Hệ thống các khoa học địa lí được hình thành phát triển từ địa lí học thống nhất cổ đại, nguyên chỉ được quan niệm như một kiểu từ điển bách khoa tự nhiên, dân cư và tài nghiên của một k
Trang 1Giáo trình
Cơ sở địa lý tự nhiên
Trang 2ChươngI: ĐỊA LÝ HỌC LÀ HỆ THỐNG CÁC KHOA HỌC 1
I -ĐỊA LÝ HỌC HIỆN ĐẠI 3
II-CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG CÁC KHOA HỌC ĐỊA LÍ 4
III-QUAN HỆ GIỮA ĐỊA LÍ HỌC VÀ CÁC KHOA HỌC KHÁC 9
IV-PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ HỆ PHƯƠNG PHÁP CỦA ĐỊA LÍ HỌC 11
V-ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN 13
VI-SỰ PHÂN CHIA LỚP VỎ ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CỦA QUẢ ĐẤT KHÔNG GIAN ĐỊA LÍ 16
VII CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
VIII- ĐỊA LÍ HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG 20
ChươngII: CÁC GIAI ĐOẠN CHÍNH TRONG NHẬN THỨC VỀ BỀ MẶT QUẢ ĐẤT VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CHÍNH CỦA ĐỊA LÍ HỌC 23
I SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC Ý NIỆM ĐỊA LÍ TRONG THẾ GIỚI CỔ ĐẠI 23
II SỰ SUY ĐỒI CỦA ĐỊA LÍ HỌC TRONG THỜI Kè TRUNG CỔ 24
III-CÁC CÔNG CUỘC PHÁT KIẾN ĐỊA LÍ VĨ ĐẠI 25
IV SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÝ TRONG THẾ KỶ XVIII, XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX 28
V-ĐỊA LÍ HỌC CỦA THỜI KỲ HIỆN ĐẠI 34
Chương III: TRÁI ĐẤT 38
I TRÁI ĐẤT TRONG HỆ MẶT TRỜI VÀ HỆ NGÂN HÀ Error! Bookmark not defined.
1 Mặt Trời Error! Bookmark not defined.
2 Các hành tinh và các tiểu hành tinh Error! Bookmark not defined.
3 Các vệ tinh Error! Bookmark not defined.
4 Các thiên thạch và sao chổi Error! Bookmark not defined.
III CÁC GIẢ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC CỦA MẶT TRỜI VÀ CÁC HÀNH TINH.
Error! Bookmark not defined.
1 Giả thuyết của Căng - Laplaxơ Error! Bookmark not defined.
2 Giả thuyết Jinxơ Error! Bookmark not defined.
3 Giả thuyết Ôttô Xmít Error! Bookmark not defined.
IV HÌNH DẠNG VÀ KÍCH THƯỚC CỦA TRÁI ĐẤT Error! Bookmark not defined.
1 Quan niệm về hình dạng của Trái Đất và ý nghĩa của nó Error! Bookmark not defined.
2 Hình dạng gêôit của Trái Đất Error! Bookmark not defined.
V SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT Error! Bookmark not defined.
1 Sự vận động tự quay quanh trục của Trái Đất Error! Bookmark not defined.
2 Các hệ quả địa lí của vận động tự quay quanh trục của Trái Đất Error! Bookmark not defined.
a Mạng lưới tọa độ trên Trái Đất Error! Bookmark not defined.
b Sự điều hòa nhiệt giữa ngày và đêm Error! Bookmark not defined.
c Giờ trên Trái Đất và đường chuyển ngày quốc tế Error! Bookmark not defined.
d Lực Côriolit trên bề mặt Trái Đất Error! Bookmark not defined.
3 Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời Error! Bookmark not defined.
4 Những kết quả của sự vận động của Trái Đất quanh Mặt Trời Error! Bookmark not defined.
a Sự chuyển động biểu kiến của Mặt Trời giữa hai chí tuyến Error! Bookmark not defined.
b Sự thay đổi các thời kì nóng, lạnh trong năm và hiện tượng ngày, đêm dài ngắn khác nhau.
Error! Bookmark not defined.
c Các vành đai chiếu sáng và nhiệt trên Trái Đất Error! Bookmark not defined.
d Lịch và sự phân chia các mùa trong năm Error! Bookmark not defined.
Trang 35 Sự vận động của hành tinh đôi Trái Đất – Mặt Trăng và hiện tượng sóng triều Error! Bookmark not defined.
VI TÍNH CHẤT VẬT Lí VÀ CẤU TRÚC BấN TRONG CỦA TRÁI ĐẤT 74
VII CÁC ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ SỰ PHÂN BỐ CÁC LỤC ĐỊA VÀ ĐẠI DƯƠNG .80
1 Sự phân bố các loại địa hỡnh lục địa và đại dương theo chiều cao 80
2 Các lục địa và đại dương trên Trái Đất 82
3 Một số quy luật trong sự phân bố các lục địa đại dương Trái Đất 84
I -ĐỊA LÝ HỌC HIỆN ĐẠI
Địa lí học hiện đại – mặc dù là một từ về số ít-trong thực tế là một số nhiều chỉ
một hệ thống các khoa học tự nhiên và xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau Thế nào là một hệ thống khoa học? Đấy là sự kết hợp của nhiều bộ môn khác nhau với các chức năng riêng biệt của chúng nhưng đồng thời được thống nhất bởi một chức năng chung
Nói một cách khác, tất cả các khoa học cùng nằm trong một hệ thống đều một đối tượng nghiên cứu chung, mặc dù mỗi khoa học này lại có đối tượng nghiên cứu riêng Hơn thế nữa, các khoa học bộ phận trong cùng một hệ thống khoa học
sử dụng một phương pháp luận chung, một ngôn ngữ (hệ thống khái niệm-thuật ngữ) chung, không kể rằng chúng có thể cùng sử dụng một số phương pháp chung được lựa chọn
Hệ thống các khoa học địa lí được hình thành phát triển từ địa lí học thống nhất
cổ đại, nguyên chỉ được quan niệm như một kiểu từ điển bách khoa tự nhiên, dân cư và tài nghiên của một khu vực hay của một đất nước Nhưng người ta có thể thấy rõ quan niệm về khuynh hướng đó khi đọc các tác phẩm địa lí của các nhà địa lí từ thế kỉ XVIII trở về trước Sự phân dị của địa lí học rõ rệt nhất là từ thế kỉ XVIII trỏ đi, theo hai hướng: Hướng phân tích, nghiên cứu từng thành phần riêng biệt của tự nhiên hay từng ngành kinh tế(như nghiên cứu địa hình khí hậu, thuỷ văn, sinh vật, dân cư, nông nghiệp, công nghiệp…) Hướng tổng hợp nghiên cứu các thể tổng hợp tự nhiên hay kinh tế
Dù cho có sự phân dị đó (điều mà hiện nay vẫn còn xảy ra), hệ thống khoa học địa lí vẫn thống nhất từ trong bản chất của nó Đấy là vì giữa khoa học bộ phận cấu tạo nên các khoa học địa lí, tồn tại những quan hệ rất chặt chẽ kết hợp chúng lại với nhau do chúng có cùng một nhiệm vụ chung phải giải quyết là: Trên cơ
sở nhận thức các quy luật phát triển của môi truờng địa lí( hiểu theo nghĩa rộng nghĩa là bao quát các quyển vô cơ như thạch quyển và thuỷ quyển, các quyển hữu cơ và quyển xã hội), xác định cho đúng đắn đặc tính của các mối quan hệ giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội Các mối quan hệ này ngày càng trở
Trang 4nên phức tạp, nhất là trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật hiệnnay.
Trong các sách vở địa lí, có rất nhiều định nghĩa về địa lí học Phần lớn các địnhnghĩa trước đây nhấn mạnh đến tính chất mô tả của địa lí học (khoa học mô tả bềmặt quả đất) hoặc đến việc nghiên cứu sự phân bố địa lí của các hiện tượng(khoa học về sự phân bố)
Các nhà địa lí Xô viết cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau nhưng đềuthống nhất với nhau ở những điểm sau đây: Một là, khoa học địa lí hiện naykhông còn là một khoa học đơn độc mà là một hệ thống các khoa học Hai là,địa lí học hiện đại không chỉ mô tả về sự phân bố mà quan trọng hơn là sựnghiên cứu các quy luật, các mối liên hệ giữa các hiện tượng, các tổng thể Cóthể dẫn định nghĩa sau đây rút ra từ Đại bách khoa toàn thư Xô viết: “Địa hợplãnh thổ tự nhiên, các thể tổng hợp sản xuất theo lãnh thổ và các thành phần củachúng” Như vậy trong định nghĩa, thể tổng hợp tự nhiên và thể tổng hợp sảnxuất theo lãnh thổ được chú trọng và được coi là những đối tượng nghiên cứucủa địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế Khái niệm thể tổng hợp phù hợp với kháiniệm hệ thống, quyết định phương pháp nghiên cứu của địa lí học như sẽ nói ởsau
II-CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG CÁC KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Hệ thống các khoa học địa lí vì vậy bao gồm hai nhóm khoa học lớn: nhóm các
khoa học địa lí tự nhiên và nhóm các khoa học địa lí kinh tế Nếu như mục đích
của địa lí học là một thì địa lí học tự nhiên và địa lí kinh tế khác nhau rõ rệt vềđói tượng và phương pháp nghiên cứu
Trong nhóm thứ nhất có các khoa học sau đây: địa lí tự nhiên (gồm cơ sở địa líhọc tự nhiên và cảnh quan học) và các khoa học bộ phận (địa mạo học, khí hậuhọc, địa lí thuỷ văn, địa lí thổ nhưỡng, địa lí sinh vật, cổ địa lí học) Nếu như địa
lí tự nhiên tổng hợp nghiên cứu lớp vỏ địa lí như là một thể thống nhất và hoànchỉnh thì một khoa học bộ phận nghiên cứu một thành phần riêng biệt trong lớpvỏ
Địa mạo học là khoa học nghiên cứu địa hình bề mặt đất nói chung, các dạng địa
hình nói riêng và nguồn phát sinh, quá trình phát triển của chúng Khí hậu học là
khoa học nghiên cứu khí hậu của Trái Đất, sự phân bố của chúng và những sự
biến đổi trong lịch sử Địa lí thuỷ văn là khoa học về thuỷ quyển, kể cả đại
dương và băng hà Hiểu theo nghĩa hẹp đấy là khoa học về cân bằng nước, biển,lục địa, về dòng chảy trên mặt ( học thuyết về sông ngòi) và về đầm hồ ( hồ đầm
Trang 5học) Thổ nhưỡng học là khoa học về cấu trúc, thành phần và sự phát sinh và
phát triển cũng như sự thay đổi trong không gian của đất, kể cả các biện pháp sử
dụng hợp lí tài nguyên tự nhiên đó Địa lí sinh vật có thể được nghiên cứu như
tập hợp của địa lí thực vật và địa lí động vật hoặc như là học thuyết về các quy
luật phân bố sinh vật, về các sinh vật quần Cổ địa lí học nghiên cứu lịch sử của
lớp vỏ địa lí(cổ địa lí đại cương) hoặc lịch sử phát triển của từng khu vực( cổ địa
lí khu vực) trong toàn bộ thời gian trước thời kì hiện đại Cơ sở địa lí tự nhiên và
Cảnh quan học đều là các khoa học nghiên cứu các địa tổng thể, tuy có khác
nhau về cấp của đối tượng Acmăng L.D(1968) từ lâu đã có ý kiến rằng khó lòng
có thể vạch một ranh giới rõ rệt giữa hai khoa học này vì có những lãnh vựctrung gian mà cả hai cùng có thể nghiên cứu Thí dụ cả Cơ sở địa lí tự nhiên( hay Địa lí tự nhiên đại cương) lẫn cảnh quan học đều nghiên cứu sự phân dịcủa lớp vỏ địa lí Vì vậy Prêobrajenxki V.S (1972) cho rằng chỉ có truyền thốnghơn thế nữa yêu cầu của thực tiễn mới để tồn tại song song hai học thuyết đó, dolớp vỏ địa lí là một thành tạo quá lớn và quá phức tạp làm cho sự nghiên cứukhó mà được giới hạn Cũng có thể trong tương lai hai khoa học này nhập làmmột chăng nhưng hiện nay vẫn phải tính chúng như hai á hệ thống độc lập
Nhóm các nhà khoa học địa lí kinh tế là nhóm khoa học nghiên cứu sự phân bốsản xuất Bản thân địa lí kinh tế là “ khoa học xã hội thuộc hệ thống các khoahọc địa lí và nghiên cứu sự phân bố địa lí sản xuất, hiểu như sự thống nhất củasức sản xuất và các quan hệ sản xuất, các điều kiện và các đặc điểm của sự pháttriển của sản xuất ở các nước và khu vực khác nhau” (Định nghĩa của Hội Địa líhọc toàn Liên xô, 1955)
Thuộc về các khoa học địa lí kinh tế có cơ sản xuất ở địa lí kinh tế, địa lí côngnghiệp, địa lí nông nghiệp, địa lí vận tải, địa lí thương mại Các khoa học nàynghiên cứu sự phân bố địa lí của từng hoạt động sản xuất các điều kiện và cácđặc điểm về phát triển của hoạt động đó ở từng nước hoặc từng khu vực khác
nhau Địa lí dân cư là một khoa học đặc biệt nghiên cứu sự hình thành dân cư ở
các nước và các vùng, kể cả các điểm quần cư, các thành phố, đô thị Trong giai
đoạn hiện nay địa lí kinh tế thế giới và địa lí đô thị đang ngày càng tiến tới thành nhũng khoa học riêng biệt nằm trong địa lí kinh tế Địa lí phục vụ, địa lí các tài
nguyên lao động là hai khoa học địa lí kinh tế mới đang được hình thành Cuối
cùng, phải kể đến địa lí chính trị là khoa học nghiên cứu sự phân bố các lực
lượng chính trị giữa các nước kể cả trong bản thân từng nước Địa lí chính trị ởcác nước Tây Âu và Mỹ bị sử dụng vào các mục đích chiến tranh
Trong thời gian gần đây người ta nhận thấy ở các nước xã hội chủ nghĩa, rõ nhất
là ở Liên xô, khuynh hướng tăng cường các công trình nghiên cứu địa lí kinh tế
về mặt xã hội ( điều mà ở phương Tây đã trở thành phổ biến do tập quán)
Trang 6Khuynh hướng tích cực này theo Alaep E.B (1983), được phản ánh trong têngọi mới là “ địa lí kinh tế xã hội” Mặc dù sự thay đổi tên gọi hệ thống khoa họcnày có phần hình thức nhưng nó nâng lên ở một vị trí cao hơn các công cuộckhảo cứu xã hội trong địa lí kinh tế đồng thời gắn liền khoa học của thời đạiCNXH với các yêu cầu của xã hội.
Địa lí kinh tế- xã hội vì vậy là tổng thể các bộ môn khoa học nghiên cứu các quyluật phân bố của sản xuất xã hội( hiểu như là sự thống nhất của sức sản xuất vàquan hệ sản xuất ) và sự quần cư của con người, nói một cách khác, đấy là sựnghiên cứu tổ chức lãnh thổ của ( đời sống) xã hội, các đặc điểm biểu hiện của
nó ở các nước, các vùng, các địa phương khác nhau (Alaep E.B 1983) Trongmột số tài liệu chính thức, người ta cũng dùng khái niệm “địa lí kinh tế và xãhội” nhưng phải hiểu khái niệm đó như là một thể thống nhất biện chứng Khithêm từ “và”, các tác giả muốn nhấn mạnh đến quyền ngang nhau được nghiêncứu hoặc thuần tuý về mặt kinh tế hoặc là thuần tuý về mặt xã hội, nhưng khôngphải là hoàn toàn tách biệt với nhau
Các công trình nghiên cứu địa lí tự nhiên hay địa lí kinh tế của những lãnh thổ
cụ thể ( nước, vùng, địa phương) tìm cách nêu lên những đặc điểm tổng hợp,bao gồm việc mô tả tự nhiên và có khi cả kinh tế của lãnh thổ đó Đấy là cáccông trình thuộc địa lí khu vực( hay địa lí các nước), chúng có một giá trị to lớn
về mặt thông tin
Ngoài các khoa học nói trên, trong gia đình các khoa học địa lí còn có một sốmôn mang tính chất liên ngành điển hình nhất là môn địa phương chí Trongthực tế, bộ môn địa phương chí không còn được coi như một khoa học riêng biệtnữa Trong địa phương chí, người ta không chỉ cung cấp các tư liệu về tự nhiên,
xã hội, kinh tế mà còn đè cập đến văn hoá, lịch sử và cả chính trị Điều quantrọng để giữ được tính chất địa lí trong địa phương chí là phải nêu cho dược các
sự kiện nhiều mặt của địa phương, chứ không phải tập hợp cơ giới các tư liệu
Địa đồ học giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống các khoa học địa lí Thông
thường giữa địa lí học và địa đồ học không có sự khác biệt lớn về nhiệm vụ nếuxuất phát từ định nghĩa của địa đồ học như là khoa học nghiên cứu sự phân bốcác đối tượng tự nhiên và kinh tế và các mối quan hệ giũa chúng bằng bản đồ
Cũng có ý kiến cho rằng địa đồ học thuộc nhóm các khoa học về các phươngtiện và hình thức phản ánh thực tại, là khoa học về một loại ngôn ngữ đặc biệt làngôn ngữ bản dồ để biểu diễn các đặc điểm của lớp vỏ địa lí Trong trường hợpnày, rõ ràng có sự phân công giữa địa lí học và địa đồ học nhưng địa lí học phải
đi bước trước (bước nghiên cứu) và địa đồ học phải đi bước thứ hai (bước biểudiễn bằng hệ thống các kí hiệu) Quan niệm sau này thu hẹp hoạt động của địa
Trang 7đồ học tuy không làm giảm mối quan hệ chặt chẽ giữa địa đồ học và địa lí học,nhưng ít được chấp nhận hơn.
Khi xét vấn đề cấu trúc của các khoa học địa lí, người ta có thể nêu câu hỏi sauđây: nếu địa lí tự nhiên về mặt phân loại khoa học thuộc về hệ thống các khoahọc tự nhiên và địa lí kinh tế thuộc về hệ thống các khoa học xã hội thì tại saokhông để chúng phát triển như là những ngành khoa học riêng biệt mà phải tậphợp chúng lại thành địa lí học Lại có thể có một câu hỏi khác: địa lí tự nhiên vàđịa lí kinh tế có thể hợp nhất lại thành một địa lí học thống nhất hiểu là nhấtnguyên hay không ?
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, có thể nói rằng giữa khoa học địa lí tự nhiên và khoahọc địa lí kinh tế có một sự thống nhất biện chứng, sự thống nhất của hai mặtcủa địa lí học Địa lí kinh tế không thể tồn tại tách rời với địa lí tự nhiên, vì xãhội loài người (và các hoạt động sản xuất của nó) sống và phát triển trong mộtmôi trường địa lí tự nhiên cụ thể (môi trường địa lí), do đó không thể không hiểubiết về tự nhiên Ngược lại địa lí tự nhiên mà tách rời khỏi địa lí kinh tế thì sẽmất luôn cả mục đích nghiên cứu của mình: địa lí tự nhiên nghiên cứu để làm gìnếu không phải là để phục vụ cho sản xuất xã hội ? Vả lại bản thân tự nhiên từlâu đã bị các hoạt đọng sản xuất của con người biến đổi nhiều đến nỗi khó mànhận thức nó được cho đúng đắn nếu không hiểu biết về địa lí kinh tế
Câu hỏi thứ hai là một vấn đề phức tạp và gây nhiều tranh cãi Ở các nước Tây
Âu và Mỹ, vấn đề đó không được đặt ra, vì từ lâu họ đã quan điểm địa lí họcnhư là một khoa học thống nhất hiểu là nhất nguyên
Richard Harsthorne ở Mỹ cho rằng: Việc phân chia địa lí học ra thành địa lí kinh
tế và địa lí tự nhiên là giả tạo Tuy nhiên chính các nhà địa lí Tây Âu và Mỹcũng chưa đưa ra những lí thuyết chắc chắn để bảo vệ ý kiến của mình, còntrong thực tế thì họ ứng dụng tính địa lí thống nhất đó trong các sách mô tả khuvực hay từng bước bằng cách ghép phần địa lí dân cư và địa lí kinh tế sau phầnđịa lí tự nhiên nhưng chưa thoát khỏi tính mô tả Khi cần đi sâu phát hiện ranhững cơ thức hình thành và những quy luật, họ cũng không ngần ngại viết địa
lí tự nhiên hoặc địa lí kinh tế ra thành những vấn đề riêng
Ở Liên Xô, từ những năm 60 trở lại đây, một số tác giả ( V.A Anusin, G.Sauxkin cũng đặt vấn đề địa lí thống nhất, dựa trên các lập luận sau đây: 1) theo
họ, cả địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế đều cùng nghiên cứu một đối tượng là lãnhthổ,2) cả hai đều nghiên cứu lớp vỏ địa lí, 3) cả hai cùng nghiên cứu môi trườngđịa lí, 4) cả hai đều nghiên cứu các quan hệ giữa con người và tự nhiên Vì vậy
có thể xác lập các quy luật địa lí chung, kể cả các phương pháp nghiên cứuchung Những người ủng hộ địa lí thống nhất ở Liên Xô cũng cho rằng quan
Trang 8niệm về địa lí thống nhất có thể thấy biểu hiện rõ nhất trong địa lí các nước.
Một số lớn các nhà địa lí Liên Xô- chủ yếu là các nhà địa lí tự nhiên – không tánthành quan điểm này Thí dụ để trả lời về đối tượng lãnh thổ được coi như là đốitượng nghiên cứu chung, họ cho rằng nhà địa lí không nghiên cứu một lãnh thổtrừu tượng mà là một lãnh thổ cụ thể, rằng lớp vỏ địa lí – kể cả môi trường địa lí
là do địa lí tự nhiên nghiên cứu và quan hệ giữa con người và tự nhiên tuy thuộclĩnh vực nghiên cứu của địa lí học nhưng cũng là lĩnh vực nghiên cứu của nhiềukhoa học khác, kể cả triết học
Nói chung, vấn đề đã được giải quyết Aláep E.B khi tổng kết vấn đề này (1983)cho rằng đây là các cuộc thảo luận “ vô bổ” của những năm 60, mà không có kẻthắng cuộc Hiện nay phần lớn các nhà địa lí Xô viết cho rằng hệ thống các khoahọc địa lí – dù là muốn xét cấu trúc theo bất kì phương án nào-cũng gồm có 2
“cánh” thể tổng hợp các khoa học tự nhiên và thể tổng hợp các khoa học kinh
tề-xã hội và sự hợp tác khoa học giữa hai “ cánh” này ngày càng trở thành rõ rệt.Các cơ sở lí thuyết, phương pháp luận và tổ chức cho một sự hợp tác như vậy đãđược củng cố Có thể hiểu sự tranh luận này ở Liên Xô là do trong một thời giandài, địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế ở đó hoạt động ngày càng riêng rẽ và tách rờivới nhau đến mức nhà địa lí lão thành N.N Baranxki phải lên tiếng báo động.Đấy cũng có thể là kinh nghiệm lớn với địa lí học ở Việt Nam
Cuối cùng, vị trí của môn địa lí khu vực không phải không gây tranh luận, xét vềmặt phân loại khoa học Ở phương Tây từ lâu cũng theo tập quán người ta vẫnchấp nhận rằng địa lí học phân ra hai phần chính: địa lí đại cương và khu vực, ởLiên xô trường phái Anusin D.N (1954) cùng với Krube, Bocdop …chứng minhmối quan hệ chặt chẽ giữa hai phần này và ý nghĩa của phần này với phần khác.Mặc dù sự phân chia của Anusin D.N ngày nay không còn thoả mãn các nhà địa
lí do sự phát triển của khoa học địa lí, nhưng về nguyên tắc, vẫn có thể chấpnhận quan điểm truyền thồng đó
Sự việc trở thành phức tạp- tuy không phải có lí do-khi Baranxki (1956) nêu lênrằng địa lí khu vực ( hay địa lí đất nước, địa lí các nước) “ chỉ là một hình thức
có tổ chức để tập hợp các dữ liệu nhiều mặt về một nước này hay nước khác” và
vì vậy không phải là một khoa học riêng biệt Ý kiến này được Acmang D.L(1968) biểu đồng tình còn Preobrajenxki V.S (1972) thì lập luận rằng khó lòng
mà quan niệm có được một “ lí thuyết địa lí tự nhiên cuă nước Pháp” khác với “
lí thuyết tự nhiên nước Anh” (và khác ở chỗ nào) Mặc dù như vậy, cả Acmang,Preobrazenki và Isasenko đều công nhận rằng địa lí khu vực không phải vì thế
mà không có quyền tồn tại do từ lâu đã thực hiện những chức năng xã hội cóích Địa lí khu vực cần thiết cho quá trình học tập trong nhà trường, cho sự tracứu, cho du lịch
Trang 9Mackop K.K và Klexnic S.V (1960 và 1957) lại coi địa lí tự nhiên khu vực làCảnh quan học Gvodtxki N.A cực lực bác bỏ các quan điểm đó (1979) Theoông, chính Cảnh quan học cũng là một ngành khoa học của địa lí tự nhiên vàcũng gồm cảnh quan học đại cương và cảnh quan học khu vực Như vậy địa lí tựnhiên gồm có hai phần: đại cương và khu vực Trong phần đại cương có địa lí tựnhiên, học thuyết phân vùng địa lí tự nhiên và cảnh quan học đại cương, còntrong phần khu vực có địa lí tự nhiên khu vực ( hay địa lí tự nhiên đất nước) vàcảnh quan học khu vực
Kết luận rút ra được từ các quan niệm khác nhau trên đây là, nếu cho rằng địa líkhu vực không phải là một khoa học đúng nghĩa đi nữa thí vẫn là 1 lĩnh vực đặcbiệt của hoạt động khoa học tự nhiên, mà chức năng chủ yếu là giáo dục- thôngtin
III-QUAN HỆ GIỮA ĐỊA LÍ HỌC VÀ CÁC KHOA HỌC KHÁC
Giữa địa lí học và các khoa học khác có nhưng mối quan hệ rất mật thiết Người
ta có thể thấy rõ điều đó ngay cả nếu chỉ xét vị trí của địa lí tự nhiên và vị trí củađịa lí kinh tế so với các khoa học khác
Địa lí tự nhiên từ lâu đã có quan hệ chặt chẽ với toán học, vật lí học, hoá học vàsinh học Địa lí tự nhiên không những chỉ những định luật,những kiến thức củacác khoa học chính xác này mà ngay cả một số phương pháp của chúng Địa lí
tự nhiên kết hợp với vật lí học tạo ra môn địa vật lí, với hoá học thành địa hoáhọc, với sinh học thành địa lí sinh vật các phương pháp toán học ngày càng xâmnhập vào địa lí tự nhiên làm cho các khoa học thuộc nhóm này ngày càng trởthành những khoa học chính xác
Quan hệ giữa địa lí tự nhiên và địa chất học trong thế kỉ này đã thay đổi nếu cóđịa chất học là khoa học về cấu tạo và sự phát triển của quả đất nói chung thìmặc dù xưa kia địa lí tự nhiên đã sinh ra địa chất học, nay cũng chỉ với địa chấthọc nằm trong hệ thống các khoa học Trái Đất Nếu hiểu địa chất học là khoahọc về vỏ quả đất (coi như một thành phần của lớp vỏ địa lí) thì địa chất họcnằm trong đại lí học
Như vậy, vấn đề cũng không phải đơn giản, còn trong thực tế thì vẫn có chỗ đểbàn luận Thí dụ các nhà địa mạo được đào tạo trong các chuyên ngành địa lí vàđịa chất, vậy thì địa mạo là khoa học bộ phận của địa lí học hay của địa chấthọc? Cũng có ý kiến cho rằng địa mạo học trong địa lí học chú trọng nhiều hơnđến các quá trình ngoại trong khi trong địa lí địa chất học thì nặng nhiều hơn vềphần nội lực Có thể là như vậy trong thực tế nhưng điều đó về bản chất không
Trang 10đúng, vì bản thân đối tượng nghiên cứu (tức là địa hình bề mặt đất ) là kết quảcủa sự tác động thời và tương hỗ của nội lực và ngoại lực, vì vậy không thể coinhệ bất kì mặt nào Do đó về khía cạnh phân loại khoa học, có thể coi như vấn
đề chưa được giải quyết
Trong thời gian từ 1960 trở lại đây, người ta hay nói nhiều đến sinh thái họctrong địa học, nhiều đến mức có sự nhầm lẫn (nếu không nói là tranh chấp)giữahai khoa học này Tất nhiên, trong tình hình phát triển của khoa học hiện nay,không ai còn coi sinh thái học chỉ là một khoa học ”nghiên cức các điều kiệnsinh tồn của sinh vật và các mối quan hệ tương hỗ giữa sinh vật và môi trườngtrong đó chúng sinh sống” (Odum_E.và các tác giả khác ), nhưng cũng khó lòngchấp nhận một “sinh thái học toàn cầu” (Commone_B.(1994) hay “một khoahọc tổng hợp toàn diện” (Đuvinho_P.và Tanghe_M.(1967) Khi xét các nguyên
lí và khái niệm cơ bản của hệ sinh thái mà Duvinhô và Tanghe trình bày, người
ta thấy hệ sinh thái “khổng lồ” mà hai ông xác định là cấp cao nhất không gìkhác là sinh quyển Đi xa hơn, một số nhà sinh thái đã bao gồm vào trong sinhthái học không chỉ sinh vật học mà còn hầu hết các ngành khoa học tự nhiên vàkhoa học xã hội (bách khoa toàn thư của khoa học môi trường Niuyoóc.1994
Tuy nhiên người ta có thể đồng ý với Duvinhô và Tanghe khi ở phần kết luận,các ông cho rằng sinh thái học “phải trở thành một quan điểm hơn là trở thànhmột quy luật cá biệt” Gherasimop _I.P (1978) cho rằng cần phải nhấn mạnh đến
“quan niệm sinh thái” (hay cách tiếp cận sinh thái ) hiểu theo nghĩa rộng là “conđường sinh thái để nhận thức khoa học”.các công cuộc khảo cứu trong địa lí học,theo Gherasimop, chắc chắn phải được bổ sung bởi các công cuộc nghiên cứutương ứng trong các khoa học địa chất, sinh vật,kĩ thuật và kinh tế_xã hội
Địa lí học vì vậy phải nghiên cứu theo phương hướng sinh thái, nhưng địa lí họckhông phải là đông nghĩa với sinh thái học, lại càng không phải là một khoa học
bộ phận của sinh thái học
Địa lí kinh tế (bắt đầu từ đây chúng ta sẽ dùng khái niệm địa lí kinh tế_xã hội)cóliên quan chặt chẽ tới sử học, địa lí lịch sử, nhân chủng học(từ đó trong địa líhọc có địa lí nhân chủng học ), kinh tế chính trị học, toán học thống kê và vớinhiều môn kĩ thuật khác
Trong quan niệm thông thường, người ta hay lẫn lộn giữa địa lí kinh tế xã hội vàkinh tế học, vì vậy nên làm rõ điểm này đối với sinh viên địa lí Các nhà kinh tếhọc và các nhà địa lí kinh tế điều là những đại diện nhóm khoa học rất gần gũivới nhau nhưng thuộc về những hệ thống khoa học khác nhau Các nhà kinh tếhọc chú ý nhiều hơn đến đặc tính của các quan hệ sản xuất giữa con người, đếnnăng suất lao động, đến giá trị lao động và các sản phẩm cấu tạo được ) và
Trang 11phương thức các giá trị này được phân phối Các nhà địa lí kinh tế phải chú ýnhiều hơn đến cái gì và ở đâu được sản xuất, về những sản phẩm nào đó,phương thức những vùng chuyên môn hoá sản xuất về những sản phẩm nào đó,phương thức những vùng chuyên môn hoá trao đổi hàng hoá với những vùng(hay địa phương khác), khác những điều kiện và tài nguyên tự nhiên nào đãđược sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm nói trên (Sauxkin,1958) Nhữngngười không nắm được sự khác biệt đó thường mắc phải sai lầm trong khinghiên cứu, hoặc nhảy qua một lĩnh vực khác không thuộc chuyên môn củamình nên không sâu.
Trong thời đại ngày nay, người ta thấy có sự kết hợp nhiều mặt giữa địa lí học(cả tự nhiên lẫn kinh tế )với hàng loạt các khoa học khác, tạo thành nhiều khoahọc trung gian mới y như địa lí, địa lí giải trí - du lịch …Số lượng các khoa họctrung gian ngày càng tăng cùng với sự phát triển của khoa học và kĩ thuật nóichung Vì vậy có thể dự đoán rằng trong vài chục năm tới, hệ thống các khoahọc trung gian sẽ ngay càng chiếm một vị trí quan trọng trong địa lí học AlaepE.B(1983) cho rằng các khoa học trung gian này là những hướng khoa học đặcbiệt của địa lí học, cùng với địa lí trong nhà trường, Địa lí ứng dụng, địa lí líthuyết
IV-PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ HỆ PHƯƠNG PHÁP CỦA ĐỊA LÍ HỌC
Lí thuyết và phương phương pháp luận nhận thức là cơ sở triết học trực tiếp củabất kì phương pháp luận nghiên cứu khoa học cụ thể nào (DzebiZ.E1986)
Khoa học địa lí có lí thuyết và phương pháp luận riêng của nó Người ta hiểu líthuyết của một khoa học là một hệ thống kiến thức được kết cấu chặt chẽ, khôngmâu thuẫn với nhau (ở trình độ hiện nay ) nhằm cắt nghĩa thế giới bên ngoài haynhững yếu tố riêng biệt của nó,và tất nhiên đã được kiểm nghiệm hay tínhtoán(Alaep E.B.1983) Phương pháp luận điều thông thường _là học thuyết vềphương pháp khoa học của nhận thức phương pháp luận phát triển trong khoahọc những yếu tố mà không có chúng, không có sự phát triển của chính khoahọc đó
Nói một cách hình tượng, phương pháp luận là quan niệm về lý thuyết(Alaep,1983) của một khoa học nhất định
Phương pháp luận có nhiều mức Mức cao nhất và chung cho nhiều khoa học làphương pháp luận phố biến: duy vật biện chứng của Mac-Lênin, tức là họcthuyết về thế giới vật chất và lý luận nhận thức, là phương pháp luận nghiên cứukhoa học chung cho tất cả khoa học bộ phận
Phép biện chưng duy vật cho thấy rằng tất cả các hiện tượng của thế giới vật
Trang 12chất đều năm trong mối quan hệ và phụ thuộc với nhau rất chặt chẽ tạo thành thểthống nhất và hoàn chỉnh quy luật này được biểu hiện trong địa lí thành quanniệm tổng hợp, quan niệm hướng dẫn mọi công cuộc khảo sát địa lí Một trongnhững lập luận cơ bản của duy vật biện chứng là sự khẳng định rằng vật chấtkhông thể tồn tại bằng cách nào khác ngoài sự vận động vĩnh cửu, nó luôn luônbiến đổi và phát tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa là rất quan trọng Nhiềuquy luật khác như quy luật về vai trò của phương thức sản xuất của cải vật chất,quy luật đấu tranh giai cấp, quy luật về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đốivới ý thức xã hội, quy luật về sự tương xứng (phù hợp )bắt buộc giữa các quan
hệ sản xuất với trình độ phát triển của sản xuất …đều có tác dụng hướng dẫnkhông những lí luận mà ngay cả các phương pháp nghiên cứu trong địa lí kinhtế
Phương pháp luận cụ thể của mỗi khoa học-trong đó co khoa học địa lí luônluôn gắn liền với những điều kiện lịch sử và phụ thuộc vào trình độ nhận thứckhoa họccủa chính khoa học đó.trong lịch sử phát triển của khoa học địa lítheoPratkinN.G(1972), có thể phân biệt ra ít nhất là 4 trình độ phát triển về mặt nhậnthức, phản ánh phương pháp luận chủ đạo của các giai đoạn phát triển.cũng ởmỗi giai đoạn, thường có một ngưỡng (hay một chướng ngại) mà nhận thức ởgiai đoạn đó chưa vượt qua được, và khi nó được vượt qua thì khoa học chuyểnsang một giai đoạn (hay một trình độ) phát triển mới Phương pháp luận chủ đạocũng thay đổi theo
Trình độ phát triển về mặt nhận thức trong thời kì cổ đại mang yếu tố-khônggian Chẳng hạn người ta đã phát hiện được các sự khác biệt về bản chất của cácloại đất khác nhau tuỳ thuộc vào vĩ tuyến và độ cao trên mặt biển, còn ngạichính là quan niệm về tính bất biến của thế giới theo thời gian,sự cô lập hoá cácyếu tố của các hiện tượng quan sát được Đến thế kỉ thứ XV-XVI, trình độ nhậnthức đã tiến lên đến xác lập được các thành phần của tự nhiên và xã hội, theoquan điểm lịch sử nhưng giới hạn còn là ở chỗ quan niệm thế giới như là tổngcủa các hiện tượng Bắt đầu từ thế kỉ XIX-XX, nhận thức đã được nâng cao dếntrình độ tổng hợp-động lực còn hạn chế có lẽ là ở chỗ đến một chừng mực nào
đó vẫn có sự tách rời giữa các hiện tượng tự nhiên và xã hội,giữa thê giới vĩ mô
và vi mô Giai đoạn nhận thức hiện nay có thể đang bước đầu phát hiện ra cácquy luật địa lí, không những của hành tinh quả đất mà cả các hành tinh kháctrong hệ Mặt Trời và một phần của vũ trụ
Như vậy phương pháp luận hiện nay của địa lí học phản ánh trong các quanđiểm tổng hợp và động lực (bao gồm cả dự báo), còn về mặt thực tiễn được phảnánh trong quan điểm kiến thức
Quan điểm (quan niệm) là tổng hợp các yếu tố cơ bản nhất của lí thuyết (hay của
Trang 13những học thuyết ),được phát biểu dưới dạng có thể được ứng dụng trong thựctiễn và được chuyển hóc thành Algorit của sự giải quyết một vấn đề cụ thể(Alaep E.B,1983).hệ phương pháp là tổng hợp những biện pháp –kĩ thuật vàhình thức tổ chức để tiến hành nghiên cứu khoa học.vấn đề hệ phương pháp rấtrộng đối với đại lí học nói chung(vì bao gồm cả cho địa lí tự nhiên và địa lí kinh
tế xã hội ) nên sẽ chỉ được trình bày riêng cho địa lí tự nhiên ở mục 7 củachương này
V-ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
Trong qúa trình phát triển của địa lí học, đối tượng nghiên cứu của dịa lí tựnhiên bao giờ cũng là tự nhiện bề mặt đất.khái niệm này đã có từ cổ đại và hiệnvẫn còn thấy được dùng ở nhiều nước phương tây.Tuy nhiên cùng với sự pháttriển của bản thân khoa học địa lí đồng thời với sự phát triển của khoa học kĩthuật nói chung, khái niệm địa lí tự nhiên ngày càng có nội dung phong phú vàchính xác hơn
Thể tổng hợp địa lí tự nhiên là khái niệm cơ bản thứ nhất mà khoa học địa lí tựnhiên đã cấu tạo được (còn gọi là địa tổng thể,địa hệ thống,thể tổng hơpj lãnhthổ tự nhiên) dù là thong qua sự nhận thức về sự phân bổ của các vật thể trongkhông gian hay thông qua việc tìm hiểu những mối liên hệ tồn tại giữa các thànhphần cấu tạo nên một lãnh thổ nhất định, tư duy của con người cũng dần dần điđến khái niệm ấy
Có thể định nghĩa: “thể tổng hợp địa lí tự nhiên là một sự kết hợp có quy luậtcủa các thành phần địa lí(như địa hình, khí hậu, nước trên mặt,và nướcc ngầm,thổ nhưỡng, động thực vật) nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất phứctạp và tạo thành một hệ thống không thể chia cắt được”
Về sau này, người ta mới nhận thấy rằng thể tổng hợp địa lí tự nhiên có thể cónhiều cấp đi từ cấp thấp nhất-như tướng địa lí-đến cặp cao nhất là lớp vỏ địa línhư sẽ nói ở sau Các mối quan hệ tồn tại giữa các thành phần này chủ yếu làcác mối quan hệ nhân quả do có sự trao đổi vật chất và năng lượng và sự biểuhiện của chúng ở từng lãnh thổ khác nhau có thể khác nhau Đứng về mặt khảosát và nghiên cứu địa lí, một kết kuận rất quan trọng có thể rút ra được từ đó làkhi nghiên cứu một thành phàn của tự nhiên, người ta bắt buộc phải nghiên cứucác mối quan hệ giữa nó và các thành phần tự nhiên khác,như vậy mới hiểuđược bản chất và các pảhn ứng nhiều mặt của đối tượng nghiên cứu
Lớp vỏ địa lí tự nhiên là một khái niệm cơ bản khác mà con người nhận thức
Trang 14được một trình độ phát triển khoa học cao hơn Một số khái niệm khác cũngđược đề nghị sử dụng để chỉ bề mặt quả đất và coi như đồng nghĩa với kháiniệm lớp vỏ địa lí như lớp vỏ cảnh quan ( Y.K Efremop ), địa quyển ngoài ( A.
G Isaxenco) quyền phát sinh sinh vật ( J.M Zabelin) nhưng khái niệm lớp vỏđịa lí được dùng nhiều hơn cả
Bề mặt đất ở đây không còn được quan niệm đơn thuần như một bề mặt nằmngang, một bề mặt vật lí hay toán học, mà là một bề mặt có thể tích do đó có bachiều Đáng chú ý là tất cả các thành phần cấu tạo nên lớp vỏ này cũng có bachiều như thế ( sông ngòi, rừng…) Hơn nữa, đấy là một hệ thống vật chất thốngnhất trong bản thân nó, khác biệt với tất cả các lớp vỏ khác của hành tinh quảđất ( như lớp vỏ khí hay khí quyển, lớp vỏ đá hay thạch quyển, lớp vỏ nước haythuỷ quyển, lớp vỏ thổ nhưỡng hay quyển thổ nhưỡng, lớp vỏ sinh vật hayquyển sinh vật) bởi tính phức tạp đặc biệt trong thành phần cấu tạo và cấu trúccủa nó
Có thể định nghĩa lớp vỏ địa lí như là lớp vỏ của quả đất gồm có các lớp vỏ bộphận ( khí quyển, thạch quyển, thuỷ quyển, thổ quyển và sinh quyển) xâm nhập
và tác động lẫn nhau Chú ý là nếu như toàn bộ thuỷ quyển và sinh vật quyểntham gia một cách trọn vẹn vào lớp vỏ địa lí thì thạch quyển chỉ gồm có miềnphát sinh trên và khí quyển cũng chỉ có tầng đói lưu nhiều nhất là cho đến giớihạn dưới của tầng ôzon, như vậy chiều dày lớn nhất của lớp vỏ địa lí ứoc chừng
60 km Các thành phần của lớp vỏ địa lí tự nhiên được thể hiện rõ ràng nhất ởngay bề mặt đất, bề mặt đó đồng thời cũng là nơi sinh sống của xã hội loàingười Cao hơn hay thấp hơn bề mặt này, cấu trúc của lớp vỏ địa lí nghèo dầnđi
Vì vậy khoa học địa lí không nghiên cứu toàn bộ lớp vỏ rắn của lớp vỏ quả đất,các tầng cao của khí quyển mà chỉ nghiên cứu bề mặt đất hay là lớp vỏ địa lí,nghĩa là bộ phận phức tạp nhất của vỏ quả đất
Nhiều tác giả đã tìm cách định nghĩa khái niệm này bằng cách khẳng định nhữngđiều kiện cơ bản để một cảnh quan có thực có thể được biệt hoá N.A Xontiep đãđưa ra các điều kiện về tính đồng nhất của nền địa chất, của lịch sử phát triển vàcủa khí hậu để làm cơ sở cho định nghĩa của mình ( như vậy là đi từ dưới lên).A.G Isaxenko lại xuất phát từ quan điểm cho rằng cảnh quan là một bộ phận củalớp vỏ địa lí hiểu như là một bộ phận của những đơn vị lãnh thổ cấp cao phứctạp hơn (như vậy là đi từ trên xuống) Trong thực tế ý kiến của hai ông khôngđối lập nhau mà bổ sung cho nhau
S.V Kaletxnic ( 1959) đã đưa ra định nghĩa sau đây: “Cảnh quan địa lí là một bộphận của bề mặt đất, về mặt định tính khác hẳn với các bộ phận khác được baobọc bởi những ranh giới tự nhiên và là một sự tập hợp các đối tượng và hiện
Trang 15tượng tác động lẫn nhau một cách có quy luật và thống nhất trong bản thân nó,được biểu hiện một cách điển hình trên một không gian rộng lớn và có quan hệkhông tách rời về mọi mặt với lớp vỏ địa lí” Như vậy, theo định nghĩa này, bất
kí một cảnh quan nào cũng được coi như là kết quả của sự phát triển và phân dịcủa lớp vỏ địa lí
Khái niệm cảnh quan hiểu như trên gọi là khái niệm lãnh thổ, theo nghĩa hẹp.Một số nhà khoa học lại hiểu cảnh quan theo nghĩa rộng như là một khái niệmchung chỉ một địa tổng thể thuộc bất kì cấp phân vị nào ( E.N.Minkop, D.LAcmang, K.Efremop) Một số khác lại coi cảnh quan như là một khái niệmchung dùng đẻ chỉ một kiểu tự nhiên ( V.V Polnov, V.A Gvodexki ) Theo cáchhiểu sau cùng này thì khái niệm cảnh quan là một khái niệm loại hình trong khicách hiểu khái niệm trước đó có thể thuộc cả hai ( vừa lãnh thổ vừa loại hình)
Hướng địa lí nghiên cứu các cảnh quan gọi là cảnh quan học Cần phải nói thêmrằng hiện nay hầu như không còn có cảnh quan nào trên Thế giới mà không bịhoạt động sản xuất của con người tác động đến và làm biến đổi Vì vậy ngay cảkhi hiểu cảnh quan như là một khái niệm loại hình cũng cần hiểu nó như mộttổng thể địa phương.cần phải tập xác định cảnh quan ở trên thực địa, biểu diễnranh giới của chúng trên bản đồ, và chú ý rằng trong phạm vi của một cảnh quannày, phương hướng phát triển của tự nhiên cũng như sự sử dụng và phát triểnkhông giống phương hướng của cảnh quan tiếp cận
Ba khái niệm trên là ba khái niệm cơ bản trong địa lí tự nhiên Tuy nhiên chỉ cóthể coi là đối tượng của đại lí tự nhiên (nói chung )hoặc là thể tổng hợp địa lí tựnhiên hoặc là lớp vỏ địa lí Khái niệm “cảnh quan” chỉ biểu hiện một lãnh thổnhỏ hẹp, rất nhỏ hẹp của bề mặt đất, vì vậy ở quy mô hành tinh, người ta phảidùng khái niệm lớp vỏ cảnh quan
Chúng ta đã thấy Efremop và một số tác giả khác coi lớp vỏ cảnh quan là đồngnghĩa với lớp vỏ địa lí tự nhiên.nhiều nhà khoa học như Glazôpxkaia(1964),Minkôp F.N (1959,1967,1970), Gvozdetxki(1979) không đồng ý với cách nhìn
đó trên cơ sở lập luận rằng lớp vỏ cảnh quan chỉ là một bộ phận của lớp vỏ địa
lí Trong khi lớp vỏ địa lí dày hàng chục kilomet thì chiều dày của lớp vỏ cảnhquan chỉ tính từ bề mặt của tầng cây cao nhất xuống dưới giới hạn của dòngnước ngầm (Glazopxkaia), vì vậy không bao quát hết đối tượng nghiên cứu
Trong thời gian từ 1950 trở lại đây, môi trường địa lí được nhiều tác giả nếukhông nói là đại số chấp nhận làm đối tượng nghiên cứu của địa lí tự nhiên.ViệnĐịa lí, Viện hàn lâm khoa học Liên xô Trường Đại học Tổng hơp Maxcơvatrong đó có các nhà địa lí kinh tế và nói chung các thành viên của đại hội địa lítoàn Liên xô lần thứ III đề xướng, hoặc là tán thành quan niệm này, đại diện là
Trang 16Mackốp K.K(1951,19600), Saukin Iu.G(1948), Acmang D.L (1951,1960),Zabelin I.M (1952), Gvodetxki N.A (1961), Zvônkôva T.V (1961) Ở phươngTây, cũng từ những năm đó, nhiều nhà địa lí hàng đầu cũng đưa ra ý kiến tương
tự như E.Sao (1965), Stralơ A(1965) ở Hoa kì, Biarô.P(1959) ở Pháp, SmithusenJ.(1953) ở Cộng hoà LB Đức
Việc xác định môi trường địa lí là đối tượng nghiên cứu của địa lí tự nhiên có ưuthế là nhìn tự nhiên bề mặt đất không phải thuần tuý là một vật thể vật lí mà làmôi trường hoạt đọng kinh tế của con người Bằng cách đó, người ta nhấn mạnhđến các mối quan hệ trong các cuộc khảo sát địa lítự nhiên với thực tiễn và vớihoạt động sản xuất của xã hội
VI-SỰ PHÂN CHIA LỚP VỎ ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CỦA QUẢ ĐẤT KHÔNGGIAN ĐỊA LÍ
Sự phân chia lớp vỏ địa lí của quả đất không chỉ có thể quan niệm theo thành
phần cấu tạo gọi là phân chia dọc (thẳng đứng) mà còn theo khu vực (gọi là
phân chia ngang) (K.K Mackôp)
Các thành phần cấu tạo lớp vỏ điạ lí gồm có 5 quyển: khí quyển, thạch quyển,thuỷ quyển, quyển thổ nhưỡng và quyển sinh vật, với giới hạn như đã nói ở trên.Một số tác giả muốn đưa vào như là một thành phần của lớp vỏ địa lí quyểnnhân sinh (hay là quyển trí tuệ của Vecnatxki, quyển kỹ thuật) gồm tổng hợpnhững vật thể nhân tạo do con người lấy vật chất từ môi trường bao quanh màcấu tạo nên
Trong toàn bộ các thành phần cấu tạo này thì thạch quyển (và địa hình thuộcquyển ấy ) là thành phần bảo thủ hơn cả, ảnh hưởng một cách sâu sắc và lâu dàiđến các thành phần khác Sinh quyển là thành phần động nhất bao gồm cácthành phần có sinh vật của khí quyển, của thạch quyển và toàn bộ thuỷ quyển.Tầm quan trọng của sinh quyển như là quyển của sự sống, lớn đến mức là nhiềutác giả muốn đồng nhất khái niệm lớp vở địa lí với sinh quyển nhưng – như ta đãthấy ở trên- giới hạn của lớp vỏ địa lí rộng hơn và cấu trúc phức tạp hơn sinhquyển nhiều Trước đây 3 tỷ năm lúc mà sự sống chưa xuất hiện trên quả đất,không thể có sinh quyển nhưng đã có lớp vỏ địa lí rồi
Tất cả các thành phần này xâm nhập và tác động lẫn nhau theo chiều thẳng đứng
và tạo ra cấu truc thẳng đứng của lớp vỏ địa lí
Sự phân chia lớp vở địa lí tự nhiên theo khu vực ( theo chiều ngang ) và tạo racấu trúc ngang của lớp vỏ địa lí là đối tượng của một khoa học bộ phận riêng
Trang 17biệt là phân vùng địa lí tự nhiên Lớp vỏ địa lí trong các phân vùng này đượcquan niệm như là một hệ thống các lãnh thổ các cấp, dựa trên cơ sở phân biệtcác vùng tự nhiên Có hai hệ thống đơn vị tự nhiên lớn trên bề mặt đất:1) các lụcđịa và các đại dương, 2 ) các vòng đai và các đới.
Xét về mặt quan hệ với con người, từ lâu người ta đã phân biệt ra môi trường địa
lí, hiểu như là một bộ phận của lớp vở địa lí mà ở một giai đoạn lịch sử nhấtđịnh có quan hệ trực tiếp với đời sống xã hội ( hiểu là hoạt động sản xuất xãhội) Phần lớn các nhà khoa học đời nay không còn phân biệt như thế nữa Họlập luận rằng hoạt động của con người hiện nay đã bao chiếm toàn bộ bề mặthành tinh, kể cả biển sâu và hơn thế nữa, ngay cả phạm vi của lớp vỏ địa lí,nghĩa là trong vũ trụ Vì vậy khái niệm lớp vỏ địa lí được dùng để chỉ một đốitượng trong trạng thái tự nhiên của nó còn khái niệm môt trường địa lí đượcdùng để chỉ cùng đối tượng đó xét trong mối quan hệ với xã hội
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của kỹ thuật thăm dò khônggian vũ trụ trong địa lí học đã xuất hiện khái niệm không gian địa lí (M.M.Ecmôlaep, 1966-1967) coi như một hệ thống tự nhiên bao chiếm khoảng khônggian kéo dài từ bề mặt Môkhô đến giới hạn trên của trường địa từ (nằm ở độ cao
ít nhất là 10 lần bán kính Trái Đất ) Như vậy không gian địa lí bao gồm :1) phần
vũ trụ gần quả đất mà ranh giới bên dưới nằm ở đọ cao 1500 đến 2000 km; 2)khí quyển trên cao; 3) lớp vỏ địa lí;4) lớp vỏ dưới
Tác dụng của không gian địa lí thể hiện ở 2 mặt: nó vừa là một màn che chắnvừa là để xuyên qua Không gian địa lí che chắn cho quả đất khỏi sự công phácủa gió Mặt Trời, tầng Ôzôn trong đó hấp thụ các tia cực tím (như sẽ nói ởchương 3), còn nó để lọt qua các bức xạ sóng dài (các sóng ánh sáng) làm chocác quá trình quang hợp có thể xảy ra và bằng cách đó, cung cấp Oxi cho khíquyển và đại dương
Ảnh hưởng bên trong của không gian địa lí đến lớp vỏ địa lí được biểu hiệnthông qua tác động của năng lượng bên trong qủa đất Chính năng lượng bêntrong này (còn gọi là nội lực ) đã cấu tạo lên địa hình lồi lõm của bề mặt đất mànhững bộ phận lớn nhất là các lục địa và các bồn đại dương, không kể rằng cáclớp muối trữ trong các lớp đất đã là nguyên nhân làm thay đổi hoá học của nướcngầm và đại dương …Khái niệm không gian địa lí xác định rõ hơn lớp vỏ địa lí
và biểu diễn mối quan hệ giữa lớp vỏ đó với các lực tác động đến nó từ vũ trụ và
từ bên trong bản thân hành tinh quả đất
VII CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 18Trong quá trình phát triển của địa lí học, từ thời kì cổ đại đến nay một hệ thốngcác phương pháp nghiên cứu địa lí đã được xây dựng dần dần,nói chung là theohướng ngày càng đi dến định lượng.có thể nêu các phương pháp chủ yếu sauđây:
Phương pháp mô tả so sánh thông thường được tiến hành kết hợp với phương
pháp thực địa là phương pháp cổ truyền của địa lí học Người đi khảo cứu địa líphải dừng lại ở những điểm nhất định mô tả hiện tượng và so sánh với các hiệntượng tương tự đã quan sát được trước kia, lập các lát cắt, vẽ sơ đồ … Trên cơ
sở đó người ta có thể xác lập một số quan hệ, cắt nghĩa nguồn gốc và ngay cả dựbáo các quá trình phát triển “Đi nhìn và suy nghĩ” câu nói nổi tiếng này củaW.M Đavít có thể coi như tóm tắt những khâu chủ yếu cần tiến hành khi sửdụng phương pháp mô tả so sánh Cần chú ý rằng mặc dù có một số ý kiến chorằng phương pháp này đã lỗi thời nhưng quan sát và mô tả vẫn là bước đầu phảilàm trong nghiên cứu khoa học và không phải chỉ trong đại lí học mà thôi.Phương pháp mô tả so sánh được dùng nhiều nhất trong lĩnh vực địa lí khu vực(K.K.Mackop)
Phương pháp bản đồ là phương pháp được dùng phổ biến trong địa lí học, cả
trong điạ lí tự nhiên lẫn trong địa lí kinh tế Không có một công trình địa lí nào
mà lại không sử dụng bản đồ, kể cả các bài tập khoá luận trong nhà trường Vìvậy có thể coi bản đồ là một loại ngôn ngữ đặc biệt trong địa lí học Các bản đồchung và các bản đồ chuyên đề đều có tác dụng cung cấp những thông tin chínhxác và gọn ghẽ về đối tượng nghiên cứu, trong đó các phương pháp trắc lượngbản đồ thường được coi trọng, các cách để sử dùng bản đồ gồm có 4 nhóm :1)phân tích bằng mắt và mô tả, 2) phân tích đồ thị, 3) các công việc trắc lượng bản
đồ, 4)các phép phân tích toán học và thống kê toán học (K.A.Xalixep) Ngoài rangười ta còn dùng phương pháp trắc địa từ xa dựa vào các vệ tinh và các con tàu
vũ trụ
Phương pháp ảnh máy bay và vệ tinh: từ hơn 30 năm trở lại đây ảnh máy bay và
ảnh vệ tinh được dùng rộng rãi do giá thành rất rẻ (chỉ bằng 3-10% giá đo đạcbản đồ trên Trái Đất) Thông qua các loại ảnh này người ta có thể đọc đượcnhiều đặc điểm của tự nhiên hay của các hoạt động kinh tế (thí dụ đổ ẩm khôngkhí thành phần các loại cây rừng, độ sâu nông của máy bay mặt phẳng thườngphải được kết hợp với các ảnh máy bay mặt nghiêng trong các cuộc khảo sát địa
lí để phát huy tác dụng đoán đọc của hai thứ ảnh này
Phương pháp địa vật lí mới được sử dụng trong thời gian gần đây để nghiên cứu
các đặc tính chung nhất của vật chất trong lớp vỏ địa lí tuy phương pháp nàycũng đã được sử dụng—tất nhiên một cách đơn giản hơn-bởi nhiều nhà khoahọc trước đó, kể cả một số nhà khoa học thời kì phục hưng (Vareniúyt và sau đó
Trang 19là Niutơn…) Như vậy địa vật lí nghiên cứu của Trái Đất, vật lí thuỷ quyển vàvật lí khí quyển đối với từng quyển, nói chung là năng lưọng và khối lượng củalớp vỏ địa lí, kể cả cấu trúc lớp vỏ đó.
Phương pháp địa hoá học được sử dụng để nghiên cứu các quy luật phân bố và
di chuyển của các nguyên tố hoá học trong lớp vỏ địa lí Phương pháp địa hoá rađời ngay trong thế kỉ XX nhờ có các công trình của V.I Vecnatxki,A.E.Fecxman (Liên xô), F.Clac(Mĩ), V.M Gônxmit(Na uy) dựa trên việc xácđịnh một cách chính xác các nguyên tố hoá học có được trong đá mẹ, khoángvật, nước và sinh vật và sự di chuyển của các nguyên tố đó đến các môi trườngkhác, phương pháp địa hoá cho phép định lượng các sự trao đổi vật chất giữacác thành phần cấu tạo nên lớp vỏ địa lí Địa hoá học cảnh quan được cấu tạotrên cơ sở địa hoá học nhằm nghiên cứu sự di chuyển của các nghuyên tố hoáhọc trong cảnh quan
Phương pháp cổ địa lí giúp giúp cho việc xác lập lịch sử phát triển của lớp vỏ
địa lí và của từng cảnh quan địa lí trong toàn bộ thời gian trước thời kì hiện đại.Các cứ liệu được dùng để tái lập lại quá khứ của lớp vỏ địa lí và các cảnh quan
là đá mẹ và cấu tạo nham tướng của chúng, đặc tính và sự sắp xếp của các vỉa
đá, các di tích và dấu vết của sinh vật hoá đá, các dạng địa hình tàn dư và nhiềuhiện tượng khác.cổ địa lí sử dụng rộng rãi các tài liệu khảo sát của cổ khí hậuhọc, cổ địa mạo học, cổ thực vật học, cổ động vật học…
Phương pháp toán học càng ngày càng được sử dụng rộng rãi trong địa lí học,
phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của khoa học đó Cũng phải nói rằngtrước kia toán học cũng đã được sử dụng trong địa lí dưới dạng các số liệu, thí
dụ như số liệu về độ cao tương đối và độ cao tuyệt đối, độ dốc của sườn, độ mặncủa nước, các tính toán trong bản đồ…nhưng chỉ có ngày nay toán học mớiđược ứng dụng rộng rãi đến mức có thể nói toán học hóa địa lí học Toán họchóa địa lí học, đấy là việc cấu tạo một hệ thống sử dụng các phương pháp toánhọc (K.K Mackop) trong địa lí, các phương pháp này phải bao gồm tất cả cácmặt của hoạt động nghiên cứu giúp cho việc khái quát hóa và lựa chọn thông tinđịa lí, giúp cho việc tổng hợp địa lí Theo B.Lgurơvit và IuG.xauxkin, nhiệm vụcủa việc toán học hóa địa lí là nghiên cứu bằng các phương pháp toán học các hệthống động lực phức tạp (tức là thay đổi trạng thái của chúng trong thời gian),phân bố trong không gian (tức là theo lãnh thổ ) trong đó tự nhiên, sản xuất dân
cư (kể cả nhu cầu của dân cư) có quan hệ chặt chẽ với nhau bằng các quan hệnhân quả và quan hệ nghịch
Tuy nhiên phải nói rằng việc toán học hóa địa lí không dễ dàng do vấp phải khókhăn thứ nhất là bản thân đối tượng nghiên cứu của địa lí học có một số đặc tínhkhó lòng định lượng được về mặt toán học, thứ hai là lượng thông tin không
Trang 20phải bao giờ cũng đầy đủ và đồng bộ do tình hình phát triển không đồng đềugiữa các khoa học bộ phận, vì bản thân toán học không thể vượt qua các khókhăn và mâu thuẫn tồn tại bên trong địa lí học nên K.K.Mackop cho rằng quátrình cơ bản phải do địa lí học giải quyết còn các phương pháp toán học chỉ cóthể giúp hay tạo điều kiện cho sự thực hiện đó mà thôi Đấy cũng là ý kiến củanhiều nhà bác học Xô viết Điều đó không phải là giảm bớt vai trò của toán họctrong địa lí mà trái lại thúc đẩy sự toán học hóa cao hơn trong đia lí.
Phương pháp phân tích hệ thống: Trong vài chục năm trở lại đây, phương pháp
phân tích hệ thống ngày càng chiếm ưu thế trong các công trình nghiên cứu địalí,đặc biệt là ở phương tây.phương pháp này được dùng để phân tích hoặc lànhững thành phần riên biệt của tự nhiên, hoặc là một cặp (hay có khi hơn) thànhphần có tác động và quan hệ với nhau,thí dụ như dòng chạy của địa hình, biển
và bờ biển…hoặc ngay cả khi nghiên cứu những hệ thống tổng hợp Đáng chú ýtrong việc áp dụng phương pháp phân tích hệ thống vào địa lí học là các côngtrình của R.J.SooclaY, V.A.Kennơdy (1971), của J.Hanbon và M.Niuton (1973)
Ở Liên xô thì địa lí tổng hợp hay địa lí cảnh quan được sử dụng rộng rãi từ lâunhưng gần đây cũng đã có những cố gắng áp dụng phương pháp phân tích hệthống vào trong các công cuộc khảo sát địa lí tư nhiên Gbozdeski.1979) theohai con đường : a) coi hệ thống như là những tổng thể địa lí tự nhiên riêng biệt,được kết hợp lại những hệ thống chức năng có những dòng chao đổi vật chất vànăng lượng cùng hướng và b) coi các đơn vị loại hình hay địa lí tự nhiên như lànhững địa tổng thể
Phương pháp phân tích hệ thống càng ngày càng trở thành một công cụ quantrọng cho các nhà địa lí do đó không thể không nghiên cứu nó để vận dụng vàocác công cuộc kiểm tra khảo sát địa lí trong thời gian gàn đây, dưới ảnh hưởngcủa hai phương pháp toán học và phương pháp phân tích hệ thống, trong địa líhọc được ứng dụng phổ biến các phương pháp cân bằng , người ta hiểu phươngpháp cân bằng là tổ hợp các thủ pháp toán học được xây dựng để giúp cho ngườinghiên cứu khảo sát và dự báo động lực phát triển của các hệ thống phức tạpbằng các so sánh về mặt định lượng và luồng vật chất (năng lượng và các tàinguyên khác vào và ra khi hệ thống tác động tương hỗ với môi trường baoquanh Trong trường hợp có sự tương quan chặt chẽ giữa cái vào và cái ra(input-output) thì người ta có thể nói về cân bằng tĩnh Trong những trường hợpkhác, khi mối tương quan đó thay đổi thì các sự biến đổi đó quyết định hướngphát triển của hệ thống: người ta gọi đấy là cân bằng động Sự sai biệt giữa cáivào và cái ra tuỳ trường hợp được gọi một cách khác nhau: trong địa vật lí vàan-bêđô, trong địa lí thương mại là sai ngạch, trong kinh tế là bội thu-thất thuv.v , cũng có khi người ta gọi ngay bằng khái niệm cân bằng (cân bằng nhiệt vàcân bằng nước v.v ) Sự liệt kê các phương pháp nói trên không có nghĩa là
Trang 21người nghiên cứu địa lí chỉ áp dụng một trong các phương pháp đó, trái lạingười đó thông thường sử dụng nhiều phương pháp cùng một lúc, phương phápnày bổ sung, kiểm tra, phối hợp với phương pháp kia, làm cho kết quả nghiêncứu được vững chắc và tin cậy.
VIII- ĐỊA LÍ HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG
Địa lí học đã được giảng dạy từ lâu trong nhà trường, coi như một trong nhữngmôn học có tác dụng giáo dục và giáo dưỡng rất lớn
Khác với các bộ môn khác, việc giảng dạy địa lí trong nhà trường có đặc điểm làphải đụng chạm đến rất nhiều vấn đề rộng và phức tạp cả về mặt tự nhiên lẫnkinh tế xã hội Các kiến thức về cấu trúc địa chất của lãnh thổ, về địa hình, nướctrên mặt và nước ngầm, khí hậu, thổ nhưỡng thực vật, về công nghiệp, nôngnghiệp, giao thông vận tải dân cư.v.v cũng như về các vùng tự nhiên vùng kinh
tế cung cấp cho học sinh nhiều khái niệm cần thiết trong cuộc sống
Ngoài ra học sinh hiểu biết được đời sống của các dân tộc trên thế giới, nhữngquan hệ giữa người và người, giữa sức sản xuất và quan hệ sản xuất và sự tiến
bộ xã hội Điều đó cũng có nghĩa là học sinh làm quen được với các phươngthức sản xuất dưới rất nhiều dạng biểu hiện phong phú của chúng, đặc biệt là có
ý thức so sánh giữa phương thức sản xuất tư bản chũ nghĩa và phương thức sảnxuât xã hội chủ nghĩa và thấy được sự ưu việt của chế độ ta
Giá trị tư tưởng của bộ môn địa lí trong nhà trường không phải giới hạn ở điểmquan trọng đó mà thôi Có thể nói bộ môn địa lí trong nhà trường có rất nhiềukhả năng để giáo dục cho học sinh lòng yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản, ýthức bảo vệ của công, bảo vệ cũng như cải tạo tự nhiên và xã hội Đây cũng là
bộ môn có nhiều khả năng để rèn luyện cho học sinh nhiều khả năng cần thiếttrong cuộc sống hàng ngày, trong sản xuất và chiến đấu, thí dụ như kĩ năng quansát, kĩ năng đọc và vẽ bản đồ, xác định phương hướng, phân tích đất đá v.v
Những vấn đề được đạt ra để giải quyết nâng cao chất lượng bộ môn địa lí trongnhà trường hiện nay theo hội nghiên cứu địa lí quốc tế họp tại Matxcơvanăm1976 là:
Xác định rõ hơn những mục đích và nhiệm vụ của việc giảng dạy địa lí ở nhàtrường để cho bộ môn này phát huy được mọi tác dụng giáo dục và giáodưỡng của nó
Lựa chọn các đề tài, các kiến thức, các kĩ năng cơ bản và cần thiết nhất trongđiều kiện số lượng thông tin mà địa lí học tích luỹ được đã tăng lên một cách
Trang 22khó mà tưởng tượng nổi so với số giờ có thể có được để truyền đạt trong nhàtrường, đồng thời vẫn đảm bảo cho bộ môn này đạt được mục đích và nhiệm
vụ của nó
Xác định lại cấu trúc trương trình, phương pháp luận và phương pháp chophù hợp với sự phát triển của địa lí học hiện đại Cải thiện tình hình đào tạongười thày giáo giảng dạy địa lí
Ở nước ta, dưới ánh sáng của nghị quuyết của Bộ Chính trị về “cải cách giáodục”, việc giảng dạy và nghiên cứu địa lí cũng đang được cải tiến để đáp ứngnhững yều cầu của giáo dục hiện đại và giáo dục phổ thông, để thực hiện nguyên
lí kết hợp học với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắnliền với xã hội
Những cán bộ giảng dạy và sinh viên trường Đại học Sư phạm cần chú trọngtheo dõi và góp phần vào việc giải quuyết những vấn đề nói trên trong hoạt động
và nghiên cứu của mình Như thế một môn địa lí mới có thể tỏ rõ được sự sốngcủa nó trong các khoa học
Trang 23ChươngII: CÁC GIAI ĐOẠN CHÍNH TRONG NHẬN THỨC VỀ BỀ MẶT QUẢ ĐẤT VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CHÍNH CỦA ĐỊA LÍ HỌC
Kiến thức khoa học nào cũng cần thiết cho con người nhưng cần thiết với cuộcsống hàng ngày ngay cả với người nguyên thuỷ là kiến thức địa lí Trong quátrình kiếm sống và đấu tranh để tồn tại, con người đã tích luỹ được vô số tri thứcđịa lí (quan sát thiên nhiên, xác định phương hướng, tìm kiếm cây cỏ ăn đượcv.v…) và đã truyền miệng cho nhau những kinh nghiệm từ đời này sang đờikhác Nhưng chỉ từ khi có chữ viết thì các kiến thức mới được gì chép lại thành
hệ thống, tạo điều kiện cho sự ra đời rất sớm của địa lí học
I SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC Ý NIỆM ĐỊA LÍ TRONG THẾ GIỚI CỔ ĐẠI
Các sách vở còn lưu lại được những thời kì này( từ thế kỉ thứ V trước côngnguyên đến thế kỉ thứ V sau công nguyên) hiện còn rât ít ỏi nên thông thườngngười ta chỉ nêu ra những (lò văn minh) đầu tiên của các dân tộc sống quanh ĐịaTrung Hải, ở cổ Trung Hoa và Ấn Độ
Những ý niệm địa lí đầu tiên được hình thành thông qua những cuộc đi ven biển,những hành trình dài trên đất liền, trong đó người quan sát và ghi chép, mô tảcác sự kiện Với khả năng của thời bấy giờ, người ta chỉ có thể nhận thức từngyếu tố tự nhiên riêng biệt hoặc liên kết một vài yếu tố lại với nhau, từ đó rút rakết luận về đặc tính của chúng
Trong những ý niệm địa lí của thế giới cổ đại, đáng chú ý là những ý kiến củacác nhà bác học ở cổ Ai Cập và cổ La Mã lúc đó là những đế quốc chiếm hữu nô
lệ phát triển nhất Những ý kiến này có thể chia làm hai hướng, hướng địa lí đạicương và hướng địa lí khu vực
Trong hướng địa lí đại cương, điều làm các nhà bác học cổ đại quan tâm là hìnhdạng quả đất Ý niệm về dạng của quả đất đã được Arixtotel (thế kỉ thứ IV trướccông nguyên) đưa ra những bằng chứng đầu tiên thông qua những hiện tượngquan sát được như: bóng của quả đất trên Mặt Trăng vào thời gian nguyệt thực,
sư biến đổi của bầu trời sao khi người ta đi từ bắc xuống nam theo hướng kinhtuyến Chân trời càng mở rộng nếu người quan sát càng lên cao Hiện tượngquan sát con tàu càng ra khơi càng khuất dần được Strabôn (thế kỉ thứ I trướccông nguyên) đưa ra bổ sung cho những bằng chứng đó
Việc đo đạc quả đất được nhiều học giả tiến hành nhưng đáng chú ý nhất là côngtrình của nhà toán học kiêm thiên văn học và địa lí học Eratoxten (thế kỉ III-IV
Trang 24trước CN) Bằng cách quan sát tia nắng Mặt Trời coi như thẳng góc vào ngày hạchí ở Siên và lệch đi 7012’ ở Alêxandria và đo khoảng cách giữa hai thành phố
đó (5000stadia) Eratoxten đã xác định chiều dài của kinh tuyến phải là 50 lầnhơn nghĩa là 250.000stalia Nếu coi 1stadia (đơn vị đo chiều dài ở Ai Cập ) là158,3m thì kết quả đo được chính xác một cách kì lạ đối với thời bấy giờ:39.500km Chúng ta biết rằng chỉ đến thế kỉ XVIII thì kết quả đo đạc quả đấtmới chính xác hơn mà thôi Cũng nói ngay rằng Eratoxten là người đầu tiên đưa
ra khái niệm địa lí học nói chính xác hơn theo nghĩa Hi Lạp là môn học về (mô
tả quả đất)
Cũng trong hướng này K.Ptôlêmê (thế kỉ thứ I sau CN) đã tìm cách xây dựng hệthống địa tâm để biểu diễn vũ trụ vũ trụ và quả đất cũng như bản đồ thế giới đầutiên Các tài liệu điạ lí của Plôlêmê được sử dụng rất lâu về sau trong suốt thời kìtrung cổ, có mặt đã hạn chế những phát kiến địa lí tiếp tục do uy tín của các kếtluận đó
Hướng khu vực được phản ánh trong các công trình của nhà sử học kiêm địa líhọc Hêrôđốt thế kỉ thứ V trước công nguyên), khi ông mô tả các vùng đất vàbiển mà ông đã đi qua (vùng biển gần biển Đen, các vùng nội địa ở tiểu Á,Lưỡng Hà, Ai Cập, vùng biển Địa Trung Hải )
Đáng chú ý hơn là công trình của Strabôn (thế kỉ thứ I trước công nguyên-thế kỉthứ I sau công nguyên) gồm 17 sách (phần) được đặt tên là “địa lí học” trong đóhai sách bàn về các vấn đề địa lí đại cương, 15 sách về các đất đai thuộc cácvùng khác nhau Những ý kiến quan trọng nhất của Strabôn là quan niệm về đốitượng và nhiệm vụ của địa lí học, về sự thống trị của biển so với lục địa (chỉđược coi như là một đảo lục địa) trên bề mặt địa cầu và như vậy là đụng chạmđến những vấn đề quan trọng nhất của địa lí học
Vào thế kỉ thứ V sau công nguyên các nhà địa lí học cổ đại đã tích luỹ được rấtnhiều tài liệu về quả đất và về một số vùng (nhất là các vùng quanh Địa TrungHải, Tây Á, cổ Trung Hoa và Ấn Độ) Họ đã hệ thống hoá các tư liệu đó và làmcho khoa học địa lí phong phú hơn Mặc dù một số nhà bác học chuyên về địa líđại cương và một số khác về địa lí khu vực nhưng ngay từ thời đó, họ cũng đãtìm thấy sự liên kết chặt chẽ giữa hai hướng nói trên
II SỰ SUY ĐỒI CỦA ĐỊA LÍ HỌC TRONG THỜI KÌ TRUNG CỔ
(thế kỉ thứ V sau công nguyên-thế kỉ thứ XV)
Sau một thời kì phát triển rực rỡ, từ thế kỉ thứ V trở đi địa lí học (và không chỉđịa lí học mà cả một số môn khoa học khác) trở nên suy đồi Nhiều thành tựu
Trang 25khoa học địa lí đã đạt được trong các thế kỉ trước bị phủ định do người ta bắtbuộc phải chấp nhận những lời phán có sẵn của nhà thờ Toà án giáo hội đượcthiết lập để xử những nhà khoa học dám nói những điều không phù hợp với kinhthánh.
Chẳng hạn, quả đất không được coi như có dạng hình cầu nữa mà là một mặtphẳng hay có dạng đĩa (như ý kiến của nhà địa lí Ai Cập Indicốplov-thế kỉ thứVI) Bản đồ không còn được định hướng theo phương Bắc mà là phương Đông
vì phương Đông là nơi có Thánh đường của Chúa Thiên đường và đất lìên cótường bao bọc rồi mới tiếp đến hai bầu trời thuỷ tinh nơi có những lỗ đặc biệt đểmưa rơi xuống, còn mưa gió và mây đều là do các thiên thần điều khiển
Nhưng các thế kỉ này – mà Ăngghen gọi là “đêm dài trung cổ” cũng không phảihoàn toàn không mang lại gì cho khoa học địa lí Người ta nhận thấy ở nhữngnơi nào chưa chịu ảnh hưởng của nhà thờ với các sự rõ ràng buộc khắc nghiệtcủa nó thì khoa học địa lí vẫn tiếp tục phát triển
Những người Arập theo đạo Hồi một lần nữa lại đo chiều dài của kinh tuyếnbằng 4.000 lôcti-đơn vị đo lường Arập cũ –tức là 40.680km) và mô tả đất đaimới của họ đánh chiếm được hay có giao thông buôn bán Chẳng hạn vào năm
71, người Arập đã xâm nhập vào bán đảo Pirene vào thế kỉ thứ IX xuống đếnMađagaxca sang Trung Á đến Trung Hoa và có thể đi vòng quanh Châu Á.Những công trình của Maxuđa (thế kỉ thứ X)có rất nhiều đoạn mô tả như thế.Nhà bác học Buruni (thế kỉ thứ XI) đo kích thước quả đất và bắt đầu nói đếnMặt Trời là trung tâm của vũ trụ, như vậy là trước cả Côpecnic Thương giangưòi Marốc Ipbatu đi những 120.000km trong 25 năm trời qua gần tất cả đấtđai mà người ta đã biết được vào thời ấy và để lại nhiều tài liệu quý giá
Ở phương Bắc những người Noócman đã có những cuộc vượt biển táo bạo vàobiển Trắng, biển Đen, Địa Trung Hải, chiếm Aixơlan (băng đảo), Groenlannăm1000, họ đến bán đảo Labrađovà đi dọc bờ biển đông châu Mĩ (Êrícson)
Ở Trung Âu, gia đình thương gia Macco Pôlô đến Trung hoa, Mông cổ bằngđường bộ và đi vòng quanh Nam Á vào Tiểu Á bằng đường biển Các hành trìnhnày kéo dài trong 45 năm và chấm dứt vào 1299 Các tài liệu do Máccô Pôlô đểlại mô tả các đất đai này và hiện nay vẫn chưa mất giá trị của chúng
III-CÁC CÔNG CUỘC PHÁT KIẾN ĐỊA LÍ VĨ ĐẠI
(cuối thế kỉ XV thế kỉ XVII)
Thời kì gọi là trung cổ trong thực tế có thể là kéo dài đến cuối thế kỉ XVII
Trang 26(Mackôp 1973), nhưng càng về cuối thì “quyền lực của các chúa phong kiếncàng bị giảm sút, nhiều vương quốc lớn, về bản chất được đặt trên cơ sở dân tộc
đã được cấu tạo từ đó đã phát triển các quốc gia châu Âu, và xã hội hiện đại”(Ăngghen) Ảnh hưởng của nhà thờ cũng bị giảm sút theo
Các quan hệ buôn bán mang tính chất hàng hoá được mở rộng Người châu Âuđặc biệt bị thu hút các cuộc buôn bán với Trung Hoa và Ấn Độ là nơi có nhiềuhương liệu, vàng bạc, ngà voi, tơ lụa v.v Tiền tệ xuất hiện càng làm thúc đẩy sựtìm kiếm thị trường Trong khi đó ở Tiểu Á, xuất hiện các đế quốc Thổ mà cáccuộc đánh chiếm rộng lớn lại ngăn chặn chính sự phát triển buôn bán đó bằngcách cắt đứt con đường thuỷ bộ sang phương đông
Các nước châu Âu buộc phải tìm kiếm những con đường mới sang phươngĐông bằng cách đi về phía tây Địa lí có những điều kiện mới để phát triển: nhờthu thập được nhiều tư liệu về các đất đai mới, các nhà địa lí có thể so sánh vàrút ra những kết luận, những tổng kết khái quát, mở đầu cho việc cấu tạo cácquy luật địa lí
Thời kì phát triển địa lí vĩ đại bắt đầu bằng hành trình táo bạo của CơrixtôpCôlômbô vào năm 1942 Nhà hàng hải người Italia này phục vụ cho quyền lợicủa vua Tây Ban Nha đã tiến hành 4 hành trình từ châu Âu sang châu Mĩ (1492-1502) đến quần đảo Bahama, Cu ba, Haiti, quần đảo Ăngti bằng con đường phíaTây do đó mà đặt tên cho quần đảo Bahama là Tây Ấn Độ này vẫn còn được sửdụng như là một địa danh), sau đó mới biết là châu Mĩ Cùng với vàng bạc, dượcliệu…những cuộc thám hiểm này thu được như mẫu vật về cây cối và chim chưatừng thấy ở châu Âu cũng như các tài liệu về tự nhiên, dân cư của (thế giới mới)các dòng biển và tín phong, các sự nhiễu động của địa từ thông qua sự chỉ lệchhướng của kim điạ bàn
Người Bồ Đào Nha cũng không chịu ngồi yên Họ hi vọng tìm được con đườngsang Ấn Độ bằng cách vòng qua châu Phi Năm 1947 Vaxcô Đờ Gama đã thựchiện được điều này Người Bồ Đào Nha vì vậy chiếm độc quyền trong thời kì đó
về buôn bán với các nước thuộc nam Á và đông nam Á Năm 1500 một số tàuthuyền thuộc đoàn thám hiểm Cácbala bị dòng biển nam Đại Tây Dương kéosang tận Braxin ở Nam Mĩ, mở đầu cho giai đoạn xâm nhập của người Bồ ĐàoNha vào lục địa này Thế kỉ thứ XVI, người Bồ Đào Nha đã từ Ấn Độ đến một
số đảo thuộc Indonêxia ngày nay, vòng lên phía Trung Hoa và Nhật Bản
Đầu thế kỉ thứ XVI, người Tây Ban Nha tiếp tục những cuộc thám hiểm mới ởlục địa Mĩ Họ đã vượt qua eo đất Panama đến bờ biển Thái Bình Dương, vònglên tận Florida ở phía bắc và xuống biển Pêru, Chilê ở phía nam
Trang 27“Sự phát hiện ra châu Mĩ và con đường biển vòng quanh châu Phi tạo cho giaicấp tư sản đang lên một môi trường hoạt động mới” Mác_Ăngghen viết trongTuyên ngôn của đảng Cộng sản như vậy “Các thị trường Tây Ấn Độ và TrungHoa, sự thuộc địa hoá châu Mĩ, sự buôn bán các thuộc địa, sự tăng các phươngtiện lao động và hàng hoá nói chung tạo ra một sự thúc đẩy chưa từng có trước
đó đối với thương mại, nghiên cứu về hàng hải, công nghiệp, đồng thời làm pháttriển nhanh chóng yếu tố cách mạng trong xã hội phong kiến đang tan rã.”
Sau khi biết rằng phần đất đó gọi là tân thế giới không phải là Ấn Độ, dựa trên líthuyết quả đất tròn, người Tây Ban Nha lại tìm cách đi xa hơn nữa về phía tây.Cuộc đi thám hiểm vòng quanh thế giới lần thứ nhất được giao cho nhà hàng hảingười Bồ Đào Nha là Magienlan thực hiện vào ngày 20/9/1519 cuộc hành trình kéodài ba năm, lúc đầu đi dọc theo bờ biển nam Mĩ qua eo được đặt tên là Magienlan,vượt qua Thái Bình Dương (tên Thái Bình Dương là do đoàn thám hiểm đặt ra dobiển rất lặng sóng), đến quần đảo Marian, đảo Sêbu (nơi mà Magienlan - đánh đổilấy sự thuần phục của viên chúa địa phương - giúp viên chúa này đánh chiếmđảo Macatan và bị giết ở đây) Từ quần đảo Mã Lai, đoàn thuyền còn lại trở vềTây Ban Nha bằng cách đi vòng quanh châu Phi
Cuộc đi thám hiểm vòng quanh thế giới này đem lại - còn hơn các cuộcphát kiến trước - nhiều bằng chứng quan trọng về sự tồn tại của các đại dươngnối liền với nhau và phân cách các lục địa, về những miền đất mới tồn tại ởnhững biển phía nam (Patagonia, châu Đại Dương) về các vòng đai gió trên địacầu…
Những thành công của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha làm các nướcAnh và Pháp sốt ruột Người Anh cũng tìm đường sang phương Đông về phíaTây Bắc hai lần nhưng chỉ đến được Niu Phaolen và bờ đông Bắc Mĩ Họ lạitìm đường về phía đông bắc nhưng cũng không vượt quá được miền cực bắcbán đảo Scandinavia Sau những cố gáng liên tiếp của người Anh đến lượtngười Hà Lan cũng đi tìm đường về phía ấy: họ đến được biển Kacpxki và bánđảo Yamal
Các công cuộc khảo sát tiếp tục của người Hà Lan còn được tiến hành ở
Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Năm 1605 họ khám phá ra châu Úc, năm
1642 và đảo Taxmania (được đặt theo tên nhà hàng hải Taxmania) và NiuDilân
Người Nga vượt Uran đến Xibia và Viễn đông, thám hiểm miền Trung Á,
Ấn Độ, Mông Cổ
Tóm lại, các cuộc phát kiến địa lí nói trên đã mở rộng phạm vi của thếgiới trước mắt con người và giúp họ có một nhận thức đúng dắn hơn về bề mặtđịa cầu mà trên đó họ sinh sống Địa lí học thu thập được một số lượng dữ kiệnkhổng lồ làm cho nó đã trở thành một hệ thống các khoa học có tầm quan trọng
Trang 28rất to lớn vào thời bấy giờ đồng thời thúc đẩy thiên văn học và địa đồ học pháttriển Nhà địa đồ Méccato (1512 - 1594) nêu ra những nguyên tắc mới để thànhlập bản đồ (bản đồ theo lưới chiếu Meccato hiện vẫn được sử dụng rộng rãi) vàcác tập đồ (Át lát) Nhà địa lí học người Hà Lan Vereni - uýt đã xuất bản cuốn
"Địa lí học" trong đó ông đã tổng kết các sự kiện địa lí biết được vào thời ấy vàđiều quan trọng hơn, đã tìm cách, cắt nghĩa chúng Hệ thống nhật tâm về vũ trụ
do Côpecnic đề ra được phổ biến
Cũng trong thời gian này, ở nước ta, Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (1438)
Có thể coi đây là cuốn sách địa lí đầu tiên về đất nước ta vào thế kỉ thứ XV, màcho đến nay vẫn còn nhiề giá trị
IV SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC ĐỊA LÝ TRONG THẾ KỶ XVIII,XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX
Khoa học địa lí bắt đầu phát triển trở lại từ đầu thế kỉ thứ XVIII và tiếptục mãi cho đến ngày nay: mặc dù có trải qua một thời kỳ khủng hoảng nhấtđịnh Nhiều điều kiện thuận lợi giúp cho sự phát triển có được thực hiện mộtcách nhanh chóng
1 Hệ thống sản xất tư bản chủ nghĩa đạt được những thành tựu lớn trênquy mô toàn thế giới sau cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ nhất vàcuộc cách mạng tư sản Pháp Sự tìm kiếm những nguồn nguyên liệu và nhữngthị trường mới, sự giành giật các thuộc địa đòi hỏi phải tổ chức những cuộcthám hiểm quy mô lớn do các quốc gia đài thọ Nhiều tổ chức nhà nước hoặcquần chúng phục vụ cho địa lí học như Hội địa lí Sở địa đồ được thành lậphầu như ở tất cả các nước
2 Người ta bắt đầu phủ định từng bước một những giáo lí của nhà thờThiên chúa giáo, đặc biệt là về sự bất biến của tự nhiên Quan niệm tiến hóađược xác nhận thông qua học thuyết về nguồn gốc quả đất của Căng - Laplaxơ
và học thuyết của Đacuyn Các định luật của Niutơn đánh dấu một bước nhảycực kì to lớn trong nhiều lĩnh vực khoa học
3 Sự phân dị trong khoa học tự nhiên bắt đầu được thực hiện để nghiêncứu sâu hơn về các đối tượng Trong địa lí học, nhiều ngành chuyên môn đượctách ra thành những khoa học địa lí bộ phận: khí hậu học, thuỷ văn học, thựcvật học, địa chất học Cùng với sự phân công lao động theo lãnh thổ trong sảnxuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, địa lí kinh tế ra đời Nhiều nhà địa lí nỏi tiếngxuất hiện nối tiếp nhau, địa lí học đã đi vào việc phân tích so sánh và khái quáthóa
Trong thời kì kéo dài hơn hai thế kỷ này, sự phát triển của địa lí học vẫntiếp tục chủ yếu theo hướng phát hiện và khảo sát những vùng đất chưa đượcbiết đến Các cuộc thám hiểm tập trung vào việc:
Trang 291 Nghiên cứu các đại dương Sau khi người Nga tiến đến bờ Tây TháiBình Dương, người Anh cũng tìm cách mở rộng phạm vi khảo sát của mình trêncác đại dương để tìm kiếm những đất đai mới Ba lần nhà hàng hải, thám hiểm
và địa lí nổi tiếng người Anh, J.Cúc đi vòng quanh thế giới (1776 - 1779), chủyếu nhằm mục đích phát hiện ra lục địa phía nam (châu Nam cực) là thứnhất đem lại cho người Anh cơ hội để xâm nhập vào châu Úc Niu Dilân (màCúc tưởng đấy là châu Nam Cực) Trong lần thám hiểm lần hai Cúc và đoànthuyền của mình 6 lần đi qua vòng cực nam, tìm được … đảo (đảo Sanuych vàGeorgia mới…) nhưng không đến được châu Nam Cực, mong muốn Hướngthám hiểm lần thứ ba đã thay đổi Cúc sau khi đi qua Ấn Độ Dương và TháiBình Dương lại đi ngược lên Alaxka vào Bắc Băng Dương đến vĩ độ 70020' rồi
bị bắt buộc trở về vì băng giá Người thay thế Cúc…… (Cúc bị thổ dân ởHaoai giết chết) cũng thất bại trong việc tìm đường nối liền Thái Bình Dương
và Đại Tây Dương ở phía Bắc
Năm 1803, đoàn thám hiểm người Nga dưới sự chỉ huy của Krruzenstéc
……… xianxki cũng đi vòng quanh thế giới để thu thập tư liệu Đáng chú ýhơn là cuộc thám hiểm của Belinhausen và Lazarep phát hiện ra châu Nam cực(……… 1820)
Cùng với nhiều cuộc thám hiểm đại dương khác hoặc người Nga …….của người Anh, vào trung kì thế kỷ thứ XIX người ta đã có thể họa đồ ranh giớicủa các biển và đại dương, các nhóm đảo và quần đảo chính ……… hiện tất cảcác lục địa mà hiện nay chúng ta biết đến, đặc tính của biển một phần đáy biển
2 Nghiên cứu nội địa các châu lục Vào thế kỷ thứ XIX, rất nhiều nướcquan tâm d dến nội địa châu Phi và châu Mĩ cho đến lúc bấy giờ hầu như chưađược biết đến nhưng về mặt giàu có thì không thua gì các nước phương Đông
Có thể nêu ra các cuộc thám hiểm chính: thứ nhất là của A.Humbon(……… 1859) ở Nam Mĩ, Trung Mĩ (được mô tả lại trong 30 tập sách), và ởmiền nội địa nước Nga (bắc Uran, Antai); thứ hai là của D.Livingxtôn (1811)vào nam và Trung phi, tạo điều kiện cho người Anh xâm nhập tiếp sau đó; thứ
ba là của G.Stanlây ở miền xích đạo châu Phi (1871)
Cũng trong thời gian đó, các hội địa lí xuất hiện ở nhiều nước, đầu tiênPháp rồi đến Anh, Đức, Nga Hội địa lí Nga đài thọ và tổ chức nhiều cuộc thámhiểm ở Xibia do Kropotkin đứng đầu, Trung A (1856) với Sêmênốp Tian -
……… và sau đó với Projevanxki (1670 - 1885)
Những cuộc khảo sát vào trung tâm các châu lục lớn này đem lại cho địa
lí học rất nhiều dữ kiện mới, làm cho người ta bắt đầu so sánh được tự n hiên ởnhững bộ phận khác trên địa cầu và khái quát hóa
3 Nghiên cứu các xứ ở cực Vấn đề con đường hàng hải đông bắc vẫntiếp tục được nhiều nước quan tâm vào thế kỷ thứ XIX vì những dự tính khaithác tài nguyên miền Bắc, vì lí do giao thương, kể cả lí do quốc phòng Thêm
Trang 30vào đó, các nhà khoa học tìm cách khám phá bí mật của các miền cực, cả Bắccực lẫn Nam cực.
Do vị trí của nước Nga, các nhà khoa học nước này đã trở thành nhữngngười đầu tiên mở được con đường phương bắc và đi vòng quanh rìa phía Bứaccủa lục địa Âu - Á (đoàn thám hiểm Noócdonsen 1878 - 1879)
Về phần mình, người Anh quay trở lại kế hoạch mở con đường hàng hảitây bắc từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, đoàn thám hiểm Pari (1819),J.Rôx (1829 - 1833), J.Franclanh và chỉ thành công ở đoàn Mac Clu (1845).Năm 1903 - 1906, R.Amunxen lần đầu tiên đi từ Đại Tây Dương sang TháiBình Dương trên con thuyền nhỏ "Loa"
Việc thám hiểm Bắc cực gắn liền với hi vọng kiếm được con đường ngắnnhất nói liền các lục địa Từ giữa thế kỷ thứ XIX, đã có trên 15 đoàn thám hiểmđược tổ chức để thực hiện ý đồ đó Tuy người đầu tiên đến được Bắc Cực làngười Mĩ R.Pêri (6 - 4 - 1909) nhưng đoàn thám hiểm này không đưa lại được
gì nhiều lắm cho khoa học Đoàn thám hiểm do nhà bác học Na Uy Ph.Nanxenchỉ huy trước đó (1893) mặc dù chỉ đến được vĩ tuyến 86014 lại có ích hơnnhiều về mặt này Đoàn thám hiểm người Nga do Sêtốp (1912) chỉ huy cũngchịu số phận như đoàn của Nanxen, tuy tài liệu khoa học thu thập được rất cógiá trị
Trong khi đó thì công cuộc khám phá lục địa Nam Cực vẫn tiếp tục Saucuộc phát hiện của Bêlinhausen, các đoàn thám hiểm của Anh (Bixcô, J.Rôx,R.Scốt, Sáclơtôn), Pháp (đoàn Đuymông đuyếcvin) khảo sát nhiều phần đất ởđấy Hai đoàn thám hiểm, một của Na Uy (do Amunsen dẫn đầu) một của Anh(do R.Scốt dẫn đầu) tìm cách đến Nam cực Cũng như đối với Bắc cực, mặc dùđoàn Amunxen đến Nam cực trước vào ngày 14 - 12 - 1911 nhưng các tài liệukhoa học mà đoàn R.Scốt đến chậm sau 1 tháng (17-1-1912) lại giúp nhiều chovệc tìm hiểu châu này hơn
Trong toàn bộ hơn hai thế kỷ phát triển rực rỡ của địa lí học này, nổi lênmột số nhà địa lí hàng đầu mà phong trào cách làm việc cũng như các côngtrình khoa học còn để lại dấu ấn cho đến tận ngày nay
Người đầu tiên là I.Căng (1724-1804), mặc dù được biết nhiều hơn làmột nhà triết học nhưng cũng là nhà địa lí nổi tiếng dạy địa lí ở trường đại họcKonixbéc trong 42 năm Học thuyết về cấu tạo vũ trụ của Căng đề xuất nhiều ý
mà cho đến nay vẫn chưa hết giá trị Căng đã cắt nghĩa nguồn gốc các hành tinhbằng các vật chất lạnh tồn tại trong vũ trụ, được liên kết lại với nhau theo địnhluật vạn vật hấp dẫn của Niutơn Những sự va chạm khong hướng tâm củachúng ta ra vận động tự quay Mặt Trời và các hành tinh được hình thành nhưthế đó Cách cắt nghĩa của Căng tiến bộ vượt bậc so với khoa học thời đó; cácnhà thiên văn học ngày nay ngày càng tin chắc như vậy
Trang 31Quan điểm triết học của Căng cho rằng thế giới tồn tại khách quan nhưng conngười ta không có cách nào nhận thức được (thuyết bất khả tri) ảnh hưởng rấtnhiều đến các kết luận địa lí của ông Chẳng hạn để cắt nghĩa vì sao vật chấtđang từ trạng thái hỗn loạn lại được xếp đặt lại một cách có trật tự, Căng đànhphải cầu cứu đến ý muốn của Thượng đế.
Cũng chính từ Căng mà trong học thuyết về vũ trụ đã phổ biến một thời kì vềcái "chết năng lượng" của quả đất Mặt Trời sẽ tắt đi và thế giới sẽ chết vì thiếnăng lượng Như chúng ta đều biết, các kết luận hiện nay không phải như thế.Cũng chính Căng là người đã nêu ra ý kiến cho rằng địa lí học chỉ có thể nghiêncứu các hiện tượng phân bố trong không gian, còn lịch sử thì nghiên cứu chúngtheo thời gian Ngày nay chúng ta biết rằng không thể nghiên cứu một hiệntượng mà tách không gian khỏi thời gian tức là tách hiện tại với quá trình pháttriển của nó Dù cho có những hạn chế không thể tách khỏi vào thời kì của mình,Căng phải được coi là bậc tiền bối trong địa lí học
M.V Lômônoxốp(1711-1765) là một nhà khoa học lãnh đạo chuyên ngành địa lí
trong viện Hàn lâm Khoa học Nga Ông nghiên cứu tất cả các thành phần của lớp
vỏ địa lí, đặt cơ sở phương pháp duy vật cho địa lí học
Theo Lômônôxốp thế giới chung quanh ta tồn tại theo những quy luật tự nhiên chứkhông phải do thưọng đế cấu tạo (như Niutơn đã nói), thế giới này không nằm trongtrạng thái tĩnh mà vận động và phát triển Lômônôxốp chủ trương xuất bản các tập
đồ địa lí, là linh hồn và người tổ chức các cuộc thám hiểm các vùng khác nhautrong nước Nga rộng lớn, nhất là cuộc thám hiểm các vùng đất phương bắc và conđường hàng hải phương bắc
A.Humbôn (1769-1859) là một nhà địa lí xuất sắc, một người đi đường không biết
mỏi: 5 năm ở vùng xích đạo Nam Mĩ với nhà bác học Pháp Bôn-Plan nhiều lần trèolên các núi cao dãy Andes kể cả ngọn Chimbôrazô (6.272m) thám hiểm thung lũngsông Ôrinôcô, đảo Cuba và vùng Mêhicô Ở Nga, ông thám hiểm miền bắc Uranxuống miền Trung Á và vùng núi Antai Humbôn nghiên cứu cả địa mạo, khí hậu
và địa thực vật, tự chế tạo một số công cụ khảo sát Những nhận xét của ông về mặtđịa mạo rất đáng chú ý: Ông là người đầu tiên tìm cách xác định độ cao trung bìnhcủa các lục địa Về mặt khí hậu, Humbôn là người phát hiện ra quy luật “giảm nhiệt
độ theo độ cao”, xác định vị trí của xích đạo nhiệt và hai cực lạnh của bán cầu bắc,
vị trí của ranh giới tuyết từ xích đạo lên các vĩ tuyến cao Về mặt địa lí thực vật,cùng với Bônplan ông đã thu nhập được 6.000 loại cây, trong đó có 3.500 loại chưađược biết, nghiên cứu các quần xã thực vât, các thành hệ thực vật và những vấn đề
mà địa lí thực vât hiện đại đang quan tâm Các kết luận khái quát của Humbôn còn
quan trọng hơn: quy luật địa đới được ông nêu lại (sau nhà bác học cổ HyLạp
Êvđốt) trên cơ sở khoa học, nguyên tắc lịch sử trong việc nghiên cứu tự nhiên từHumbôn trở thành phổ biến, phương pháp so sánh được nâng lên thành một trongnhững phương pháp địa lí chủ yếu Humbôn cũng là người đầu tiên nhận thấy rằng
Trang 32các thành phần tự nhiên như khí hậu, thực vật, địa hình mà ông say mê nghiên cứuchỉ là bộ phận của lớp vỏ địa lí thống nhất Cần phải nó thêm rằng A.Humbôn làmột nhà giáo dục lớn: những bài giảng của ông ở trường đại học tổng hợp Beclincực kì suất sắc, làm cơ sở cho cuốn sách nổi tiếng của ông (cuốn vũ trụ), mà nhưchúng ta sẽ thấy ở sau, đã lôi cuốn Đácuyn Ch và thúc dục ông này đi theo conđường thám hiểm
Đácuyn Ch (1809-1882) Mặc dù Đácuyn thường được coi như là nhà sinh vật học
và ngay các nhà địa lí cũng không tính đến ông như là “người của mình” nhưnghoạt động của ông cho địa lí có tầm quan trọng rất cao về phương diện khoa học vàgiáo dưỡng” (K.K Mackốp 1973) Đacuyn là nhà thám hiểm địa lí đã đi vòng quanhthế giới trên chiếc tàu Begon trong 5 năm, nghiên cứu vùng nhiệt đới và cận nhiệtđới bán cầu nam Học thuyết tiến hóa của ông xâm nhập vào cả trong thế giới vô cơkhi ông cắt nghĩa các đảo san hô (mà cho đến nay chưa ai có thể cắt nghĩa rõ hơn),các bậc thềm biển và thời đại băng hà đệ tứ Từ Dacuyn trở đi quan điểm tiến hóa
và quan điểm lịch sử trở thành vững chắc trong địa lí học
K.Ritter (1779-1859) cũng là nhà địa lí nổi tiếng Mặt tích cực của Ritte là đã phát
triển phương pháp so sánh lên đến đỉnh cao, đã khái quát hóa đến mức độ chặt chẽnhất các tài liệu rời rạc thu nhập được và biểu diễn một cách có nghệ thuật các tàiliệu khoa học địa lí Mặt tiêu cực của Ritter là đã gắn sự sáng tạo ra quả đất choThượng đế- và trong trường hợp đó ông lạc hậu hơn rất nhiều các nhà bác họcđương thời với ông- nhưng còn tệ hại hơn là ông cho rằng sự sáng tạo đó chỉ lànhằm phục vụ người châu Âu Chính Ritter là người chứng minh trong địa lí họcrằng các điều kiện tự nhiên quyết định các hiện tượng xã hội (thuyết duy vật địa lí).Chẳng hạn ông cho rằng các lục địa nam bán cầu giảm nhiệt và điều đó tạo cho cácdân tộc ở bán cầu bắc một ưu thế so với các dân tộc ở bán cầu nam cả về mặt số dâncũng như về sự phát triển trí tuệ cao và nhiều mặt (theo K Mackkop) Ritter đã viếtsách làm nhiều tập bàn cả về vấn đề địa lí đại cương lẫn khu vực Sách của ôngđược dịch ra nhiều thứ tiếng và rất phổ biến ở Tây Âu
Cần phải kể đến người học trò gần nhất của ông là F.Ratzen (1814-1904) Ratzen
còn tiến xa hơn thầy một bước bằng cách chứng minh sự phân biệt các màu da(người da trắng hơn người da màu) và chủ nghĩa thực dân là một quy luật Họcthuyết của Ratzen như vậy phục vụ một cách đắc lực cho chủ nghĩa đế quốc Vềmặt khoa học, Ratzen là một trong những người đầu tiên ở cuối thế kỷ XIX viết vềsinh quyển và đóng góp nhiều cho địa lí tự nhiên
A.Helne (1859-1941) cũng là nhà địa lí nổi tiếng người Đức Ông có nhiều đóng
góp cho địa lí học, đặc biệt về phương diện khái quát hóa, thí dụ như trong địa mạohọc Do muốn tìm cho địa lí học một vị trí độc lập, ông cho rằng bản chất của khoahọc địa lí là khoa học không gian (lặp lại ý kiến của Kant) tách rời khỏi không gian
Trang 33Ảnh hưởng của Helne lớn đến nỗi cho đến tận ngày nay nhiều nhà địa lí học- màkhông chỉ ở phương Tây – vẫn còn lặp lại rằng: địa lí học là khoa học nghiên cứukhông gian trong khi lẽ ra phải nói đó là khoa học nghiên cứu “bản chất của cáchiện tượng trên bề mặt đất trong không gian- thời gian” (K K Mackop 1973)
E.Reclus (1830-1905 Trái với các nhà bác học Đức (trừ Humbôn), nhà địa lí người
Pháp này đã tham gia phong trào công xã Pari và có rất nhiều điểm tiến bộ: ôngkhông coi địa lí chỉ là khoa học về không gian mà cả về thời gian và con người, làmột sức lao động quan trọng trên bề mặt đất Reclus là người đầu tiên đã dùng kháiniệm “môi trường địa lí” E.Reclus là tác giả của một loạt sách địa lí nhiều tập,được dịch ra nhiều thứ tiếng, như cuốn “Quả đất” (6tập), ”Quả đất và con người”(19tập)
Ở nước ta thời kì này có hai nhà địa lí nổi tiến là Lê Quý Đôn (1726-1784) và PhanHuy Chú(1782-1840)
Lê Quý Đôn là nhà bác học lớn nhất của Việt Nam trong thời kì phong kiến Ông là
nhà triết học, nhà văn, nhà thơ, nhà sử học và nhà địa lí Trong 48 cuốn sách đượcbiết của Lê Quý Đôn, có nhiều sách bàn về địa lí như ”Vân đài loại ngữ”, ”Kiếnvăn tiểu lục”, “Phủ biên tạp lục” Không giống như người đương thời, Lê Quý Đôntrong khi thừa hành nhiệm vụ đã đi nhiều (lên Tây bắc, vào các xứ đường trong và
đi đến đâu ghi chép thành sách đến đấy Sách của ông có thể chia làm hai phần:phần địa lí đại cương và phần khu vực Trong phần địa lí đại cương, Lê Quý Đôn cónhiều quan điểm tiến bộ: ông cho thế giới này là được cấu tạo từ vật chất, các tinh
tú cũng vậy, tuy quan điểm này còn là chủ nghĩa duy vật chất phác (vũ trụ luận).Trong chương “Hình tượng”, Lê Quý Đôn bàn về vũ trụ học, công nhận hệ thốngNhật tâm và cho rằng mọi vật đều nằm trong trạng thái động Chương “Khu vực”bàn về địa lí – chủ yếu là địa lí nước ta Chương “Phẩm vật ngữ” bàn về các tàinguyên tự nhiên và cách sử dụng chúng Trong “Kiến văn tiểu lục”, người ta có thểtìm hiểu cả ba tỉnh tây Sơn, Hưng Hoá, Tuyên Quang Sách “Phủ biên tạp lục” nói
về hai tỉnh Thuận Hoá và Quảng Nam Các sách của Lê Quý Đôn có nhiều giá trị
về mặt địa lí: xét về cấu trúc và cách viết, các sách của ông không khác biệt gìnhiều với các sách địa lí được xuất bản vào thời kì bấy giờ ở phương Tây
Phan Huy Chú là tác giả của “Lịch triều hiến chương loại chí” Sách gồm 49 quyển,
chia ra 10 loại chí (tức là 10 bộ môn nghiên cứu) trong đó cuốn thứ nhất là ”Dư địachí” Khác với “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn, sách của Phan Huy Chú tiến bộhơn về mặt phân loại khoa học (dễ hiểu vì Phan Huy Chú đã ở đầu thế kỉ thứ XIX,các tư liệu chính xác hơn Dư địa chí gồm có 5 quyển Quyển 1 nói về “sự khácnhau phong thổ của các đạo”, đi từ các đạo Cao Bằng, Lạng Sơn ở phía Bắc đến cácđạo Gia Định, Định Viễn và Hà Tiên ở phía Nam Trong mỗi đạo có phân biệt racác phủ,huyện và mô tả vị trí, địa hình, sản vật, phong tục tập quán, lịch sử khai
Trang 34phá, sự biến đổi cương giới Đối với người nghiên cứu địa lí, các loại chí khác nhưquan chức, khoa mục chí, quôc dụng chí, bang giao chí của lịch triều hiến chươngloại chí rất nên được tham khảo
Ở nước Nga không kể M.V Lômônôxốp mà chúng ta đã nêu ở trên đáng chú ý cóhai trường phái:
Trường phái Matxcơva của D.N Anusin Luận điểm cơ bản của trường phái này là:
Địa lí học phải nghiên cứu tự nhiên bề mặt đất Bản thân Địa lí học chia làm haingành: địa lí đại cương và địa lí khu vực Trong đó địa lý đại cương nghiên cứutổng hợp các thành phần địa lí tự nhiên của toàn bộ là mặt đất, còn địa lí khu vựcnghiên cứu những thể tổng hợp hẹp hơn trong phạm vi của những vùng nhất định(các nước ) bao gồm cả con người Phuơng pháp lịch sử rất cần thiết đối với việcnghiên cứu địa lí về mặt khoa học cần liên hệ nó với những vấn đề thực tiễn Nhữngquan điểm này có ảnh hưởng lớn đến địa lí hiện đại
Trường phái Đôcusaep ở Pêtécbua Quan điểm của Đôcusaep và trưòng phái của
ông là nếu nghiên cứu riêng từng thành phần của tự nhiên thì khó lòng mà hiểuđược bản chất của tự nhiên Theo ông chính là việc nghiên cứu các mối quan hệ(giữa các thành phần đó), các mối tác động qua lại có quy luật mới thực hiện đượcviệc nhận thức của tự nhiên Từ ý kiến này bắt đầu phổ biến quan niệm cho rằng địa
lí học là khoa học của các mối quan hệ Thành công cao nhất của tư tưởng
Đôcusaep là học thuyết về các đới tự nhiên Học thuyết mà chúng ta sẽ nghiên cứu
trong những chương cuối của giáo trình này-giúp cho địa lí học tìm được conđường thoát khỏi cơn khủng hoảng đối tượng và phương pháp sau quá trình phân dị
đã chia địa lí học ra làm nhiều địa lí bộ phận
V-ĐỊA LÍ HỌC CỦA THỜI KÌ HIỆN ĐẠI
Từ những năm 30 của thế kỷ XX, địa lí học bắt đầu đã có những bước tiến mới, rõrệt nhất là ở Liên Xô
Ở đất nước Xô Viết, Cách mạng tháng 10 đã đem lại những thay đổi cơ bản trong
xã hội, đồng thời cũng mang lại cho địa lí học (cũng như các khoa học khác) những
tư tưởng mới làm đảo lộn các quan niệm có sẵn Được trang bị bằng tư tưởng cáchmạng là chủ nghĩa Mac –Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), các nhà địa
lí xô Viết đã có nhiều khả năng để đi sâu và bản chất của các hiện tượng, phân tíchcác mối quan hệ tồn tại giữa các thành phần của tự nhiên giải quyết đúng đắn quan
hệ giữa tự nhiên và xã hội và sử dụng các kết qủa nghiên cứu vào mục đích nângcao hiệu quả của việc sử dụng, bảo vệ và cải tạo tự nhiên
Những đặc điểm chính của địa lí học Xô Viết trong thời đại nay là:
Nền kinh tế Xô viết là nền kinh tế kế hoạch hoá, sử dụng tổng hợp các sức sản
Trang 35xuất nhằm nâng cao năng xuất lao động của xã hội, đảm bảo thoả mãn nhu cầuvật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân Tính tổng hợp là bản chất củakhoa học địa lí cho nên Địa lí có rất nhiều khả năng để phục vụ cho yêu cầu đócủa xã hội Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà thời kỳ Xô viết, địa lí học có điềukiện để phát triển một cách mạnh mẽ.
Địa lí học trở thành một hệ thống các khoa học nghiên cứu các thể tổng hợp Địa
lí kinh tế cũng như địa lí tự nhiên đều phải phát triển theo hai hướng: hướngnghiên cứu từng thành phần và hướng nghiên cứu theo vùng
Trong địa lí tự nhiên, đáng chú ý là sự nhích gần của các khoa học này đến khoahọc chính xác như vật lý, hóa học, toán học, thiên văn Học thuyết của Đôcusaepđược L.S Berg phát triển trong việc nghiên cứu các đới tự nhiên: Grigoriep vàBuđưcô lưu ý đến vai trò của tương quan nhiệt ẩm trong các hiện tượng địa đới
và nêu ra quan niệm về lớp vỏ địa lí V.I.Vecnatxki và Polulop sáng tạo ra hướngđịa hóa cảnh quan
Địa lí lý thuyết được chú ý một cách đặc biệt, còn địa lí ứng dụng là một phần
không thể tách rời được với các khoa học bộ phận cũng như với các ngành địa lítổng hợp Hướng cổ địa lí giúp cho việc nghiên cứu tự nhiên hiện đại trong quátrình phát triển lịch sử của nó, không những để cắt nghĩa mà còn để điều khiểntiến trình của các hiện tượng tự nhiên, kể cả các địa tổng thể Hướng địa lí sinhvật nghiên cứu các quan hệ giữa các quần lạc sinh vật với môi trường trong mốiquan hệ thống nhất Địa mạo biển, địa lí hải dương bắt đầu hướng địa lí học vàoviệc nghiên cứu phần môi trường rộng lớn mà con người từ trước đến nay chưabiết rõ nhất là phần thềm lục địa và đáy biển Có thể dự đoán rằng ngành địa lí
vũ trụ sẽ phát triển cùng với các công cuộc khảo sát vũ trụ đang được tiến hànhngày càng trên quy mô lớn ở Liên xô
Như vậy địa lí học nguyên là một khoa học tĩnh, mô tả và cắt nghĩa các hiệntượng tự nhiên cũng như xã hội đã trở thành một khoa học động, một khoa học
dự báo, thực nghiệm và cải tạo VI Ghenaximop muốn gọi địa lí hiện nay là địa
lí kiến thiết có nhiệm vụ quy hoạch lại môi trường sống của con người cho phùhợp yêu cầu mới, những sự biến đổi to lớn của cuộc cách mạng khoa học kỹthuật lần thứ hai
Ở phương Tây (Anh, Mỹ, Pháp, Đức và những nước chịu ảnh hưởng ) Địa lí học
đã trải qua một thời kì khủng trầm trọng vào đầu thế kỷ, do không xác định được rõràng đối tượng nghiên cứu của Địa lí học sau sự phân dị ra các khoa học bộ phận,người ta bắt buộc phải dùng lối thoát bằng cách hướng khoa học này vào các mụcđích quân sự (xây dựng bản đồ, xuất bản các sách hướng dẫn địa lí của những nướccần chinh phục ) hoặc giải trí (địa lí du lịch) Vẫn tồn tại sự nhầm lẫn giữa các quy
Trang 36luật tự nhiên và quy luật kinh tế, những học thuyết phản động về phân biệt chủngtộc, về địa lí chính trị về chủ nghĩa Matuyt mới.
Vào những năm 70 cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, địa lí học phương Tâychịu ảnh hưởng nặng nề của địa lí học nhân văn của Ratzen như đã nói ở trên vàcủa Helne (1859-1911) Như chúng ta đã thấy, quan niệm thực sự không có gì mớinhưng ảnh hưởng của Ratzen và Helne lan ra rất rộng ngay cả hai nước Mỹ và Ngathời kì đó
Cũng vào thời gian nói trên, ở Pháp xuất hiện trường phái địa lí nhân văn của
PonVidal de la Blache (1845-1918) Lập luận của trường phái này là giữa conngười và tự nhiên có một sự thống nhất hài hòa, địa lí học phải chú trọng đến conngười và vì con người Ưu điểm lớn của trường phái địa lí nhân văn là ở điểm vừamới nói nhưng do không phân biệt các quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, nhiềusách vở của trường phái này lẫn lộn các quy luật đó, dùng các quy luật của tự nhiên
để cắt nghĩa xã hội và ngược lại Địa lí học ở Pháp được xếp vào hệ thống các khoahọc xã hội, và theo truyền thống, gắn bó chặt chẽ với sử học Các đại diện củatrường phái nhân văn (như Ghooge, Biro, Đomanggio ) đều cho rằng địa lí học làkhoa học nhân văn, nghiên cứu không gian quả đất như là môi trường sống của conngười, và chỉ có giá trị thực tiễn khi nó hướng về con người (hướng nhân –anthropocentrisme)
Cần phải nói rằng nước ta vào thời kì thuộc Pháp và cho đến năm 1960 các nhà địa
lí chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của trường phái này (ở miền nam cho đến năm 1975)
Có nhiều điều tôt trong địa lí nhân văn nhưng cũng phải đề phòng những quan điểmquen thuộc của địa lí phương Tây đáng phê phán như quan điểm duy vật địa lí, sựlẫn lộn các quy luật
Địa lí học ở Mỹ, Anh và một số nước phương Tây khác đều thống nhất với nhau ởmột số quan điểm chủ yếu: địa lí học là khoa học về không gian (tuy khác với cácnhà địa lí Đức, đã chú trọng một phần đến khía cạnh thời gian như R.Hacthacno ),địa lí học là thống nhất và hướng nhân (G.Trevactha, V.Bungo, V Flinxo và các tácgiả khác ) Điều đáng chú ý là địa lí chính trị có đất tốt để phát triển ở Mỹ và Anh:giảng viên địa lí người Anh Mackinder (1904) nêu ra học thuyết về khu vực “ thenchốt” của lịch sử, S Vankenbuo (1939) áp dụng các giai đoạn phát triển địa hình (lýthuyết chu kỳ địa lí) của W.M Davis vào một quốc gia, phân biệt ra các giai đoạntrẻ, thành niên, lớn tuổi (giai đoạn đứng tuổi của một quốc gia là giai đoạn đi xâmchiếm thuộc địa ) và giai đoạn già (khi mất thuôc địa)
Các nhà địa lí Mỹ phủ nhận lý thuyết về phân vùng địa lí Trong cuốn “Địa lí học
Mỹ hiện trạng và triển vọng” (1954) xuất bản ở Hoa Kỳ Uytlixay bác bỏ phân vùngđịa lí, coi đây là một quá trình chủ quan, nhưng họ lại nói đến “những vùng hoànchỉnh” gồm có các yếu tố của môi trường tự nhiên, sinh vật và xã hội, có quan hệ
Trang 37về mặt chức năng với hoạt động của con người Như chúng ta thấy, trong các sách
vở địa lí Mỹ, Anh các vùng được phân biệt theo chủ quan của từng tác giả vàthông thường dựa trên các chỉ tiêu thứ yếu
Một trong những loại sách địa lí được phổ biến rộng rãi là các chuyên khảo hay địaphương chí, trong đó dân cư và kinh tế được trình bày kĩ lưỡng, còn các điều kiện
tự nhiên thì được mô tả theo từng yếu tổ một cách hình thức, không có liên hệ vớinhau
Dù thế nào thì trường phái địa lí Mỹ cũng cho chúng ta một ví dụ điển hình về sựthiếu phương pháp luận chung và cách quan niệm về đối tượng, nhiệm vụ của địa líhọc là tùy từng người Trong trường hợp đó thì các cơ quan chuyên nghiên cứunhững vấn đề thực tiễn có khi lại làm công việc của nhà địa lí Thí dụ về sự đo đạc
và quản lý đất ở Mỹ hơn 60 năm nay đã để tâm nghiên cứu các khu vực đất đai,thực tế theo hướng cảnh quan, tất nhiên với những hạn chế nhất định Điều đó cũngthấy ở Pháp, Newzeland và Auxtralia
Tuy nhiên từ những năn 60 trở đi, khoa học địa lí ở Tây Âu đã đi vào một số hướngtích cực:
1- nghiên cứu những vùng mà đặc điểm tự nhiên và các quá trình xảy ra ở đó chưađược biết rõ, đặc biệt là ở các vùng nhiệt đới;
2- đi sâu hơn về phương diện định lượng trong các phòng thí nghiệm hay ngoài trời,
sử dụng các phương tiện tối tân để tìm hiểu bản chất và cơ thức của các quá trìnhđịa lí tự nhiên;
3- quy hoạch lãnh thổ theo hướng tìm phương án tốt nhất cho các hoạt động kinh tế
Địa lí lý thuyết lẫn địa lí ứng dụng được đề cao Một số nhà bác học nổi lên như
những đại diện hàng đầu của thế giới về một số lĩnh vực nhất định Tuy nhiên nếunhư trên từng lĩnh vực địa lí bộ phận, địa lí học ở phương Tây đạt được một sốthành tựu cụ thể thì phương hướng tổng hợp ở đây chưa được quan niệm đúng mứclàm bước tiến của địa lí học chưa đồng đều và toàn diện
Từ những năm 70 trở đi, địa lí học trên toàn thế giới được trao nhiệm vụ giải quyếtmột số vấn đề lớn nhất của thời đại là vấn đề quan hệ giữa con người và môi trườngsống Người ta đặc biệt chú trọng đến các vấn đề sau đây:
Các hệ thống sinh thái trên lục địa và sự kiểm soát các hệ thống này
Các chu kì sinh địa hóa trong môi trường sống chung trên toàn thế giới
Vấn đề các tài nguyên và sử dụng các tài nguyên
Xây dựng những mô hình tối ưu cho sự phát triển kinh tế chung (mô hình các hệthống tự nhiên- kỹ thuật, các thể tổng hợp lãnh thổ sản xuất )
Vấn đề địa lí lý thuyểt và các phương pháp khảo sát địa lí
Trang 38Chương III: TRÁI ĐẤT.
I TRÁI ĐẤT TRONG HỆ MẶT TRỜI VÀ HỆ NGÂN HÀ
Trong vũ trụ, Trái Đất là một thiên thể, một hệ vật chất như hàng tỉ hệ khác rất
phổ biến trong khoảng không gian rộng lớn
Trái Đất là một hành tinh trong Hệ Mặt Trời còn hệ Mặt Trời lại là một bộ phận của một hệ lớn hơn là hệ Ngân Hà Trong hệ Ngân Hà có vô vàn các thiên
thể các loại chuyển động trong không gian theo chiều "thuận thiên văn", tức
chiều ngược kim đồng hồ, dưới tác động của sức hút xung quanh một "nhân
trung tâm" trong thời gian 180 triệu năm.
Hệ Ngân hà và vị trí của mặt trời trong đó.
Theo ý kiến của các nhà thiên văn học thì "nhân trung tâm" đó là một đám saodày có khoảng cách giữa chúng nhỏ hơn so với khoảng cách của những ngôi saokhác ở phía ngoài
Trang 39Hình Hệ Mặt Trời nhìn nghiêng.
Tuy nhiên, trong vũ trụ, hệ Ngân Hà của chúng ta không phải là duy nhất Nhờ
có các kính thiên văn cực mạnh, ngày nay người ta đã quan sát được hàng chụctriệu Hệ Ngân Hà tương tự Tất cả được coi là những thành phần của một hệ lớnhơn trong vũ trụ: Hệ Siêu Ngân Hà
II HỆ MẶT TRỜI
Hệ Mặt Trời gồm có một thiên thể lớn ở trung tâm Đó là Mặt Trời Xung
quanh có các thiên thể nhỏ hơn: các hành tinh, các vệ tinh, các tiểu hành tinh,các sao chổi thiên thạch và khí giữa các hành tinh
1 Mặt Trời.
Mặt Trời là một ngôi sao đơn, có khối lượng bằng 99,866% tổng khối lượng
của toàn hệ Nếu so với Sao Mộc là hành tinh lớn nhất trong hệ thì khối lượngcủa Sao Mộc mới chiếm có 0,09% tổng khối lượng
Về thành phần cấu tạo thì đa số vật chất trên Mặt Trời là các chất khí 70% khốilượng là Hyđrô, 29% là Hêli, còn các chất khác chỉ chiếm 1%
Tỷ trọng trung bình của Mặt Trời là 1,41 Trên Mặt Trời, do có các phản ứnghạt nhân xảy ra liên tục, nên một lượng lớn vật chất và năng lượng đã được giải
phóng, toả ra không gian dưới dạng: ánh sáng, nhiệt và điện từ Nhiệt độ bên
ngoài bề mặt của Mặt Trời lên đến 6.0000K Trái Đất, tuy ở khá xa Mặt Trời,chỉ hấp thụ được khoảng trên dưới 1x10-9lần lượng bức xạ đó, vậy mà trên đỉnhtầng khí quyển cứ 1 phút đã nhận được 2 calo/ 1cm2
Lớp vỏ ngoài cùng của Mặt Trời hay khí quyển Mặt Trời gồm có ba lớp, trước
hết là quang cầu hay là bề mặt nhìn thấy được của Mặt Trời Chiều dày của nó
Trang 40vào khoảng từ 100 đến 800km Trên quang cầu thường hình thành những vếtđen Nếu nhìn qua kính thiên văn, đó là những vùng xám, có kích thước trungbình khoảng 37.000 km Xung quanh các vết đen thường thấy các vùng sáng
rộng, đó là vết sáng quang cầu Lớp thứ hai là sắc cầu Lớp khí này có chiều dày
lên tới khoảng 14.000 km Dựa vào các kết quả phân tích quang phổ, người tabiết rằng thành phần của sắc cầu chủ yếu gồm các khí hydro, hêli, ôxi và cácchất ít hơn Na, Mg, K, Ca, Fe Ở đây thường thấy những luồng sáng phụt lửahoặc bướu lửa có độ cao hàng nghìn kilômet Vào những lúc đó, nhiệt độ vàlượng bức xạ các tia tử ngoại cũng tăng lên nhiều Những hoạt động đó đều cóảnh hưởng đến các hoạt động trong khí quyển và đến từ trường của Trái Đất
Lớp thứ ba lớp ngoài cùng của khí quyển Mặt Trời gọi là tán Mặt Trời Lớp này
kéo dài đến độ cao gấp vài lần bán kính của Mặt Trời, và là bộ phận loãng nhấtcủa khí quyển Mặt Trời Từ tán Mặt Trời luôn luôn xảy ra hiện tượng trànplasma, tức là hiện tượng mà các nhà khoa học gọi là gió Mặt Trời Gió MặtTrời tương tự như hiện tượng bốc hơi trên một nồi nước đang sôi Chuyển độngvới tốc độ trung bình 500km/s, gió Mặt Trời có thể tới được Trái Đất làm méodạng từ trường của Trái Đất và gây ra nhiễu loạn địa từ ở hai cực Thực chất gióMặt Trời cũng là những dòng hạt proton và electron Nếu Trái Đất không có
quyền từ bao bọc và bảo vệ thì gió Mặt Trời sẽ huỷ diệt sự sống trên bề mặt
Trái Đất
Mặt Trời cũng có những sự vận động riêng của nó Trước hết là sự vận độngquanh trục theo hướng chung với toàn bộ hệ Ngân Hà, trung bình trong khoảng27,35 ngày một vòng và thứ hai là sự vận động trong hệ Ngân Hà kéo theo toàn
bộ các hành tinh của nó với vận tộc gần 20km/s về phía sao Chức nữ, thuộcchòm sao Thiên Cầm
Những quan sát nhiều năm cho thấy Mặt Trời có những thời kì hoạt động mạnh
và những thời kì hoạt động yếu xen kẽ nhau theo chu kì khoảng 11,3 năm.Trong những thời kì đó, trên Mặt Trời thường xuất hiện những lưỡi lửa, nhữngbướu sáng hoặc những vết đen khác thường Có thể chúng là hậu quả của sựchuyển động đối lưu của vật chất ở trong nội bộ Mặt Trời trong điều kiện vậntốc không đồng đều sinh ra Khi Mặt Trời hoạt động bắn ra những luồng hạtmang điện tích tới Trái Đất sau từ 3 đến 5 ngày, chúng gây ra các hiện tượngcực quang, bão từ và bão điện li Có thuyết cho rằng các chu kì hoạt động củaMặt Trời yếu hay mạnh đều có ảnh hưởng đến những sự thay đổi thời tiết và khíhậu của các miền trên Trái Đất
2 Các hành tinh và các tiểu hành tinh.
Trong hệ Mặt Trời, Mặt Trời nằm ở vị trí trung tâm Xung quanh Mặt Trời có 9hành tinh Ngay từ thời cổ đại, người ta đã biết được bằng mắt thường 5 trong số
9 hành tinh đó (không kể Trái Đất) Đó là sao Thuỷ, sao Kim, sao Mộc và sao