khái niệm ngôn ngữ ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các đơn vị như là âm vị, hình vị, từ, câu và những quy tắc để kết hợp các đơn vị này tạo thành lời nói trong giao tiếp các đơn vị ngôn ngữ âm vị: là đơn vị nhỏ nhất có chức năng khu biệt nghĩa và nhận diện từ. âm vị không có nghĩa, là đơn vị để cấu tạo nên các hình vị VD: “màn” có âm thanh khác với “bàn” nhờ có sự đối lập giữa âm vị b và âm vị m do vậy chúng ta khu biệt được nghĩa của 2 từ này(bàn khác nghĩa với màn) hình vị: là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. Hình vị được chia ra làm 2 loại là hình vị thực và hình vị hư. Nghĩa của hình vị có thể mang ý nghĩa từ vựng hoặc mang ý nghĩa ngữ pháp. Hình vị là đơn vị để cấu tạo nên từ VD: từ quốc gia gồm 2 hình vị là ‘’quốc” và “gia”. Hai hình vị này đều biểu thị nghĩa “quốc” là nước và “gia” là nhà từ: là đơn vị nhỏ nhất có khả năng hoạt động độc lập. từ là đơn vị cấu tạo nên câu VD: các từ bàn, tủ, ghế, đứng, cười, nói,…. câu: là đơn vị nhỏ nhất có chức năng thông báo. Câu ít nhất phải có một từ, từ ít nhất phải có một hình vị, một hình vị ít nhất phải có một âm vị k đúng các quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ quan hệ tuyến tính(quan hệ ngang, quan hệ ngữ đoạn): + khái niệm: quan hệ tuyến tính là quan hệ nối kết các đơn vị ngôn ngữ thành chuỗi khi ngôn ngữ đi vào hoạt động +cơ sở của quan hệ tuyến tính: là tính hình tuyến. các đơn vị phải nối kết với nhau một cách lần lượt trên trục nằm ngang. Trên trục này chỉ những đơn vị đồng hạng mới trực tiếp kết hợp với nhau (quan hệ giữa âm vị với âm vị, hình vị với hình vị, từ với từ,…). Không nhất thiết những đơn vị ở gần nhau thì phải có mối quan hệ với nhau quan hệ liên tưởng: +khái niệm: quan hệ liên tưởng là quan hệ giữa các yếu tố có thể thay thế cho nhau trong một vị trí của chuỗi lời nói. Các yếu tố tham gia vào quan hệ liên tưởng phải nằm trong cùng một trường liên tưởng (cùng trường nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa) VD: nhân dân ta rất anh hùng Từ “nhân dân” ta có thể thay bằng từ “ quân đội”, “thanh niên”, “phụ nữ”,…. +quan hệ liên tưởng giúp chúng ta lựa chọn trường từ một cách chuẩn xác trong lời nói quan hệ cấp bậc: là quan hệ giữa các đơn vị ở cấp độ khác nhau của hệ thống ngôn ngữ. quan hệ cấp bậc thể hiện ở hai quan hệ: +quan hệ bao hàm: thể hiện giữa các đơn vị bậc cao với các đơn vị bậc thấp, câu bao hàm từ, từ bao hàm hình vị, hình vị bao hàm các âm vị +quan hệ thành tố: quan hệ thành tố được xét từ thấp đến cao; âm vị là thành tố cấu tạo nên hình vị, hình vị là thành tố cấu tạo nên từ, từ là thành tố cấu tạo nên câu Trong quan hệ bao hàm và quan hệ thành tố ta chỉ xét những đơn vị cùng loại 2 nguồn gốc của ngôn ngữ 2.1: một số giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của ngôn ngữ ngôn ngữ do đấng siêu nhân tạo ra: ngôn ngữ là món quà quý giá mà đức chúa trời ban tặng cho con người VD: người Ai Cập do thần Nabu tạo ra, người Ấn Độ do thần Sarawati tạo ra,… ngôn ngữ do con người tạo ra: thuyết tượng thanh: +thuyết tượng thanh manh nha từ thời cổ đại, phát triển mạnh ở thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX + tác giả của học thuyết này là Platon và Augustin +nội dung của học thuyết này là: ngôn ngữ con người có được là do bắt chước âm thanh của thế giới. con người dung cơ quan phát âm của mình mô phỏng nhưng âm thanh do sự vật phát ra như tiếng chim kêu, tiếng gió thổi, tiếng nước chảy,… VD: con mèo kêu meo meo nên mới gọi là “ mèo” + cơ sở của những quan niệm này là ở chỗ ngôn ngữ vẫn có sự tồn tại của các từ tượng thanh VD: mèo, bò, bình bịch, lom khom,…. Sai lầm của học thuyết: +chúng ta bắt chước âm thanh của thế giới bao quanh để làm gì không ai giải thích được +có vô vàn từ mới xu
Trang 1Chu Thị Sinh_spak35
Đề cương dẫn luận
1/ khái niệm ngôn ngữ các đơn vị ngôn ngữ các quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ
*khái niệm ngôn ngữ
-ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các đơn vị như là âm vị, hình vị, từ, câu và những quy tắc để kết hợp các đơn vị này tạo thành lời nói trong giao tiếp
*các đơn vị ngôn ngữ
-âm vị: là đơn vị nhỏ nhất có chức năng khu biệt nghĩa và nhận diện từ âm vị không có nghĩa, là đơn vị để cấu tạo nên các hình vị
VD: “màn” có âm thanh khác với “bàn” nhờ có sự đối lập giữa âm vị /b/ và âm
vị /m/ do vậy chúng ta khu biệt được nghĩa của 2 từ này(bàn khác nghĩa với màn) -hình vị: là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Hình vị được chia ra làm 2 loại là hình vị thực và hình vị hư Nghĩa của hình vị có thể mang ý nghĩa từ vựng hoặc mang ý nghĩa ngữ pháp Hình vị là đơn vị để cấu tạo nên từ
VD: từ quốc gia gồm 2 hình vị là ‘’quốc” và “gia” Hai hình vị này đều biểu thị nghĩa “quốc” là nước và “gia” là nhà
-từ: là đơn vị nhỏ nhất có khả năng hoạt động độc lập từ là đơn vị cấu tạo nên câu VD: các từ bàn, tủ, ghế, đứng, cười, nói,…
-câu: là đơn vị nhỏ nhất có chức năng thông báo Câu ít nhất phải có một từ, từ ít nhất phải có một hình vị, một hình vị ít nhất phải có một âm vị k đúng
*các quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ
-quan hệ tuyến tính(quan hệ ngang, quan hệ ngữ đoạn):
+ khái niệm: quan hệ tuyến tính là quan hệ nối kết các đơn vị ngôn ngữ thành chuỗi khi ngôn ngữ đi vào hoạt động
Trang 2+cơ sở của quan hệ tuyến tính: là tính hình tuyến các đơn vị phải nối kết với nhau một cách lần lượt trên trục nằm ngang Trên trục này chỉ những đơn vị đồng hạng mới trực tiếp kết hợp với nhau (quan hệ giữa âm vị với âm vị, hình vị với hình vị,
từ với từ,…) Không nhất thiết những đơn vị ở gần nhau thì phải có mối quan hệ với nhau
-quan hệ liên tưởng:
+khái niệm: quan hệ liên tưởng là quan hệ giữa các yếu tố có thể thay thế cho nhau trong một vị trí của chuỗi lời nói Các yếu tố tham gia vào quan hệ liên tưởng phải nằm trong cùng một trường liên tưởng (cùng trường nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa) VD: nhân dân ta rất anh hùng
Từ “nhân dân” ta có thể thay bằng từ “ quân đội”, “thanh niên”, “phụ nữ”,…
+quan hệ liên tưởng giúp chúng ta lựa chọn trường từ một cách chuẩn xác trong lời nói
-quan hệ cấp bậc: là quan hệ giữa các đơn vị ở cấp độ khác nhau của hệ thống
ngôn ngữ quan hệ cấp bậc thể hiện ở hai quan hệ:
+quan hệ bao hàm: thể hiện giữa các đơn vị bậc cao với các đơn vị bậc thấp, câu bao hàm từ, từ bao hàm hình vị, hình vị bao hàm các âm vị
+quan hệ thành tố: quan hệ thành tố được xét từ thấp đến cao; âm vị là thành tố cấu tạo nên hình vị, hình vị là thành tố cấu tạo nên từ, từ là thành tố cấu tạo nên câu Trong quan hệ bao hàm và quan hệ thành tố ta chỉ xét những đơn vị cùng loại
2/ nguồn gốc của ngôn ngữ
2.1: một số giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của ngôn ngữ
*ngôn ngữ do đấng siêu nhân tạo ra: ngôn ngữ là món quà quý giá mà đức chúa
trời ban tặng cho con người
VD: người Ai Cập do thần Nabu tạo ra, người Ấn Độ do thần Sarawati tạo ra,…
*ngôn ngữ do con người tạo ra:
- thuyết tượng thanh:
Trang 3+thuyết tượng thanh manh nha từ thời cổ đại, phát triển mạnh ở thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX
+ tác giả của học thuyết này là Platon và Augustin
+nội dung của học thuyết này là: ngôn ngữ con người có được là do bắt chước âm thanh của thế giới con người dung cơ quan phát âm của mình mô phỏng nhưng âm thanh do sự vật phát ra như tiếng chim kêu, tiếng gió thổi, tiếng nước chảy,… VD: con mèo kêu meo meo nên mới gọi là “ mèo”
+ cơ sở của những quan niệm này là ở chỗ ngôn ngữ vẫn có sự tồn tại của các từ tượng thanh
VD: mèo, bò, bình bịch, lom khom,…
Sai lầm của học thuyết:
+chúng ta bắt chước âm thanh của thế giới bao quanh để làm gì không ai giải thích được
+có vô vàn từ mới xuất hiện mà chúng ta gọi tên không dựa trên âm thanh của nó
-thuyết cảm thán:
+ thuyết cảm thán phát triển mạnh vào thế kỉ XVIII đến thế kỉ XX
+người chủ trương của học thuyết này là Rut sô, Hum bôn, stangdan
+nội dung của học thuyết: ngôn ngữ có được là do bắt nguồn từ cảm xúc của con người ( bắt nguồn từ sự âm thanh của buồn, vui, tủi,…)
+ cơ sở của thuyết này là các ngôn ngữ vẫn có sự tồn tại của các thán từ hay còn gọi là tiểu từ tình thái biểu lộ cảm xúc của con người
VD: các từ ối, ái, chao ôi,…
Sai lầm của học thuyết:
+ ở động vật bậc cao cụ thể là con người có một số âm thanh không thể coi là ngôn ngữ được
Trang 4+ động vật hoặc con người biết biểu lộ cảm xúc nhưng đó không phải là ngôn ngữ
-thuyết tiếng kêu trong lao động:
+thuyết này xuất hiện vào thế kỉ XIX trong các công trình của các nhà duy vật như Nuare, Biukher
+ theo thuyết này ngôn ngữ bắt nguồn từ những tiếng kêu gọi nhau của người nguyên thủy muốn người khác đến giúp mình trong lao động hoặc đó là âm thanh phát ra khi lao động
+lý thuyết này cũng có cơ sở thực tế trong đời sống tập thể và thực tế lao động
Sai lầm của học thuyết:
+ có rất nhiều loài động vật sống thành bầy đàn nhưng mãi mãi không có ngôn ngữ
+ có một số loài động vật phát ra âm thanh trong khi lao động nhưng không được coi là ngôn ngữ
-thuyết khế ước xã hội:
+thuyết này phát triển mạnh ở thế kỉ XVIII
+ thuyết này bắt nguồn từ một số ý kiến của nhà triết học cổ đại Đêmôcrit và được Adam Xmit và Rutxo phát triển
+ nội dung của học thuyết: Theo thuyết này thì ngôn ngữ là do con người thoả thuận với nhau mà ra Adam Smith nó khế ước xã hội là khả năng đầu tiên làm cho ngôn ngữ hình thành Russo lại cho rằng, loài người trải qua hai giai đoạn: giai đoạn đầu là giai đoạn tự nhiên, con người là một bộ phận của tự nhiên, nguồn gốc của ngôn ngữ là cảm xúc (xem phần trên) Giai đoạn sau là giai đoạn văn minh, ngôn ngữ là sản phẩm của khế ước xã hội
Sai lầm của học thuyết: phải có ngôn ngữ thì mới có khế ước xã hội được
-thuyết ngôn ngữ cử chỉ:
+ thuyết này thịnh hành vào thế kỉ XIX và đàu thế kỉ XX
Trang 5+ tác giả: Marr, Vunto
+nội dung:
• khi chưa có ngôn ngữ con người giao tiếp với nhau bằng cử chỉ điệu bộ về nguyên tắc cử chỉ điệu bộ cũng giống như âm thanh đều là các động tác biểu hiện
• ngôn ngữ ban đầu là do các đạo sĩ dùng để giao tiếp với vật tổ của mình
sai lầm:
+con người sinh ra không phải ai cũng có thể trở thành đạo sĩ mà ngôn ngữ có thể sinh ra trong khi học được
+cử chỉ, điệu bộ lợi thế nhưng ngôn ngữ lợi thế hơn nhiều và hai cái này không thể kết hợp lại với nhau được, cử chỉ điệu bộ không thể thay thế được ngôn ngữ bởi vì ngôn ngữ khác cử chỉ điệu bộ
2.2: vấn đề nguồn gốc của ngôn ngữ
* điều kiện nảy sinh ra ngôn ngữ:
Tất cả những giả thuyết trên đây đều không giải thích được ngôn ngữ đã nảy sinh trong điều kiện nào Người giải thích một cách khoa học, sâu sắc cái điều kiện tạo ra ngôn ngữ của loài người chính là Ăng ghen Theo Ăng ghen thì lao động chính là điều kiện để nảy sinh ra ngôn ngữ
Nhờ lao động bằng công cụ mà tư duy của con người đã phát triển Ăng ghen viết: dần dần với sự phát triển của bàn tay và với quá trình lao động, con người bắt đầu thống trị giới tự nhiên và sự thống trị đó, cứ mỗi lần tiến lên một bước,
là nó mở rộng thêm tầm mắt của con người trong các đối tượng tự nhiên, con người luôn luôn phát hiện ra được những đặc tính mới mà từ trước đến nay chưa từng đc biết đến
Chứng minh lao động là điều kiện để nảy sinh ngôn ngữ:
Rõ ràng, lao động quyết định sự ra đời của ngôn ngữ Một mặt, lao động làm cho người ta cần thiết phải có ngôn ngữ để nói với nhau, mặt khác, lao động
Trang 6làm cho người ta cần phải có ngôn ngữ để tiến hành tư duy, hình thành tư
tưởng, lấy nó làm nội dung giao tiếp với nhau
Khi chưa có ngôn ngữ người nguyên thủy lúc đầu sống trên cây về sau rừng bị tàn phá họ bắt buộc phải xuống đất ở.ở dưới đất có rất nhiều nguy hiểm và để tránh thú dữ con người buộc phải tập đứng bằng hai chân điều này làm cho đôi tay của họ đc giải phóng.nhờ có đôi tay đc giải phóng, con người có thể chế tạo
ra công cụ lao động nhờ có công cụ lao động mà lao động của con người trở nên lao động có sáng tạo khác hẳn với lao động bản năng của con vật nhờ có lao động mà tư duy của con người đã phát triển họ chuyển từ ăn sống sang ăn chin, các bộ phận trong cơ thể cũng phát triển thêm một bước nữa khi con người có nền tảng cấu âm, có bộ não phát triển dẫn đến họ nảy sinh nhu cầu giao tiếp và truyền lại cho con cháu của họ nhu cầu giao tiếp ấy của con người cũng lại do lao động quyết định Sự phát triển của lao động đã tạo ra rất nhiều trường hợp để cho con người giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác với nhau và làm cho mỗi cá nhân ngày càng ý thức rõ rệt hơn đối với lợi ích của sự hợp tác ấy những con người đang đc hình thành đó đã đạt đến mức đối với nhau họ có những điều cần phải nói mới được
kết luận:
+ lao động giúp hoàn thiện cơ quan phát âm của con người
+nhờ lao động bằng công cụ mà năng lực tư duy của con người phát triển
+ ngôn ngữ nảy sinh là do sự cần thiết phải giao tiếp, mà nhu cầu giao tiếp này lại do lao động quyết định
*tiền thân của ngôn ngữ loài người: bỏ
Mệnh đề ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động thực ra chỉ mới khẳng định điều kiện nảy sinh ngôn ngữ chứ chưa nói rõ ngôn ngữ đã nảy sinh từ những cái gì Ngôn ngữ với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai phải bắt nguồn từ hệ thống tín hiệu thứ nhất ở con người hệ thống tín hiệu thứ nhất là tất cả những ấn tượng, cmar giác và biểu tượng thu đc từ bối cảnh tự nhiên bên ngoài thông qua những phản xạ, kích thích ở dạng mọi cảm giác như thính giác, thị giác, xúc giác,…hệ thống tín hiệu thứ nhất tiến hành giao tiếp trong phạm vi tư duy trừu tượng, một
Trang 7mặt nó lấy hình tượng mà bộ máy cảm nhận được làm cái biểu hiện còn cái đc biểu hiện là tư duy trừu tượng
Nhưng không phải ngôn ngữ bắt nguồn từ tất cả hệ thống tín hiệu thứ nhất vì ngôn ngữ lấy ngữ âm làm vật kích thích vật chất, lấy khái niệm làm nội dung chính của những vật kích thích ấy cho nên chit bộ phận hệ thống tín hiệu thứ nhất nào có tác dụng giao tiếp lấy âm thanh làm vật kích thích mới trở thành ngôn ngữ
VD: 2 tiếng hú của người nguyên thủy
- tiếng hú khi một con phát hiện ra thức ăn – đây là ngôn ngữ
- tiếng hú khi họ vui, cười, đùa khi có thức ăn
như vậy có thể một phần của sự bắt chước âm thanh là nguồn gốc của một số thành phần ngôn ngữ nhưng phải là âm thanh mà con người mô phỏng âm thanh do sự vật phát ra để làm tín hiệu giao tiếp
những bộ phận tiến kêu trong lao động, tiếng kêu cảm thán có tác dụng giao tiếp với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ nhất, đề có thể trở thành những bộ phận cấu thành của ngôn ngữ sau này
3/ bản chất xã hội của ngôn ngữ
*những giả thuyết khác nhau về bản chất của ngôn ngữ bỏ
Do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa của Đacuyn, một số người cho ngôn ngữ cũng giống như một cơ thể sống, một động vật hoặc một thực vật ngôn ngữ hoạt động
và phát triển theo quy luật của tự nhiên nghĩa là tất cả các ngôn ngữ ở mọi nơi và mọi lúc đều phải trải qua các giai đoạn: nảy sinh, trưởng thành, hưng thịnh, suy tàn
và diệt vong
Một số người khác lại đồng nhất ngôn ngữ với bản năng sinh vật của con người nghĩa là họ cho hoạt động nói năng cũng có tính chất bản năng như các hoạt động
ăn, khóc, cười, chạy, nhảy,… của con người
Một biểu hiện nữa trong việc giải thích bản chất tự nhiên của ngôn ngữ là đồng nhất ngôn ngữ với những đặc trưng về chủng tộc những đặc trưng chủng tộc như màu da, tỉ lệ thân thể,… có tính chất di truyền
Trang 8Những người bảo vệ quan điểm sinh vật học đối với ngôn ngữ còn đồng nhất ngôn ngữ với tiếng kêu của động vật trong khi phê phán quan điểm sinh vật học đối với ngôn ngữ, một số nhà bác học vẫn không thừa nhận bản chất XH của ngôn ngữ mà lại cho ngôn ngữ là hiện tượng cá nhân
tất cả các giả thuyết trên đều sai lầm ngôn ngữ là một hiện tượng XH
*ngôn ngữ là một hiện tượng XH
Ngôn ngữ không thuộc các hiện tượng tự nhiên, cũng không phải là hiện tượng cá nhân, vậy thì nó phải là hiện tượng XH
C.Mác đã viết: ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn, ngôn ngữ cũng tồn tại cho cả những người khác nữa, như vậy là cũng tồn tại lần đầu tiên cho bản thân tôi nữa;
và, cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ sinh ra là do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khác
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, bản chất XH của ngôn ngữ thể hiện ở chỗ: nó phục vụ XH với tư cách là phương tiện giao tiếp; nó thể hiện ý thức XH; sự tồn tại
và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại và phát triển của XH
Khẳng định ngôn ngữ là một hiện tượng XH cũng có nghĩa là thừa nhận ngôn ngữ tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan của mình, không phụ thuộc vào ý chí, nguyện vọng của mỗi cá nhân con người
Ngôn ngữ luôn luôn kế thừa cái cũ và phát triển cái mới, không bao giờ bị hủy diệt hoàn toàn Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ luôn luôn tiếp thu các yếu tố mới (từ mới, nghĩa mới) để phong phú và hoàn thiện thêm
*ngôn ngữ là một hiện tượng XH đặc biệt
Khẳng định ngôn ngữ là một hiện tượng XH, chúng ta đồng thời phải vạch rõ vị trí của ngôn ngữ giữa các hiện tượng XH khác
Trong các hiện tượng XH, chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ hiện tượng XH bao gồm có 2 loại đó là cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Chứng minh ngôn ngữ là một hiện tượng XH đặc biệt:
-ngôn ngữ không thuộc cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Trang 9Mỗi kiến trúc thượng tầng đều là sản phẩm của một cơ sở hạ tầng trong khi đó ngôn ngữ không phải do cơ sở hạ tầng nào đẻ ra mà là phương tiện giao tiếp của tập thể XH, được hình thành và bảo vệ qua các thời đại ở thời phong kiến cơ sở hạ tầng là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, còn kiến trúc thượng tầng là chế độ người bóc lột người đến thời hiện đại cơ sở hạ tầng là chế độ bình đẳng về
tư liệu sản xuất, còn kiến trúc thượng tầng là bình đẳng giữa con người với con người khi cơ sở hạ tầng cũ bị thủ tiêu thì kiến trúc thượng tầng của nó cũng sụp đổ theo và thay thế vào đó là một kiến trúc thượng tầng mới tương xứng với cơ sở hạ tầng mới ngôn ngữ biến đổi liên tục, không quan tâm đến tình trạng của cơ sở hạ tầng, nó không tạo ra một ngôn ngữ mới mà chỉ hoàn thiện cái đã có mà thôi
-kiến trúc thượng tầng luôn luôn phục vụ cho một giai cấp nào đó còn ngôn ngữ không có tính giai cấp
Ngôn ngữ ra đời cùng với XH loài người, nhưng XH loài người không phải ngay
từ đầu đã phân chia thành các giai cấp khi chưa có giai cấp thì ngôn ngữ đã có rồi khi đã có giai cấp rồi tất cả các mặt trong XH đều đối lập chỉ có kinh tế là không đối lập đấu tranh giai cấp không dẫn đến phân liệt XH, các giai cấp đối địch vẫn phải liên hệ về kinh tế với nhau, giai cấp tư sản vẫn phải dựa vào giai cấp vô sản để
mà sống, giai cấp vô sản cũng phải bán mình cho giai cấp tư sản để kiếm miếng ăn Như vậy, nếu không có ngôn ngữ chung cho các giai cấp thì XH sẽ ngừng sản xuất,
sẽ tan rã và không tồn tại với tư cách là một XH nữa
-cơ sở hạ tầng phục vụ XH về mặt kinh tế,kiến trúc thượng tầng phục vụ XH bằng những ý niệm vè chính trị, pháp quyền và nhiều mặt khác nữa, và tạo cho XH những thiết chế tương đương về chính trị, pháp quyền và những mặt khác nữa còn ngôn ngữ phục vụ XH với tư cách là một phương tiện giao tiếp giúp người ta hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau hợp tác trên mọi lĩnh vực cả trên lĩnh vực sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả trên lĩnh vực chính trị lẫn văn hóa, cả trên lĩnh vực sinh hoạt
XH lẫn sinh hoạt thường ngày
4/ bản chất tín hiệu của ngôn ngữ
*các khái niệm:
-hệ thống: là một đối tượng toàn vẹn bao gồm nhiều yếu tố và những mối quan hệ liên hệ với nhau giữa các yếu tố
Trang 10-kết cấu (cấu trúc) : là tổng hòa các mối quan hệ liên hệ giữa các yếu tố trong một
hệ thống
-tín hiệu: là một thuộc tính vật chất tác động vào giác quan của con người làm chúng ta nghĩ đến một cái gì đó nằm ngoài thuộc tính vật chất
VD: cái đèn đỏ trong bảng đèn tín hiệu giao thông đường bộ là một tín hiệu bởi vì khi nó hoạt động (sáng lên) người ta thấy nó và suy diễn tới sự cấm đoán không được đi qua chỗ nào đó
*ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu:
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu nó khác với những hệ thống vật chất khác không phải là tín hiệu chẳng hạn kết cấu của một cái cây, kết cấu của một cơ thể sống, một vật thể đá,….bản chất tín hiệu của ngôn ngữ thể hiện ở những điểm sau:
-Các yếu tố của những hệ thống vật chất không phải là tín hiệu có giá trị đối với hệ thống vì có những thuộc tính vật thể tự nhiên của chúng Hệ thống tín hiệu cũng
là hệ thống vật chất nhưng các yếu tố của nó có giá trị đối với hệ thống không phải
do những thuộc tính vật thể tự nhiên của chúng mà do những thuộc tính được
người ta trao cho để chỉ ra những khái niệm hay tư tưởng nào đó.
-tính 2 mặt của tín hiệu: Mỗi tín hiệu là cái tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện mà thành Cái biểu hiện trong ngôn ngữ là hình thức ngữ âm, còn cái được biểu hiện là khái niệm hay đối tượng biểu thị
-tính võ đoán của tín hiệu: mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là không có lý do gì có thể giải thích được đó là sự quy ước của cộng đồng
VD: khái niệm người đàn ông cùng mẹ sinh ra và sinh ra trước mình trong tiếng việt được biểu thị bằng âm [anh] nhưng trong tiếng Nga lại được biểu thị bằng âm [brat] Khái niệm ấy được biểu thị bằng [anh] hay [brat] hoàn toàn là do sự quy ước của cộng đồng chứ không thể giải thích lý do
-giá trị khu biệt của tín hiệu: trong một hệ thống tín hiệu, cái quan trọng là sự khu biệt đặc điểm này đủ để phân biệt nó với các tín hiệu vùng bên cạnh
VD: trong hệ thống đèn giao thông có 3 yếu tố: màu đỏ - chỉ sự cấm đi; màu vàng – chuẩn bị; màu xanh – có thể đi Thực ra màu đỏ, màu vàng, màu xanh tự nó