2.8 Nội các Chính phủ Đức

Cộng hòa Liên bang Đức là nhà nước theo thể chế Tổng thống Tổng thống là người đứng đầu nhà nước và Thủ tướng đứng đầu bộ máy hành pháp trung ương (Liên bang)

Nội các của Chính phủ Đức là cơ quan hành pháp cao nhất của Cộng hòa Liêng bang Đức Nội các bao gồm Thủ tướng (Chancellor) và các Bộ trưởng Việc lựa chọn các thành viên Nội các được Hiến pháp (đạo luật

cơ bản) quy định

Nội các hiện nay (2014) bao gồm:

• Thủ tướng

• Bộ trưởng Kinh tế và Công nghệ

• Bộ trưởng Ngoại giao

• Bộ trưởng Nội vụ

• Bộ trưởng Tư pháp

• Bộ trưởng Tài chính

• Bộ trưởng Lao động và Xã hội

• Bộ trưởng Lương thực, Nông nghiệp và Bảo vệ người tiêu dùng;

• Bộ trưởng Quốc phòng

• Bộ trưởng Gia đình, Người cao tuổi, Phụ nữ và Thanh niên

• Bộ trưởng Y tế

• Bộ trưởng Giao thông, Xây dựng và Phát triển đô thị

• Bộ trưởng Môi trường, Bảo vệ thiên nhiên và An toàn hạt nhân

Ngày đăng: 03/11/2016, 21:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 4.6. mô tả nguyên tắc mô hình Hội đồng – cơ quan chấp hành (Ủy  ban). - đề cương môn quản lý ngân sách nhà nước
Sơ đồ 4.6. mô tả nguyên tắc mô hình Hội đồng – cơ quan chấp hành (Ủy ban) (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w