1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môn học pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế buổi thảo luận bài tập lớn học kỳ

54 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Buổi Thảo Luận Bài Tập Lớn Học Kỳ
Tác giả Đặng Thái Bình
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế
Thể loại Buổi thảo luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 502,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. NGHIÊN CỨU (16)
  • MỤC 1: CĂN CỨ XÁC LẬP ĐẠI DIỆN (16)
  • MỤC 2: HOÀN CẢNH CỦA NGƯỜI ĐƯỢC ĐẠI DIỆN (19)
  • MỤC 3: HOÀN CẢNH CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN (21)
    • 3.1/ Trong pháp luật hiện hành, người đại diện có phải chịu trách nhiệm đối với giao dịch do mình xác lập với tư cách là người đại diện không? Vì sao? (Nhi) (21)
  • MỤC 4: QUYỀN TỰ XÁC LẬP, THỰC HIỆN GIAO DỊCH THUỘC PHẠM (23)
    • 4.4/ Cho biết suy nghĩ của anh/chị về khả năng người được đại diện tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện (phân tích đối với đại diện theo pháp luật và đối với đại diện theo ủy quyền. (Phú) (24)
    • II. NGHIÊN CỨU (24)
  • MỤC 1: HÌNH THỨC SỞ HỮU TÀI SẢN (24)
  • MỤC 2: DIỆN THỪA KẾ (26)
  • MỤC 3: THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC (28)
  • MỤC 4: NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN (36)
    • III. NGHIÊN CỨU (45)
  • trong 03 quyết định trên (3 quyết định đầu) liên quan đến thay đổi, hủy bỏ (0)
    • IV. NGHIÊN CỨU (48)
    • V. NGHIÊN CỨU (51)
    • A. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT (52)
    • B. TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT (53)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ MÔN HỌC PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN, QUYỀN SỞ HỮU VÀ THỪA KẾ BUỔI THẢO LUẬN BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ GIẢNG VIÊN ĐẶNG THÁI BÌNH DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1 STT HỌ[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

MÔN HỌC: PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN, QUYỀN SỞ HỮU VÀ THỪA KẾ

BUỔI THẢO LUẬN BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ GIẢNG VIÊN: ĐẶNG THÁI BÌNH

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN THỨ NHẤT: TÓM TẮT BẢN ÁN 1

❖ (Nhật Thành) Quyết định số 09/2022/KDTM-GĐT ngày 24/8/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: 1

❖ (Phát Nguyễn) Quyết định số 44/2018/KDTM-GĐT ngày 10/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: 1

❖ (Thảo Nhiên) Tóm tắt Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao: 2

❖ Quyết định số 08/2013/DS-GĐT ngày 24/01/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao ( Quang) 2

❖ Tóm tắt 2493/2009/DS-PT ngày 4/9/2009 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh (Thi Thi) 3

❖ Tóm tắt Quyết định số 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Ngọc Sỹ) 4

❖ Tóm tắt Quyết định số 533/2021/QĐ-PQTT ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh (Minh Quân) 4

❖ Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 619/2011/DS-GĐT của Tòa Dân Sự Tòa án nhân dân tối cao (PHÚ) 5

❖ Tóm tắt Quyết định số 767/2011/DS-GĐT của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao (Nhi Hoàng) 6

❖ Tóm tắt 194 (Phương Thảo)Quyết định số 194/2012/DS-GĐT ngày 23/04/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao; 6

❖ Tóm tắt Quyết định số 363/2013/DS-GĐT ngày 28/08/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao (Nhi Hoàng) 7

❖ Tóm tắt Án lệ số 24/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua (Nhật Thành) 7

❖ Tóm tắt Án lệ số 05/2016/AL của Tòa án nhân dân tối cao (Minh Quân) 8

PHẦN THỨ HAI: TRẢ LỜI CÂU HỎI 9

I NGHIÊN CỨU 9

MỤC 1: CĂN CỨ XÁC LẬP ĐẠI DIỆN 9

1.1/ (Nhi) Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về người đại diện 9

1.2/ (Nhiên) Trong Quyết định số 09, việc ông H1 đại diện cho Ngân hàng là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 11

MỤC 2: HOÀN CẢNH CỦA NGƯỜI ĐƯỢC ĐẠI DIỆN 11

2.1/ (Thành) Cho biết kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài trong việc xử lý trường hợp đại diện không hợp lệ, nhất là việc khai thác lý thuyết “đại diện bề ngoài/apparent agent”? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết 12 2.2/ (Phát) Trong Quyết định số 09, Hội đồng thẩm phán theo hướng Ngân hàng phải chịu trách nhiệm đối với bảo lãnh do ông H1 đại diện xác lập Trên cơ sở các quy định về đại diện hiện nay, anh/chị cho biết hướng như

Trang 3

vừa nêu của Hội đồng thẩm phán có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lýkhi trả lời 13MỤC 3: HOÀN CẢNH CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN 143.1/ Trong pháp luật hiện hành, người đại diện có phải chịu trách nhiệm đối với giao dịch do mình xác lập với tư cách là người đại diện không? Vì sao? (Nhi) 143.2/ (Sỹ) Trong Quyết định số 09, theo Hội đồng thẩm phán, có cần thiết đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan trong vụ án không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 143.3/ (Thành) Cho biết suy nghĩ của anh/chị đối với hướng giải quyết nêu trên của Hội đồng thẩm phán (về vai trò của người đại diện) 14MỤC 4: QUYỀN TỰ XÁC LẬP, THỰC HIỆN GIAO DỊCH THUỘC PHẠM

VI ĐẠI DIỆN 154.1/ (Nhi) Trong pháp luật nước ngoài, người được đại diện có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện không? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết? 154.2/ (Thảo) Trong pháp luật hiện hành, người được đại diện có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện không? Vì sao? 154.3/ (Quang) Trong Quyết định số 44, theo Tòa giám đốc thẩm, người ủy quyền có được tự xác lập giao dịch đã ủy quyền cho người khác không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 164.4/ Cho biết suy nghĩ của anh/chị về khả năng người được đại diện tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện (phân tích đối với đại diện theo pháp luật và đối với đại diện theo ủy quyền (Phú) 16

II NGHIÊN CỨU 16

MỤC 1: HÌNH THỨC SỞ HỮU TÀI SẢN 161.1/ (Quang) Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về hình thức sở hữu tài sản 161.2/ (Quân) Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định số

377 (sau đây viết gọn là Quyết định 377) cho câu trả lời? 171.3/ (Nhiên) Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng

bà hay sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời? 171.4/ (Thành) Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc

sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời? 171.5/ (Thi) Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao? 17

Trang 4

1.6/ Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu

có thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lý khi trả lời (Phú ) 18MỤC 2: DIỆN THỪA KẾ 182.1/ (Nhi) Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu không? Vì sao? 182.2/ (Nhiên) Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao? 192.3/ (Thảo) Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưukhông? Vì sao? 192.4/ (Thành) Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại? Nêu cơ sở khi trả lời 202.5/ (Quân) Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản án, ở thời điểmnào người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp?

Vì sao? 20MỤC 3: THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC 203.1/ (Quang) Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê? 203.2/ (Thảo) Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao? 213.3/ (Sỹ) Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, vì sao bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 213.4/ (Quân) Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Vì sao? 223.5/ (Phát) Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 triệu đồng thì bà Thẩm sẽđược hưởng khoản tiền là bao nhiêu? Vì sao? 223.6/ (Thi) Nếu bà Thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của bà Thẩm có được chấp nhận không? Vì sao? 233.7/ (Nhi) Trong bản án số 2493 (sau đây viết gọn là Bản án), đoạn nào củabản án cho thấy bà Khỏe, ông Tâm và ông Nhật là con của cụ Khánh? 233.8/( Thảo) Ai được cụ Khánh di chúc cho hưởng toàn bộ tài sản có tranh chấp? 243.9/ (Thành) Tại thời điểm cụ Khánh chết, bà Khót và ông Tâm có là con

đã thành niên của cụ Khánh không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 243.10/ (Phú) Bà Khót và ông Tâm có được Tòa án chấp nhận cho hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không ? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 243.11/ (Sỹ) Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án 25

Trang 5

3.12/ (Quang) Hướng giải quyết có khác không khi ông Tâm bị tai nạn mất85% sức lao động?Vì sao? 253.13/ (Nhiên) Nêu những điểm giống nhau và khác nhau giữa di chúc và tặng cho tài sản 263.14/ (Phát) Nếu ông Lưu không định đoạt tài sản của ông cho bà Xê bằng

di chúc mà, trước khi chết, ông Lưu làm hợp đồng tặng cho bà Xê toàn bộ tài sản của ông Lưu thì bà Thẩm có được hưởng một phần di sản của ông Lưu như trên không? 273.15/ (Thi) Đối với hoàn cảnh như câu trên, pháp luật nước ngoài điều chỉnh như thế nào ? 283.16/ (Phú) Suy nghĩ của/anh chị về khả năng mở rộng chế định đang nghiên cứu cho cả hợp đồng tặng cho? 28MỤC 4: NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN 284.1/ (Nhi) Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nếu cơ sở pháp lý khi trả lời? 284.2/ (Quân) Theo BLDS, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 294.3/ (Quang) Ông Lưu có nghĩa vụ nuôi dưỡng chị Hương từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành không? 304.4/ (Thi) Đoạn nào của Quyết định cho thấy bà Thẩm tự nuôi dưỡng chị Hương từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành? 314.5/ (Nhiên) Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, nếu bà Thẩm yêu cầu thì có phải trích cho bà Thẩm từ di sản của ông Lưu một khoản tiền để

bù đắp công sức nuôi dưỡng con chung không? 314.6/ (Phát) Trên cơ sở các quy định về nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản, anh/chị hãy giải thích giải pháp trên của Tòa án 314.7/ (Thảo) Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá cố khi họ còn sống? 334.8/ (Thành) Trong Quyết định trên, theo Tòa giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý như thế nào? 334.9/ (Sỹ) Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa giám đốc thẩm (trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ tài sản của người quá cố) 334.10/ (Phú) Trong vụ việc liên quan đến ông Định (chết năm 2015), nghĩa

vụ nào của ông Định được Tòa án xác định chuyển sang cho những người thừa kế của ông Định (ông Lĩnh và bà Thành) 334.11/ (Phát) Đoạn nào của Quyết định (năm 2021) cho thấy Tòa án buộc những người thừa kế (của ông Định) thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không lệ thuộc vào việc những người thừa kế đã thực hiện thủ tục khai nhận di sản hay chưa? Hướng như vậy của Tòa án có thuyết phục không, vìsao? 34

Trang 6

4.12/( Nhi) Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản có lệ thuộc vào thời điểm nghĩa vụ đã đến hạn thực hiện không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời? 344.13/ (Thảo) Ở thời điểm ông Định chết (năm 2015), nghĩa vụ của ông Định đã đến hạn thực hiện chưa? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 364.14/ (Thi) Vì sao Tòa án xác định thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản của người quá cố vẫn còn mặc dù ông Định chết năm 2015 và việc khởi kiện chỉ được tiến hành năm 2019? Hướng của Tòa án như vậy có thuyết phục không, vì sao? 364.15/ (Quân) Có hệ thống pháp luật nước ngoài nào có quy định riêng về thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản như pháp luật Việt Nam hiện nay không? 374.16/ (Sỹ) Thông qua Quyết định năm 2021, suy nghĩ của anh/chị về tính thuyết phục của quy định về thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản (có nên giữ lại hay không?) 37III NGHIÊN CỨU 37

1.1/ (Quang) Cho biết thực trạng văn bản pháp luật liên quan đến thay đổi, hủy bỏ di chúc (về thời điểm, cách thức và hình thức thay đổi, hủy bỏ) 371.2/ (Nhiên) Trong thực tiễn xét xử, việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc có thể ngầm định (tức người lập di chúc không cần nói rõ là họ thay đổi hay hủy bỏ di chúc) không? Vì sao? 381.3/ (Nhi) Trong thực tiễn xét xử, việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc có phải tuân thủ hình thức của di chúc bị thay đổi hay hủy bỏ không? Vì sao? 381.4/ (Phát) Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án trong 03 quyết định trên (3 quyết định đầu) liên quan đến thay đổi, hủy bỏ

di chúc 381.5/ (Sỹ) Đoạn nào cho thấy, trong Quyết định số 363, Tòa án xác định di chúc là có điều kiện? Cho biết điều kiện của di chúc này là gì? 391.6/ (Phú) Cho biết thực trạng văn bản quy phạm pháp luật về di chúc có điều kiện ở Việt Nam? 401.7/ (Thảo) Cho biết hệ quả pháp lý khi điều kiện đối với di chúc không được đáp ứng 401.8/ (Quân) Cho biết suy nghĩ của anh/chị về di chúc có điều kiện ở Việt Nam (có nên luật hóa trong BLDS không? Nếu luật hóa thì cần những nội dung nào?) 40

IV NGHIÊN CỨU 41

1.1/ (Thành) Trong Án lệ số 24/2018/AL, nội dung nào cho thấy đã có thỏathuận phân chia di sản? 411.2/ (Thành) Trong Án lệ số 24/2018/AL, nội dung nào cho thấy thỏa thuận phân chia di sản đã được Tòa án chấp nhận? 411.3/ (Nhiên) Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án chấp nhận thỏa thuận phân chia di sản trên? Anh/chị trả lời câu hỏi này trong mối quan hệ với yêu cầu về hình thức và về nội dung đối với thỏa thuận phân chia di sản 42

Trang 7

1.4/ (Sỹ) Sự khác nhau cơ bản giữa tranh chấp di sản và tranh chấp tài sản

43

1.5/ (Quang) Trong Án lệ số 24/2018/AL, tranh chấp về tài sản đã được chia theo thỏa thuận trên là tranh chấp về di sản hay tranh chấp về tài sản? .43

1.6/ (Phú) Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong Án lệ số 24/2018/AL 43

V NGHIÊN CỨU 44

1.1/ (Quân) Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án xác định ông Trải được 1/7 kỷ phần thừa kế của cụ Hưng có thuyết phục không? Vì sao? 44

1.2/ (Phát) Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án xác định phần tài sản ông Trải được hưởng của cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư có thuyết phục không? Vì sao? 44

1.3/ (Thi) Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án theo hướng chị Phượng được hưởng công sức quản lý di sản có thuyết phục không? Vì sao? 45

PHẦN THỨ BA : DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

A VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT: 45

B TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT: 46

Trang 8

bà nhiều lần yêu cầu A - Chi nhánh T.H trả nợ thay theo nghĩa vụ của thư bảo lãnhnhưng Ngân hàng A - Chi nhánh T.H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiềnbảo lãnh như đã cam kết Bà T đã đề nghị Tòa án buộc ngân hàng A - Chi nhánh T.Hphải trả bà số tiền 7.438.000.000 đồng cộng với lãi suất đã quá hạn Ban đầu Ngânhàng không biết và không được thông báo về thư bảo lãnh, nhưng sau khi Tòa án thụ lý

vụ án thì Ngân hàng cho rằng Thư bảo lãnh vay vốn được phát hành trái thẩm quyền doông H1 (nguyên giám đốc Ngân hàng A - Chi nhánh T.H) không được Ngân hàng A ủyquyền để ký phát hành bảo lãnh vay vốn trong nước, vì vậy ngân hàng A không đồng ýthực hiện trách nhiệm bảo lãnh và yêu cầu Tòa án đưa ông H1 vào và buộc ông H1phải thực hiện nghĩa vụ với bà T Tại Quyết định của Hội thẩm Tòa án nhân dân tốicao, xét thấy tuy ông H1 không có quyền đại diện cho Ngân hàng A, nhưng đó quyđịnh nội bộ của ngân hàng buộc ông H1 phải biết nên việc phát hành Thư bảo lãnh tráithẩm quyền là lỗi của Ngân hàng A và việc Tòa giám đốc thẩm cho rằng bà T buộcphải biết ông H1 không có thẩm quyền khi phát hành Thư bảo lãnh là không đúng, bởi

vì Thư bảo lãnh là cam kết đơn phương bằng văn bản của Ngân hàng với khách hàng,

bà T cũng không liên quan đến việc lập hồ sơ, thẩm định và xét duyệt Thư bảo lãnh củaNgân hàng A có đúng thẩm quyền hay không vì nhận định của Tòa giám đốc thẩm làkhông có cơ sở Vì vậy Tòa đã quyết định chấp nhận đề nghị của bà T, buộc Ngân hàng

A phải trả tiền cho bà

❖ (Phát Nguyễn) Quyết định số 44/2018/KDTM-GĐT ngày 10/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:

Trang 9

Cụ Nguyễn Thị T là chủ sở hữu hợp pháp của nhà đất tại địa chỉ 12/1, đường E,phường Quyết Thắng Cụ T có ký kết hợp đồng thế chấp tài sản để bảo lãnh cho Công

ty TNHH N vay tiền Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm nhận định nhà đất trên là tàisản chung của bà T và các con nhưng lại không có chứng cứ để chứng minh đồng thờicho rằng bà T đã lập hợp đồng ủy quyền cho ông T2 toàn quyền sử dụng nhà đất vớithời hạn 5 năm nên việc bà T ký hợp đồng thế chấp bảo lãnh khi hợp đồng ủy quyềnchưa chấm dứt là không đúng với quy định của pháp luật Hướng giải quyết của Tòacấp cao là cụ T có quyền xác lập hợp đồng thế chấp trên do cụ T là chủ sở hữu nhà đấtnêu trên nên dù cụ T có ủy quyền cho ông T2 toàn quyền sử dụng thì cũng không làmhạn chế hoặc làm mất đi quyền về tài sản theo quy định của pháp luật của cụ T

❖ (Thảo Nhiên) Tóm tắt Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao:

Trước năm 1975, ông Võ Văn Lưu kết hôn hợp pháp với bà Nguyễn Thị Thẩm, có conchung là chị Võ Thu Hương Sau năm 1975 thì ông Lưu vào miền Nam sinh sống,trong khi đó, bà Thẩm và chị Hương vẫn tiếp tục sinh sống ở Phú Thọ Năm 1994, bàNguyễn Thị Bướm chuyển nhượng 101m2 đất cho ông Lưu để cất căn nhà số 150/6 LýThường Kiệt, tổ 5, khu phố 10, phường 6, thành phố Mỹ Tho Năm 1996, ông Lưu kếthôn với bà Cao Thị Xê Trước khi mất, ông Lưu có để lại di chúc cho bà Xê đượcquyền sử dụng toàn bộ tài sản gồm nhà cửa và đồ dùng trong gia đình Tòa án sơ thẩm

và phúc thẩm đều chấp nhận đơn khởi kiện của bà Cao Thị Xê; công nhận di chúc doông Võ Văn Lưu viết là di chúc hợp pháp; bà Cao Thị Xê được hưởng thừa kế theo dichúc ông Lưu viết Tòa giám đốc thẩm nhận định Tòa sơ thẩm và phúc thẩm cho bà Xêhưởng thừa kế theo di chúc của ông Lưu nhưng không chia cho bà Thẩm theo pháp luật

là chưa đúng Vì tại thời điểm ông Lưu mất, bà Thẩm vẫn còn là vợ hợp pháp của ông.Còn quan hệ hôn giữa hôn nhân và bà Xê là vi phạm pháp luật, tuy nhiên, di chúc doông Lưu viết đã thể hiện ý chí của ông là để lại tài sản cho bà Xê Vì vậy, việc bà Xêđược hưởng tài sản của ông Võ Văn Lưu là có căn cứ và phù hợp với quy định củapháp luật

❖ Quyết định số 08/2013/DS-GĐT ngày 24/01/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao ( Quang)

Nguyên đơn là bà Phạm Thị Ơn, bị đơn bà Lý Thị Chắc, Cha chồng của bà Ơn là ôngNguyễn Kì Huệ có tạo dựng được căn nhà diện tích 148,8m2 và phần diện tích 921,4m2.Đến cuối năm 1991, được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và đất ở Đến năm

Trang 10

1999, ông Huệ chết để lại di chúc định đoạt toàn bộ tài sản cho ông Nguyễn Kỳ Hà(con ruột ông Huệ), chồng bà Ơn Năm 2008 ông Hà chết không để lại di chúc Cácđồng thừa kế thỏa thuận giao bà Ơn thừa kế toàn bộ tài sản, bà cũng đã được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở Lúc ông Huệ sống có cho bà Chắc ở trông coinhà sau khi ông chết bà vẫn được ông Hà cho ở nhờ Sau khi ông Hà chết bà cho cháu

bà là Phan Đạt Nhơn, Nguyễn Thị Minh Nguyệt và Phan Đình Quốc đến ở chungnhưng chưa được sự đồng ý của bà Ơn Năm 1938, bà đã về sống cùng cụ Lê Thị Thiệu( mẹ của cụ Huệ) trên chính căn nhà này Năm 1978, UBND huyện Cai Lậy có quyếtđịnh trưng dụng nhà Do bà là con nuôi bà Thiệu và gia đình bà là gia đình có công nênUBND Cai Lậy giao lại cho bà ở và quản lý từ đó đến nay Nay bà không chấp nhân trảlại nhà và đất cùng tài sản trong nhà cho bà Ơn Tại bản án dân sự sơ thẩm Tòa ánquyết định buộc bà Chắc, Nhơn, Nguyệt, Quốc phải ra khỏi nhà và trả lại đất cho bàPhan Thị Ơn cùng các tài sản trong nhà Và cho họ được lưu cư trong 3 tháng kể từngày bản án có hiệu lực Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ơn cho bà chắc 5 triệu tiền didời Bản án phúc thẩm Tòa án vẫn giữ nguyên quyết định của Tòa án sơ thẩm Tại bản

án giám đốc thẩm Tòa án xác định Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa xác định rõ

bà đến ở trong khoảng thời gian nào trước hay sau năm 1/7/1991 nhưng lại áp dụngquy định của BLDS để giải quyết là chưa đủ căn cứ Mặt khác, gia đình bà chắc ở nhànày, trong đó có thời kỳ gia đình bà Ơn không ở nhà này nên gia đình bà chắc có côngquản lý, bảo quản nhà đất, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét đến điều

đó mà chỉ ghi nhận tiền tự nguyện hỗ trợ của nguyên đơn cho bà Chắc 5 triệu tiền didời

❖ Tóm tắt 2493/2009/DS-PT ngày 4/9/2009 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh (Thi Thi)

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Khót, ông An Văn Tâm

Bị đơn: ông Nguyễn Tài Nhật

Bà Khót, ông Tâm là con của bà Khánh và ông Lầm (1938) Ông Nhật là con của bàKhánh và ông Ngọt (1973) Nay bà Khánh chết để lại căn nhà ở Quận 2, TPHCM.Nhưng căn nhà nằm trong vùng giải tỏa nên được bồi thường và trừ đi số tiền ông Nhật

đã xây nhà nên di sản của bà Khánh là 1 tỷ 8 Cùng với di chúc ủy quyền sử dụng choông Nhật chứ không ủy quyền định đoạt căn nhà Bà Khót và ông Tâm yêu cầu chia disản của bà Khánh vì tại thời điểm đó bà Khót đã 71 tuổi, già yếu, không có khả nănglao động Ông Tâm đã 68 tuổi, là thương binh và không có khả năng lao động Nhưng

Trang 11

Tòa án đã không công nhận yêu cầu của nguyên đơn vì bà Khót và ông Tâm không đưa

ra được chứng cứ chứng minh nào và từ trước đến nay các nguyên đơn sống độc lập,không phụ thuộc vào ai Vì vậy các nguyên đơn không được chia di sản theo diệnngười thừa kế theo diện không phụ thuộc vào nội dung di chúc

❖ Tóm tắt Quyết định số 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Ngọc Sỹ)

Cụ Phúc và cụ Thịnh có 06 người con bao gồm: ông Vũ, bà Oanh, ông Vân, bà Dung,ông Vi và bà Thu Tài sản của hai người để lại là 200m2 đất có 2 ngôi nhà 2 tầng, khucông trình phụ và một số đồ dùng sinh hoạt khác số 708 Ngô Gia Tự, tỉnh Bắc Ninh vàthửa đất số 167 Nguyễn Văn Cừ thuộc tỉnh Bắc Ninh Khi cụ Phúc chết năm 1999 thì

cụ không để lại di chúc, lúc này cụ Thịnh cho ông Vũ thửa đất 167 nhưng vì làm ănthua lỗ nên ông đã bán nó với giá 450.000.000đ Năm 2002, bà Oanh nhận tiền từ ôngVân với số tiền 30.000.000đ và bà có viết giấy xác nhận nhưng chữ viết và chữ kýtrong bản di chúc để ngày 8/5/2006 là của cụ Thịnh Năm 2004, vì hoàn cảnh khó khănnên bà Dung cũng nhận từ ông Vân số tiền 30.000.000đ, sau đó bà bị ông Vân ép viếtgiấy nhằm mục đích sang tên cho ông Vân, bên cạnh đó bà Dung được cụ Thịnh cho10.000.000đ Năm 1992, ông Vân trả số tiền là 30.000.000đ cho bà Oanh, bà Thu và bàDung, được cụ Phúc chứng kiến Ngày 7/2/2006 thì cụ Thịnh được các anh, chị, emnhất trí sang tên sổ đỏ nhà, đất số 708 cho ông Vân và có sự chứng kiến của Uỷ bannhân dân phường Ninh Xá Ngày 8/5/2006, trong trạng thái minh mẫn và sáng suốt thì

cụ Thịnh đã viết di chúc cho ông Vân hưởng ½ nhà và toàn bộ tài sản mà cụ Thịnhhưởng từ cụ Phúc, sau đó lên Uỷ ban nhân dân phường Ninh Xá xác nhận và đóng dấu.Ông Vi nói rằng vào năm 1992 thì cha mẹ ông có viết thư sang Đức cho ông báo rằngcha mẹ định bán nhà để chữa bệnh nhưng vì ông đã gửi tiền về nên hai người khôngbán nữa Hướng giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều công nhận 142,3m2 đất tại thửa số 26 là di sản của cụ Thịnh và cụ Phúc và giao quyền sử dụng mảnhđất này cho ông Vân sử dụng, bên cạnh đó Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúcthẩm cũng công nhận di chúc mà cụ Thịnh để lại là hợp pháp Nhưng Tòa án cấp sơthẩm thì bác yêu cầu đòi chia thừa kế của bà Oanh và bà Dung còn Tòa án cấp phúcthẩm thì chấp nhận yêu cầu đòi chia thừa kế của bà Oanh và bà Dung

❖ Tóm tắt Quyết định số 533/2021/QĐ-PQTT ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh (Minh Quân)

Nguyên đơn: Yue Da Mining Limited

Trang 12

Bị đơn: ông Nguyễn Văn Hởi, bà Nguyễn Thị Hồng Vân, ông Huỳnh Công Lĩnh, bàTrần Thị Bông Thành.

Các bị đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đối với Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp

số 101/09 HCM lập ngày 2/12/2020 giải quyết tranh chấp về Hợp đồng chuyển nhượng

cổ phần và vay vốn lập ngày 5/9/2013 giữa bà Soan và Yue Da Mining Limited Theo

đó, trong phán quyết buộc các bị đơn có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho nguyên đơn

số nợ gốc là 5.962.783 USD và phải thanh toán trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Phánquyết có hiệu lực, nếu hết thời hạn mà các bị đơn không thanh toán thì toàn bộ tài sảnđảm bảo thuộc sở hữu của các bị đơn tại công ty cổ phần Khoáng sản và Thương mạiSao Mai được giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo quy địnhpháp luật Việt Nam Sau khi Tòa án xem xét các lý do thì thấy phán quyết này không

vi phạm về thời hiệu, nội dung hay trái với pháp luật Việt Nam nên Tòa án nhân dân

TP Hồ Chí Minh đã quyết định không hủy Phán quyết trọng tài, các bên bao gồm Hộiđồng trọng tài không có quyền khiếu nại, kháng cáo và Viện kiểm sát không có quyềnkháng nghị

❖ Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 619/2011/DS-GĐT của Tòa Dân Sự Tòa án nhân dân tối cao (PHÚ)

Nguyên đơn: Anh Lê Quốc Toàn

Bị đơn: Chị Lê Thị Thu và anh Lê Quốc Tuấn

Vụ án: “Chia thừa kế theo di chúc”

Nội dung vụ án: Ông Minh có 2 người vợ Có với bà Bằng 2 người con là: Vinh

và Xuyên Về sau bà Bằng chết.Ông Minh có với bà Lan 5 người con: Thu,Tuấn, Thúy, Hương, Toản và Sâm (con riêng) Trước khi khi chết (1997), ôngMinh có để lại di chúc: bán căn nhà 55m2 tại 64 Trần Đăng Ninh, chia choHương 20 cây vàng, Thúy 18 cây vàng, Thu 18 cây vàng, nhà và đất nếu Toản ởthì cho thêm 10 cây vàng, nếu Tuấn không ở thì chỉ cho đất Năm 1998, bà Lanviết di chúc (có xác nhận từ Ủy ban phường) Chị em trong nhà đều được bàLan cho vàng theo đúng phần di chúc của ông MinhMinh Năm 2002, bà viếtgiấy ủy quyền sở hữu căn nhà 120 Cầu Giấy cho anh Toản (có xác nhận của Ủyban phường) Năm 2005, bà Lan chết Thu và Tuấn cho rằng bà Lan đã hủy dichúc trước khi chết (văn bản hủy di chúc này không được phường công côngchứng) nên đã đuổi Toản ra khỏi căn nhà 120 Cầu Giấy cho dùng căn nhà đócho thuê làm cửa hàng bán quần áo Mâu thuẫn xảy ra Anh Toản yêu cầu chia

Trang 13

thừa kế theo như di chúc ban đầu của mẹ anh Tòa án đã hủy bản án sơ thẩm vàphúc thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xét xử lại từ đầu

❖ Tóm tắt Quyết định số 767/2011/DS-GĐT của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao (Nhi Hoàng)

Nguyên đơn: anh Dương Văn Đang

Bị đơn: ông Dương Văn Sáu

Vụ án: “tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”

Anh Dương Văn Đang có ông nội là cụ Dương Văn Trượng Ngày 01/03/1997, cụTrượng lập di chúc cho anh Đang 3000m2 đất trong tổng 3530m2 thuộc thửa 543.Ngày 07/02/1999, cụ Trượng lập lại di chúc giao cho anh Đang 2000m2 đất, choông Sáu(con cụ Trượng) Anh Đang không chấp nhận di chúc năm 1999 và yêu cầu

vợ chồng ông Sáu phải trả 1500m2 đất cho anh đang được ông Sáu quản lý

Hướng giải quyết của tòa sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc ôngSáu trả cho anh Đang 1332,8m2 đất

Hướng giải quyết của tòa phúc thẩm: không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Sáu,giữ nguyên bản án sơ thẩm Buộc ông Sáu trả cho anh Đang 1332,4m2 đất( đo thựctế)

Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao: Cần làm rõ tính xác thực của tờ camkết và giám định lại di chúc 1999 của cụ Trượng nên đã hủy bản án dân sự phúcthẩm và sơ thẩm để xét xử lại

❖ Tóm tắt 194 (Phương Thảo)Quyết định số 194/2012/DS-GĐT ngày 23/04/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao;

Nguyên đơn: Ông Bùi Văn Nhiên

Bị đơn: Ông Bùi Văn Mạnh

Nội dung: “ Tranh chấp quyền sử dụng đất ”

Vợ chồng cụ Bùi Hữu Môn và cụ Hoàng Thị Giảng sinh được 5 người con là My, Đức,Nhiên, Lương, Mạnh Cụ Môn và cụ Giảng có 1 căn nhà ngói 5 gian (không còn giá trị

sử dụng) trên 169,3 m2 đất do cụ Môn đứng tên Năm 1998, cụ Môn lập di chúc choông Đức 04m đất, diện tích đất còn lại dùng làm nhà thờ cúng gia tiên giao cho ôngMạnh trông nom Bản di chúc không có chữ ký cụ Giảng Năm 1999, cụ Giảng chếtkhông để lại di chúc Năm 2000, cụ Môn tổ chức họp gia đình thống nhất nội dung dichúc, không ai có ý kiến gì khác Năm 2003 ông Đức bị tai nạn chết, sau đó cụ Môn bị

Trang 14

sốc chết cùng ngày Nguyên đơn là ông Nhiên cho rằng di chúc của cụ Môn không rõràng, không hợp pháp và giữa ông Nhiên và ông Mạnh phát sinh mâu thuẫn, khôngthống nhất việc xây nhà thờ nên ông yêu cầu được chia thừa kế theo pháp luật.Quyếtđịnh của các cấp xét xử

Tại bản án dân sự sơ thẩm: Xác định di chúc của cụ Môn có hiệu lực 1 phần về nửa đấtthuộc quyền định đoạt của cụ Môn Bản di chúc không có hiệu lực pháp luật phần đấtthuộc quyền định đoạt của cụ Giảng và phần đất của cụ Môn cho ông Bùi Văn Đức.Ông Bùi Văn Nhiên được sử dụng 50,79 m2 đất, diện tích còn lại 118,51 m2 giao choông Mạnh quản lý để xây nhà thờ

Tại bản án dân sự phúc thẩm: Xác định di sản của cụ Bùi Hữu Môn và cụ Hoàng ThịGiảng gồm 169,3 m2 đất và 2 cây nhãn Xác định người hưởng thừa kế của cụ Môn và

cụ Giảng: Ông Nhiên, ông Mạnh, bà Lương, bà My, vợ con ông Đức (bà Dơi, anhCường, chị Hiệp, chị Hạnh, chị Hoàn) Xác định diện tích cụ Môn đã cho ông Đức tạibiên bản họp gia đình là tổng cộng 87,05m2 Xác định di sản của cụ Giảng là 84,5m2chia theo pháp luật Xác định phần di sản của cụ Môn (sau khi trừ diện tích đất cho ôngĐức) chia theo di chúc để làm nhà thờ và giao cho ông Mạnh quản lý, sử dụng ÔngNhiên quản lý, sử dụng 129,29 m2 đất và hai cây nhãn Ông Mạnh quản lý, sử dụng39,7 m2 đất

Tại quyết định giám đốc thẩm: Huỷ bản án dân sự sơ thẩm và huỷ bản án dân sự phúcthẩm của Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên về vụ án tranh chấp thừa kếtài sản giữa nguyên đơn là ông Bùi Văn Nhiên với bị đơn là ông Bùi Văn Mạnh Giao

hồ sơ cho Toà án xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật

❖ Tóm tắt Quyết định số 363/2013/DS-GĐT ngày 28/08/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao (Nhi Hoàng)

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Chim, bà Nguyễn Thị Bay

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Lên, bà Nguyễn Thị Sáu

Nội dung: “tranh chấp thừa kế”

Cụ Nhà và cụ Viết có 5 người con gồm: bà Bay, bà Chim, bà Liên, bà Sáu, ông Cu Cụnhà chết có để lại di chúc ngày 26/07/2000 Để lại 2198m2 đất( diện tích đo thực tế là1850m2) thuộc thửa đất số 10 cho bà Sáu và bà Liên trọn quyền sử dụng kèm theo điềukiện Thửa đất số 204 với diện tích 832m2( diện tích thực tế là 1112m2) đứng tên bàSáu Sau khi cụ Nhà chết thì bà Sáu và bà Liên có dỡ căn nhà cũ của cụ Nhà và dựng

Trang 15

nhà mới, còn về diện tích đất thuộc thửa 204 tại xã Long Thượng hiện do con trai bàSáu quản lý Bà Chim và bà Bay không công nhận di chúc của cụ Nhà ngày26/07/2000 và yêu cầu được chia thừa kế đối với 2 thửa đất này Quyết định của tòa sơthẩm chấp nhận một phần yêu cầu chia thừa kế của bà Chim và bà Bay Tòa phúc thẩmbác yêu cầu chia thừa kế của bà Chim và bà Bay Quyết định của Tòa án nhân dân tốicao: cần phải làm rõ và thu thập chứng cứ đối với thửa đất 204 và khắc phục nhữngthiếu sót trong quá trình giải quyết vụ án của tòa sơ thẩm và tòa phúc thẩm nên yêu cầuxét xử lại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

❖ Tóm tắt Án lệ số 24/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua (Nhật Thành)

Cụ H (chết năm 1978) và cụ V (chết ngày 21-8-1994) có 7 người con là ông H3, ông Đ(chết năm 1998), ông T, ông Q (chết năm 2000), bà H, bà H1, bà H2 Sinh thời các cụ

có gian nhà, gian bếp trên khoảng 464m2 tại tỉnh Hà Tây Năm 1991 cụ V đứng ra chiamảnh đất cho 7 người con Các bà lúc đó đang ở miền Nam nên ông H3 trông nom cảphần đất của các bà được cụ V chia và đất của ông được chia Năm 2004 khi các bàmuốn xây dựng nhà trên đất này thì ông H3 không đồng ý và chia đất này cho anh L vàchị T (2 người con của ông) Bà H, bà H1, bà H2 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ôngH3 phải chia thừa kế theo pháp luật với 44,4m2 đất, nhưng có lúc lại đòi chia thừa kế disản theo pháp luật với 110m2 đang được ông H3 quản lý Tại Quyết định Giám đốcthẩm, Tòa án đã chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế với44,4m2 đất, do ông H đã có các bằng chứng ở phần đất 110m2 nên việc các nguyên đơnđòi chia di sản thừa kế với phần đất này là không có cơ sở

*Nội dung án lệ:

“[4]…nhà đất của cụ V, cụ H đã được cụ V và các thừa kế của cụ H thống nhất phân chia tài sản chung xong từ năm 1991 và đủ cơ sở xác định phần đất 110m2 trong đó phần bà H, bà H1 và bà H2 là 44,4m2 Việc phân chia đã được thực hiện trên thực tế

và đã được điều chỉnh trên sổ sách giấy tờ về đất đai; thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nào, không ai tranh chấp nên có cơ sở xác định nhà, đất không còn là di sản thừa kế của cụ V, cụ H nữa mà đã chuyển thành quyền sử dụng đất hợp pháp của các cá nhân Vì vậy, bà H, bà H1, bà H2 chỉ có quyền khởi kiện đòi lại 44,4m2 đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp do được chia từ năm 1991; tài

Trang 16

sản là di sản thừa kế của cha mẹ không còn nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu chia di sản của cụ H, cụ V nữa.” 1

❖ Tóm tắt Án lệ số 05/2016/AL của Tòa án nhân dân tối cao (Minh Quân).

Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 39/2014/DS-GĐT ngày 09/10/2014 của Hộiđồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thưởng, Nguyễn Thị Xuân

Bị đơn: ông Nguyễn Chí Trải (Cesar Trai Nguyen), chị Nguyễn Thị Thúy Phượng, chịNguyễn Thị Bích Đào

Cụ Hưng và cụ Ngự có 06 người con gồm bà Nguyễn Thị Xê, ông Nguyễn Chí Trải, bàNguyễn Thị Xuân, bà Nguyễn Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Trinh và ông Nguyễn ChíTrai Ông Trai có vợ là bà Mạnh và có với nhau 05 người con Ông Trải có vợ là bà Tư

và có với nhau 03 người con trong đó có chị Nguyễn Thị Thúy Phượng Cụ Hưng và cụNgư đã mua một mảnh đất và xây dựng nhà là căn nhà số 263 đường Trần Bình Trọng,Phường 4, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng nhà đất vẫn chưa được cấp giấychứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất mà chỉ mới kê khai năm 1999 Hai

cụ chết nhưng không để lại di chúc

Sau đó, căn nhà được sử dụng, quản lý bởi chị Phượng Trong nhiều năm căn nhà đượcchị Phượng cải tạo, sửa chữa nhưng không đáng kể và được cho thuê một phần Một sốthành viên trong hàng thừa kế di sản, trong đó gồm cả những người Việt Nam định cư

ở nước ngoài đã yêu cầu chia thừa kế đối với nhà đất này nhưng không thể thống nhất.Ngày 18/7/2008, bà Thưởng và bà Xuân khởi kiện chị Phượng lên Tòa án để yêu cầuchia thừa kế căn nhà theo quy định của pháp luật và xin được nhận nhà, hoàn lại bằngtiền cho các thừa kế khác Sau khi vụ án lần lượt trải qua sơ thẩm, phúc thẩm tại Tòa ánnhân dân tối cao tại TP Hồ Chí Minh thì tiếp tục giám đốc thẩm tại Tòa án mới đi đếnnhận định để quay trở lại với xét xử sơ thẩm

I NGHIÊN CỨU

MỤC 1: CĂN CỨ XÁC LẬP ĐẠI DIỆN

1.1/ (Nhi) Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về người đại diện.

1 Trích Án lệ số 24/2018/AL về di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân.

Trang 17

Chủ thể

đại diện - " Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân ( sau đây gọi

chung là người đại diện ) nhân danh lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác ( sau đây được gọi chung là người được đại diện) xác lập,thực hiện giao dịch dân sự" ( khoản

1 Điều 134)

- Như vậy ở BLDS 2015 thì pháp nhân có thể đại diện cho cá nhân và pháp nhân khác

- " Đại diện là việc một người( sau đây gọi là người đại diện) nhân danh vì lợi ích của người khác ( sau đây là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 của Bộ luật này."

- Không thừa nhận khảnăng đại diện của pháp nhân( Điều 139

Số người

đại diện - Một hay nhiều người cùng đại diện Khắc phục được

những nhược điểm của BLDS 2005

- Một người( Điều 139 BLDS2005)

- Như vậy, không bao quát được trường hợp bên đại diện là người như cha mẹ đại diện cho con chưa thànhniên, pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật

Năng lực

của người

đại diện

- " Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện."

( khoản 3 Điều 134)

- Bổ sung cụm từ "người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự" càng

- "Người đại diện phải có

năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143( khoản 5 Điều 139).

- Điều này làm dẫn đến việc hạn chế trường hợp pháp nhân là người đại diện trongquan hệ pháp luật dân sự

Trang 18

giải thích rõ tư cách làm người đại diện của pháp nhân( Điều 86) Điều này góp phần hạn chế được cáctranh chấp liên quan đến

tư cách đại diện của pháp nhân.2

Thời hạn

đại diện - Căn cứ vào Điều 140 BLDS

+ "thời hạn đại diện được xác định theo văn bản ủy quyền, theo quyết định của

cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật…"

- Điều này giúp người tiến hành giao dịch với người đại diện dễ dàng hơn trongviệc xác định liệu giao dịch do người đại diện xáclập, thực hiện có còn trongthời hạn đại diện hay không

- " Thời hạn ủy quyền do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền

có hiệu lực một năm,kể từ ngày xác lập việc ủy quyền"(Điều 582) Thời hạn

này chỉ được áp dụng đối với hình thức đại diện theo

ủy quyền.3

Phân loại

đại diện - Phân loại dựa vào căn cứ xác lập quyền và chủ thể

đại diện+ Đại diện theo pháp luật của cá nhân+ Đại diện theo pháp luật của pháp nhân+ Đại diện theo ủy quyền

- Phân loại dựa vào tiêu chí căn cứ xác lập quyền( theo pháp luật hay theo ủy quyền)

+ Đại diện theo pháp luật

+ Đại diện theo ủy quyền

Hậu quả

pháp lý của - khoản Điều 139 BLdS 2015 - " Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh

2 Nguyễn Hồ Bích Hằng, Giáo trình những vấn đề chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP.HCM, Nxb Hồng Đức

2018, chương V.

3 Nguyễn Hồ Bích Hằng, Giáo trình những vấn đề chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP.HCM, Nxb Hồng Đức

2018, chương V.

Trang 19

hành vi đại

diện - Quy định này hạn chế được trường hợp người đại

diện bất cẩn khi xác lập thực hiện giao dịch nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện.4

từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập ".

( khoản 4 Điều 139)

1.2/ (Nhiên) Trong Quyết định số 09, việc ông H1 đại diện cho Ngân hàng là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

- Cơ sở pháp lý: Điều 137, 138 BLDS 2015

- Theo đó, tại đoạn thứ hai thuộc phần Nhận định của Tòa án nhân dân tối cao:

“Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng A xác định ông H1 (nguyên Giám đốc Ngân hàng A - Chi nhánh T.H) không có quyền đại diện cho Ngân hàng A ký phát hành bảo lãnh vay vốn trong nước theo quy định tại Điều 21 Quyết định 398/QĐ-HĐQT-TD ngày 02/5/2007 về bảo lãnh Ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng A5”

Như vậy, ông H1 không là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền

MỤC 2: HOÀN CẢNH CỦA NGƯỜI ĐƯỢC ĐẠI DIỆN

2.1/ (Thành) Cho biết kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài trong việc xử lý

trường hợp đại diện không hợp lệ, nhất là việc khai thác lý thuyết “đại diện bề ngoài/apparent agent”? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết.

- “Thẩm quyền bề ngoài (ostensible/apparent authority) được xác định khi mộtngười không được trao quyền đại diện nhưng lại làm cho người thứ ba hiểu rằng

họ được trao quyền đại diện”6

- Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài trong việc xử lý trường hợp đại diệnkhông hợp lệ:

“Ví dụ có thể kể ra ở đây như vụ Essco Geometric V Havard Industries 7 Trong

vụ án này, Havard Industries là nhà sản xuất đồ nội thất với sản phẩm chủ yếu

là ghế, còn Essco Geometric (tên thương mại là Diversified) là công ty chuyên bán các sản phẩm keo bọt Havard Industries đã mua các sản phẩm keo bọt của

4 Nguyễn Hồ Bích Hằng, giáo trình những vấn đề chung về Luật dân sự của ĐH Luật TP.HCM, Nxb Hồng Đức

2018, chương V.

5 Trích từ Quyết định số 09/2022/KDTM-GĐT ngày 24/8/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

6 Trường đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1, Nhà xuất bản Tư pháp, tr 259.

7 Essco Geometric v Havard Industries, 46F.3d 718

Trang 20

Diversified để sản xuất các sản phẩm của mình Hai bên đã thiết lập quan hệ mua bán trong khoảng thời gian hơn 20 năm Các giao dịch được xác lập giữa Frank Best, Giám đốc bộ phận mua hàng của Havard Industries và Edson Safron, Chủ tịch của Diversified Năm 1988, Frank Best nghỉ hưu và Michael Gray, một nhân viên mua hàng thay thế vị trí của Frank Best Hai bên tiếp tục việc mua bán hàng giữa Havard Industries và Essco Geometric.

Năm 1989, Chủ tịch Havard Industries, Ed Kruske, ban hành hai văn bản nội

bộ và chỉ gửi cho Gray với nội dung: (1) tất cả các đơn đặt mua hàng phải được gửi cho Kruse trước khi gửi cho bên bán và (2) tất cả các đơn hàng có giá trị lớn hơn 50 đô la Mỹ sẽ phải có sự chấp thuận của cả Giám đốc bộ phận mua hàng và Kruske.

Năm 1990, Gray và Safron ký một thỏa thuận, trong đó Diversified độc quyền bán hàng cho Havard Industries trong thời hạn hai năm Đây là một thỏa thuận độc quyền và không hủy ngang Tuy nhiên, Kruske đã từ chối thực hiện thỏa thuận này và Diversified đã khởi kiện ra tòa Minnesota để bồi thường vì cho rằng Havard Industries đã vi phạm thỏa thuận.

Một trong những vấn đề mấu chốt để xác định Havard Industries có vi phạm thỏa thuận hay không là việc xác định Gray có đủ quyền đại diện cho Havard Industries để ký thỏa thuận với Diversified hay không? Trong trường hợp Gray

có quyền đại diện thì Havard Industries sẽ bị ràng buộc bởi thỏa thuận đã ký giữa Gray và Safron Khi đã bị ràng buộc, việc Kruske từ chối thực hiện thỏa thuận sẽ bị coi là vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận và sẽ phải bồi thường cho Diversified Ngược lại, nếu Gray không có đủ quyền đại diện thì Havard Industries sẽ không chịu sự ràng buộc của thỏa thuận.

Trong vụ án này, Tòa cho rằng: Trong khoảng thời gian hơn 20 năm Havard Industries đã cho phép Frank Best, giám đốc bộ phận mua hàng, được phép lựa chọn bên bán cho Havard Industries và xác lập giao dịch mua bán với tư cách đại diện cho Havard Industries Khi Gray thay thế cho Best, không có ai thông báo cho Diversified biết rằng Havard Industries đã ban hành các quy định mới

về quy trình mua hàng cũng như việc Giám đốc bộ phận mua hàng của Havard

đã bị hạn chế thẩm quyền trong việc thay mặt công ty xác lập giao dịch mua hàng Bởi vậy, đối chiếu với hai điều kiện của đại diện bề ngoài , quan hệ giữa Gray và Havard Industries đã cấu thành quan hệ đại diện bề ngoài trong giao dịch với Diversified Thỏa thuận này có giá trị ràng buộc Havard Industries Và

Trang 21

khi Kruske từ chối thực hiện thỏa thuận có nghĩa là Havard Industries đã vi phạm thỏa thuận đó” 8

2.2/ (Phát) Trong Quyết định số 09, Hội đồng thẩm phán theo hướng Ngân hàng phải chịu trách nhiệm đối với bảo lãnh do ông H1 đại diện xác lập Trên cơ sở các quy định về đại diện hiện nay, anh/chị cho biết hướng như vừa nêu của Hội đồng thẩm phán có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Trên cơ sở các quy định về đại diện hiện nay hướng giải quyết của Hội đồngthẩm phán là có thuyết phục

- Cơ sở pháp lý: khoản 1, Điều 143 BLDS 2015

- Giải thích: khoản 1, Điều 143 BLDS 2015 quy định rằng:

1 Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:

a) Người được đại diện đồng ý;

b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý; c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình vượt quá phạm vi đại diện.

=> Theo đó dù có quy định về phạm vi đại diện nhưng quy định này chỉ là quyđịnh trong nội bộ ngân hàng A nên buộc ông H1 phải biết và thực hiện, bà B làkhách hàng nên không thể biết và cũng không buộc phải biết quy định trên do

đó việc để ông H1 ký Hợp đồng bảo lãnh vượt quá phạm vi đại diện là lỗi của

ngân hàng hàng A nên việc hội đồng thẩm phán giải quyết theo hướng Ngân

hàng phải chịu trách nhiệm đối với bảo lãnh do ông H1 đại diện xác lập làthuyết phục

MỤC 3: HOÀN CẢNH CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN

3.1/ Trong pháp luật hiện hành, người đại diện có phải chịu trách nhiệm đối với giao dịch do mình xác lập với tư cách là người đại diện không? Vì sao? (Nhi)

8 Phạm Thị Trang (2020), “Học thuyết về đại diện Hoa Kỳ - Khái niệm và các hình thức đại diện”, Tạp chí Khoa

học Kiểm sát, số 02 - 2020, tr.67 đến tr 68.

Trang 22

3.2/ (Sỹ) Trong Quyết định số 09, theo Hội đồng thẩm phán, có cần thiết đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

- Theo Hội đồng thẩm phán thì việc đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách

là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng với quy định của pháp

luật Đoạn của bản án thể hiện ở chỗ:“Tòa án cấp giám đốc thẩm nhận định việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà T có liên quan đến trách nhiệm của ông H1 trong việc ký Thư bảo lãnh nên cần thiết đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không phù hợp với quy định của pháp luật” 9

3.3/ (Thành) Cho biết suy nghĩ của anh/chị đối với hướng giải quyết nêu trên của Hội đồng thẩm phán (về vai trò của người đại diện).

- Hướng giải quyết nêu trên của Hội đồng thẩm phán (về vai trò của người đạidiện) là hợp lý, mặc dù Chi nhánh Ngân hàng A không có tư cách pháp nhân và

chỉ là đơn vị phụ thuộc Ngân hàng A theo khoản 3 Điều 92 BLDS 2005: “Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền”

tuy ông H1 không nhận được sự ủy quyền từ Ngân hàng A để thực hiện giaodịch là vi phạm nội quy của ngân hàng và vượt quá phạm vi đại diện vì vậyNgân hàng A đã có lỗi khi để ông H1 vượt quá thẩm quyền của mình và làm bà

T không thể biết được rằng mình đã xác lập với người vượt quá phạm vi đạidiện như ông H vì thế Ngân hàng A buộc phải thực hiện nghĩa vụ thanh toántiền cho bà H trong giao dịch được xác lập

- CSPL điểm c khoản 1 Điều 143 BLDS 2015:

“1 Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:

c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình vượt quá phạm vi đại diện”

9 Trích từ Quyết định số 09/2022/KDTM-GĐT ngày 24/8/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 23

MỤC 4: QUYỀN TỰ XÁC LẬP, THỰC HIỆN GIAO DỊCH THUỘC PHẠM VI ĐẠI DIỆN

4.1/ (Nhi) Trong pháp luật nước ngoài, người được đại diện có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện không? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết?

- Theo hệ thống pháp luật của Pháp theo hướng khi có đại diện theo pháp luật thìngười được đại diện không có tự quyền xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm

vi đại diện của người đại diện theo pháp luật “ Dù có bị loại bỏ quyền hay không bị loại bỏ quyền của mình, pháp nhân không thể tự thực hiện quyền của mình”.10

4.2/ (Thảo) Trong pháp luật hiện hành, người được đại diện có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện không? Vì sao?

“Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định tương tự như Pháp theo hướng khi có đại diện theo pháp luật thì người được đại diện không có tự quyền xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luậtPháp luật Việt Nam chưa có quy định tương tự Đối với một số trường hợp như pháp nhân hay người mất năng lực hành vi dân sự, mặc dù Việt Nam chưa có quy định tương tự như Pháp đã được nêu ở trên nhưng chúng ta có kết quả gần tương tự thông qua một số quy định cụ thể Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng có thể có kết quả tương tự đối với trường hợp đại diện theo pháp luật ” 11

4.3/ (Quang) Trong Quyết định số 44, theo Tòa giám đốc thẩm, người ủy quyền có được tự xác lập giao dịch đã ủy quyền cho người khác không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

- Người ủy quyền được quyền xác lập giao dịch đã ủy quyền cho người khác

- Đoạn trong Quyết định trả lời cho câu hỏi đó nằm ở Phần Nhận định của Tòa

án:“Do cụ Nguyễn Thị T là chủ sở hữu nhà đất nêu trên nên dù cụ T có ủy quyền cho ông T2 toàn quyền sử dụng thì cũng không làm hạn chết hoặc mất đi quyền về tài sản theo quy định của pháp luật của cụ T.” 12

10 Marie Eliphe : Le pouvoir de licencier du pre’sident d’une association, JCP S 2022, 1185.

11 GS TS Đỗ Văn Đại( tháng 01/2023), “Quyền của người được đại diện trong việc xác lập, thực hiện giao dịch

thuộc phạm vi của người đại diện”, Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 01+02 (473+474),

12 Quyết định số 44/2018/KDTM-GĐT ngày 10/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Trang 24

4.4/ Cho biết suy nghĩ của anh/chị về khả năng người được đại diện tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện (phân tích đối với đại diện theo pháp luật và đối với đại diện theo ủy quyền (Phú)

II NGHIÊN CỨU

MỤC 1: HÌNH THỨC SỞ HỮU TÀI SẢN

1.1/ (Quang) Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về hình thức sở hữu tài sản.

+ BLDS 2005, ở nước ta có 6 hình thức sở hữu (Điều 200 - Điều 232) bao gồm

- Sở hữu nhà nước (Điều 200 - Điều 207)

-Sở hữu tập thể (Điều 208 - Điều 210)

-Sở hữu tư nhân (Điều 211- Điều 213)

-Sở hữu chung (Điều 214 - Điều 226)

-Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (Điều 227 - Điều 229)

Sở hữu các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp (Điều 230 - Điều 232)

-+ BLDS 2015 đã thu gọn đi rất nhiều, cố gắng loại bỏ những bất cập trên nên chỉquy định 3 hình thức sở hữu (Điều 197 - Điều 220) là

-Sở hữu toàn dân (Điều 197 - Điều 204)

-Sở hữu riêng (Điều 205, Điều 206)

-Sở hữu chung (Điều 207 - Điều 220)

1.2/ (Quân) Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định số 377 (sau đây viết gọn là Quyết định 377) cho câu trả lời?

- Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hônnhân với bà Thẩm

- Đoạn của Quyết định số 377 cho câu trả lời là: “Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào Miền Nam công tác và căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà này nên ông Lưu có quyền định đoạt đối với căn nhà nêu trên.”

1.3/ (Nhiên) Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay

sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?

Trang 25

- Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà.

- Tại đoạn thứ ba, phần Nhận thấy của Quyết định số 377/2008/DS-GĐT đã cho

câu trả lời: “Còn bà Thẩm cho rằng căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt trên diện tích 101m2 đất là tài sản chung của vợ chồng bà nên không nhất trí theo yêu cầu của bà Xê”.

1.4/ (Thành) Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?

- Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu riêng củaông Lưu

- Đoạn trong Quyết định 377 cho câu trả lời: “Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào Miền Nam công tác và căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà này nên ông Lưu có quyền định đoạt đối với căn nhà nêu trên” 13

1.5/ (Thi) Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?

- Theo em, hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý

- Vì trước năm 1975, ông Lưu và bà Thẩm đã đăng ký kết hôn tự nguyện ở PhúThọ và có 1 người con chung là bà Hương Nhưng sau đó, ông Lưu vào Namsinh sống và đăng ký kết hôn với bà Xê Trong khi bà Thẩm ở Phú Thọ mộtmình nuôi con và vẫn là vợ chồng hợp pháp với ông Lưu Nên việc ông Lưu và

bà Xê kết hôn là bất hợp pháp Nhưng trong di chúc ông Lưu để lại toàn bộ ôcănnhà cho bà Xê là thể hiện ý chí, nguyện vọng của ông Cùng với bà Thẩm đang

là vợ hợp pháp và đã già yếu, thuộc diện Điều 644 BLDS 2015 nên bà Thẩmcũng được hưởng thừa kế, bồi thường cho công sức nuôi con

1.6/ Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể

di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lý khi trả lời (Phú )

13 Trích Quyết định giám đốc thẩm số 377/2018/DS-GĐT ngày 23-12-2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 26

- Ông Lưu không thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này mà chỉ được địnhđoạt phần tài sản của ông trong tài sản chung

- Căn cứ theo khoản 1 Điều 218 BLDS 2015: “Mỗi chủ sở hữu chung theo phần

có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.” Và theo khoản 3 Điều 213 BLDS 2015 thì: “Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.” Vì vậy ông Lưu nếu có lập di chúc thì chỉ có thể

định đoạt phần tài sản của mình trong khối tài sản chung trừ trường hợp có thỏathuận riêng giữa ông với bà Thẩm theo khoản 3 Điều 213 nêu trên

đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;"

- Bà Thẩm và ông Lưu là vợ chồng hợp pháp, đăng ký kết hôn tự nguyện ở PhúThọ và có một người con chung là chị Hương Còn bà Xê( vợ hai) không phải là

vợ hợp pháp của ông Lưu Năm 1996, bà Xê và ông Lưu có đăng kí kết hôn tạiUBND phường 06 và chung sống với nhau đến 2003 Quan hệ hôn nhân giữa bà

Xê và ông Lưu là vi phạm pháp luật, bởi vì ông Lưu và bà Thẩm vẫn có quan hệhôn nhân tồn tại theo pháp luật Như vậy, bà Thẩm và chị Hương thuộc hàngthừa kế thứ nhất là đúng với quy định của pháp luật, Còn bà Xê không thuộchàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu

2.2/ (Nhiên) Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao?

- Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì bà Xê vẫn là người vợhợp pháp và thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu

- Vì căn cứ theo điểm a, khoản 4, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quyđịnh về người thừa kế theo pháp luật:

“a) Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-01-1960 - ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền

Trang 27

Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ.” 14

- Theo đó, ông Lưu sống ở miền Bắc, tuy nhiên, sau ngày giải phóng miền Nam,ông chuyển vào miền Nam sinh sống Ông Lưu và bà Xê đều sống ở miền Nam,hai người là vợ chồng vào cuối năm 1976 - thuộc trường hợp của điểm a, khoản

4, Nghị quyết số 02/HĐTP Do đó, bà Xê và ông lưu vẫn là vợ chồng hợp pháp

và bà Xê thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu

2.3/ (Thảo) Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không?

Vì sao?

- Chị Hương sẽ không được chia di sản của ông Lưu vì:

- Theo khoản 1 Điều 644 BLDS 2015 quy định về đối tượng thừa kế không phụthuộc vào nội đúng di chúc như sau:

“1.Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”

- Trong trường hợp này, không có chi tiết nào trong quyết định nói rằng chịHương không có khả năng lao động, nên chị Hương sẽ không thuộc diện đươngnhiên hưởng thừa kế mặc dù không có trên trong chúc

2.4/ (Thành) Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền

sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại? Nêu cơ sở khi trả lời.

- Theo pháp luật hiện hành, tại Điều 614 BLDS 2015:“Kể từ thời điểm mở thừa

kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”

Và tại Điều 611 BLDS 2015:

“1 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa

án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

14 Điểm a, Khoản 4, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990

Ngày đăng: 12/05/2023, 05:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w