PHẦN I: CỔ SINH VẬT HỌC Chương MỞ ĐẦU: NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CỔ SINH VẬT HỌC 1. Khái niệm: 2. Đối tượng và nhiệm vụ môn cổ sinh vật học: 3. Quan hệ các môn học khác: HOÁ ĐÁ (FOSSILE) ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG CÁC KIỂU SỐNG PHÂN LOẠI VÀ ĐẶT TÊN BẢNG ĐỊA TẦNG VÀ ĐỊA NIÊN BIỂU QUỐC TẾ Chương 1: ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG INVERTEBRATA 1.1. NGÀNH NGUYÊN SINH ĐỘNG VẬT ( PROTOZOA) 1.2. NGÀNH MANG LỖ (PORIFERA) 1.3. NGÀNH DẠNG CHÉN CỔ (ARCHEOCYATHA) 1.4. NGÀNH RUỘT KHOANG (CŒLENTERATA) 1.5. NGÀNH TAY CUỘN (BRACHIOPODA) 1.6. NGÀNH THÂN MỀM MOLLUSCA 1.7. NGÀNH CHÂN ĐỐT (ARTHROPODA) 1.8. NGÀNH DA GAI (ECHINODERMATA) 1.9. NGÀNH NỬA DAY SỐNG HEMICORDATA Chương 2: SƠ NÉT LỊCH SỬ TIẾN HOÁ CỦA ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG CORDATA 2.1. Đặc điểm của động vật có xương sống: 2.2. Phân loại và lịch sử tiến hoá của động vật có xương sống: Chương 3: CỔ THỰC VẬT PALEOBOTANICA 3.1. Thực vật cấp thấp (Thallophyta): 3.2. Thực vật cấp cao (Cormophyta): 3.2.1. NGÀNH THỰC VẬT DẠNG LỘ TRẦN (PSILOPSIDA) 3.2.2. NGÀNH THỰC VẬT THẠCH TÙNG (LYCOPSIDA) 3.2.3. NGÀNH THỰC VẬT THÂN ĐỐT (SPHENOPSIDA) 3.2.4. NGÀNH THỰC VẬT DƯƠNG XỈ ( PTEROPIDA) PHẦN II: ĐỊA TẦNG HỌC Chương 4: ĐỊNH NGHĨA, NHIỆM VỤ, CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA ĐỊA TẦNG HỌC 4.1. Định nghĩa, nhiệm vụ của địa tầng học 4.2. Các nguyên lý cơ bản của địa tầng học Chương 5: KHÁI NIỆM VỀ TUỚNG ĐÁ VÀ CỔ ĐỊA LÝ 5.1. Khái niệm chung về tướng đá và cổ địa lý 5.2. Các phương pháp nghiên cứu tướng đá và cổ địa lý: PHẦN III: CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊA TẦNG HỌC Chương 6: Nhóm các phương pháp không cổ sinh 6.1. Phương pháp địa tầng: 6.2. Phương pháp thạch địa tầng: 6.3. Phương pháp địa vật lý: 6.4. Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc kiến tạo: Chương 7: PHƯƠNG PHÁP SINH ĐỊA TẦNG 7.1. Khái niệm chung: 7.2. Phương pháp hóa thạch chỉ đạo và phương pháp đới: 7.3. Phương pháp phân tích phức hệ hóa thạch: 7.4. Ý nghĩa và hạn chế của phương pháp sinh địa tầng: Chương 8: SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÓNG XẠ VÀ CỔ TỪ TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA TẦNG Chương 9: PHÂN LOẠI ĐỊA TẦNG 9.1. Khái niệm: 9.2. Cách phân lọai cũ và nhược điểm: 9.3. Hệ thống phân loại địa tầng: 9.4. Các đơn vị phân lọai và phép đặt tên: PHẦN IV: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG QUA CÁC GIAI ĐỌAN LỚN CỦA LỊCH SỬ VỎ TRÁI ĐẤT VÀ SƠ NÉT VỀ ĐỊA TẦNG VIỆT NAM
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA
_
GIÁO TRÌNH CỔ SINH – ĐỊA TẦNG (SỬ DỤNG GIẢNG DẠY CHO CỬ NHÂN CHUYÊN NGÀNH ĐỊA CHẤT)
Người biên soạn:
Thạc sĩ TRẦN ĐẮC LẠC
TUY HÒA 2007
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I CỔ SINH VẬT HỌC
PHÂN LOẠI VÀ ĐẶT TÊN
BẢNG ĐỊA TẦNG VÀ ĐỊA NIÊN BIỂU QUỐC TẾ
Chương 1: ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG
INVERTEBRATA
1.1 NGÀNH NGUYÊN SINH ĐỘNG VẬT ( PROTOZOA)
1.2 NGÀNH MANG LỖ (PORIFERA)
1.3 NGÀNH DẠNG CHÉN CỔ (ARCHEOCYATHA)
1.4 NGÀNH RUỘT KHOANG (CŒLENTERATA)
1.5 NGÀNH TAY CUỘN (BRACHIOPODA )
1.6 NGÀNH THÂN MỀM MOLLUSCA
1.7 NGÀNH CHÂN ĐỐT (ARTHROPODA)
1.8 NGÀNH DA GAI (ECHINODERMATA)
1.9 NGÀNH NỬA DAY SỐNG HEMICORDATA
Chương 2:
SƠ NÉT LỊCH SỬ TIẾN HOÁ
CỦA ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG CORDATA2.1 Đặc điểm của động vật có xương sống:
2.2 Phân loại và lịch sử tiến hoá của động vật có xương sống:
Chương 3: CỔ THỰC VẬT PALEOBOTANICA
Trang 33.2.4 NGÀNH THỰC VẬT DƯƠNG XỈ ( PTEROPIDA)
PHẦN II ĐỊA TẦNG HỌCChương 4
ĐỊNH NGHĨA, NHIỆM VỤ, CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA ĐỊA TẦNG HỌC4.1 Định nghĩa, nhiệm vụ của địa tầng học:
4.2 Các nguyên lý cơ bản của địa tầng học:
7.2 Phương pháp hóa thạch chỉ đạo và phương pháp đới:
7.3 Phương pháp phân tích phức hệ hóa thạch:
7.4 Ý nghĩa và hạn chế của phương pháp sinh địa tầng:
9.2 Cách phân lọai cũ và nhược điểm:
9.3 Hệ thống phân lọai địa tầng:
9.4 Các đơn vị phân lọai và phép đặt tên:
PHẦN IV ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG QUA CÁC GIAI ĐỌAN LỚN CỦA LỊCH SỬ VỎ TRÁI ĐẤT VÀ SƠ NÉT VỀ ĐỊA TẦNG VIỆT NAM
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
Trang 4PHẦN I CỔ SINH VẬT HỌCChương MỞ ĐẦU:
NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CỔ SINH VẬT HỌC
1.Khái niệm: Cổ sinh vật học là môn học chuyên nghiên cứu về sự phát sinh và
phát triển của thế giới sinh vật cổ đã từng sống trên trái đất trong những thời kỳ địa chất
xa xưa Hiện nay không còn tồn tại nữa Từ những vấn đề tồn tại về vật lý (hóa đá) đếnnhững dấu vết của nó để lại, các nhà cổ sinh vật học cố gắng lập lại bức tranh sự sốngcủa thế giới đã bị biến mất, vạch nên sự biến đổi từ cổ xưa đến ngày nay về những độngvật và thực vật mà ta thấy ở quanh ta
có một ngành nghiên cứu các hoá đá phấn hoa –bào tử được gọi là phấn hoa bào tử học(palynology), nguyên lý thống nhất cố gắng thiết lập tổ chức đời sống cổ xưa trong môitrường của chúng được gọi là cổ sinh thái học
2.Đối tượng và nhiệm vụ môn cổ sinh vật học:
- Đối tượng nghiên cứu của cổ sinh vật học bao gồm những di tích, dấu vếtcủanhữnh sinh vật còn lưu giữ lại trong các lớp đất đá, bản chất ban đầu củachúng có thể đã bị biến đổi hoặc chưa
- Môn cổ sinh vật có hai nhiệm vụ chính:
Đối với Địa chất học:Những thành quả nghiên cứu của cổ sinh vật họcgiúp cho Địa chất học xác định tuổi của các lớp đất đá, tuổi của vỏ tráiđất nói riêng và tuổi của trái đất nói chung
Đối với Sinh vật học: cổ sinh vật học giúp cho nhà sinh vật xác lập lạimối quan hệ huyết thống giữa các nhóm loài của sinh vật ngày nay
3.Quan hệ các môn học khác:
Cổ sinh vật học có quan hệ chặc chẽ với nhiều môn học Địa chất như:Trầm tích học, Địatầng học, Cổ địa lý, Thạch học, Khoáng sàn…các môn Sinh vật học, Giải phẩu học, Cổđịa lý, Cổ sinh thái, Cổ bệnh lý…
HOÁ ĐÁ (FOSSILE)
i Định nghĩa: Hoá đá hay còn gọi hoá thạch là những di tích, dấu vết
của những sinh vật cổ xưa từng sống trên trái đất vào những thời kỳ
Trang 5Quá trình trên cho thấy điều kiện cần thiết để một sinh vật được bảo tồn là phảiđược vùi lấp nhanh chóng và phải có bộ phận cứng dễ được in hình đúc khuôn.
Trang 6iii Các loại hình hoá đá thường gặp:
1 Xác sinh vật được bảo tồn nguyên vẹn bản chất ban đầu vẫnchưa thay đổi: ví dụ sâu bọ trong hổ phách, voi Mamouthtrong các lớp băng giá ở Bắc cực …Loại này rất có giá trị đốivới các ngành sinh vật học, cổ địa lý… nhưng rất ít giá trị đốivới việc xác định tuổi địa chất của các lớp đất đá bỡi vì các ditích loại này rất hiếm và thường chỉ có trong các lớp băngtuyết, các lớp đất đá trẻ…
2 Một bộ phận của sinh vật ( vỏ cứng, bộ xương…) được bảotồn nguyên vẹn: Trong khi các phần mềm cơ thể bị thối rữanhanh chóng thì phần cứng như là cốt bộ hay vỏ cứng có thểđược lưu giữ lâu hơn, nhất là khi chúng được đất đá vùi lấpnhanh chóng Tuy nhiên loại hình hoá đá này vẫn ít có giá trịđịa chất bỡi vì chúng chỉ có mặt trong các lớp đất đá trẻ,trong khi việc xác định tuổi của các lớp đất đá cổ có một tầmquan trọng đặc biệt hơn vì rất hiếm di tích và các di tích này
bị biến đổi rất nhiều làm cho việc xác định chúng găp nhiềukhó khăn
3 Một bộ phận hoặc toàn bộ xác sinh vật hoá thành đá: Sau khichết đi xác sinh vật hoặc một bộ phận của cơ thể được đất đávùi lấp và trải qua quá trình hoá thành đá Loại này rất có giátrị đối với địa chất, chúng giúp cho các nhà địa chất xác địnhtuổi của các lớp đất đá cổ xưa
4 Những dấu vết sinh hoạt: ví dụ như những dấu chân chim,vết giun bò, hang trú ẩn…cũng dược coi là những hoá đá cógiá trị trong việc xác định các nhóm loài sinh vật hiện diệnvào thời kỳ đó
iv Hoá đá chỉ đạo và hoá đá địa phương:
1 Hoá đá chỉ đạo: là hoá đá ứng với thang địa tầng Quốc tế, cónghĩa là chúng ta có thể sử dụng một hoá đá chỉ đạo để xácđịnh tuổi của các lớp đất đá Một hoá đá chỉ đạo cần đáp ứngđầy đủ các tiêu chuẩn:
- Phân bố ngắn theo chiều đứng cột địa tầng, có nghĩa là một loài nào đó chúngchỉ tồn tại trong một thời gian ngắn rồi bị tiêu diệt hoặc biến đổi sang dạngkhác điều đó giúp chúng ta xác định tuổi của các lớp đất đá một cách chínhxác hơn
- Phân bố rộng trên khắp thế giới: một loài nào đó được gọi là hoá đá chỉ đạochúng phải có tính phổ biến, khu vực nào cũng có thì mới có thể ứng với thangđịa tầng Quốc tế Ngoài ra một hoá đá chỉ đạo cần phải có thêm các tiêu chuẩnkhác :
- Số lượng đông đảo
Trang 7phương, những hoá đá của các nhóm sinh vật thuộc dạng nàygọi là hoá đá địa phương Khi xác định tuổi phải dựa vào hoá
đá của nhiều nhóm loài hay một phức hệ hoá đá
ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG
Tất cả các sinh vật ngày nay cũng như cổ xưa cũng đều có quan hệ mật thiết với môitrường sống của chúng, chúng bị chi phối mạnh mẽ bỡi các yếu tố môi trường, thậm chícác yếu tố môi trường quyết định hình dạng cấu trúc cơ thể của chúng: ví dụ các loàisống dưới nước chủ yếu là thở bằng mang, có vây bơi…, những loại cá đi ăn vào banđêm thường có màu trắng bạc, những loại cá đi ăn vào ban ngày thường có màu rêu,những loài sinh vật sống ở độ sâu trên 200m không có ánh sáng cho nên trên thân có bộphận chứa chất lân tinh phát ra ánh sáng…Điều kiện môi trường có thể chia làm cácnhóm yếu tố:
- Sinh vật hẹp nhiệt: nhiều nhóm sinh vật chỉ thích nghi với một vùng nhiệt, ví
dụ như giống Nautilus sinh ra ở vùng biển Ấn Độ dương nóng ấm nhưng khimùa hè đến nhiệt độ trong nước tăng cao các sinh vật này phải di chuyển lênphía Bắc vùng biển Nhật Bản có khí hậu mát mẻ cho đến mùa Đông biển Bắclạnh nên phải quay về Ấn Độ dương Nhóm san hô chỉ sống và phát triển ởnhững vùng biển trong, nước ấm của các vùng biển lân cận xích đạo (200-300)
2 Ánh sáng : Theo điều kiện ánh sáng có thể chia làm nhiềunhóm sinh vật theo các đới ánh khác nhau:
- Đới cường quang: từ 0m đến -50m cường độ ánh sáng mạnh
- Đới tán quang:từ 50m đến -200m ánh sáng bị khuếch tán
- Đới vô quang: sâu hơn -200m hoàn toàn không có ánh sáng
Đới vô quang (Aphotic)
3 Áp suất (bars): Trong môi trường nước áp suất gia tăng theochiều sâu, cứ 10m tăng thêm 1atmosphere cho nên càng sâu
áp suất càng lớn Các nhà sinh vật học chia làm hai nhóm
Trang 8sinh vật theo điều kiện áp suất, đó là sinh vật rộng áp(eurybars) và sinh vật hẹp áp (steno bars)
- Sinh vật rộng áp: bao gồm nhóm sinh vật có thể sống được ở nhiều độ sâukhác nhau, chẳng hạn như các sinh vật bơi lội tích cực (nhóm chân đầu, cá…)
- Sinh vật hẹp áp: bao gồm những sinh vật chỉ sống ở một vùng độ sâu nhất địnhnhư các sinh vật đáy (chân rìu, chân bụng…ít di chuyển)
vi Các yếu tố hoá học:
1 Độ mặn (haline): Theo điều kiện độ mặn các nhà sinh vậtchia làm hai nhóm : sinh vật rộng mặn (euryhaline) và sinh
vậ t hẹ p mặ n (stenohaline):
- Những sinh vật rộng mặn sống được nhiều môi trường có độ mặn khác nhaunhư những sinh vật nước lợ, những sinh vật vũng vịnh điều kiện độ mặnthường xuyên thay đổi
- Nhóm sinh vật hẹp mặn chỉ sống được những vùng độ mặn nhất định
2 Độ pH: Độ acid và baz chi phối rất lớn đến đời sống nhiềunhóm sinh vật , dộ pH trong môi trường nước thay đổi có thểtiêu diệt nhiều nhóm sinh vật
3 Độ Eh: Trong những nghiên cứu gần đây cho thấy độ Ehcũng có ảnh hưởng nhất định đến sinh vật, sự di chuyển di cưcác sinh vật…
4 Các nguyên tố hiếm: trong nước biển có sự hiện diện nhiềunguyên tố hiếm quyết định sự phát sinh, phát triển của nhiềunhóm sinh vật
vii Các yếu tố sinh học:
1 Ký sinh: một số nhóm sinh vật sống bám vào cơ thể của sinhvật khác, hút thức ăn và các chất bổ dưỡng, chính nhữngnhóm này làm lây lan bệnh dịch, đôi khi đến mức gây hạihoặc tiệu diệt cả nhóm loài
2 Cộng sinh: một số sinh vật sống bám vào cơ thể sinh vật khácnhưng đem lại sự tiện lợi cho cả đôi bên ví dụ các sinh vậtbọt biển sông gắn dính ngay trên miệng vỏ của các loài chânrìu sử dụng chất thải của chân rìu và chân rìu có thể sống nhờvào những xác chết của bọt biển…
3 Quần sinh: một quần thể sinh vật sống và phát triển trên nềntảng liên hệ trong chuỗi thực phẩm, chuyển hoá năng lượng.Một khi có một nhóm sinh vật nào bị tiêu diệt các nhóm khác
có thể bị ảnh hưởng theo, thậm chí quần thể sinh vật bị phávỡ
CÁC KIỂU SỐNG
Trang 9nổi nhưng bám vào những vật trôi nổi hoặc một số sinh vật khác khichết xác trôi nổi.
ix Sinh vật bơi lội tích cực (Necton): Một số nhóm có khả năng bơi
lội tích cực tiếp cận với nhiều nguồn thực phẩm, cơ thể phát triển,làm khuấy động cuộc sống của nhiều nhóm sinh vật khác
x Sinh vật đáy (Benton): Nhiều nhóm sống chui rúc dưới nền đáy
(giun, một số chân rìu, một số chân đốt…) Một số nhóm bò lê trênmặt đáy như các loài chân bụng, da gai…Một số nhóm gắn dính vàonền đáy như Tay cuộn da gai có cuống…Các sinh vật thuộc nhómsinh vật đáy cho phép xác định điều kiện môi trường rõ ràng nhất.PHÂN LOẠI VÀ ĐẶT TÊN
xi Khái niệm về phân loại trong cổ sinh vật học:
Trong Cổ sinh vật học để tiện lợi cho việc nghiên cứu các hoá đá cũng được tiến hànhphân loại đặt tên giống như trong sinh vật học
xii Cơ sở phân loại:
Đối với sinh vật học việc phân loại đặt tên chủ yếu dựa vào đặc điểm cấu trúc, hình dạng
và tập quán lối sống của sinh vật Cổ sinh vật cũng vậy, tuy nhiên chủ yếu là dựa vàohình dạng bỡi vì các hoá đá rất khó khăn cho việc thực hiện giải phẩu
xiii Các đơn vị phân loại:
- Đơn vị phân loại nhỏ nhất trong cổ sinh vật là loài (species) ví dụ như loài chó
rừng (carnis aureus), chó nhà(canis familiaris), chó sói (carnis lupus)…; mèorừng (felis bengalensis), mèo nhà (felis familiaris)…
- Nhiều loài có hình dạng cấu trúc tương tự nhau và cùng chung huyết thống,
cùng nguồn gốc tổ tiên gọp chung thành giống (genus) Ví dụ giống chó gọi là
canis, giống mèo gọi là felis …
- Nhiều giống tương tự gọp chung thành họ (family) ví dụ họ chó (carnidae), họ
mèo (felidae)
- Nhiều họ gọp chung thành bộ (ordo) ví dụ như họ chó, họ mèo gọp chung
thành bộ có vuốt hoặc bộ ăn thịt sống (carnivora)
- Nhiều bộ gọp chung thành lớp (class) ví dụ như bộ có vuốt, bộ nhai lại, bộ ăn
tạp , gọp chung thành lớp có vú (mammalia)
- Nhiều lớp gọp chung thành ngành (phyllum) ví dụ lớp có vú, lớp bò sát, lớp
chim… gọp chung thành ngành động vật có xương sống (vertebrata)
- Nhiều ngành gọp chung thành giới (regnum) ví dụ giới động vật, giới thực
vật…
Ngoài các đơn vị phân loại trên còn có các đơn vị phân loại trung gian như phụngành, phụ lớp, thượng bộ, thượng họ…)
xiv Phương pháp Linné:
Người ta còn gọi là phương pháp tên đôi hoặc phương pháp nhị danh (danh pháp đôi) doCarl Linné người Bỉ đưa ra từ thế kỷ thứ 18(1735) Mỗi một loài sinh vật được gọi bằnghai tên:
- Tên đầu chỉ giống viết hoa
- Tên sau chỉ loài viết thường
Ví dụ : Canis aureus
xv Phương pháp đặt tên bỏ ngõ:
Trang 10Trong cổ sinh vật học việc xác định tên của các loài sinh vật có những hạn chế do mức
độ bảo tồn của hoá đá Việc xác định tên còn bỏ ngõ là dấu hiệu cho người nghiên cứusau lưu ý làm tiếp tục Ví dụ:
- sp : loài không xác định ( Claraia sp )
- af (affirmis): loài tương tự
- cf (conformis): loài giống nhau Ví dụ Calceola cf sandalina Lamark có nghĩa
là giống Calceola xác định chắc chắn được rồi, còn loài hãy còn ngi ngờ vì lý
do điều kiện mẫu hoá thạch xấu, bảo tồn kém thiếu tài liệu, người ta thấy cómột số tính chất phù hợp với loài sandalina nhưng chưa chắc chắn
- interminatum: giống không xác định
- paracyclas ? : Không xác định gì
BẢNG ĐỊA TẦNG VÀ ĐỊA NIÊN BIỂU QUỐC TẾ
xvi Bảng địa tầng:là bảng thể hiện khối lượng đất đá được hìng thành
trong không gian và thời gian của quá trìng địa chất theo thứ tự từgià đến trẻ
xvii Bảng địa niên biểu (bảng tuổi địa chất): là bảng thể hiện thời gian
thành tạo các đất đá từ nguyên thuỷ đến ngày nay
xviii Cơ sở thành lập bảng địa tầng và địa niên biểu:
- Quá trình tiến hoá của thế giới sinh vật
- Các chu kỳ trầm tích
- Các chu kỳ hoạt động kiến tạo
- Các chu kỳ hoạt động macma xâm nhập
- Các hiện tượng biến chất…
190
MIDDLE JURASSIC LOWER JURASSIC
235
KEUPER MUSCHELKALK BUNTER
Trang 11430
LUDLOW WENLOCK LLANDOVERY ORDOVICIAN
BALA
500
LLANDEILO LLANVRIN ARENIG TREMADOC CAMBRIAN
UPPER CAMBRIAN
570
MIDDLE CAMBRIAN LOWER CAMBRIAN
1.1.2 Hình dạng cấu tạo chung
Những giống thuộc ngành nguyên sinh động vật là những động vật đơn bào, cơ thể chỉmột tế bào duy nhất có khả năng đảm nhận chức năng dinh dưỡng và sinh sản Về cấutạo gồm một khối nguyên sinh chất có chứa các ấn thể như nhân, bộ golgi, ty thể, khôngbào, du bào lạp bào…bao bọc chung quanh là một màng tế bào có thể biến đổi để thànhchân giả di chuyển Một số có vỏ cứng bằng chất vôi hoặc silic thì chân giả thò quanhững lỗ nhỏ
Về kích thước nói chungkhoảng từ 0,1-1mm, vài loài có kích thước khổng lồ 1-2cm Hôhấp bằng oxy hoà tan trong nước, sinh sản bằng phân bào hoặc nẩy mầm
Trang 12Những giống thuộc bộ này có hình dạng rất khác nhau, vỏ bằng chất vôi, silic,kitin…Kích thước khoảng 0,5-1cm để lại nhiều hoá đá có giá trị định tầng cho các trầmtích C,P và K-Paleogen.
a Bộ Trùng thoi (Fusulida):
Nhìn chung có hình dạng giống như một con thoi có kích thước từ 0,1-1cm gồm nhiềuvòng cuộn lại với nhau theo một trục, mỗi vòng cuộn chia làm nhiều ngăn bỡi nhữngsepta (vách ngăn).Bộ trùng thoi chủ yếu phát triển trong Carbon-Permi
Vách được cấu tạo bỡi nhiều lớp:
- Vách chỉ là một lớp tectum
- Vách hai lớp : bên trong là keriotheca, bên ngoài là tectum
- Vách ba lớp: từ ngoài vào trong tectorium-tectum-tectorium
- Vách bốn lớp: từ ngoài vào trong tectorium-tectum-diaphanotheca-tectoriumMột số giống đặt trưng:
*giống Fusulina (C-P) Đồng mỏ-Lạng sơn: vỏ có dạng hình thoi, giống như hạtgạo, tô điểm bên mặt ngoài là những khía dọc, bên trong có những septa dày Kích thướctrùng thoi dài khoảng 0,5cm , đường kính 3mm
*giống schwageria (C-P): Vỏ có dạng gần hình cầu đường kính 8-10mm, tô điểmngoài giống như Fusulina, số lượng vách ít hơn
b Bộ Trùng tiền (Nummulitida):
Vỏ có hình dạng giống như đồng xu, nhìn nghiêng có dạng thấu kính, bên trong gồmnhiều vòng cuộn tròn (7-8 vòng), mỗi vòng chia làm nhiều ngăn bỡi những vách ngăncong Đường kính vỏ 1-2cm
2.1.6 Phương pháp nghiên cứu Trùng lỗ:
Nghiên cứu những hoá thạch cần phải:
- Chọn mẫu từ vết lộ, mẫu lõi khoan
- Tách hoá thạch ra khỏi mẫu rồi mài m3ng theo trục
- Nghiên cứu lát mỏng qua kính hiển vi
- Xác định giống loài qua atlas chuyên khảo
1.2 NGÀNH MANG LỖ (PORIFERA)
Trang 131.2.2 Hình dạng cấu tạo
Những giống thuộc ngành mang lỗ hoàn toàn sống ở biển là những động vật đa bàonguyên thuỷ xuất phát từ động vật đơn bào Chủ yếu sống cố định bằng cách bám vàođáy
Nhìn chung hình dạng giống như một cái túi hay dạng cốc, xung quanh có nhiều lỗhút nước, trên cùng có miệng để thải nước ra
Cấu trúc thành túi gồm hai lớp tế bào:
- Lớp tế bào nội bì phủ mặt bên trong của xoang là những tế bào có dạng phễu,
có những long nhỏ luôn khuấy động nước để hấp thụ thức ăn
- lớp ngoại bì có nhiệm vụ bảo vệ con vật
Toàn bộ cơ thể được nâng đỡ bằng những gai xương, có thể là những gai một trục, haitrục, ba trục… bằng chất vôi hoặc silic
1.2.3 Môi trường sống và sinh sản
Ngành mang lỗ sống chủ yếu bằng những phần tử nhỏ trong nước hoặc bằng những
vi sinh Hô hấp bằng cách thẩm thấu, thu oxy và thải bã
Sinh sản vô tính bằng cách nẩy mầm trong hoặc ngoài, hữu tính bằng cách thụ tinhngoài nước sinh ra những ấu trùng bơi lội
Đa số mang lỗ hiện tại đều sống ở biển ấm và một số ít sống ở nước ngọt Phân bốrộng rãi và sống cố định ở độ sâu từ 150-300m Những di tích hoá thạch của chúngthời kỳ cổ sinh gặp rải rác trong các tầng cát kết, trong sét vôi nước nông Sang trungsinh rất phong phú nhất là Creta Hiện nay đa số là Hải miên sáu tia sống ở độ sâu4000m
1.2.4 Các giống loài đặc trưng
1 Giống Ventriculites (K):
Có hình dạng chóp nón Phần trên lỗ thoát nước loe ra, dưới cùng thu vào vàphân nhánh thành rễ bám vào đáy Xung quanh thành có những lỗ thoát nướcxếp thành dãy Kích thước rất biến thiên
1.3.2 Hình dạng cấu tạo
- Cơ thể giống như một cái chén, cốc… trên miệng lo era, ở dưới thu nhỏ vàphân nhánh biến thành rễ bám vào đáy, xunh quanh có những lỗ nhỏ để hútnước vào
Trang 14- Cấu tạo bộ xương giống như hai cái cốc lồng vào nhau và được cố định bỡinhững vách ngăn đứng và vách ngăn ngang, chia thành ra làm nhiều ngăn, cácngăn liên hệ nhau bằng những lỗ liên thông
1.3.3 Môi trường sống và sinh sản
Sống tộc đoàn hoặc đơn thể, kích thước rất biến thiên Phát triển chủ yếu ởmôi trường biển nóng ấm, nước trong…Sinh sản vô tính bằng cách nây mầm
1.3.4 Giống đặc trưng
Giống Archeocyathus (Cambri): Vỏ có dạng cốc, phễu, trụ… gồm hai lớp lồngvào nhau Vách ngoài có những lỗ nhỏ hơn vách trong, vách đứng chạy dọc thanchia thành vỏ làm nhiều phòng, không có vách ngăn ngang
1.4 NGÀNH RUỘT KHOANG (CŒLENTERATA)
1.4.1 Lịch sử phát triển
Các sinh vật ngành ruột khoang có mặt từ đầu Cambri phát triển phong phú trong suốtPaleozoi để lại nhiều hoá đá rất có giá trị định tầng nhất là trong O, S, D, C Đến cuốiPermi các nhóm cũ bị tiêu diệt và xuất hiện những mầm móng mới bộc phát mạnh mẽtrong Mesozoi ngày nay vẫn còn tồn tại nhóm này rất còn có giá tri tạo đá quan trọng
Cấu tạo của than mềm:
- Phía ngoài cùng là một lớp tế bào ngoại bì có nhiệm vụ bảo vệ, lác đác cónhững tế bào châm chích có dạng tròn hay bầu dục phía trong có một trụckim , góc của trục kim gắn liền với một lò xo quấn quanh trục Khi tấn công kẻthù trục kim tung ra châm vào kẻ thù và đồng thời tiết ra một chất acid làm têliệt đối phương
- Lớp tế bào trung gian ở giữa có lác đác những tế bào thần kinh, tế bao sinh
Trang 15Nhìn chung những giống loài thuộc ngành này đều có đối xứng toả tia qua một trục ởgiữa, còn những giống có vỏ cứng bằng chất vôi ta còn thấy có vỏ bao quanh than mềm,
có những vách đứng và vách ngăn ngang chia vỏ thành nhiều buồng
Ngành Ruột khoang gồm những giống sinh sản vô tính bằng cách nẩy mầm tạo thànhnhững quần thể, hoặc sinh sản hữu tính do từ các cá thể phóng vào môi trường nướcnhững gamet âm và dương, các gamet này kết hợp lại thành những ấu trùng sống tự dotrong nước đến khi trưởng thành thì bám vào đáy (đôi khi có loại sống đơn độc) Ngoài
ra còn có hiện tượng chen kẽ thế hệ vô tính và hữu tính
Ấu trùng bơi lội tự do sau một thời gian bám vào đáy, lúc đó lớp tế bào ngoại bì tiết ramột chất vôi tạo hành một cái đĩa, đĩa vôi phát triển cao dần có dạng chén hay cốc Đĩavôi càng ngày càng phát triển thì phần than mềm càng được nâng cao bằng những váchđáy Ngoài ra chúng có thể tạo những vách đứng toả tia, trụ cột ở giữa, mô bọt để đệmthêm vào cho cấu trúc vũng chắc
1.4.3 Phân loại
Ngành Ruột khoang có thể chia làm ba lớp chính:
- Lớp Hydrozoa ( Thuỷ tức): gồm những giống nhỏ bé đơn giản Sống đơn thểhoặc quần thể, thường có dạng túi, phía trên là miệng đồng thời cũng là hậumôn, bao quanh miệng có xúc tu, than có cấu tạo ba lớp tế bào như nêu trên,lớp tế bào trung gian phát trển rất yếu ớt Nhóm này chủ yếu sống ở biển, đa
số là quần thể để lại nhiều hoá thạch
Ví dụ: Stromatopora (S_D)
- Lớp Schyphozoa (Thuỷ mẫu)
Những giống thuộc lớp này không có cấu tạo bộ xương, là dạng sứa bơi lội tự do,một số rất ít sống cố định do rất hiếm để lại hoá thạch
- Lớp Anthozoa (San hô hình hoa): Những giống thuộc phụ lớp này đặc biệtsống ở môi trường biển, theo kiểu quần thể đôi khicũng có dạng đơn độc cóhình dạng cấu tạo rất phức tạp Dựa vào đặc điểm hình dạng cấu tạo người tachia làm 4 phụ lớp:
A Phụ lớp Tabulata
Phụ lớp này gồm những san hô quần thể đã bị tuyệt diệt Bộ xương quần thể gồm nhiều ổnhỏ có hình ống đa dạng vách ổ gồm hai lớp, vách trong dày, vách ngoài mỏng Khivách của hai ổ tiếp giáp nhau thì ở giữa chúng có đường gian vách Phần trên của mỗi ổtrũng xuống gọi là đài, là nơi chứa polyp, do đó hình dạng của đài phản ảnh cấu tạo bêndưới thân của polyp
Các quần thể san hô vách đáy có bộ vách ngăn đứng (septa) kém phát triển, chủyếu chỉ ở dạng gai mấu, vảy …số lượng không ổn định
Dấu hiệu quan trọng đối với sanhô vách đáy là sự có mặt của các vách đáy(tabula) là những phiến xương nằm ngang chia ổ bụng thành nhiều ngăn xếp chồng lênnhau, các vách này có thể phẳng, cong, uốn lượn, có thể hoàn chỉnh hoặc không hoànchỉnh…
Bộ xương của san hô vách đáy là xương ngoài hình thành từ ngoại bì của polyp.Chất dạng keo do các polyp tiết ra để tạo xương bảo hoà carbonat calci yếu tố cấu tạo cơbản của bộ xương là các sơi xương có đường kính không quá 2µM, sắp xếp theo nhữngkiểu khác nhau tạo các kiểu vi cấu trúc
Trang 16Dựa vào đặc điểm cấu trúc bộ xương, hệ thống liên thông, vi cấu trúc vách ổ, cáchsắp xếp các ổ trong quần thể… Người ta chia vách đáy thành một số bộ sau:
Bộ San hô hình còi (Auloporida):
Quần thể dạng bò lan, dạng mạng lưới, dạng bụi cây, cấu thành từ các ổ dạngsừng, dạng tù và, ổ nọ mọc tiếp nối từ bên sườn ổ kia Vách đáy phẳng hoặc lõm, váchngăn đứng dạng gai, dạng mấu hoặc vắng mặt Không có hệ thống liên thông Giống đặc
trưng Aulopora (O-P)
Bộ San hô hình chuỗi (Halysitida):
Quần thể dạng bụi cây Các ổ hình trụ dài với tiết diện ngang hình bầu dục hoặcgần tròn, nối với nhau thành chuỗi Vách đáy hơi cong, vách ngăn đứng dạng gai nhỏ,
liên thông nơi chỗ nối Giống đặc trưng Halysitida (S)
Bộ San hô hình tổ ong (Favoisitida):
Bộ xương quần thể có dạng khối hoặc dạng cành cây Các ổ có tiết diện hình đagiác, trên vách phát triển các lỗ thông hoặc máng thông, vách đáy phẳng nằm ngang,vách ngăng đứng dạng gai, dạng mấu, dạng vảy hoặc dạng tấm Giống đặc trưng :
Favoisites, Thamnopora, Alveolites.
Bộ San hô hình ống (Syringoporida):
Bộ xương quần thể có dạng bụi cây, cấu tạo từ những ổ hình trụ không áp sát vàonhau Các ổ liên hệ với nhau nhờ các ống thông hoặc tấm thông Vách đáy lõm dạng
phễu, vách ngăn đứng dạng gai Giống đặc trưng : Syringopora (O-P)
Các di tích cổ nhất của San hô vách đáy (Auloporida, Lichennariida) được pháthiện trong đá tuổi Cambri Trong Ordovic, silur, Devon các bộ khác của san hô vách đáy
đã phát triển rộng rãi Tới Carbon, Permi thì số loài cũng như số lượng cá thể đã giảm đirất nhiều, có lẽ vào cuối Paleozoi chúng đã tuyệt diệt hoá thạch san hô vách đáy có ýnghĩa lớn trong phân chia địa tầng Ordovic, Silur và Devon trên thế giới cũng như ở ViệtNam Khi nghiên cứu hoá thạch San hô vách đáy ở Devon Việt Nam GS Tống DuyThanh đã phát hiện một kiễu vi cấu trúc vách mới (kiểu paratrabecula), đặc trưng cho
giống Echyropora Tong-dzuy, 1967 và một số giống khác
B Phụ lớp Tetracoralla
Phụ lớp này gồm những san hô sống quần thể hoặc đơn lẻ Cấu tạo thân mềm củachúng chưa được biết rõ, chỉ có thể đoán biết qua cấu tạo bộ xương của chúng hay sosánh chúng với các động vật Quỳ cứng hiện còn sống
Nhiều san hô 4 tia tuổi Carbon, Permi có cấu tạo trục ở trung tâm của ổ, đó lànhững cột nhỏ có cấu trúc đơn giản hoặc phức tạp Trụ cột đơn giản thường được tạothành do sự quấn lại của phần rìa phía trong của một hay nhiều vách ngăn Trụ cột phứctạp thì tạo thành do sự kết bện của các vách đáy ở vùng trục với rìa trong của các tấmvách ngăn toả tia
Bộ xương của san hô 4 tia đơn lẻ có dạng sừng cong, dạng nón, dạng trụ hay lăngtrụ San hô quần thể có hai dạng chính là dạng bụi cây và dạng khối Những quần thểdạng khối có các vách chung cho tất cả các ổ lớp vỏ nhăn nheo bọc ngoài bộ xương
Trang 17ngăm đối Sáu vách ngăn kể trên được hình thành trong giai đoạn đầu được gọi là váchngăn bậc một Giai đoạn tiếp theo các vách ngăn đứng chỉ mọc ở 4 khoang, mỗi khoangmột vách (hai khoang gần vách đối không mọc) gọi là vách ngăn bậc hai và về sau mỗilần mọc thêm 4 vách, vách lần sau tựa vào vách lần trước, khi ổ mở rộng thì các váchhướng về trung tâm.
Vách đáy ở san hô 4 tia rất đa dạng nhiều loại san hô 4 tia có mô bọt phát triển
Mô bọt là những phiến vôi phòng , cái nọ dựa trên cái kia, chúng phân bố giữa các váchngăn hay theo rìa của các vách ngăn, phân cách vách ổ khỏi các vách ngăn, có khi cònchoán hoàn toàn trong khoang ổ
Một số san hô 4 tia có nắp đậy trên đài của ổ, chúng được gọi là san hô 4 tia cónắp
San hô 4 tia có khả năng sinh sản hữu tính hoặc vô tính Trong trường hợp đầucác ấu trùng được phát triển từ trứng đã thụ tinh như ở san hô vách đáy Trường hợp saucác chồi được mọc lên ở phần trung tâm hay rìa của polyp rất it trường hợp san hô 4 tiasinh sản bằng cách tự phân chia
Lịch sử phát triển: Có lẽ vào giữa Ordovic san hô 4 tia đã được tách ra từ san hô
vách đáy (loại không có hệ thống liên thông) Những san hô đầu tiên chỉ có vách ngăn
đứng và vách đáy gọi là san hô một đới Vào đầu Silur, bộ xương san hô phức tạp thêm,
trong các ổ ngoài các vách ngăn đứng, vách đáy còn có mô bọt ở vùng ngoại vi Những
san hô 4 tia như thế gọi là san hô hai đới.
C Phụ lớp Hexacoralla
D Phụ lớp Octocoralla
Những giống thuộc lớp này đều sống quần thể, mỗi cá thể có 8 xúc tu và 8 vách trongxoang tiêu hoá Mỗi cá thể có dạng ống sít nhau
Trang 191.5 NGÀNH TAY CUỘN (BRACHIOPODA )
1.5.1 Lịch sử phát triển
Các đại biểu của ngành Tay cuộn có lẽ xuất hiện từ trước Cambri đến đầu Cambribắt đầu phát triển phong phú suốt trong Paleozoi để lại nhiều hoá đá quan trọng cho việcđịnh tầng các đất đá Paleozoi, nhất là Devon Sang Mesozoi giảm thoái cho đến ngàynay
1.5.2 Hình dạng cấu tạo chung
- Hình dạng rất đa dạng có thể hình trái đào, trái lê, cánh chim,
- Cấu tạo thân mềm: Nếu đem bổ dọc ta thấy có hai xoang được ngăn cách bỡimột vách Xoang ngoài (xoang áo) có hai dãi áo tác dụng như xúc tu, khi mở vỏ (bằng hệcơ) thì hai dãi áo đó dùng để bắt thức ăn Thức ăn được đưa vào miệng qua hầu đến dạdày và hậu môn Ngoài ra trong xoang trong còn có tim dạng túi (chưa phân tâm thất,tâm nhĩ), có thận dạng phễu và dây cơ đóng mở vỏ
- Cấu tạo vỏ:Thân mềm hoàn toàn nằm trong hai mảnh vỏ không bằng nhau gọi
là mảnh bụng và mảnh lưng Mảnh bụng thường phồng to và chờm cao hơnmảnh lưng, mảnh lưng thường nhỏ và dẹt hơn
+ mành bụng: Về phía đỉnh hay bờ sau có một lỗ nhỏ tròn hay bầu dục, ởnhững giống nguyên thuỷ lỗ có dạng khe, rãnh được gọi là lỗ cuống hay lỗ foramen, lỗcuống thông với bên trong vỏ bằng một rãnh đậy bỡi hai phiến vôi gọi là phiến delta, mởrộng về hai bên của phiến delta là diện area Bên dưới của diện area là hai phiến răng cótác dụng như một cái bản lề
Trang 20+ mảnh lưng: Đối diện với mảnh bụng là mảnh lưng có kích thước nhỏ vàdet hơn, cấu trúc bên trong gồm có hốc răng và cơ quan tay cuộn, có tác dụng giữ hai dãiáo.
- Tô điểm ngoài: vỏ tay cuộn có thể được tô điểm bỡi những gờ toả tia hoặcnhững gờ đồng tâm hoặc gờ đồng tâm và toả tia đan xen nhau hoặc trơn nhẵn các gờ tôđiểm có thể thô hoặc mịn đôi khi có những gai, mấu
- Định hướng vỏ: Để tránh nhầm lẫn với hai mảnh vỏ của chân rìu ta có thể xácđịnh các yếu tố cấu trúc vỏ như sau: Kích thước có chiều dài chạy từ đỉnh ra bờ trước,chiều rộng thẳng góc với chiều dài ở phần rộng nhất hai bên bờ bên Chiều dày là phầnphồng nhất của hai mảnh vỏ Dựa vào tính chất đối xứng của hai mảnh vỏ mà ta có mặtphẳng đối xứng của vỏ tay cuộn là mặt phẳng chạy từ đỉnh ra tới bờ trước chi mỗi mảnh
vỏ ra làm hai phần bằng nhau
1.5.3 Môi trường sống và sinh sản
Những giống thuộc ngành Tay cuộn sống chủ yếu ở môi trường biển, cố địnhbằng cách gắn cuống vào đáy Sinh sản vô tíng bằng cách cho ra môi trường nước nhữnggamet âm và dương, những gamet này kết hợp với nhau tạo ra cá thể mới dưới dạng ấutrùng bơi lội tự do, đến khi trưởng thành thì bám vào đáy Chúng sống bằng những xácsinh vật nhỏ bé hay những tàn tích sinh vật Tay cuộn có cảm giác nhạy bén (thích ứngvới những tác dụng cơ học như tốc độ chuyển động của dòng nước, tính chất đất đá…Người ta thường gặp hoá đá tay cuộn trong sét kết, cát vôi, đá vôi…
1.5.4 Phân loại:
Dựa vào có hoặc vắng mặt đường khớp người ta chia ngành tay cuộn làm hai lớp:
A Lớp Inarticulata (Tay cuộn không khớp):
- Gồm những giống loài nguyên thuỷ nhất của ngành tay cuộn có đặc điểm là vỏbằng chất kitin, mỏng, kích thước nhỏ không có đường khớp, lỗ cuống dạng khe rãnh.đặt biệt là không có đường khớp Những giống này phát triển chủ yếu trong Cambri, cuốiCambri giảm thoái và còn tồn tại cho đến ngày nay là những loài Giá biển
- Giống đặc trưng:
Trang 21+ Giống Lingula (O-ngày nay): VN
có trong cát kết Hàm Rồng (O) Vỏ
có dạng hình lưỡi bốn cạnh kéo dài,
hai mảnh gần bằng nhau và dẹt Lỗ
cuống ở dạng rãnh là nơi tiếp giáp
với hai mảnh vỏ ở bờ sau Tô điểm
mặt ngoài nhẵn hoặc có những đường
đồng tâm thanh, không có tô điểm toả
tia Có diện area nhưng không rõ
ràng Kích thước dài 1-2cm, rộng
1cm
Trang 22+ Giống Obolus (Cambri-Ordovic) Đông Sơn, La Hán Thanh Hoá Vỏ có dạng gần nhưtròn, bầu dục, mảnh bụng có đỉnh không chờm hơn đỉnh của mảnh lưng mấy và hầu nhưdẹt Lỗ cuống dạng rãnh, lỗ cuống rõ ràng.
B Lớp Articulata (Tay cuộn có khớp)
Những giống thuộc lớp này có vỏ bằng chất vôi dày, kích thước lớn, có đường khớp rõràng chúng xuất hiện cuối cambri từ những tay cuộn không khớp Dựa vào đặc điểm củađường khớp người ta chia lớp tay cuộn có khớp làm nhiều bộ:
a Bộ Orthida:
- Giống Orthis (O-S) VN gặp ở Hàm Rồng Vỏ có dạng nửa hình tròn hoặc hìnhbầu dục mảnh bụng thường phồng hơn mảnh lưng và chờm hơn một chút Đường khớpthẳng Hốc delta có cả ở hai mảnh Area ở hai bên đều phát triển Ở mảnh bụng có phiếnrăng kéo dài ghép lại ở dưới thành vách septa
Tô điểm mặt ngoài có những gờ phóng xạ thô chạy từ đỉnh xuống dưới, xen kẽnhững gờ đó có gờ trung gian từ giữa mảnh vỏ tới bờ trước Kích thước từ 1-2cm, dày từ3-5mm
- Giống Chonetes (S-P) VN đông đảo trong S-D Vỏ có dạng nửa vòng tròn, mảnhbụng phồng và chờm cao hơn mảnh lưng; mảnh lưng lõm hay phẳng; đường khớp thẳnggần bằng chiều rộng nhất của vỏ Trên đường khớp nếu bảo tồn tốt có những gai nhỏ nổilên (3-4 gai)
Tô điểm mặt ngoài có những gờ phóng xạ chạy từ đỉnh đến bờ trước thì phân đôi.Kích thước dài khoảng 8mm, rộng khoảng 1,2-1,5cm
hầu như dẹt hoặc lõm Đường khớp
thẳng kéo dài ra hai bên tạo thành hai
tai
Tô điểm mặt ngoài có những gờ
phóng xạ chạy từ đỉnh xuống bờ truước,
thô hoặc thanh tuỳ theo từng loài và
xuống dưới thì phân đôi Phần đỉnh có
những đường đồng tâm đan vào nhau
thành ô vuông, nếu bảo tồn tốt trên mảnhbụng có những dấu vết của gai dạngmấu kích thước biến thiên
c Bộ Atrypida:
- Giống Atrypa (S-D) VN gặp đông đảo trong các trầm tích tuổi Devon Vỏ códạng tròn hoặc bầu dục, mảnh lưng phồng hơn mảnh bụng, nhưng đỉnh của mảnh bụngchờm cao hơn đỉnh của mảnh lưng Đường khớp hơi cong Lỗ cuống rõ Bờ trước hơi
Trang 23Tô điểm mặt ngoài có những đường
phóng xạ chạy từ đỉnh xuống dưới, phân
nhánh đôi và lác đác có gờ đồng tâm
Phiến răng không có Cơ quan tay xoắn
ốc, định hướng vào trong Kích thước
1,5-3cm
d Bộ Spiriferida:
- Giống Euryspirifer (D) VN gặp phổ biến ở các tầng Devon Đồng Mỏ, LinhNham…Vỏ có hình dạng như cánh chim bay Đỉnh của mảnh bụng chờm rõ rệt, đườngkhớp thẳng và dài bằng chiếu rộng nhất của vỏ Góc của khớp nhọn Ở giữa mảnh bụng
có một diện tam giác chạy từ đỉnh và mở rộng ra ở bờ trước gọi là hố sinus lõm Phía đốidiện với hố sinus về phía bên mảnh lưng có một yên ngựa nổi lên Tô điểm mặt ngoài cónhững gờ phóng xạ số lượng từ 6-11 mỗi bên Ngoài ra nếu bảo tồn tốt có những gờđồng tâm rất thanh Kích thước biến thiên, có thể gần 10cm chiều rộng
e Bộ Pentamerida:
- Giống Pentamerus
Trang 24f Bộ Rhinchonellida:
- Giống Rhynchonella (C-T) Vỏ có mảnh bụng phồng hơn mảnh lưng một chút,đỉnh mảnh bụng có chờm cao hơn nhưng nói chung cả hai mảnh đều pjồng Đường khớphơi cong và hơi gắn hơn chiều rộng của vỏ một chút Bờ trước uốn nếp hình chữ U haychữ V
Tô điểm mặt ngoài có những gờ phóng xạ tạo thành Phiến răng phát triển Kíchthước biến thiên
g Bộ Terebratulida:
- Giống Stringocephalus (D2) VN
gặp phổ biến trong tầng D2 Qui Đạt Vỏ
có dạng bầu dục hoặc hơi tròn giống quả
đào mảnh bụng có đỉnh chờm cao rõ rệt
và cong như mỏ chim, mảnh bụng và
mảnh lưng đều phồng, đường khớp
cong Mảnh bụng ở mặt ngoài có septa ở
giữa dài, mảnh lưng ở mặt trong có mấu
Trang 25h Bộ Stromatophorida:
- Giống Dicoelostrophia (D) VN gặp rất đông đảo ở Thái Nguyên, Linh Nham,Cao Bằng…Vỏ có dạng nửa vòng tròn hoặc hình 4 cạnh tròn, hai mảnh vỏ gần như dẹt,đường khớp thẳng kéo dài ra hai bên bờ bên tạo thành hai tai nhỏ, nếu bảo tồn tốt trênđường khớp có những khía răng cưa nhỏ Đỉnh thể hiện yếu Ở bờ trước phân ra làm haithuỳ rõ rệt
Tô điểm mặt ngoài có những gờ phóng xạ thanh Kích thước dài từ 2-2,5cm, rộng
từ 2,5-3cm
1.5.5 Phương pháp nghiên cứu các hoá đá Tay cuộn:
Muốn nghiên cứu những hoá thạch ta cần phải chú ý tới những hình dạng, dấu vếtngoài, nghiên cứu chi tiết những tô điểm của vỏ Trong việc phân loại ngành, lớp, bộ cầnchú ý tới lỗ foramen, sự có mặt và cấu tạo của delta, area, độ phồng của vỏ, vị trí củasinus, kích thước…
Trang 26Nghiên cứu bộ phận nội bộ cần chú ý tới răng và cơ quan tay nếu có thể
Trang 271.6 NGÀNH THÂN MỀM MOLLUSCA
1.6.1 Lịch sử phát triển :
Những đại biểu thuộc ngành thân mềm xuất hiện từ trước Paleozoi, đầu Cambri
đã có những giống loài phát triển và tiến hoá cao (chân đầu), để lại nhiều hoá đá rất cógiá trị định tầng trong suốt Paleozoi và cả Mesozoi Trong Mesozoi - Kainozoi cũng pháttriển nhóm chân rìu rất đặt trưng
1.6.2 Đặc điểm chung:
Những giống thuộc ngành thân mềm chủ yếu sống ở môi trường nước biển, một
số ít ở nước ngọt và trên cạn như nghêu, sò, ốc, mực, bạch tuộc…
Nhìn chung thân của chúng có đối xứng hai bên (trừ chân bụng), có vỏ cứng bảo
vệ thân mềm Toàn bộ thân mềm luôn luôn có một lớp chất nhầy bao phủ, có tác dụng đểcon vật hoạt động dễ dàng
Trang 28Cấu tạo nội bộ cơ quan tiêu hoá đã có miệng, thực quản, dạ dày, ruột và hậu môn,đặc biệt ở miệng chúng có một bản giáp cứng trên đó có những mấu nhỏ để nghiền thứcăn.
Bộ máy tuần hoàn đã có tim phân ngăn, hai tâm nhĩ một tâm thất chứa máu khôngmàu Hệ thần kinh đã có hạch não và những hạch khác nằm ở dọc thân, được nối vớinhau bằng những dây thần kinh
Bộ phận sinh sản đã có tuyến sinh dục, sinh sản hữu tính
số có giá trị định tầng nhưng vai trò kém hơn chân đầu và chân rìu
b Hình dạng cấu tạo:
- Cấu tạo thân mềm:
Cơ thể chia ra đầu và thân Đầu có miệng, mắt, xúc tu, hệ thần kinh đầu Bộ máytiêu hoá gồm có miệng, thực quản, dạ dày, ruột, hậu môn Bộ máy tuần hoàn có tim phânngăn Hệ thân kinh ngoài hệ thần kinh đầu còn có các hạch và dệ thống dây thần kinhdọc theo thân
Trang 29+ Dạng cuộn xoắn hình nón, dạng này đông đảo nhất có miệng ở dưới vàđỉnh ở trên Miệng có môi ngoài, môi trong, môi trên và môi dưới Miệng có thể hoànchỉnh (vành miệng tròn, bầu dục), không hoàn chỉnh là vành miệng có rãnh ở môi dưới,rãnh đó có thể kéo dài thành ống rãnh.
- Tô điểm ngoài của vỏ chân bụng thường có những vành khâu, đường tiếp xúccủa hai vòng có thể nông hoặc sâu Ngoài ra tuỳ theo đặc tính của từng giống loài có thể
có gờ ngang hoặc gờ xoắn (gờ chạy song song với đường khâu, và mấu gai)
- Định hướng vỏ: thường đối những giống thuộc lớp chân bụng ta chỉ gặp hoáthạch ở dạng cuộn xoắn ốc hình nón, hình tháp … do đó ta phải định hướng vỏ Nhìn từđỉnh xuống nếu những vỏ nào cuộn xoắn từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ,miệng sẽ dừng ở bên phải của ta, gọi là ốc miệng phải (dexter) nhưng có loài cuộn ngượclại miệng dừng ở bên trái gọi là ốc miệng trái (senester), loại này hiếm Về kích thướcthì có chiều cao là khoảng cách từ đỉnh xuống tận môi dưới chiều cao vòng miệng làchiều cao từ môi trên xuống môi dưới Chiều rộng là chiều rộng nhất của vỏ Đố vớidạng cuộn tròn có kích tước đường kính vòng cuộn, chiều dài, miệng vỏ…
c Môi trường sống và sinh sản:
Chân bụng có nhiều giống sống ở môi trường nước ngọt, nước mặn và cả trên cạnthở bằng phổi Trong môi trường nước chúng thích nghi nhiều độ sâu khác nhau, chủ yếutập trung ở đời gần bờ có độ sâu từ 50-100m
Những dạng có vỏ mỏng, rãnh si phông dài ưa sống ở nơi yên lặng ằng cách chuirúc xuống bùn Dạng vỏ dày tô điểm bằng những gờ thô hoặc mấu gai, ưa sống ở miềnnông, đáy cát, hầu như có kiểu sống Benton (bò lê trên mặt đáy)
Thân mềm hoàn toàn nằm trong vỏ, vỏ không đối xứng
Trang 302 Bộ Mang sau (Opisthobranchiata)
3 Bộ thở bằng phổi (Pulmolata) Giống đặc trưng:
- Giống Viviparus (Đệ tam-ngày nay) VN gặp đông đảo trong các trầm tích nướcngọt Nà Dương Vỏ có dạng hình tháp cụt các vòng đều phồng nên để lại đường khâu
rõ Vòng cuối cùng rất lớn so với các vòng trước, có thể bằng 2/3 chiều cao, miệng rấthoàn chỉnh, tròn hoặc bầu dục, số lượng vòng khoảng 4-6 Mặt ngoài thường trơn nhẵnhoặc có những gờ ngang xanh Kích thước cao từ 4-6cm (ở VN có thể cao tới 10cm,rộng từ 3-5 cm)
- Giống Paludina (Đệ tam-ngày nay) VN gặp rất phổ biến trong đệ tam Hìnhdạng cấu tạo và tô điểm mặt ngoài giống như Viviparus nhưng kích thước nhỏ hơn nhiều
và vòng cuối cùng thon hơn Kích thước cao từ 2-3cm, rộng độ 1,5-2cm
- Giống Tulotoma (Đệ tam – ngày nay) VN gặp ở Nà Dương Biến dạng củagiống trên, nhưng các vòng gần bằng nhau và nhỏ Tô điểm mặt ngoài có những mấu gai,sắp xếp tương đối thứ tự Kích thước cao độ 1,5-2cm, rộng 0,5-1cm
B Lớp Pelecypoda (chân rìu):
a Lịch sử phát triển và giá trị định tầng:
Các sinh vật lớp chân rìu xuất hiện từ đầu Paleozoi, trong suốt thời kỳ này pháttriển chậm chạp cho đến Mesozoi bộc phát mạnh mẽ để lại nhiều hoá đá có giá trị địnhtầng cho Mesozoi và Kainozoi
b Hình dạng và cấu tạo:
- Cấu tạo thân mềm: Nếu đem tách hai mảnh vỏ ta thấycó cơ quan tiêu hoá gồmphía trước có miệng, tiếp theo là thực quản, dạ dày phình to, tiếp theo là ruột rồi tới hậumôn ở phía bờ sau Bộ máy tuần hoàn có tim ở lưng, phân ra tâm nhĩ và tâm thất Bộmáy thần kinh có hạch thần kinh ở phía trước, dây thần kinh vòng quanh thực quản vàdọc thân Ngoài ra còn có thận và tuyến sinh dục Ở phía trước và phía sau có hai bắp cơkhép dạng tròn hay bầu dục
Toàn bộ thân mềm được che chở bỡi hai mảnh vỏ (mảnh trái và mảnh phải), haimảnh dính liền với nhau ở phía đỉnh hay bờ lưng bỡi dây chằng ở trong hoặc ở ngoài vỏ,
và dọc theo bờ lưng của vỏ có những răng và hốc răng nằm trên khay răng có tác dụngnhư một bản lề
Trang 31- Cấu tạo vỏ: Vỏ dày có 3 lớp, lớp ngoài cùng là lớp sừng mỏng để bảo vệ nhữnglớp bên trong, tiếp theo là lớp vôi có cấu tạo là những phiến lăng trụ ghép liền nhau Lớpnày dày hơn cả, trong cùng là lớp xà cừ óng ánh.
Tô điểm mặt ngoài gồm những gờ toả tia và những gờ đồng tâm xen kẽ nhau hoặctrơn nhẵn cấu trúc bên trong vỏ từ trên cùng là đỉnh, phía dưới đỉnh là khay răng (đườngkhớp) có những răng và hốc răng sắp xếp nằm xen kẽ nhau Ở bờ trước và bờ sau còn cóvết bám cơ, vết bám cơ sau luôn lớn hơn vết bám cơ trước, loài dạng chỉ có một vết bám
cơ thì vết bám cơ đó luôn ở bờ sau Dọc theo bờ dưới có một đường hằn gọi là đườngviền áo, đường viền áo không hoàn chỉnh khi đường viền áo để lại một đoạn đứt quãng ở
bờ sau gọi là hố sinus Ngoài ra một số loài ở phía trước đỉnh còn có hai diện bầu dục gọi
là khiên (bầu dục lớn) ở sau đỉnh, mặt nguyệt (bầu dục nhỏ ở trước đỉnh
- Định hướng vỏ: Vì có hai mảnh vỏ nên dễ nhầm với tay cuộn, do đó muốn xácđịnh vỏ thuộc chân rìu thì trước tiên ta phải xác định mặt phẳng đối xứng là mặt phẳngphân cách hai mảnh vỏ Sau đó xác định mảnh trái hoặc mảnh phải dựa vào:
+ Đỉnh luôn lệch về phía bờ trước, một số loài đỉnh nằm ở giữa thì ta dựavào vết bám cơ sau lớn hơn vết bám cơ trước, nếu có một vết bám cơ thì vết bám cơ đóluôn ở bờ sau và hố sinus cũng luôn ở bờ sau
+ Ngoài ra ta co thể dựa vào khiên ở bờ say và mặt nguyệt ở bờ trước.+ Ta đặt vỏ bờ trước hướng về phía trước ta, bờ sau đối diện với ta, mảnhnáo ở bên trái thì gọi là mảnh trái, ngược lại gọi là mảnh phải
- Kích thước: chiềi cao chạy từ đỉnh bờ lưng ra tới bờ bụng (phần cao nhất), chiềudài chạy từ bờ trước ra ti bờ sau phần dài nhất, bề dày là độ phồng nhất của hai mảnh vỏ
c Môi trường sống và sinh sản của chân rìu:
Chủ yếu các đại biểu của chân rìu sống ở môi trường nước biển, một ít ở nướcngọt di chuyển chậm bằng chân có dạng rìu do đó có tên gọi là chân rìu (pelecypoda)hoặc biện mang (Lamellibranchiata) hoặc lớp hai mảnh vỏ (bivalvia) Phân bố rộng rãithích nghi nhiều độ sâu khác nhau, kiểu sống beton-bò lê, hầu hết ưa nước mặn vùngbiển nông, những loài có vỏ mỏng thích chui rúc xuống bùn, có sinus sâu Những dạng
có tô điểm thô ưa sống ở đáy cát, nơi sóng vỗ nhiều sinh sản hữu tính
d Phân loại:
Người ta dựa vào sự sắp xếp của các răng và hốc răng chia làm nhiều bộ:
1 Bộ răng dãy (Taxodonta):
Hai mảnh vỏ gần như bằng nhau Đỉnh lệch về phía ờ trước hay ở giữa Khay răngthẳng hoặc cong chữ V ngược (^) trên đó có những răng và hốc răng xếp xen kẽ gầnsong song nhau, thường đa số ở môi trường biển, rất hiếm ở nước ngọt
- Giống Nucula (D-ngày nay) VN gặp rất đông đảo trong trầm tích T suốiBàng, núi Đọ… Vỏ có dạng ba cạnh tròn hay bầu dục Đỉnh lệch về bờ sau hơn bờ trước(trường hợp đặc biệt), do đó bờ sau ngắn hơn bờ trước dây chằng bên trong khay rănghình chữ V Số lượng răng ở bờ sau ít hơn số lượng răng ở bờ trước, vết bám cơ bằngnhau Đường viền áo hoàn chỉnh Tô điểm mặt ngoài có những gờ đồng tâm thanh hoặcnhẵn Kích thước cao 1-2cm, dài 2-3cm
- Giống Leda (S-ngày nay) VN gặp đông đảo trong Trias Hình dạng vỏ giốngnhư Nucula nhưng có đỉnh lệch về bờ trước hơn bờ sau, bờ sau kéo dài làm thành một
Trang 32góc tương đối nhọn khay răng cong Tô điểm mặt ngoài có những gờ đồng tâm thanh,Kích thước dài từ 1-2cm, cao gần bằng một nửa chiều dài.
2 Bộ răng yếu (Dysodonta):
Nhìn chung hai mảnh vỏ không bằng nhau, răng không có hoặc phát triển rất yếu,
có dây chằng trong Có hai vết bám cơ, vết sau lớn hơn nhiều so với vết bám cơ trướchoặc chỉ có một vết bám cơ Đường viền áo hoàn chỉnh Địa tầng gặp đông đảo trongTrias
- Giống Claraia VN gặp đông đảo trong T Lạng Sơn Vỏ có dạng tròn, bầu dụckéo dài theo chiều cao hoặc chiều dài, vỏ không đều mảnh Đỉnh lệch về bờ trước hơn bờsau Thường đường khớp kéo dài, thẳng tạo thành tai nhỏ, tai sau lớn hơn tai trước, taitrước dạng mấu tô điểm bằng những gờ toả tia hoặc gờ đồng tâm tuỳ theo đặc tính từngloài
- Giống Entolium (T) VN gặp đông đảo ở Ninh Bình Vỏ có dạng bầu dục kéo dàitheo chiều cao (dạng giọt nước), đường khớp thẳng có đỉnh nhô cao hơn một chút, haibên đỉnh có hai tai gần bằng nhau Tô điểm mặt ngoài nhẵn hoặc có những gờ đồng tâmthanh
- Giống Halobia (T3) VN gặp đông đảo ở Sơn La, Lai Châu Vỏ có dạng hơi trònhay bầu dục, hai mảnh hầu như dẹt Đỉnh hơi nhô lên khỏi đường khớp một chút và hơilệch về bờ trước Đường khớp thẳng và chiều dài gần bằng chiều dài của vỏ Hai bêndỉnh có hai tai dạng tam giác Tô điểm ngoài bằng những gờ toả tia tương đối rõ, lác đác
có gờ đồng tâm
3 Bộ răng hiếm (Demosdonta):
Vỏ đều hoặc không đều mảnh Răng không có hoặc rất yếu, đôi khi răng chỉ cómột cái kéo dài thành phiến thìa Hai vết bám cơ gần như bằng nhau Đường viền áo córãnh sinus sâu
- Giống Burmesia (T3) VN có mặt trong các hệ tầng chứa than Suối Bàng Vỏ códạng hình chữ nhật tròn cạnh Hai mảnh đều hơi phồng Đỉnh nổi rõ và hơi lệch về bờtrước Tô điểm ngoài chia làm ba phần rõ rệt Ở phần giữa là những gờ toả tia dày, nếubảo tồn tốt còn có sự hiện diện những gai nhỏ, hai bên là những gờ đông tâm Ở bờ trước
có đường bắt chéo rõ rệt Kích thưóơc biến thiên, thường có chiều dài lớn hơn chiều cao
4 Bộ răng khác (Heterodonta):
Vỏ thường có dạng đều mảnh, đỉnh lệch về bờ trước Trên khay răng có khoảng 3chiếc có hình dạng khác nhau nên gọi là răng khác Có hai vết bám cơ gần bằng nhau,đường viền áo có hố sinus hoặc không
- Giống Cardium (T-ngày nay) VN gặp đông đảo trong T Suối Bàng Vỏ có dạngbầu dục, tròn, ba cạnh tròn hoặc hình thang Hai mảnh đều phồng có đỉnh to lệch rõ về
bờ trước Tô điểm mặt ngoài gồm những gờ toả tia thô nổi rõ làm thành những rãnh sâu,
số lượng gờ từ 28-30 tuỳ theo từng loài Ngoài ra còn có những gờ đồng tâm thanh khó
Trang 33Vỏ đều mảnh nhưng không đều bên, trên răng có những luống xẻ dọc, ở hốc răngcũng có luống Có hai vết bám cơ và đường viền áo hoàn chỉnh.
- Giống Myophoria (T) VN gặp đông đảo trong T2-3 Lạng Sơn, Thanh Hoá, HoàBình… Vỏ có hình thang tròn cạnh đến hình ba cạnh tròn Đỉnh lệch về bờ trước rõ rệt
Tô điểm ngoài bằng những gờ toả tia thô, từ 7-17 gờ tuỳ theo loài Đặt biệt ở phần bờsau có một gờ chạy rõ từ đỉnh xuống bờ bụng gọi là đường kin Từ đường kin về bờtrước có số lượng gờ phóng xạ nhiều hơn từ đường kin về bờ sau Có gờ đồng tâmnhưng rất nhỏ khó bảo tồn Kích thước cao từ 1-3cm, dài hơn cao một chút
- Giống Unio (Mz-ngày nay) VN gặp đông đảo trong trầm tích đệ tam Nà Dương
Vỏ có dạng bầu dục kéo dài theo chiều dài Đỉnh lệch về bờ trước và nổi rõ Đường kinsau khá rõ Tô điểm mặt ngoài bằng những gờ đồng tâm thanh Kích thước biến thiên
6 Bộ răng dày (Pachyodonta):
Vỏ không đều mảnh do sự biến dạng thích nghi với môi trường sống Mảnh dưới
có hình chóp nón, còn mảnh trên có dạng hình nắp đậy, hai mảnh ăn khớp với nhau bỡirăng thô, dày, số lượng răng ít (g Hippurites)
e Phương pháp nghiên cứu các hoá đá chân rìu:
Trước tiên phải nghiên cứu tới hình dạng, kích thước của từng vỏ , đặc tính và vịtrí đỉnh, tô điểm và số lượng gờ, đặc tính của các loại gờ…
Kế đến là cấu trúc bên trong như bản lề , dây chằng bắp cơ, đường viền áo, sốrăng, hình dạng và sự sắp xếp của răng
b Hình dạng và cấu tạo cơ thể chân đầu:
- cơ thể:
Thân mềm có dạng túi , phía trên có miệng, xung quanh miệng có xúc tu (chân :
từ 3-10 hoặc nhiều hơn) sử dụng bắt mồi
Cơ quan tiêu hoá: gồm có miệng, hầu, thực quản, dạ dày và hậu môn nằm trongxoang áo
Cơ quan tuần hoàn có tim phân ra tâm thất và hai hoặc bốn tâm nhĩ
Bộ máy thần kinh có hạch não và dây thần kinh chạy dọc thân
Sinh sản hữu tính
Trang 34Tô điểm mặt ngoài có thể là những gờ thanh tương ứng với vách ở trong và có rốn
ở hai bên Nhưng đối với những hoá thạch chân đầu thì hình dạng vỏ rất khác nhau :thẳng, cong dạng sừng, cuộn tròn, cuộn rất ôm (vòng ngoài ôm lấy vòng trong để lại rốnrất hẹp)
Tô điểm mặt ngoài có thể có gờ đơn giản, phân nhánh đôi, ba…hoặc có thể có gaimấu tuỳ theo đặc tính từng giống loài
Kích thước: có các loại kích thước đường kính lớn, kích thước rốn, kích thướcvòng miệng tuỳ theo giống loài khác nhau
c Môi trường sống và sinh sản của chân đầu:
Các đại biểu chân đầu hầu như sống ở môi trường biển, bơi lội tự do, là nhữngsinh vật sống trong môi trường hẹp mặn, hẹp nhiệt Đa số ở độ sâu từ 100-600m, một sốhiếm hơn sống ở độ sâu khoảng 1000m Sinh sản hữu tính
d Phân loại:
Trang 35giống duy nhất đó là Sam biển Đặc điểm là cơ thể được bao bọc bỡi một vỏ cứng có đốixứng hai bên Phụ lớp chân đầu vỏ ngoài chia làm 3 thượng bộ:
1 Thượng bộ Endoceratoidea (Sừng trong)
Trang 36- Giống Endoceras sp(O) Vỏ có dạng hình nón dài,vách ngăn cong, đường váchthẳng kiểu Nautilus Ốngsiphông nằm sát bờ bụng cókích thước gần bằng 1/3đường kính miệng vỏ
Trang 372 Thượng bộ Nautiloidea (Anh vũ)
Dựa vào đặc điểm của vỏ người ta chia làm hai bộ:
*Bộ Orthoceratida (Sừng thẳng):
- Giống Orthoceratida sp (O-T) Vỏ có dạng hình nón thẳng hoặc hơi cong, váchngăn thẳng hoặc hơi cong, đường vách thẳng kiểu Nautilus, ống siphông nhỏ và ởgiữa, kích thước biến thiên có thể dài tới 4-5m
*Bộ Ceratitida (Cúc sừng):
g.Nautilus pompilus (Q)
Trang 38Những giống thuộc bộ này có mặt đông đảo trong Permi-Trias Đặc điểm là cấutạo đường vách có yên cong và thuỳ cắt khía răng cưa.
- Giống Ceratites T2 Vỏ có dạng cuộn chặc để lại rốn hep Tiết diện vòngmiệng có dạng vuông, vách kiểu ceratites Tô điểm mặt ngoài có những gờđơn giản, trên gờ có những mấu Kích thước đường kính từ 1-5 cm, đôi khi10-20 cm
*Bộ Ammonititida (Cúc đá):
Những giống thuộc bộ này sống đông đảo trong Trung sinh, đường vách có thuỳ
và yên uốn khúc phức tạp dạng lá rau mùi
- Giống Trachyceras T2-3 VN gặp phổ biến trong các trầm tích T Vỏ có dạngcuộn tương đối nên rốn gần bằng 1/3 đường kính của vỏ Tiết diện vòng miệng
có dạng chữ nhật tròn cạnh, chạy dọc theo bờ lưng có rãnh sâu Tô điểm mặtngoài có những gờ dơn giản, trên gờ có những mấu Những gờ đó chạy đến bờngoài thì bị gián đoạn bỡi rãnh, cấu tạo vách trong kiểu Ammonititida Kíchthước đường kính từ 2-6 cm, dày từ 0,5-2 cm
ENDOCOCHLIA Chân đầu vỏ trong
Những giống thuộc phụ lớp này bắt nguồn từ các giống của phụ lớp vỏ ngoài, cácthân mềm phát triển bao lấy cả vỏ vào bên trong, vỏ mất tác dụng thoái hoá dần thànhchuỳ và toàn thân nâng đỡ bỡi một cái mai xương bằng chất vôi hoặc sừng
giống Ceratites nodosus (T)
giống Placenticeras meeki (K)
Trang 39Nhóm chân đầu vỏ trong phát triển
phong phú trong Kreta-Paleogen Đặc
biệt có Bộ Belleminitida (tên đá), giống
đặc trưng Belleminites, để lại nhiều hoá
đá đặc trưng
e Phương pháp nghiên cứu chân đầu:
Nghiên cứu hình dạng, kích thước đường kính vỏ, đường kính rốn, đường kínhvòng miệng, bề dày vỏ
Qua lát cắt theo mặt phẳng đối xứng để nghiên cứu cấu tạo vách trong chú ý đặtbiệt đến cấu trúc của thuỳ và yên Mô tả mặt ngoài của chân đầu cũng có ý nghĩa trongviệc phân loại các loài khác nhau
1.7 NGÀNH CHÂN ĐỐT (ARTHROPODA)
1.7.1 Lịch sử và giá trị định tầng
Những giống thuộc ngành chân đốt rất đông đảo về số lượng lẫn số giống loài, cóhình dạng phong phú như cua, tôm, nhện, sâu bọ, côn trùng… chúng có mặt từ đầu cổsinh đại phát triển mạnh cho đến ngày nay Các nhà sinh vật học cho rằng chúng cónguồn gốc từ giun đốt vòng khoan Các hoá đá của chúng rất có ý nghĩa định tầng trongPaleozoi
1.7.2 Hình dạng cấu tạo
Đặc điểm của những sinh vật ngành này có chân và thân phân đốt, có vỏ bằngchất kitin hoặc vôi, có thể chia làm ba phần rõ rệt: Đầu, ngực và bụng
Số lượng đốt ở các phần thay đổi, mỗi đốt mang một đôi chi Các đôi chi ở đầubiến thành râu, ngàm nhai, kẹp… Phần đuôi các đôi chi biến thành gai đuôi, vây đuôi
giống Belleminites cylindricus J1
Trang 40Bộ máy hô hấp có nhiều dạng khác nhau Có loài thở bằng toàn bộ mặt ngoài củathân, loài khác thở bằng phổi hoặc có loài thở bằng ống chứa khí (hấp quản)
Bộ máy tuần hoàn: có tim ở phía lưng, tim đã phân ra tâm thất, tâm nhĩ
Bộ máy thần kinh có hạch não và những hạch thần kinh chạy dọc thân
1.7.3 Môi trường sống và sinh sản:
bao gồm những sinh vật sống hầu hết các môi trường dưới nước , trên cạn, trênkhông Sinh sản hữu tính và có hiện tượng lột xác
A Lớp Trilobita :
1 Lịch sử phát triển và giá trị định tầng của bọ ba thuỳ:
Gồm những giống xuất hiện sớm nhất trong ngành chân đốt, sống ở môi trườngbiển của nguyên đại Paleozoi Ngay từ đầu Paleozoi đã để lại nhiều hoá đá cho thấy có
cơ thể tiến bộ hơn nhiều sinh vật của các ngành khác cùng thời ph át triển đông đảo từCambri 2-3 sang Ordovic số lượng giảm đi nhiều, đến Devon-Carbon gần như tiêu diệthoàn toàn
Bọ ba thuỳ trong cambri thuộc bộ má nguyên thuỷ hoặc má sau, số lượng đốtnhiều, không có khả năng gập mình Những bọ ba thuỳ thuộc Ordovic-Silur có số lượngđốt ít hơn, khiênđầu thường bằng khiên đuôi và có khả năng gập mình
2 Đặc điểm hình dạng cấu tạo bọ ba thuỳ:
Bờ lưng của bọ ba thuỳ được che chở bỡi một lớp kitin dày có dạng hình bầu dụcgiống như một cái khiên Khiên chia làm ba phần, dọc cũng như ngang Phần dọc ở giữa
là trục (crachis), hai bên là sườn (pleurae), phần ngang phía trên là khiên đầu, giữa làkhiên ngực và dưới là khiên đuôi
a Khiên đầu (cephalon):
Khiên đầu có dạng ½ hình tròn hoặc ½ hình bầu dục, ở giữa khiên đầu là yên đầu(clabenla) nổi lên rõ so với hai bên Trên yên đầu tuỳ theo đặc tính từng giống loài có thểcòn rõ dấu vết của 3-5 đốt khớp cứng lại với nhau Hai bên yên đầu có mắt (tròn, hạtđậu, cong, lưỡi liềm, hoặc có cuống Chạy qua mắt có một đường chạy từ bờ sau hoặc bờbên qua mắt lên tới bờ trước gọi là đường khâu trên mặt Đường khâu đó chia khiên đầulàm hai phần, phần giữa là má cố định và hai bên là má di động Có 5 kiểu má khác nhautuỳ theo hình dạng của đường khâu