1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập lớn học kỳ đề số 4

19 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 407,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây: a Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; b Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; c Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Người khuyết tật là một bộ phận không nhỏ của dân số thế giới, trong bất kỳ một xã hội nào dù phát triển hay kém phát triển, dù phải hứng chịu chiến tranh hay không phải trải qua chiến tranh cũng tồn tại một bộ phận người khuyết tật Việt Nam có tỷ lệ người khuyết tật khá cao so với tỷ lệ chung của toàn thế giới, Người khuyết tật luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta cùng một số tổ chức quốc tế Nhà nước ta đã ban hành nhiều hệ thống văn bản cùng với việc thực hiện các công ước Quốc tế về người khuyết tật nhằm giúp đỡ họ có cuộc sống tốt, tạo

cơ hội giúp họ hoà nhập với cộng đồng và phát triển như những người bình thường khác

“Người khuyết tật” - như chúng ta đã biết họ là những người bị khiếm khuyến một hoặc một số bộ phận hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt gặp khó khăn Những dạng tật khiến họ có

sự khác thường về ngoại hình đối với những người xung quanh, điều đó đã vô hình chung trở thành trở ngại cho họ với cuộc sống thực tế Hiện nay, xã hội đã có những thay đổi đáng kể từ suy nghĩ đến những hành động thiết thực đối với cộng đồng chiếm 7% dân số này, đăc biệt vấn đề học tập cũng như vấn đề chăm sóc sức khỏe người khuyết tật luôn được chú trọng Để hiểu thêm về vấn đề này, em xin lựa chọn đề số 04:

“1 Quyền của người khuyết tật trong việc miễn giảm học phí, hỗ trợ chi

phí, phương tiện đồ dùng học tập và cấp học bổng.

2 Quy định về trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng cho người khuyết tật và thực tiễn thực hiện.”

B NỘI DUNG

I Khái quát về người khuyết tật

1 Định nghĩa người khuyết tật

Từ những thế kỷ trước đây người ta đã “rục rịch” đưa ra khái niệm về người khuyết tật, trong giai đoạn từ năm 1940 – 1960, những văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người đều không trực tiếp đề cập đến người khuyết tật Đến năm 1970 ở Hoa Kỳ, vấn đề người khuyết tật cũng như các Hiệp hội của họ

Trang 2

xuất hiện và chứng minh sự tồn tại của người khuyết tật Quan niệm về người khuyết tật cũng như khái niệm người khuyết tật bắt đầu có “manh mún” Đến năm

1980 Tổ chức Y tế Thế giới đã tiếp cận vấn đề chuẩn xác hơn về khái niệm người khuyết tật Đồng thời, từ những Chương trình hành động Thế giới về người khuyết tật và các cuộc Hội thảo được mở ra trong thập kỷ người khuyết tật của Liên Hợp quốc (1938-1992) đã khiến người ta có những kiến thức sâu hơn và sự hiểu biết rộng hơn về vấn đề người khuyết tật

Lịch sử phát triển người khuyết tật cho thấy có nhiều quan điểm khác nhau

về khái niệm người khuyết tật Theo quan niệm pháp luật quốc tế, khái niệm người khuyết tật hiện nay có hai quan điểm: quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội

Theo quan điểm về người khuyết tật cá nhân (hay quan điểm dưới góc độ y tế) cho rằng: Người khuyết tật là những người do có khiếm khuyết cơ thể của con người do Bộ Y tế của Tổ chức Y tế thế giới xác nhận dưới các dạng: khuyết tật, tàn tật và khiếm khuyết Nhìn chung mô hình nhìn nhận người khuyết tật là những người có vấn đề thể chất và cần được chữa trị Điều này đã đẩy người khuyết tật vào thế bị động của người bệnh, tiêu biểu là một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn

Độ, Philipines

Còn theo quan điểm về người khuyết tật theo mô hình xã hội là quan điểm người khuyết tật sinh ra là sự thể hiện đa dạng về hình thể con người, người khuyết tật cho rằng nhiều người bị khiếm khuyết ở nhiều cách khác nhau nhưng chỉ xã hội biến họ thành khuyết tật Nói cách khác mô hình xã hội, người xã hội nhìn họ là người khuyết tật thì họ sẽ là người khuyết tật Tiêu biểu cho quan điểm này là các quốc gia Hoa Kỳ, Đức, Nam Phi, Việt Nam,…

So với các nước trên thế giới, khái niệm về người khuyết tật của Việt Nam nằm trong nhóm quan điểm khuyết tật xã hội Trước kia, pháp luật Việt Nam nhìn nhận người khuyết tật dưới góc độ “người tàn tật” Theo quy định của Pháp lệnh về

người tàn tật năm 1998 “người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là

người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn” Kế thừa những quy định của Pháp lệnh người

tàn tật năm 1998, ngày 17/6/2010 Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật người

Trang 3

khuyết tật và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011; từ đây chính thức sử dụng khái niệm người khuyết tật thay cho khái niệm người tàn tật Theo quy định tại khoản 1, Điều

2 của Luật này thì “ Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ

phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến hco lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”

2 Đặc điểm người khuyết tật

Đặc điểm của người khuyết tật được xem xét dưới hai góc độ:

Thứ nhất là dưới góc độ kinh tế- xã hội: Người khuyết tật là nhóm cư dân

đặc biệt chịu thiệt thòi về mặt kinh tế- xã hội và nhân khẩu học Người khuyết tật

và gia đình họ thường nghèo, học vấn không cao, khó xin việc hoặc thật nghiệp nên ảnh hưởng đến điều kiện sống của họ Do khuyết tật nên người khuyết tật khó khăn trong việc sinh hoạt, học tập, kết hôn, sinh con… Ngoài ra quan niệm của xã hội về người khuyết tật còn nhiều tiêu cực, dẫn đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử, hơn nữa hoạt động hỗ trợ cho người khuyết tật còn nhiều hạn chế, thực tế sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng mang tính từ thiện hơn là phát triển con người

Thứ hai là dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật: Căn cứ Điều 3 Luật

người khuyết tật 2010 và Nghị định số 28/2012/NĐ-CP quy định như sau:

Khuyết tật vận động: là người có cơ quan vận động bị tổn thương, gây khó khăn trong hoạt động di chuyển, cầm nắm…

Khuyết tật nghe, nói: Là những người khó khăn nghe, nói, hạn chế trong giao tiếp, đọc viết, tiếp cận thông tin…

Khuyết tật nhìn: là những người có khuyết tật về mắt khiến họ không nhìn thấy hoặc nhìn không rõ

Khuyết tật trí tuệ: là những người có trí tuệ dưới mức trung bình Chỉ số thông minh đạt 70 hoặc dưới 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân, họ bị thiếu hụt một hoặc ít nhất hai trong só những hành vi thích ứng như giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng xã hội hoặc sử dụng tiện ích trong cộng đồng… Ngoài ra, tật xuất hiện trước 18 tuổi

Khuyết tật khác: rối loạn hành vi, rối loạn cảm xúc, người đa tật, người mắc hội chứng tự kỉ…

Trang 4

Có thể thấy mỗi quan điểm có những điểm mạnh và điểm yếu nhất định Quan điểm cá nhân hoặc y tế có tác dụng tốt trong một số lĩnh vực cụ thể như y tế phục hồi chức năng và bảo đảm xã hội Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội

là công cụ quan trọng để giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của người khuyết tật bị tách biệt khỏi cuộc sống chung, nhìn chung khái niệm người khuyết tật có ý nghĩa

là cơ sở pháp lý để công nhận ai là người khuyết tật và từ đó được bảo vệ bằng hệ thống pháp luật liên quan Thông qua quy định của các hệ thống pháp luật khác nhau cho thấy để đưa ra khái niệm thuyết phục và thống nhất về người khuyết tật là không dễ dàng, tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng định nghĩa về người khuyết tật

dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt động của kinh tế, chính trị, xã hội Phải đảm bảo rằng họ có quyền và trách nhiệm khi tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công công dân nào với tư cách là quyền của con người

II Quyền của người khuyết tật trong việc miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí, phương tiện đồ dùng học tập và học bổng

1 Quy định của pháp luật về việc miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí phương tiện

đồ dùng học tập và học bổng

Học phí là một khoản tiền của gia đình người học hoặc người học phải nộp

để góp phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục

Theo Điều 4 của Luật người khuyết tật năm 2010 có quy định về quyền của

người khuyết tật : “1 Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau

đây:

a) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;

b) Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng;

c) Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; d) Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật;

đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật”.

Trang 5

Khoản 2, khoản 3 Điều 27 Luật người khuyết tật 2010: “2 Người khuyết tật

được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi quy định đối với giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm một số môn học hoặc nội

dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp khác; được xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập 3 Người khuyết tật được cung cấp

phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành riêng trong trường hợp cần thiết; người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo chuẩn quốc gia.”

Tại Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC cũng đã

quy định chính sách về giáo dục đối với người khuyết tật: “Điều 6 Chính sách về

học phí: Người khuyết tật học tại các cơ sở giáo dục được miễn, giảm học phí và

hỗ trợ chi phí học tập theo quy định tại Nghị định số 49/2010/NĐ-CP về miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học

2014 - 2015 và Nghị định số 74/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ”.

Cũng trong thông tư trên, tại Điều 7 quy định Chính sách học bổng và hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập:

“1 Người khuyết tật thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đi học tại các cơ sở giáo

dục được hưởng học bổng mỗi tháng bằng 80% mức lương cơ sở theo quy định của Chính phủ trong từng thời kỳ.Người khuyết tật thuộc đối tượng được hưởng chính sách đang học tập tại cơ sở giáo dục đại học, trung cấp chuyên nghiệp được cấp học bổng 10 tháng/năm học; người khuyết tật thuộc đối tượng được hưởng chính sách đang học tập tại cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, trường chuyên biệt, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập được cấp học bổng 9 tháng/năm học.

Không áp dụng chế độ này đối với các đối tượng người khuyết tật đã được hưởng học bổng chế độ chính sách theo quy định tại Quyết định số 152/2007/QĐ-TTg ngày 14 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ.

2 Người khuyết tật thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo đang học tại các cơ

sở giáo dục được hỗ trợ kinh phí để mua sắm phương tiện, đồ dùng học tập với

Trang 6

mức 1.000.000 đồng/người/năm học.Người khuyết tật thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập mà cùng một lúc được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập khác nhau thì chỉ được hưởng một chế độ hỗ trợ cao nhất.

3 Các cơ sở giáo dục công lập có người khuyết tật đang theo học được Nhà nước hỗ trợ kinh phí để mua sách, tài liệu học tập, đồ dùng học tập đặc thù dùng chung, đảm bảo ở mức tối thiểu.

Hàng năm, vào thời điểm lập dự toán ngân sách của năm kế hoạch, cơ sở giáo dục căn cứ vào số người khuyết tật đang học, các dạng tật để lập phương án mua sắm (tài liệu học tập, đồ dùng học tập đặc thù dùng chung) và dự toán kinh phí chi tiết gửi cơ quan chủ quản phê duyệt để tổng hợp gửi cơ quan tài chính trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt Trên cơ sở dự toán kinh phí được phê duyệt và căn cứ vào đặc điểm thực tế của cơ sở giáo dục, người đứng đầu cơ sở giáo dục thực hiện mua sắm theo quy định”.

2 Đánh giá các quy định về quyền của pháp luật về việc miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí phương tiện đồ dùng học tập và học bổng

Hiện nay, pháp luật đã có nhiều quy định đảm bảo chế độ học tập cho người khuyết tật nói riêng và cải cách theo hướng tôn trọng quyền con người nói chung Thể hiện rõ nhất là các công ước mà Việt Nam đã ký kết, nội luật hóa trong các văn bản pháp luật của nhà nước Cùng là cá nhân nhưng người khuyết tật luôn phải chịu thiệt thòi hơn về thể chất và tinh thần Họ gặp phải rất nhiều khó khăn về kinh

tế bởi vì họ không thể sinh hoạt, lao động như người bình thường Vì vậy, họ cần

sự giúp đỡ không chỉ từ Nhà nước mà còn từ cả cộng đồng Pháp luật Việt Nam đã quy định những chính sách hỗ trợ cho người khuyết tật nhằm đảm bảo cho họ được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Đặc biệt, quy định về việc miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí, phương tiện, đồ dùng học tập và cấp học bổng cho người khuyết tật là Nhà nước đang giúp những đối tượng yếu thế hơn trong xã hội đảm bảo quyền của họ giống như những công dân khác

Tuy nhiên, mặc dù cùng nhận những mức hỗ trợ như nhau, cùng là những người khuyết tật, nhưng bên cạnh những người biết cố gắng phấn đấu trong học tập thì còn rất nhiều trường hợp chỉ dựa vào đó mà không biết phấn đấu hơn trong

Trang 7

cuộc sống nói chung Vì vậy, Nhà nước cần có những chính sách siết chặt hơn nữa

về các trường hợp này

Đặc biệt, trong vấn đề giáo dục hiện nay ở nước ta dành cho dạng tật điếc hay khiếm thính rất hạn chế Chưa có hoặc có rất ít các quy định của pháp luật dành cho dạng khuyết tật này Hiện nay, trên phạm vi cả nước nhưng cũng chỉ mới

có khoảng 50 người có thể làm phiên dịch thành thạo cho những người dạng khuyết tật này Đồng thời, các trường giảng dạy riêng cho người khuyết tật dạng này có rất ít; hầu hết những người khuyết tật này đều phải đi học chung với những người bình thường, điều này gây rất nhiều khó khăn cho người khuyết tật

III Quy định về trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng cho

người khuyết tật và thực tiễn thực hiện

1 Quy định của pháp luật về trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng cho người khuyết tật và thực tiễn thực hiện

Theo quy định của Điều 44 Luật người khuyết tật 2010: “ Trợ cấp xã hội, hỗ

trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng:

1 Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:

a, Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định tại điều 45 của luật này (nuôi dưỡng NKT trong cơ sở bảo trợ xã hội).

b, Người khuyết tật nặng.

2 Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm.

a, Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc người đó.

b, Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;

c, Người khuyết tật tại khoản 1 điều này đang mang thai hoặc nuôi con dưới

36 tháng tuổi.

3 Người khuyết tật theo quy định tại khoản 1 Điều này là trẻ em, người cao tuổi được hưởng mức trợ cấp cao hơn đối tượng khác cùng mức độ khuyết tật.

Trang 8

4 Mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối với từng loại đối tượng theo quy định tại điều này do Chính phủ quy định.”

Theo đó, quy định của pháp luật nước ta hiện nay thì có hai đối tượng là khuyết tật được hưởng trợ cấp, hỗ trợ kinh phí hàng tháng là đối tượng bị:

+ Khuyết tật nặng: là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc

suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc Đây là đối tượng có khả năng tự phục vụ sinh hoạt nếu có người, phương tiện trợ giúp một phần hoặc suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80% Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đối tượng bị khuyết tật nặng được trợ cấp hàng tháng là hệ số 1.5 Nếu người khuyết tật nặng là người già, trẻ em thì được hưởng hệ số 1.5 (hệ số1 là 180.000 đồng)

+ Khuyết tật đặc biệt nặng: là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn

toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn Đây là đối tượng không có khả năng tự phục vụ hoặc được hội đồng giám định y khoa kết luận không còn khả năng tự phục vụ hoặc suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên Mức trợ cấp hàng tháng cho người khuyết tật nặng là hệ số 2.0 Nếu là người khuyết tật đặc biệt nặng là người già, trẻ em thì được hưởng mức hệ số trợ cấp là 2.5 Nếu người khuyết tật ở nhiều thành phần thì được hưởng cao nhất Như vậy, theo quy định của pháp Luật Việt Nam thì tiêu chí xác định đối tượng trợ cấp chỉ dừng lại ở mức độ khuyết tật chỉ dừng lợi ở mức độ khuyết tật mà không để cập đến vấn đề hoàn cảnh kinh tế, tình trạng tài sản, tình trạng nhân thân

Ngoài ra các quy định về hệ số tính mức trợ cấp, kinh phí chăm sóc được quy định tại Điều 16 và Điều 17 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP Cụ thể như sau:

“Hệ số tính mức trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người khuyết tật sống tại

hộ gia đình được quy định như sau:

a) Hệ số hai (2,0) đối với người khuyết tật đặc biệt nặng;

b) Hệ số hai phẩy năm (2,5) đối với người khuyết tật đặc biệt nặng là người cao tuổi, người khuyết tật đặc biệt nặng là trẻ em;

Trang 9

c) Hệ số một phẩy năm (1,5) đối với người khuyết tật nặng;

d) Hệ số hai (2,0) đối với người khuyết tật nặng là người cao tuổi, người khuyết tật nặng là trẻ em”.

Hệ số tính mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng:

“1 Hệ số tính mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi được quy định như sau:

a) Hệ số một phẩy năm (1,5) đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi một con dưới 36 tháng tuổi;

b) Hệ số hai (2,0) đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

c) Hệ số hai (2,0) đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang nuôi từ hai con trở lên dưới 36 tháng tuổi;

d) Trường hợp người khuyết tật thuộc diện hưởng các hệ số khác nhau quy định tại Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 1 Điều này thì chỉ được hưởng một hệ

số cao nhất;

đ) Trường hợp cả vợ và chồng là người khuyết tật thuộc diện hưởng hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng quy định tại Khoản 1 Điều này thì chỉ được hưởng một suất hỗ trợ kinh phí chăm sóc quy định tại Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 1 Điều này.

2 Trường hợp người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang hưởng trợ cấp xã hội quy định tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định này nhưng mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì vẫn được hưởng kinh phí hỗ trợ chăm sóc quy định tại Khoản 1 Điều này.

3 Hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng kinh phí hỗ trợ chăm sóc hệ số một (1,0).

4 Người đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 19 Nghị định này khi nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc với hệ số được quy định như sau:

Trang 10

a) Hệ số một phẩy năm (1,5) đối với trường hợp nhận nuôi dưỡng, chăm sóc một người khuyết tật đặc biệt nặng;

b) Hệ số ba (3,0) đối với trường hợp nhận nuôi dưỡng, chăm sóc từ hai người khuyết tật đặc biệt nặng trở lên”.

2 Thực tiễn thực hiện

Sau khi Luật Người khuyết tật được ban hành, đến nay, hệ thống Luật pháp chính sách về người khuyết tật tương đối đầy đủ, thống nhất và toàn diện Việc tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về người khuyết tật đã tạo ra những chuyển biến tích cực đối với cuộc sống của người khuyết tật

Sự thay đổi về nhận thức xã hội giúp người khuyết tật tự tin hơn, các rào cản

xã hội từng bước giảm dần, quyền của người khuyết tật ngày càng được đảm bảo tốt hơn, giúp cho người khuyết tật hoà nhập vào đời sống xã hội thuận lợi Bên cạnh đó, Nhà nước luôn quan tâm ban hành nhiều chính sách, ưu tiên nguồn lực cho việc thực hiện chính sách, chương trình, đề án trợ giúp người khuyết tật Đồng thời, hoạt động trợ giúp người khuyết tật cũng nhận được nhiều sự quan tâm, phát huy trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư

Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam Nguyễn Trọng Đàm cho rằng, mọi người dân cần nâng cao nhận thức và xóa bỏ những rào cản, kỳ thị xã hội đối với người khuyết tật, có cái nhìn đúng hơn, phù hợp hơn và cởi mở hơn, để người khuyết tật

có thể tự tin tham gia vào mọi lĩnh vực xã hội và đặc biệt trao cho họ quyền tự

quyết định cuộc sống của họ: “Việc ưu tiên số một là chúng ta phải rà soát và điều

chỉnh lại hệ thống chính sách cho tương thích với công ước xem còn luật pháp, chính sách nào liên quan đến người khuyết tật nằm ở các văn bản khác nhau, còn chỗ nào cần phải điều chỉnh Đồng thời, ưu tiên đầu tiên là giải quyết vấn đề tiếp cận cho người khuyết tật, tiếp cận về giao thông, thông tin, nhà ở phải tập trung giải quyết sớm để tạo cơ hội cho người khuyết tật có thể đi lại, hội nhập được Tiếp theo là thúc đẩy mạnh chương trình hỗ trợ về học chữ và học nghề, tìm kiếm việc làm cho người khuyết tật” - Thứ trưởng Nguyễn Trọng Đàm nhấn mạnh.

Giai đoạn 2011-2015, kinh tế đất nước có khó khăn, thách thức, song Đảng

và Nhà nước ta đã có nhiều giải pháp để bảo đảm an sinh xã hội, trong đó có lĩnh vực trợ giúp xã hội tiếp tục là điểm sáng Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề chính sách xã

Ngày đăng: 27/10/2016, 23:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ và số người khuyết tật theo dạng khuyết tật và mức độ khó - Bài tập lớn học kỳ đề số 4
Bảng 1 Tỷ lệ và số người khuyết tật theo dạng khuyết tật và mức độ khó (Trang 17)
Bảng 2: Giáo dục và đào tạo theo tình trạng khuyết tật và mức độ khó khăn năm 2009 (Đơn vị: %) - Bài tập lớn học kỳ đề số 4
Bảng 2 Giáo dục và đào tạo theo tình trạng khuyết tật và mức độ khó khăn năm 2009 (Đơn vị: %) (Trang 18)
w