Các hình thức biểu hiện của tổ chức lãnh thổ du lịch Hệ thống lãnh thổ du lịch Hệ thống lãnh thổ du lịch là hệ thống xã hội được tạo thành bởi các yếu tố có quan hệ qua lại với nhau mộ
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH
*************
BÀI GIẢNG MÔN HỌC
TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH
Trang 2Đà Nẵng, năm 2010ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾTMôn học: TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH
1.1.1.3 Các hình thức biểu hiện của tổ chức lãnh thổ du lịch
1.1.2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn học
1.1.2.1 Đối tượng nghiên cứu môn học
1.1.2.2 Phương pháp nghiên cứu môn học
Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống
Phương pháp nghiên cứu thực địa
Phương pháp bản đồ
Phương pháp phân tích toán học và mô hình hoá
Phương pháp xác định ranh giới vùng du lịch
Phương pháp cân đối
1.2.2 Cấu trúc phân hệ trong hệ thống lãnh thổ du lịch
1.2.3 Mối quan hệ giữa các phân hệ trong hệ thống lãnh thổ du lịch
1.3 HỆ THỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ KẾT CẤU HẠ TẦNG
1.3.1 Dân cư, dân tộc
Trang 31.3.2 Điều kiện kinh tế -xã hội
1.4.3 Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch
1.4 TÁC ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.4.1 Tác động đến phát triển kinh tế
1.4.2 Tác động đến chất lượng cuộc sống
1.4.3 Tác động đến văn hoá xã hội
CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC PHÂN HỆT CỦA HỆ THỐNG LÃNH THỔ DU LỊCH
2.1 PHÂN HỆ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
2.1.1 Khái niệm
2.1.2 Phân loại tài nguyên du lịch
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
2.1.221 Tài nguyên du lịch nhân văn
2.1.3 Vai trò của tài nguyên du lịch
2.1.4 Đặc điểm của tài nguyên du lịch
2.1.5 Điều tra và đánh giá tài nguyên du lịch
2.1.5.1 Điều tra tài nguyên
2 1.5.2 Đánh giá tài nguyên
2.1.6 Đánh giá tác động của tổ chức lãnh thổ du lịch đến tài nguyên và môi trường
2.1.6.1 Các tác động lên tài nguyên và môi trường tự nhiên
a. Tác động lên tài nguyên địa hình, địa chất và đất đai
b. Tác động lên tài nguyên môi trường nước
c. Tác động đến tài nguyên và môi trường không khí
d. Tác động lên tài nguyên sinh vật
2.1.6.2 Các tác động lên tài nguyên du lịch nhân văn
a. Tác động lên các di tích lịch sử, di tích văn hoá
b. Tác động đến nghề và làng nghề
c. Tác động đến văn hoá nghệ thuật
Trang 4d. Tác động đến phong tục tập quán và lễ hội
e. Tác động đến cảnh quan, kiến trúc mỹ thuật bản địa
2.2 PHÂN HỆ CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT DU LỊCH
2.2.1 Các cơ sở lưu trú, ăn uống
2.2.2 Hiện trạng công tác vận chuyển khách du lịch
2.2.3 Các cơ sở vui chơi giải trí
2.4 PHÂN HỆ CÁN BỘ NHÂN VIÊN PHỤC VỤ
2.5 PHÂN HỆ ĐIỀU HÀNH QUẢN LÝ DU LỊCH
2.5.1 Mô hình tổ chức quản lý và cán bộ quản lý
2.5.2 Nội dung quản lý
3.1.2 Những đặc trưng cơ bản của vùng du lịch và các loại vùng du lịch
3.2 Ý NGHĨA, NHIỆM VỤ VÀ NGUYÊN TẮC PHÂN VÙNG DU LỊCH
3.2.1 Ý nghĩa của phân vùng du lịch
3.2.2 Nhiệm vụ của phân vùng du lịch
3.2.3 Nguyên tắc của phân vùng du lịch
3.2.3.1 Nguyên tắc hiệu quả tổng hợp
3.2.3.2 Nguyên tắc thống nhất
3.2.3.3 Nguyên tắc viễn cảnh lịch sử
3.2.3.4 Nguyên tắc trung tâm
Trang 53.4 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU TRONG PHÂN VÙNG DU LỊCH
3.4.1 Số lượng, chất lượng tài nguyên và sự kết hợp của chúng theo lãnh thổ3.4 2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
3.4.3 Số lượng, chất lượng và sự phân bố nguồn nhân lực du lịch
3.4.4 Trung tâm tạo vùng
3.5 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH PHÂN VÙNG DU LỊCH
3.5.1 Xác định sự phân hóa theo nguồn tài nguyên
3.5.2 Xác định sự phân hóa theo cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
du lịch
3.5.3 Xác định các trung tâm tạo vùng
3.5.4 Xác định ranh giới của vùng
CHƯƠNG 4 : TỔ CHỨC KHÔNG GIAN DU LỊCH VÀ BẢN ĐỒ DU LỊCH 4.1 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA, YÊU CẦU CHUNG VÀ CÁC BƯỚC XÂY DỰNG BẢN ĐỒ
4.1.1 Mục đích, ý nghĩa và những yêu cầu chung
Trang 64.3.2.1.Bản đồ đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên
4.3.2.2 Bản đồ đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn
4.3.2.3 Bản đồ đánh giá cơ sở hạ tầng
4.3.2.4 Nhóm bản đồ định hướng phát triển và khai thác không gian lãnh thổ
CHƯƠNG 5 : CÁC VÙNG DU LỊCH VIỆT NAM
5.1 VÙNG DU LỊCH TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Trang 8Nói một cách đơn giản thì tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là một hệ thốngliên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ du lịch liên quandựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (kinh tế, xã hội, môi trường)cao nhất
Là một dạng của tổ chức lãnh thổ xã hội, tổ chức lãnh thổ du lịch mang tínhchất lịch sử Cùng với sự phát triển của xã hội, trước hết của sức sản xuất xã hội, đãdần dần xuất hiện các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch Việc phát triển du lịch theokhông gian lãnh thổ của một địa phương hay một quốc gia căn cứ trên các cơ sở sau:việc khảo sát kiểm kê đánh giá các nguồn lực phát triển du lịch thực trạng kinh doanh
du lịch; xu hướng phát triển du lịch trong nước và quốc tê; dự báo về nhu cầu pháttriển du lịch (như là khách du lịch; cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; nguồn nhân lực;các dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch; vốn đầu tư); quy hoạch phát triển kinh tế- xãhội; hướng phát triển không gian kinh tế- xã hội của địa phương, quốc gia và khu vực
1.1.1.2 Vai trò của tổ chức lãnh thổ du lịch
Việc nghiên cứu của tổ chức lãnh thổ du lịch và xây dựng các hình thức tổ chứctheo không gian hợp lý giúp cho hoạt động du lịch có điều kiện để sử dụng hợp lý và khai thác có hiệu quả các nguồn lực vốn có của cả nước nói chùng và từng địa phương
Trang 9nói riêng Sự hình thành các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch phù hợp chính là chìa khóa để sử dụng hợp lý và hiệu quả hơn các nguồn du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch- điều kiện cần thiết để phát triển du lịch
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tạo điều kiện đẩy mạnh chuyên môn hóa
du lịch Khi nền sản xuất đã phát triển, nhu cầu du lịch càng cao thì sự chuyên môn hóa du lịch càng sâu sắc, thông thường ngành du lịch có 4 hướng chuyên môn hóa sau:
Chuyên môn hóa theo loại hình dịch vụ
Chuyên môn hóa theo du lịch
Chuyên môn hóa theo giai đoạn của quá trình du lịch
Chuyên môn hóa theo các công đoạn sản xuất dịch vụ du lịch
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch nói chùng và vạch ra các tuyến, điểm du lịch trên một đơn vị lãnh thổ nói riêng, góp phần quan trọng trong việc tạo ra những sản phẩm du lịch đặc sắc có khả năng thu hút khách du lịch, nhằm tăng khả năng cạnhtranh Tài nguyên du lịch chỉ được khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch đáp ứng yêu cầu khi có sự tổ chức lãnh thổ du lịch và việc xây dựng các tuyến, điểm du lịch hợp lý
Việc tổ chức lãnh thổ du lịch tốt không những góp phần làm ra lợi ích, làm thayđổi bộ mặt kinh tế của mỗi vùng và cộng đồng, mà còn thúc đẩy vấn đề kiểm soát môitrường, bảo tồn di sản văn hóa và thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở cả những nơi không phong phú tài nguyên Tổ chức lãnh thổ du lịch cũng tạo sự thúc đẩy con người và cácquốc gia trên thế giới xích lại gần nhau, làm cho du lịch có tính trao đổi xuyên văn hóa
Tuy nhiên, tổ chức lãnh thổ du lịch không có tính thống nhất và khoa học sẽ gây ra nhiều thiệt hại như làm mất đi những lợi ich kinh tế tiềm năng, suy giảm môi trường, làm mất đi sự thống nhất bản sắc văn hóa
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch nói chung và vạch ra các tuyến điểm du lịch trên một đơn vị lãnh thổ nói riêng, góp phần quan trọng trong việc tạo ra những sản phẩm du lịch đặc sắc có khả năng thu hút khách du lịch, nhằm tăng khả năng cạnhtranh Tài nguyên du lịch chỉ được khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm tạo ra
Trang 10những sản phẩm du lịch đáp ứng yêu cầu khi có sự tổ chức lãnh thổ du lịch và việc xây dựng các tuyến, điểm du lịch hợp lý.
Vì vậy, để đạt được lợi ích du lịch và hạn chế tối đa những vấn đề nảy sinh, việc tổ chức và quảng lý có hiệu quả du lịch là rất cần thiết
1.1.1.3 Các hình thức biểu hiện của tổ chức lãnh thổ du lịch
Hệ thống lãnh thổ du lịch
Hệ thống lãnh thổ du lịch là hệ thống xã hội được tạo thành bởi các yếu tố có quan hệ qua lại với nhau một cách mật thiết như: nhóm người du lịch, các tổng thể tự nhiên – văn hoá - lịch sử, các công trình kỹ thuật, đội ngũ cán bộ công nhân viên và
bộ phận tổ chức quản lý
Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch
Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch là sự kết hợp giữa các cơ sở du lịch với các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng được liên kết với nhau bằng các mối liên hệ kinh tế, sản xuất và cùng sử dụng chung vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và kinh tế của lãnh thổ
Vùng du lịch
Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về vùng du lịch Có thể coi quan niệm của I.I.Pirôgiơnic (1985) là quan niệm tương đối đầy đủ hơn cả Theo ông: Vùng
du lịch là hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội Đó là tập hợp các hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có liên hệ với nhau và các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng, nhằm đảm bảo cho hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch với việc có chung chuyên môn hoá và các điều kiện kinh tế - xã hội để phát triển du lịch
Trên quan điểm hệ thống, vùng du lịch được tạo nên bởi hai yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau: hệ thống lãnh thổ du lịch và không gian kinh tế - xã hội xung quanh nhằm đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động có hiệu quả
Như vậy, hệ thống lãnh thổ du lịch là hạt nhân tạo nên vùng du lịch Từ hạt nhân này tạo điều kiện cho sự xuất hiện và phát triển của vùng trong môi trường xungquanh Vì vậy, hệ thống lãnh thổ du lịch không phải là toàn bộ lãnh thổ của vùng, chỉ
là nơi tập trung nguồn tài nguyên du lịch và các công trình kỹ thuật… Còn vùng du
Trang 11lịch có không gian rộng lớn hơn nhiều, bao gồm cả những khu vực sản xuất hàng hoá, vật liệu, năng lượng.
1.1.2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn học
1.1.2.1 Đối tượng nghiên cứu môn học
Môn học tổ chức lãnh thổ du lịch nghiên cứu hệ thống nghỉ ngơi du lịch, pháthiện quy luật hình thành, phát triển và phân bố của nó thuộc mọi kiểu, mọi cấp, dựbáo và nêu lên những biện pháp để hệ thống ấy hoạt động một cách tối ưu Từ đó mônhọc này có những nhiệm vụ cụ thể sau:
Nghiên cứu tổng hợp mọi loại tài nguyên du lịch:
Sự kết hợp của chúng theo lãnh thổ và xác định phương hướng cơ bản cho việckhai thác các loại tài nguyên ấy Tài nguyên có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển
du lịch Khi nghiên cứu chúng, ngoài việc xem xét một cách riêng lẻ (theo từng loại),cần phải tìm hiểu sự kết hợp tài nguyên theo lãnh thổ Sau đó là việc đánh giá tàinguyên trên những quan điểm nhất định (kinh tế, sinh thái, xã hội…) Trên cơ sởđánh giá từng loại và sự kết hợp tài nguyên theo lãnh thổ mới có căn cứ xác địnhphương hướng khai thác
Nghiên cứu nhu cầu du lịch
Phụ thuộc vào đặc điểm xã hội- nhân khẩu của dân cư và đưa ra các chỉ tiêuphân hóa theo lãnh thổ về cấu trúc các xí nghiệp và cơ cấu hạ tầng phục vụ du lịch.Căn cứ vào nhu cầu cùng với nguồn tài nguyên vốn có của lãnh thổ, người ta mới tínhtoán xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật và cơ cấu hạ tầng thích hợp
Xây dựng cơ cấu lãnh thổ tối ưu của vùng du lịch
• Cấu trúc sản xuất- kỷ thuật của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch phùhợp với nhu cầu và tài nguyên
• Các mối liên hệ giữa hệ thống nghỉ ngơi du lịch và các hệ thống khác
• Hệ thống tổ chức điều khiển được xây dựng trên cơ sở phân vùng dulịch phản ánh những khác biệt theo lãnh thổ về nhu cầu, tài nguyên vàphân công lao động trong lĩnh vực nghỉ ngơi du lịch
1.1.2.2 Phương pháp nghiên cứu môn học
Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống
Trang 12Quan điểm này được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu cũng nhưviệc lập và thực hiện các dự án tổ chức lãnh thổ du lịch do đối tượng nghiên cứu vàđược quy hoạch là hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc các cấp, các kiểu khác nhau (cáckhu vực, các quốc gia, các địa phương hay các điểm du lịch, các khu du lịch, các trungtâm du lịch, các tiểu vùng, hay á vùng du lịch, các vùng du lịch) Các hệ thống lãnhthổ du lịch thường tồn tại và phát triển trong mối quan hệ qua lại nội tại của từng phân
hệ, giữa các phân hệ du lịch trong một hệ thống với nhau và với môi trường xungquanh, giữa các hệ thống lãnh thổ du lịch cùng cấp và khác cấp, giữa hệ thống lãnhthổ du lịch và hệ thống kinh tế - xã hội
Khi tiến hành tổ chức lãnh thổ ở các cấp khác nhau cần phải đặt chúng vào hệthống lãnh thổ du lịch nhất định, bảo đảm tính cấp độ, tính thống nhất; cần xem xét hệthống lãnh thổ du lịch được hình thành phát triển từ những phân hệ nào, nghiên cứumối quan hệ qua lại biện chứng giữa các phân hệ và với môi trường bên ngoài Đồngthời, cần nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống lãnh thổ với nhau và vớicác hệ thống kinh tế- xã hội, cần tôn trọng tính toàn vẹn về chức năng và lãnh thổ của
hệ thống lãnh thổ du lịch
Khoa học tổ chức lãnh thổ du lịch mang đặc thù của ngành khoa học du lịch vàkinh tế du lịch Khoa học du lịch có mối quan hệ với nhiều ngành khoa học có liênquan Vì vậy, khi nghiên cứu những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn xây dựng vàthực hiện tổ chức lãnh thổ du lịch cần phải xem xét, vận dụng những tri thức của khoahọc quy hoạch, của khoa học du lịch và các ngành khoa học có liên quan
Khi nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch cũng như thực tiễn tổ chức lãnh thổ dulịch, cần sắp xếp các vấn đề nghiên cứu, hoặc giải quyết theo trật tự có hệ thống,logic, khoa học, phân tích chúng trong mối quan hệ biện chứng theo các quy luậtkhách quan Các vấn đề được nghiên cứu và giải quyết trước, phải là cơ sở khoa học,thực tiễn cho những vấn đề nghiên cứu và giải quyết sau
Khi xem xét, nghiên cứu, phân tích giải quyết các vấn đề về quy hoạch du lịchthường từ định lượng tới định tính, từ thực tế đến lý luận, dùng lý luận để soi sángthực tiễn
Phương pháp nghiên cứu thực địa và thu thập tài liệu
Trang 13Đây là phương pháp nghiên cứu địa lý truyền thống để khảo sát thực tế, ápdụng việc nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn để bổ sung cho lý luận ngày càng hoànchỉnh hơn Quá trình thực địa còn giúp cho việc sưu tầm, thu thập tài liệu được phongphú thêm Để việc học tập, nghiên cứu và quy hoạch có hiệu quả cao cần thu thập, sưutầm các tài liệu có liên quan đến lý luận và thực tiễn tổ chức lãnh tổ du lịch của cácđịa phương, các quốc gia, và các nước làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu cácvấn đề lý luận cũng như thực tiễn tổ chức quy hoạch Đây cũng là phương pháp quantrọng, nhằm nhận được các thông tin xác thực, cần thiết để thành lập ngân hàng số liệulàm cơ sở cho các phương pháp khác
Phương pháp bản đồ
Phương pháp này cho phép thu thập những nguồn thông tin mới phát hiện phân
bố trong không gian của các đối tượng nghiên cứu Bản đồ còn là phương tiện để cụthể hoá; biểu đạt kết quả nghiên cứu về cấu trúc, đặc điểm và phân bố không gian củacác đối tượng tổ chức quy hoạch lãnh thổ như những đặc điểm phân bố khôgn gian vàkhối lượng của nguồn tài nguyên, các lượng khách, cơ sở vật chất kỷ thuật phục vụ dulịch, kết cấu hạ tầng, các thuộc tính của hệ thống lãnh thổ du lịch Phương pháp nàycòn dung để thu thập nguồn thông tin và vạch ra tính quy luật hoạt động của các hệthống lãnh thổ du lịch
Phương pháp phân tích toán học và mô hình hoá
Phương pháp này nhằm định hướng, thống kê các đối tượng tổ chức lãnh thổ,phân tích tương quan để phát hiện ra các yếu tố và sự ảnh hưởng của các yếu tố hệthống lãnh thổ du lịch và sự tác động qua lại giữa chúng, đánh giá số lượng và chấtlượng của các yếu tố, có được những nhận định về định tính của các yếu tố đúng đắn,mang tính khách quan Việc phân tích, so sánh và tổng hợp các thông tin và số liệucũng như các vấn đề thực tiễn phải được tiến hành hệ thống, đi từ định lượng đến địnhtính và cần được kết hợp cùng các phương pháp khác Kết quả của phương pháp này
là cơ sở khoa học cho việc xây dựng, thực hiện các mục tiêu dự báo, các chương trìnhphát triển, các định hướng, các chiến lược, các giải pháp phát triển, trong các dự án tổchức quy hoạch du lịch mang tính khoa học, thực tiễn và đạt hiệu quả cao
Phương pháp xác định ranh giới vùng du lịch
Trang 14Phần lớn các số liệu được thu thập theo đơn vị hành chính, vì vậy cũng giống như phân vùng các ngành kinh tế khác, ranh giới các vùng du lịch được xác định theoranh giới hành chính Về nguyên tắc, ranh giới của vùng là nơi mà sức hút của trung tâm tạo vùng yếu nhất Trong thực tế, không phải lúc nào ranh giới này cũng trùng vớiranh giới hành chính Tuy nhiên để thuận lợi cho tổ chức quản lý và đầu tư phát triển người ta thường sử dụng ranh giới các tỉnh làm ranh giới giữa các vùng Ở nước ta cácvùng du lịch đang trong quá trình hình thành nên ranh giới của vùng chưa thật rõ
Phương pháp cân đối
Phương pháp cân đối là toàn bộ các phương pháp tính toán để phân tích, dự báocác mục tiêu sẽ được thực hiện của hệ thống lãnh thổ du lịch, có tính đến tổng hợp cácyếu tố Phương pháp này còn dùng để tính toán cân đối thu nhập của du lịch và chi phícho du lịch, xác định diện tích cần thiết cho lãnh thổ, tài nguyên, lao động… Vì vậy,cần lĩnh hội và vận dụng được phương pháp này trong quá trình nghiên cứu và thựchiện các dự án quy hoạch và tổ chức lãnh thổ
Phương pháp xã hội học
Phương pháp xã hội học nhằm khảo sát đặc điểm xã hội của các đối tượng dulịch Phương pháp này dùng để lấy ý kiến của cộng đồng, du khách, các chuyên gia,các thành viên tham gia vào quá trình tổ chức, quy hoạch lãnh thổ du lịch Trong quyhoạch , tổ chức lãnh thổ du lịch, phương pháp này thường được sử dụng để điều tra,phân tích thị trường như: điều tra về sở thích, nhu cầu tiêu dùng, mức chi tiêu củakhách, điều tra về sức hấp dẫn của các điểm du lịch, tài nguyên du lịch, chất lượngdịch vụ, chất lượng nguồn nhân lực…., điều tra thái độ, nhận thức của dân cư đối vớicác vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch, cũng như các vấn đề phát triển dulịch mà các quá trình tổ chức lãnh thổ du lịch thực hiện, điều tra mức sống của cộngđồng địa phương nơi tiến hành tổ chức, quy hoạch du lịch, lấy ý kiến đóng góp củacác chuyên gia, của các cơ quan, các cấp chính quyền Thực hiện phương pháp điềutra xã hội học gồm các bước: xác định các vấn đề cần điều tra, thiết kế bảng hỏi, lựachọn đối tượng và khu vực để điều tra, thời gian tiến hành điều tra, xử lý các kết quảđiều tra Trong đó việc thiết kế bảng hỏi hoặc hệ thống câu hỏi giữ vai trò quan trọng,
có liên quan lớn đến kết quả nghiên cứu Bảng hỏi được thiết kế sao cho không quánhiều câu hỏi và chủ yếu là các câu hỏi đóng, các câu hỏi không nên quá khó, cần
Trang 15được sắp xếp từ dễ đến khó, tránh những câu hỏi tế nhị hoặc khó mà người hỏi có thểkhông trả lời trung thực Thời gian tiến hành điều tra qua bảng hỏi trực tiếp mỗi ngườiđược hỏi không nên quá 10 phút
1.2 HỆ THỐNG LÃNH THỔ DU LỊCH
1.2.1 Quan niệm và đặc điểm của hệ thống lãnh thổ du lịch
1.2.1.1 Một số quan niệm về hệ thống lãnh thổ du lịch
Hệ thống lãnh thổ du lịch như một thành tạo toàn vẹn về hoạt động và lãnh thổ
có sự lựa chọn các chức năng xã hội nhất định Một trong những chức năng quantrọng được lựa chọn là phục hồi và tái sản xuất sức khoẻ, khả năng lao động , thể lực
và tinh thần của con người Vì vậy, hệ thống lãnh thổ du lịch thường được coi là hệthống kinh tế - xã hội, được tạo thành bởi các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhaunhư nhóm người du lịch, các tổng thể tự nhiên, văn hoá, lịch sử, các công trình kỹthuật, đội ngũ cán bộ công nhân viên và bộ phận tổ chức quản lý Nét đặc trưng của hệthống lãnh thổ du lịch là tính hoàn chỉnh về chức năng và lãnh thổ
- Theo I.I Pirogionhich trong cuốn Cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ tham quan,tr.46 (Trần Đức Thanh và Nguyễn Thị Hải dịch): “ Hệ thống lãnh thổ du lịch là một
hệ thống kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố có quan hệ tương hỗ với nhau như cácluồng khách du lịch, tổng thể tự nhiên và tổng thể văn hoá, lịch sử, các công trình kỹthuật, nhân viên phục vụ và cơ quan điều hành
Hệ thống lãnh thổ du lịch như một thành tạo vẹn toàn về chức năng và lãnh thổ,
có cả một loạt các chức năng chính là phục hồi và tái sản xuất mở rộng sực khoẻ vàkhả năng lao động, thể lực và tinh thần của con người (du khách) Về phương diệnnày, hệ thống lãnh thổ tương đương với các tổng thể lãnh thổ sản xuất, đồng thời cả về
hệ thống giao thông và các hệ thống định cư”
- Theo nhà khoa học du lịch Ngô Tất Hổ trong Phát triển và quản lý du lịch địaphương, tr.15 NXB Khoa hoc Bắc Kinh, 1998 (Trần Đức Thanh và Bùi Thanh Hươngbiên dịch), ông quan niệm: “ Cấu tạo của hệ thống lãnh thổ du lịch gồm bốn bộ phận:
hệ thống thị trường nguồn khách, hệ thống quá cảnh, hệ thống điểm đến và hệ thốngbảo trợ Trong đó thị trường nguồn khách, hệ thống quá cảnh, hệ thống điểm đến dulịch hợp thành một hệ thống bên trong có kết cấu chặt chẽ Ngoài ra còn các yếu tố
Trang 16như chính sách, chế độ, môi trường, nhân lực hợp thành một hệ thống bỗ trợ Trong hệthống bổ trợ này, Chính phủ là một đơn vị đặc biệt quan trọng Ngoài ra, cơ cấu giáodục cũng là một bộ phận quan trọng Hệ thống bổ trợ không tồn tại độc lập mà cầnphải dựa vào ba hệ thống kia, cùng ba hệ thống kia đồng thời phát huy tác dụng”
Khi nghiên cứu hai quan niệm trên cho thấy quan niệm của Ngô Tất Hổ phảnánh đầy đủ đặc điểm và các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của hệ thống lãnh thổ
du lịch hơn Nhưng trong nhiều dự án quy hoạch phát triển du lịch và nhiều tài liệunghiên cứu về du lịch, các nhà khoa học Việt Nam thường sử dụng quan niệm về hệthống lãnh thổ du lịch của I.I Pirogionhich
1.2.1.2 Đặc điểm của hệ thống lãnh thổ du lịch
“- Đặc tính hoàn chỉnh về chức năng và lãnh thổ Chức năng chính là phục hồitái sản xuất sức khoẻ, khả năng lao động thể lực và tinh thần của con người (dukhách) Bao gồm các yếu tố có mối quan hệ với nhau chặt chẽ, là một hệ thống mở cómối quan hệ bên trong và bên ngoài
- Mối quan hệ bên trong là mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành
- Mối quan hệ bên ngoài là mối quan hệ với các điều kiện môi trường phát sinh
và các hệ thống lãnh thổ khác”
1.2.2 Cấu trúc phân hệ trong hệ thống lãnh thổ du lịch
Cấu trúc bên trong của hệ thống lãnh thổ du lịch gồm 5 phân hệ:
- Phân hệ luồng du khách đóng vai trò trọng tâm, nó có những yêu cầu đối vớicác phân hệ khác của lãnh thổ du lịch do phụ thuộc vào những đặc điểm dân cư, xãhội của khách du lịch Phân hệ này có đặc điểm như khối lượng, cấu trúc của nhu cầu
du lịch, tính lựa chọn, tính mùa vụ và tính đa dạng của luồng du khách
- Phân hệ tổng thể tự nhiên và lịch sử văn hoá tham gia hệ thống với tư cách lànguồn tài nguyên, là điều kiện để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch và là cơ sở choviệc hình thành hệ thống Tổng thể này có dung lượng nhất định, có độ thích hợp, cótriển vọng, có độ bền vững và hấp dẫn Nó mang những đặc điểm như: số lượng, chấtlượng, diện tích, phân bố, sự kết hợp giữa các loại và các điểm tài nguyên, thời giankhai thác Chúng có thể sử dụng nhiều lần trong quá trình phục vụ du khách
Trang 17- Phân hệ các công trình kỹ thuật nhằm cung ứng những điều kiện sinh hoạt của
du khách, nhân viên phục vụ (ăn, ở, đi lại, giải trí…) cũng như những nhu cầu đặctrưng của du lịch nghỉ dưỡng (chữa bệnh, nghỉ ngơi, tham quan dịch vụ văn hoá vàđời sống) Toàn bộ các công trình kỹ thuật tạo nên cơ sở hạ tầng du lịch Nó mangnhững nét đặc trưng như dung lượng, tính đa dạng, tiện nghi, sinh thái, trình độ kỹthuật
- Phân hệ nhân viên phục vụ thực hiện chức năng dịch vụ cho du khách và chứcnăng cung ứng công nghệ sản xuất của các cơ sở sản xuất hoạt động Số lượng, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ và phẩm chất của đội ngũ cán bộ nhân viên,mức độ đảm bảo lực lượng lao động là những đặc trưng cơ bản của phân hệ
- Bộ phận điều khiển có nhiệm vụ giữ cho cả hệ thống nói chung và từng bộphận nói riêng hoạt động tối ưu
1.2.3 Mối quan hệ giữa các phân hệ trong hệ thống lãnh thổ du lịch
Các yếu tố cấu trúc nên hệ thống lãnh thổ du lịch có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Vì vậy trong quá trình kiểm kê, phân tích, đánh giá các yếu tố của hệ thống lãnhthổ không những cần phân tích, đánh giá các đặc trưng của từng yếu tố mà còn phảitìm hiểu cả trong mối quan hệ giữa các yếu tố
Mối quan hệ giữa phân hệ khách và các phân hệ khách được mô tả thôngqua những hoạt động du lịch và qua tính chọn lựa cấu trúc không gian vàthời gian của hệ thống
- Mối quan hệ giữa phân hệ khách và tổng thể tự nhiên, văn hoá, lịch sửđược xác định bởi sự lựa chọn của các nhóm du khách với đặc điểm kinh tế
- xã hội và nghề nghiệp khác nhau Chúng được phản ảnh bằng sức hấp dẫn,sức chứa, độ bền vững, độ thích hợp Sức chứa, độ bền vững, sự thích hợp,
sự hấp dẫn của tổng thể tự nhiên, văn hoá, lịch sử có mối quan hệ chặt chẽvới các yếu tố khác
Nếu tập trung một lượng du khách quá lớn trong một lãnh thổ có quy mônhỏ, không những dẫn tới sự huỷ hoại tổng thể tự nhiên mà còn gây ra áplực với du khách Vì vậy, phải xác định mức độ chịu tải với tổng thể tựnhiên, phải lựa chọn những hoạt động du lịch không gây tổn thất cho cân
Trang 18bằng sinh thái và khả năng phục hồi của cảnh quan tự nhiên và văn hoá – xãhội
Cần phải chú ý đến độ bền vững trong quá trình sử dụng, bảo vệ, phảinghiên cứu các định hướng, biện pháp nâng cao khả năng duy trì cảnh quancho hoạt động kinh doanh du lịch
Sự thích hợp của tổng thể tự nhiên là phản ánh những điều kiện thuận lợi.Thời gian kéo dài sự thích hợp cho cơ thể con người thông qua các yếu tố:nhiệt độ, tốc độ gió, độ ẩm, lượng mưa Thích hợp với trạng thái sức khoẻcủa du khách cho phép trong báo cáo quy hoạch du lịch đưa ra phân loại cácyếu tố của khí hậu và thời gian khí hậu thích hợp hoặc không thích hợp chosức khoẻ của du khách và cho phát triển du lịch
Tính hấp dẫn của tổng thể tự nhiên và văn hoá, lịch sử như sự kỳ thú, tínhđộc đáo (tần số lặp lại hay không bao giờ lặp lại của đối tượng và hiệntượng được phản ánh thông qua đánh giá thẩm mỹ, sự đa dạng, đặc sắc củatổng thể tự nhiên, văn hoá – xã hội, độ chia cắt địa hình, độ che phủ củarừng, đặc điểm, độ ngập của nước, những giá trị văn hoá, lịch sử…)
- Mối quan hệ giữa du khách với các công trình kỹ thuật và nhân viên phục
vụ Các nhóm du khách không giống nhau về cấu trúc và lãnh thổ, do đó họđòi hỏi những kiểu công trình và lãnh thổ tương ứng Cần phải phân loạicác cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch về số lượng và chất lượng (bìnhdân, hạng cao…)
Du khách luôn đòi hỏi nhân viên phục vụ có chất lượng cao Họ mongmuốn nhân viên phục vụ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ,phẩm chất tốt
Để xác định, đánh gía đội ngũ nhân viên phục vụ phải qua điều tra (điều tranhân viên, trưng cầu ý kiến du khách và qua thống kê số liệu, qua đánh giánăng lực làm việc và phẩm chất nghề nghiệp của họ)
- Mối quan hệ giữa du khách với bộ máy tổ chức quản lý du lịch Mỗi hệthống lãnh thổ du lịch có bộ máy tổ chức, quản lý với chất lượng nhân lựctốt, có cơ cấu phù hợp, có những hệ thống quy định pháp quy chặt chẽ, phùhợp cùng với cách tổ chức quản lý đồng bộ, liên thông, hiệu quả sẽ góp
Trang 19phần quan trọng để tạo cho hoạt động du lịch có hiệu quả, tạo ra môi trườnghấp dẫn du khách.
Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành những chuyến đi du lịch, du khách cónhu cầu về các thông tin dịch vụ du lịch như tài nguyên và môi trường dulịch của điểm đến, thêm vào nữa là những thông tin trên góp phần hấp dẫn
du khách đến với điểm hoặc khu du lịch Vì vậy, trong quy hoạch du lịchcác nhà quy hoạch cần phải nghiên cứu, khảo sát, đưa ra những giải pháp,chiến lược tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch của hệ thống lãnh thổ dulịch được quy hoạch, nhằm hấp dẫn du khách
Mối quan hệ giữa tổng thể tự nhiên, văn hoá, xã hội với các phận hệ khác
- Mối quan hệ giữa tổng thể tự nhiên và văn hoá, lịch sử với các dự tính chu
kỳ mà nó gây ảnh hưởng đến tính mùa vụ trong hoạt động du lịch
Tổng thể tự nhiên, văn hoá, xã hội, khách du lịch, cán bộ nhân viên có tácđộng đến chất lượng và quy mô phân bố của phân hệ các công trình kỹthuật Do vậy, các hoạt động kỹ thuật thuộc dịch vụ du lịch cần phải mangtính sinh thái để không gây ra những sự huỷ diệt các giá trị quý báu của tựnhiên, văn hoá, lịch sử với du lịch Ví dụ, đưa ra những kiến nghị cấm sửdụng thuyền có động cơ gây ô nhiễm nguồn nước…phải định mức đượcmật độ quy mô các loại công trình khác nhau, cường độ hạot động kỹ thuật,
hệ số độ bền kỹ thuật của các tổng thể tự nhiên (đường mòn trên một đơn vịdiện tích, số tàu thuyền trên một đơn vị diện tích…)
Cơ quan điều hành sẽ cung cấp định mức và nguồn thông tin về các phân
hệ Tài nguyên du lịch quy định về quy mô, kiểu dáng, chiều cao, mật độcủa cơ sở vật chất kỹ thuật ở các điểm du lịhc biển cách mép nước thuỷtriều lên ít nhất là 100m, nhưng lại theo xu hướng phân bố dọc bờ biển nêncần mở các của ra phía biển Hoặc một hecta mặt nước biển hay hồ chỉ cósức chứa tối đa là 8 du thuyền, trong đó chỉ có bốn du thuyền hoạt động…Hay ở các điểm du lịch sinh thái nên hạn chế mở những con đường lớn (vìphải chặt cây nhiều), mật độ xây dựng nhà cửa thưa, độ cao hạn chế từ mộtđến hai tầng, phải tránh những đường thoát nước…
Tổng thể tự nhiên ảnh hưởng đến cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Trang 20- Tài nguyên du lịch thông qua giá trị, diện tích có giá trị du lịch sẽ ảnhhưởng tới đặc điểm và số lượng nhân viên Tại những hệ thống lãnh thổphát triển du lịch có diện tích, có giá trị du lịch với mật độ và chất lượng tàinguyên du lịch cao, có khả năng thu hút một số lượng du khách lưu trú,tham quan lớn cần số lượng nhân viên du lịch đông Tài nguyên du lịch cònquy định đặc điểm chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên Ví dụ,những hệ thống lãnh thổ du lịch có nguồn tài nguyên du lịch nhân vănphong phú, đặc sắc thì đội ngũ cán bộ nhân viên phải am hiểu về nhữngkiến thức văn hoá, lịch sử và văn hoá du lịch nhiều hơn Song tại các vườnquốc gia thì đội ngũ nhân viên lại đòi hỏi nhiều về kiến thức về sinh thái và
Mối quan hệ giữa phân hệ công trình kỹ thuật và kết cấu hạ tầng với cácphân hệ khác
- Phân hệ công trình kỹ thuật ngoài mối quan hệ với khách du lịch và tàinguyên du lịch còn có mối quan hệ với phân hệ cán bộ nhân viện và bộ máy
tổ chức quản lý du lịch Số lượng, chất lượng, và đặc điểm kỹ thuật khácnhau đã dẫn đến số lượng và chất lượng đội ngũ nhân viên khác nhau Ví
dụ, ở những điểm du lịch, khu du lịch có các cơ sở lưu trú, ăn uống đạt tiêuchuẩn quốc tế xếp hạng cao đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ nhân viên cótrình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, phẩm chất cao Và số lượng cán
bộ nhân viên không chỉ phụ thuộc vào số lượng phòng khách sạn mà cònphụ thuộc vào chất lượng cảu các cơ sở lưu trú, ăn uống Trung bình mộtphòng khách sạn quốc tế cần 1.7 đên 2.2 lao động, trong khi một phòngkhách sạn nội địa chỉ cần 1.2 lao động…
Trang 21- Phân hệ công trình kỹ thuật và kết cấu hạ tầng có mối quan hệ chặt chẽqua lại với bộ máy tổ chức quản lý du lịch Tại những hệ thống lãnh thổ có
bộ máy tổ chức quản lý du lịch có cơ cấu, chức năng phù hợp với các cán
bộ có trình độ quản lý tổ chức giỏi, cùng một hệ thống quy định chế tài chặtchẽ, hợp lý thì việc xây dụng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và kết cấu hạtầng sẽ có quy hoạch, có sự kiểm soát, có môi trường tốt để thu hút đầu tưvào lĩnh vực này Do vậy, số lượng và chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật,kết cấu hạ tầng phù hợp với các phân hệ khác và có chất lượng cao sẽ có giátrị thẩm mỹ, hấp dẫn du khách; có công suất sử dụng cao và hiệu quả khaithác cơ sở vật chất sẽ cao hơn
- Đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch ngoài mối quan hệ qua lại với các phân
hệ trên còn có mối quan hệ chặt chẽ với bộ máy tổ chức quản lý du lịch Sốlượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ nhân viên phụ thuộc nhiều vàochính sách, cách thức đào tạo, tuyển dụng, sử dụng và ưu đãi với nguồnnhân lực Vì vậy, trong quá trình quy hoạch du lịch cần khảo sát, kiểm kê,đánh giá xac thực về nguồn nhân lực trong mối quan hệ với các phân hệkhác của hệ thống lãnh thổ du lịch Từ đó xây dựng những giải pháp; nhữngchiến lược phù hợp, hữu hiệu về nguồn nhân lực Các hệ thống lãnh thổ dulịch không những có mối quan hệ giữa các phân hệ bên trong, mà còn cómối quan hệ với các phân hệ khách và với môi trường kinh tế- xã hội, chínhtrị một cách chặt chẽ, biện chứng
Từ những quan niệm và đặc điểm về hệ thống lãnh thổ du lịch cho thấy, để
có thể xây dựng và thực hiện được những dự án quy hoạch phát triển dulịch có hiệu quả, góp phần phát triển du lịch bền vứng, các nhà quy hoạchcần có hiểu biết về hệ thống lãnh thổ du lịch và cần nghiên cứu về đặc điểmcủa hệ thống lãnh thổ du lịch cần quy hoạch
1.3 ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ DÂN CƯ, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ KẾT CẤU HẠ TẦNG
1.3.1 Dân cư, dân tộc
Dân cư
Trang 22- Lịch sử khai thác lãnh thổ Số dân, mật độ dân số, tình hình phân bố dân cư,mức tăng dân số, kết cấu dân số theo tuổi và kết cấu dân số theo tuổi và kết cấu laođộng theo các ngành
- Chất lượng cuộc sống: GDP/người, bình quân lương thực, việc làm, trình độhọc vấn, nhà ở, tỷ lệ người biết chữ, số người và tỷ lệ lao động tham gia trong hoạtđộng du lịch
- Dự báo về một số chỉ tiêu dân số và chất lượng cuộc sống của dân cư
Dân tộc
- Kết cấu dân số theo dân tộc
- Đời sống kinh tế văn hoá của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc ít người
1.3.2 Điều kiện kinh tế -xã hội
Mức tăng GDP/năm, tỷ lệ GDP theo các ngành, đặc điểm phát triển chung của cácngành kinh tế chủ yếu và của nền kinh tế
- Tình hình hợp tác đầu tư
Các chiến lược, đường lối, chính sách và chỉ tiêu dự báo phát triển kinh tế
-xã hội chủ yếu của địa phương hoặc quốc gia
- Xu hướng phát triển kinh tế - xã hội chính
1.3.3 Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch
Giao thông vận tải: điều tra, đánh giá các loại đường giao thông như: đường ôtô,đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không, các bến cảng cả về số lượng, chất lượng,mối quan hệ giữa các đường giao thông
Những kế hoạch và dự án đầu tư, nâng cấp cơ sở giao thông vận tải
- Hệ thống điện: Điều tra đánh giá thực trạng về hệ thống cung cấp điện, trìnhbày những kế hoạch và dự án phát triển
- Hệ thống cấp thoát nước: Điều tra, đánh giá thực trạng về hệ thống cung cấpđiện, trình bày những kế hoạch và dự án phát triển
- Bưu chính viễn thông: Điều tra, đánh giá thực trạng về cơ sở vật chất kỹ thuậtngành viễn thông; trình bày các kế hoạch và dự án phát triển
- Hệ thống thu gom, xử lý tái chế chất thải, mức đầu tư cho vấn đề này
Trang 231.4 TÁC ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH ĐẾN KINH TẾ - XÃ HÔI
1.4.1 Tác động đến phát triển kinh tế
a Tác động tích cực
- Tăng nguồn thu ngoại tệ tỷ lệ thuận với số lượng du khách quốc tế, ví dụ ởViệt Nam lượng khách quốc tế đến năm 1990 chỉ có 250000 lượt, doanh thu trungbình một lượt khách trong thời kỳ này khoảng 400USD; nhưng đến năm 2005 lượngkhách quốc tế đến 3.43 triệu lượt và trung bình chỉ tiêu một lượt khách là trên900USD (năm 2003 là 907.2USD)
- Tăng nguồn thu nhập từ du lịch và đóng góp vào ngân sách quốc gia Ngành
du lịch có một quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành kinh tế, việc phát triển du lịch sẽ thúcđẩy nhiều ngành kinh tế- xã hội khác phát triển Thu nhập từ du lịch được tính thôngqua hệ số nhân do tác động tới các ngành kinh tế khác từ 1.3 – 1.7
- Hoạt động du lịch còn góp phần cho việc tăng cường sự hợp tác, giao lưuquốc tế, thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế thông qua việc tổ chức các hội nghị,hội thảo, sự kiện thể thao, qua khách du lịch công vụ đã làm tăng cường tình hữu nghị,
sự hiểu biết giữa các quốc gia cũng góp phần tạo hiệu quả kinh tế- xã hội
- Các dự án quy hoạch phát triển du lịch tạo việc làm từ khi xây dựng cho đếnkhi dự án đi vào hoạt động bao gồm cả lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Ở khu
du lịch chùa Hương, mức lao động dịch vụ du lịch khoảng 700-800 người/năm
b Tác động tiêu cực
- Hoạt động du lịch có thể là một nhân tố làm mất ổn định hệ sinh thái ở khuvực du lịch Khi không được quy hoạch phát triển hợp lý, khoa học nhiều dự án quyhoạch du lịch đã làm suy giảm tài nguyên môi trường, hoặc việc đầu tư lại lớn hơn thunhập nên đã dẫn tới hiệu quả kinh tế bị suy giảm như trường hợp ở bãi biển Sầm Sơn,
Đồ Sơn, Vũng Tàu…
- Sự phát triển của nhiều ngành kinh tế bị phụ thuộc vào ngành du lịch Trongtrường hợp các dự án quy hoạch và tổ chức không gian lãnh thổ du lịch không đượcthực hiện khoa học, hiệu quả sẽ làm giảm sự hấp dẫn du khách, dẫn đến không chỉhiệu quả kinh tế của ngành du lịch bị suy giảm mà cũng làm cho hiệu quả kinh tế củanhiều ngành kinh tế- xã hội cũng có thể bị suy giảm
Trang 24- Hoạt động du lịch thường mang tính thời vụ nên đối với các dự án quy hoạch
và tổ chức không gian du lịch không phù hợp giữa quy mô, chất lượng, số lượng cơ sởvật chất với tài nguyên, sản phẩm du lịch đơn điệu, chất lượng thấp… sẽ làm giảm sựhấp dẫn du khách, làm cho tính thời vụ cao đã gây lãng phí tài nguyên, cơ sở vật chất
kỹ thuật du lịch, nguồn lao động và vốn…
- Do những tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch đến tài nguyên môi trường,chất lượng cuộc sống của dân cư nên các dự án quy hoạch du lịch được lập và thựchiện không thấu đáo và khoa học, hiệu quả thấp, cái giá phải trả để khắc phục các tácđộng tiêu cực trên cao hơn mức đầu tư làm giảm thành quả kinh tế
1.4.2 Tác động đến chất lượng cuộc sống
Du lịch không chỉ có chức năng kinh tế mà còn có cả chức năng chính trị, văn
hoá-xã hội và môi trường Do đó khi đánh giá tác động từ các dự án quy hoạch và tổ chứckhông gian du lịch nói riêng và hoạt động du lịch nói chung, ngoài việc đánh giá tácđộng đến chất lượng cuộc sống của nhân dân và an ninh, chính trị xã hội
a Tác động tích cực
- Các dự án quy hoạch xây dựng thường sử dụng nhiều tài nguyên đất đai Nhưvậy, việc thực hiện các dự án quy hoạch ở các khu vực làm cho tài nguyên đất đai trởnên suy giảm, khan hiếm, nhất là đất canh tác ở nước ta cũng như nhiều nước kháclàm cho giá đất tăng cao Thêm vào nữa, việc thực hiện các dự án quy hoạch phát triển
du lịch tạo thêm nhiều việc làm , thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển nên khiếnviệc gia tăng dân số cơ học cao Tất cả các nguyên nhân này làm cho giá đất ở gần cáckhu quy hoạch du lịch tăng cao Điều này giúp cho người dân địa phương có nhiều đấtnếu nhượng quyền sử dụng đất có thể có thêm thu nhập, cải thiện đời sống và có vốnđầu tư cho sản xuất
- Để tạo ra môi trường cảnh quan hấp dẫn du khách và để phát triển du lịch bềnvững, nhiều dự án quy hoạch phát triểnn du lịch đã nghiên cứu và thực hiện nhiều giảipháp phòng ngừa nhằm bảo vệ, nâng cao chất lượng tài nguyên môi trường như: các
dự án bảo vệ rừng, trồng rừng, giáo dục cộng đồng địa phương về môi trường, bảo vệcác hệ sinh thái, thu gom xử lý nước thải…Những giải pháp này không chỉ bảo vệ sự
đa dạng sinh học, tài nguyên môi trường trong các khu du lịch được quy hoạch mà còngóp phần nâng cao chất lượng môi trường, bảo vệ tài nguyên nơi dân cư sinh sống
Trang 25- Thông qua việc thực hiện các dự án phát triển du lịch bền vững, người dânđược lôi cuốn, hỗ trợ để tham gia và các hoạt động bảo tồn và hoạt động du lịch, điềunày vừa tạo cho họ có việc làm, nâng cao thu nhập, và vừa giúp cho nhận thức của họ
về nhiều mặt được nâng cao, từ đó chất lượng cuộc sống của họ cũng được cải thiện
- Trong việc thực hiện quy hoạch phát triển du lịch bền vững tại các khu bảotồn, các vườn quốc gia và ở nhiều vùng núi, các vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tếkhó khăn đã có nhiều dự án góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân,làm giảm sức ép của họ đối với tài nguyên rừng như: các dự án nước sạch, phát triểnchăn nuôi, trồng trọt, khôi phục nghề thủ công cổ truyền, phát triển giáo dục, y tế…
- Việc thực hiện các dự án quy hoạch và tổ chức không gian du lịch tại cácvùng khó khăn, dân cư thưa góp phần phát triển kết cấu hạ tầng, đồng thời thông qua
đó góp phần cải thiện đời sống của cư dân địa phương
b Tác động tiêu cực
- Do nhu cầu sử dụng một diện tích lớn đất đai của các dự án quy hoạch du lịch
đã làm suy giảm diên tích đất canh tác, đất rừng, làm cho hoạt động sản xuất nông,lâm, ngư nghiệp bị suy giảm, từ đó tác động tiêu cực đến đời sống của cư dân địaphương vì bị mất phương tiện sản xuất
- Làm cho giá cả bất động sản tăng, gây khó khăn về nhu cầu nhà ở, đất thổ cưcho nhiều người dân địa phương
- Việc thực hiện các dự án tổ chức lãnh thổ du lịch kéo theo việc nhập cư, cùngvới việc đáp ứng các như cầu về dịch vụ, hàng hóa cho du khách đã làm cho giá cácmặt hàng tại các điểm du lịch thường cao hơn từ 20-50% nhất là vào mùa du lịch Vìvậy, đã làm cho đời sống của người dân địa phương gặp khó khăn và suy giảm
- Việc gia tăng lượng chất thải tại các dự án quy hoạch du lịch nếu dược thugom xử lý đúng quy trình kỹ thuật sẽ làm cho môi trường bị ô nhiễm, tác động tiêucực đến môi trường sống của cộng đồng địa phương
- Việc tích tụ rác thải ở các khu du lịch có thể thu hút các loài gặm nhấm, côntrùng đến sinh sống, phát triển làm cho dịch bệnh có điều kiện phát triển, gây nguy hạicho sức khỏe của du khách cũng như cộng đồng cư dân địa phương
- Nước thải và rác thải gia tăng do hoạt động du lịch có thể làm ô nhiễm cácnguồn nước sông hồ, biển Sự ô nhiễm nguồn nước ven biển, cửa sông đã làm suy
Trang 26giảm các loài thủy sinh, thiệt hại đến ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản của ngưdân, nhiều trường hợp mức độ nước bị ô nhiễm cao làm cho các loài thủy sinh bịnhiễm độc, thủy sản đánh bắt không thể ăn được
- Đáp ứng nhu cầu nước sạch cho nhân dân là vấn đề đối mặt khó thực hiện củanhiều địa phương và quốc gia nhất là đối với các nước đang phát triển như nước ta Vìvậy, việc thực hiện các dự án tổ chức lãnh thổ du lịch đáp ứng nhu cầu về nước sạchnhất là vào mùa vụ du lịch cũng đã góp phần tạo ra sự khan hiếm nước sạch ở nhiềuđịa phương
- Việc thực hiện các dự án quy hoạch phát triển du lịch đã làm gia tăng thêmcác phương tiện vận chuyên: vận chuyển vật liệu xây dựng, vận chuyển du khách trêncác tuyến đường giao thông nhất là vào mùa du lịch và những ngày nghỉ cuối tuần ,ngày lễ Việc gia tăng các phương tiện giao thông từ các dự án quy hoạch du lịch đãgóp phần thêm vào việc tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí và tiếng ồn, làm cho
hệ thống giao thông nhanh xuống cấp, gia tăng tai nạn oto, gây tình trạng quá tải với
hệ thống giao thông đã tác động tiêu cực đến đời sống của cư dân địa phương cũngnhư kinh tế địa phương
- Xúc tiến phát triển du lịch trong các dự án quy hoạch du lịch, do việc đi lạicủa khách du lịch từ các quốc gia khác nhau có thể là nguồn lan truyền bệnh dịchtruyền nhiễm như AIDS, Sarh,…cho các địa phương của quốc gia
1.4.3 Tác động đến văn hoá xã hội
a Tác động tích cực
Để tạo ra tài nguyên môi trường đa dạng, phong phú hấp dẫn du khách nhiều
dự án quy hoạch du lịch đã có sự đầu tư cho bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa đặcsắc của các cộng đồng cư dân địa phương, nhất là ở các khu vực có các dân tộc ítngười Từ việc đầu tư cho bảo tồn, cùng với sự hấp dẫn du khách bởi các giá trị vănhóa truyền thống đã làm cho người dân tăng thêm lòng tự hào về di sản văn hóa địaphương, từ đó họ có ý thức hơn và đóng góp nhiều hơn cho việc bảo tồn các giá trịvăn hóa truyền thống
- Thông qua việc thu hút lao động, tạo việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sốngcộng đồng các dự án quy hoạch đã góp phần ổn định, phát triển dân số của các dân tộc
ít người, phân bố dân cư lao động hợp lý ở những vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế
Trang 27còn khó khăn, làm giảm bớt việc di cư tự do, nhất là giảm bớt việc thanh niên đi tìmviệc làm ở các thành phố.
- Thông qua việc tiếp xúc với du khách, nhận thức của người dân, cùng vớichất lượng cuộc sống và giá dục được nâng cao Nhờ có giáo dục phát triển và đượcnâng cao, nhiều tục lệ lạc hậu của người dân địa phương được loại trừ như các tục lệ
ma chay, đối xử không tốt với phụ nữ
- Để đảm bảo môi trường trật tự an toàn cho du khách, vấn đề an ninh được đầu
tư hơn, nhiêu băng nhóm tội phạm đã được các lực lượng cảnh sát triệt phá, nhiềuquốc gia như Thái Lan còn thành lập cơ quan cảnh sát di lịch đã góp phần bảo đảm anninh, trật tự xã hội cho các cộng đồng địa phương
b Tác động tiêu cực
- Thông qua việc tiếp xúc với du khách cũng như để đáp ứng nhu cầu tiêudung, thưởng thức của du khách nhiều giá trị văn hóa truyền thống của các địaphương, các quốc gia bị thay đổi mai một Từ đó đã làm giảm cuộc sống hạnh phúccủa nhiều gia đình cũng như trật tự an ninh của các cộng đồng dân cư: thay đổi kiếntrúc truyền thống, giảm diện tích cây xanh mặt nước, bê tông hóa các công trình kiếntrúc và nhà cửa
- Thương mại hóa hoạt động văn hóa truyền thống
- Cố ý tạo ra mô hình văn hóa tiêu biểu để đáp ứng nhu cầu của du khách nhưnhiều làn điệu dân ca, các phong tục (đám cưới) được sân khấu hóa
- Sự tham quan, tập trung quá đông của du khách tại các lễ hội, các di tích tôngiáo, đã làm mất đi không khí linh thiêng, trang trọng của các nghi lễ tôn giáo, ảnhhưởng đến đời sống tinh thần của dân cư
- Các dự án quy hoạch du lịch có thể gián tiếp gây chia rẽ cộng đồng và gây ratình trạng phân chia giàu nghoèo Vì những người tham gia các hoạt động kinh doanh
du lịch thường có thu nhập cao hơn các hộ sản xuất ngành truyền thống
- Do không có điều kiện được đào tạo và giáo dục du lịch quy củ nên phần lớnnhững nguời dân địa phương thường chỉ được tham gia các công việc trong hoạt động
du lịch có thu nhập thấp như : mang vác hành lý, vận chuyển hành khách, dẫn đường,phục vụ trong các cơ sở kinh doanh lưu trú, có thu nhập thấp, việc làm không ổn định,
họ trở thành đối tượng bị bóc lột
Trang 28- Hoạt động du lịch ở nhiều nơi cũng kéo theo nhiều tệ nạn xã hội làm mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội như tệ nạn ăn xin, bán hàng rong, lừa gạt du khách, trộm cắp, mãi dâm, nạn tình dục, và lao động trẻ em, cờ bạc
Trang 29CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC PHÂN HỆ CỦA HỆ THỐNG LÃNH THỔ DU LỊCH 2.1 PHÂN HỆ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
2.1.1 Khái niệm
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung Tài nguyênhiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin
có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà con người có thể sử dụng phục
vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình
Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn với khái niệm du lịch Tài nguyên dulịch là khách thể của du lịch, là cơ sở phát triển của ngành du lịch – kinh tế du lịch.Như vậy, Tất cả các nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của du khách đượcngành du lịch tận dụng và từ đó sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội thì đều gọi làtài nguyên du lịch Nói một cách tóm tắt, hễ là nhân tố thiên nhiên, nhân văn và xã hội
có thể thu hút du khách thì gọi chung là tài nguyên du lịch
Quan niệm về tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và sự kết hợp khácnhau của cảnh quan tự nhiên và nhân văn được sử dụng cho dịch vụ du lịch và thoảmãn các nhu cầu về chữa bệnh, nghỉ ngơi, tham quan hay du lịch
Thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hoá- lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch bao gồm các yếu tố liên quan đến các điều kiện tự nhiên,điều kiện lịch sử- văn hoá, kinh tế- xã hội vốn có trong tự nhiên hoặc do con người tạodựng nên Các yếu tố này luôn luôn tồn tại và gắn liền với môi trường tự nhiên và môitrường xã hội đặc thù của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, tạo nên những điểm đặc sắccho mỗi địa phương, mỗi quốc gia đó Khi các yếu tố này được phát hiện, được khaithác và sử dụng vào mục đích phát triển du lịch thì chúng sẽ trở thành tài nguyên dulịch Việc đưa các tổng thể tự nhiên vào tài nguyên du lịch tự nhiên diễn ra theo sơ đồsau:
Các tổng thể tự nhiên tồn tại như những thành tạo tự nhiên Vì chưa có nhu cầu
du lịch nên chúng cũng không có tính chất của tài nguyên du lịch
Nhu cầu du lịch xuất hiện đòi hỏi phải nghiên cứu và đánh giá tổng thể tựnhiên
Trang 30Do tác động của nhu cầu xã hội và đầu tư lao động sống cũng như các phươngtiện cần thiết khác, các tổng thể tự nhiên có giá tri nhất biến thành tài nguyên du lịch
Nhu cầu du lịch ngày càng tăng lên dẫn đến việc đưa cả các tổng thể tự nhiệnkém thuận lợi hơn vào tài nguyên du lịch sau khi đã cải tạo chúng theo ý định của conngười
Qúa trình tương tự cũng diễn ra khi chuyển các đối tượng văn hoá- lịch sửthành lớp tài nguyên du lịch Các đối tượng văn hoá- lịch sử là sản phẩm lao động củanhiều thế hệ đi trước đang trở thành đối tượng lao động của ngành dich vụ- du lịchmang tính nhận thức
Cách đây trên 40 năm khu rừng nguyên sinh Cúc Phương đã được phát hiện.Năm 1962, chính phủ ra quyết định cho phép xây dựng thành vườn quốc gia và đếnnăm 1966, Cúc Phương đã chính thức trở thành vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam.Cũng từ thời điểm khi tính đa dạng sinh học của vườn quốc gia được khai thác phục
vụ mục đích du lịch thìư khu rừng nguyên sinh này trở thành một điểm tài nguyên dulịch đặc sắc, một điểm du lịch có sức hấp dẫn cao đối với du khách trong nước vàquốc tế Năm 1993, động thiên cung, một động đá vôi nguyên sơ, kỳ ảo ở Vịnh HạLong được phát hiện, khai thác sử dụng, và trở thành một điểm du lịch mới hấp dẫn,làm tăng thêm giá trị của tài nguyên du lịch của khu du lịch nổi tiếng này.Như vậy, tàinguyên du lịch được xem như là tiền đề để phát triển du lịch Thực tế cho thấy, tàinguyên du lịch càng phong phú , càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quảhoạt động du lịch cang cao bấy nhiêu
Như vậy, khái niệm: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn
hoá-lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực
và trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”
2.1.2 Phân loại tài nguyên du lịch
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Thiên nhiên là môi trường sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất.Thiên nhiên bao quanh bao gồm các yếu tố và các thành phần tự nhiên, các hiện tượng
Trang 31tự nhiên và các quá trình biến đổi của chúng tạo nên các điều kiện tự nhiên thườngxuyên tác động đến sự sống và mọi hoạt động của con người
Chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếpđược khai thác sử dụng tạo ra các sản phẩm du lịch, phục vụ cho mục đích phát triển
du lịch mới được xem là tài nguyên du lịch tự nhiên Các tài nguyên du lịch tự nhiênluôn luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên cũng như các điều kiện lịch sử- văn hóa,kinh tế- xã hội ở xung quanh và chúng thường được khai thác đồng thời với các tàinguyên du lịch nhân văn
Khi tìm hiểu, nghiên cứu về tài nguyên du lịch tự nhiên người ta thườngnghiên cứu chúng dưới các dạng chính là nghiên cứu từng thành phần của tự nhiên,nghiên cứu các thể tổng hợp tự nhiên và nghiên cứu các hiện tượng đặc sắc của tựnhiên
Các thành phần của tự nhiên
Trong số các thành phần của tự nhiên, có một số thành phần chính có tácđộng trực tiếp và thường xuyên đối với các hoạt động du lịch và trong số các thànhphần này chỉ có một số yếu tố nhất định được khai thác như nguồn tài nguyên du lịch.Các thành phần tự nhiên tạo nên tài nguyên du lịch tự nhiên là địa hình, khí hậu, thủyvăn và sinh vật
Địa hìnhĐịa hình là một thành phần quan trọng của tự nhiên, là nơi diễn ra mọi hoạtđộng của con người Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình tạo nền cho phongcảnh, một số kiểu địa hình đặc biệt và các di tích tự nhiên có giá trị phục vụ cho nhiềuloại hình du lịch
Tâm lý và sở thích chung của khách du lịch là muốn đến với những phongcảnh đẹp, có những kiểu địa hình khác lạ so với nơi họ đang sinh sống Địa hình miềnnúi thường có nhiều ưu thế hơn đối với hoạt động du lịch vì có sự kết hợp của nhiềudạng địa hình, vừa thể hiện được vẻ đẹp hũng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa cókhí hậu mát mẻ, không khí trong lành Ở miền núi có nhiều đối tượng cho hoạt động
du lịch Đó là các sông suối, thác nước, hang động, rừng cây với thế giới sinh vật tựnhiên vô cùng phong phú Miền núi còn là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ítngười với đời sống và nền văn hóa rất đa dạng và đặc sắc
Trang 32Ở nước ta, địa hình được khai thác như một tài nguyên du lịch tự nhiênquan trọng thường là các dạng và các kiểu địa hình đặc biệt sau:
- Các vùng núi có phong cảnh đẹp
Các vùng núi có phong cảnh đẹp đã được phát hiện và khai thác phục vụmục đích du lịch là cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang) với thành phố Đà Lạt (LâmĐồng), Sa Pa, Bắc Hà (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Tây), các vùng hồ
tự nhiên và nhân tạo như Hồ Ba Bể (Bắc Cạn), hồ Hòa Bình ( Hòa Bình), hồ Thác Bà(Yên Bái), hồ Đồng Mô (Hà Tây)… Đặc biệt, Đà Lạt và Sa Pa có độ cao trên 1500mđược mệnh danh là thành phố trong sương mù, mang nhiều sắc thài của thiên nhiênvùng ôn đới đã được xây dựng thành điểm du lịch tham quan nghỉ mát từ cách đâytrên dưới 100 năm Cao nguyên Bắc Hà, núi Ba Vì, núi Mẫu Sơn, núi Bạch Mã cũng
là những điểm du lịch núi có tiếng đã từng có thời kỳ được khai thác phục vụ du lịch,hiện tại đang được từng bước phục hồi và hứa hẹn những triển vọng rất tổt đẹp
- Các hang động
Các hang động ở nước ta chủ yếu là các hang động nằm trong các vùng núi
đá vôi có kiểu địa hinh karst rất phát triển Kiểu địa hình này chủ yếu được tạo thành
do sự lưu thông của nước trong các loại đá dễ hoà tan (đá vôi, đá phấn, thạch cao,muối mỏ, đôlômit…) Chúng có thể được tạo từ sự hoà tan của nước trên mặt cũngnhư nước ngầm Loại hang động Karst có cảnh quan tự nhiên đẹp, có ý nghĩa văn hoá,lịch sử có tiềm năng du lịch
Vùng đá vôi ở nước ta có diện tích khá lớn, tới 50.000-60.000km2 chiếmgần 15% diện tích cá nước tập trung chủ yếu ở miền Bắc từ Lai Châu, Hà Giang, CaoBằng, Lạng Sơn, ở biên giới Việt Trung, các cao nguyên đá vôi ở Tây Bắc Vùng núi
đá vôi Hoà Bình- Thanh Hoá cho đến vùng núi đá vôi Quảng Bình Ở miền Nam, núi
đá vôi chỉ có ở khu vực xung quanh thị xã Hà Tiên và một số đảo nằm rải rác ở vịnhThái Lanh (Kiên Giang)
Các công trình điều tra, nghiên cứu hang động ở Việt Nam đã phát hiệnđược khoảng 200 hang động, trong đó phần lớn tới gần 90% là các hang ngắn và trungbình (có đô dài dưới 100m) hiện cho đến nay phần lớn tập trung ở Quảng Bình nhưhang Vòm tới 27km (chưa kết thúc), động Phong Nha 8.5km, hang Tối 5.5km ỞLạng Sơn có hang Cả- hang Bè dài hơn 3.3km
Trang 33Các hang động ở nước ta thường nằm ở chân núi và lưng chừng núi Nhiềuhang có cửa rộng tới 110m và trần cao nhất tới 120m như hang Dơi ở Lạng Sơn Hangsâu nhất là hang Cả- hang Bè có độ sâu 123m Đặc biệt rất nhiều hang động ở nước ta
có những mạch sông suối ngầm chảy xuyên qua vùng núi đá vôi và thông với hệthống sông suối bên ngoài Nhiều hàng động ở nước ta có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ vàrất kỳ ảo, có sức hấp dẫn đặc biệt với khách du lịch Bên cạnh những vẻ đẹp tự nhiên
do tạo hoá sinh ra, các hang động còn chứa đựng những di tích khảo cổ học, những ditích lịch sử- văn hoá đặc sắc của dân tộc nên càng có giá trị để phát triển di lịch
Các hang động của nước ta tuy nhiều những số được khai thác sử dụng chomục đích du lịch còn rất ít Tiêu biểu nhất là động Phong Nha (Quảng Bình), độngHương Tích (Hà Tây), Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình), hang Pác Bó (Cao Bằng),động Nhị Thanh, Tam Thanh (Lạng Sơn), động Sơn Mộc Hương (Sơn La), Các hangđộng ở Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) ….v…v… Và trong đó, đặc sắc nhất phải kể đến
Thế giới có 650 hang động được sử dụng cho du lịch thu hút 15 triệu khách/năm 25 hang động dài nhất và 25 hang động sâu nhất Có thể kể Flint MamnhuthCave System 530km ở Mỹ, Optimisticeskaya 152km ở Ukraina, Holloch 133.5km ởThuỵ Sĩ, Rescau Jecan Bernard 1535m ở Pháp, Sistema de Trave 1380m ở Tây BanNha
- Các bãi biến
Nước ta có đường bờ biển dài 3260 km và đã thống kê được có khoảng 125bãi biển có bãi cát bằng phảng với độ dốc trung bình 1-3o cos nhiều điều kiện thuậnlợi để khai thác phục vụ du lịch Điều lý thú là cả hai điểm đầu và cuối của đường bờ
Trang 34biển nước ta đều là hai bãi biển đẹp: Bãi biển Trà Cổ ở Quảng Ninh có chiều dài gần17km với bãi cát rộng, bằng phẳng tới mức lý tưởng và bãi biển Hà Tiên với thắngcảnh hòn Phụ Tử nổi tiếng
Các bãi biển ở nước ta phân bố trải đều từ Bắc vào Nam Nổi tiếng nhất làcác bãi biển Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thuận An, Lăng Cô, Non nước, Sa Huỳnh,Văn Phong, Nha Trang, Ninh Chữ, Cà Ná, Vũng Tàu…
Bên cạnh đó, vùng biển nước ta có khoảng 3000 hòn đảo lớn nhỏ và cácquần đảo ở gần và xa bờ có nhiều bãi biển và phong cảnh đẹp còn nguyên vẹn vẻhoang sơ, môi trường trong lành và những điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để pháttriển các loại hình du lịch biển Tiêu biểu nhất là các đảo Cái Bầu, Cát Bà, Cù LaoChàm, Côn Đảo, Phú Quốc… nếu được đầu tư sẽ phát triển thành những điểm du lịchhấp dẫn và có sức cạnh tranh
Khí hậuKhí hậu là thành phần của tự nhiên sớm được khai thác như một dạng tàinguyên du lịch quan trọng
Các điều kiện khí hậu được xem như các tài nguyên khí hậu du lịch cũng rất
đa dạng và đã được khai thác để phục vụ cho các mục đích du lịch khác nhau
- Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khỏe con người
Tài nguyên khí hậu được xác định trước hết là tổng hợp của các yếu tố nhiệt
độ, độ ẩm và một số yếu tố khác như áp suất không khí, gió, ánh nắng mặt trời thíchhợp nhất với sức khỏe con người, tao cho con người các điều kiện sống thoải mái, dễchịu nhất
Trang 35Trong thực tế, khách du lịch ở vào mỗi thời điểm sống trong những điềukiện khí hậu không phù hợp thường đi du lịch đến những nơi có điều kiện khí hậuthích hợp hơn Người ở xứ lạnh phương Bắc thường đi nghỉ đông ở những vùng ấm ápPhương Nam Người ở xứ nóng trong những ngày hè oi bức thường thích đi nghỉ mát
ở các xùng biển hoặc ở các vùng núi cao có khí hậu mát mẻ
Các công trình nghiên cứu ở nước ta cho thấy điều kiện khí hậu dễ chịunhất đối với con người ở Việt Nam là có nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 15-230 và
độ ẩm tuyệt đối từ 14-21mb Các điều kiện đó ứng với khu vực Đà Lạt diễn ra quanhnăm với nhiệt độ không khí trung bình hàng tháng dao động trong khoảng 16.40 đến19.70 và độ ẩm tuyệt đối từ 13.8mb đến 19.5mb Ở Sa Pa có tới 7 tháng có điều kiệnkhí hậu dễ chịu, từ tháng 4 đến thang 10, ứng với nhiệt độ trung bình hàng tháng từ15.60 đến 19.80C và độ ẩm tuyệt đối từ 15.7mb đến 20.3mb Điều đó đã cắt nghĩa cho
lý do chính của hai nơi này đã được lựa chọn và xây dựng trở thành các điểm du lịchnghỉ mát nổi tiếng ở nước ta
- Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dướng
Các điều kiện khí hậu có liên quan rất nhiều đến việc chữa bệnh, thậm chícòn được coi như một liệu pháp quan trọng Một số bệnh về huyết áp, tim mach, thầnkinh, hô hấp rất cần thiết được điều trị có sự kết hợp giữa các biện pháp y học với cácđiều kiện thiên nhiên Các điều kiện thuận lợi về áp suất không khí, về nhiệt độ, độ
ẩm, về ánh nắng, về lượng oxi và độ trong lành của không khí tỏ ra rất có hiệu quảtrong việc chữa bệnh và an dướng, có tác dụng nhanh chóng làm lành bệnh và phụchồi sức khỏe của con người Phần lớn các nhà an dướng, nhà nghỉ ở nước ta đã đượcxây dựng ở các điểm du lịch ven hồ nước, ven biển và ở các vùng núi có khí hậu tốt,thích hợp
- Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các loại hình du lịch thểthao, vui chơi, giải trí
Các loại hình du lịch thể thao, vui chơi giải trí như nhảy dù, tàu lượn, khinhkhí cầu, thả diều, thuyền buồm…rất cần thiết có các điều kiện thời tiết thích hợp nhưhướng gió, tốc đọ gió, quang mây, không có sương mù
- Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các hoạt động du lịch
Trang 36Để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch, số ngày có thời tiếttốt, nắng ráo, không có mưa hoặc không có diễn biến thời tiết phức tạo nhiêu fkhicũng được xem như nguồn tài nguyên khí hậu có thể khai thác để phục vụ mục đích
du lịch Thông thường vào thời kỳ ở các nơi có điều kiện khí hậu thuận lợi đối với sứckhỏe con người và để triển khai các hoạt động du lịch cũng là một yếu tố quan trọng
để thu hút khách tạo nên tính chất mùa vụ trong hoạt động du lịch Để khắc phục tínhchất mùa vụ do các điều kiện khai thác tài nguyên khí hậu du lịch gây nên rất cần thiếtphải đa dạng hóa các loại hình du lịch và tạo thêm nhiều sản phẩm du lịch mới, thíchhợp
Thủy vănĐối với haotj động du lịch, thủy văn cũng được xem như một dạng tàinguyên quan trọng Nhiều loại hình du lịch gắn bó với đối tượng nước Các đối tượngnước chính sau đây đã được khai thác như một tài nguyên du lịch
- Bề mặt nước và các bãi nông ven bờ
Bề mặt nước là mặt thoáng tạo nên phong cảnh đẹp, yên bình Bên cạnh hồrộng, các dòng sông lớn cảnh núi non, rừng cây, mây trời, mặt trời, ánh trăng, và cáccông trình kiến trúc soi bong nước là những phong cảnh hữu tình Các bãi biển hoặccác bãi ven hồ thường được sử dụng để tắm mát, dạo chơi trên mặt nước và các hoạtđộng thể thao nước như bơi lội, đua thuyền, lướt ván Ở nước ta dòng sông Hương thơmộng, các sông ngòi, kênh rạch chằng chịt ở đồng bằng sông Cửu Long, các hồ nướcthiên nhiên và nhân tạo rộng lớn và nhiều phong cảnh đẹp như hồ Ba Bể, hồ Tây, hồHòa Bình, các bãi biển đẹp như Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Non nước, Nha Trang,Vũng Tàu…đều là những điểm du lịch có sức hấp dẫn rất cao đối với khách du lịch
- Các điểm nước khoáng, suối nước nóng
Các điểm nước khoáng, suối nước nóng là tài nguyên thiên nhiên rất quýgiá để triển khai các loại hình du lịch tham quan, nghĩ dưỡng, chữa bệnh Tài nguyênnày ở nước ta cũng rất phong phú và nhiều nơi có nguồn nước đạt chất lượng caođược sử dụng trực tiếp làm nước uống, nước giải khát và đáp ứng được nhiều nhu cầu
an dưỡng, chữa bệnh cho khách du lịch, đặc biệt với một số bệnh về hệ vận động, thầnkinh, tiêu hóa, da liễu và nội tiết
Trang 37Ở nước ta đã điều tra khảo sát được trên 400 nguồn nước khoáng tự nhiên
lộ ra trên mặt và dưới dạng nước ngầm
Nguồn nước khoáng Việt Nam được đặc trưng bởi thành phần hóa học rất
đa dạng, có độ khoáng hóa cao (tời trên 30g/l) và hàm lượng các vi nguyên tố khá caonhư Broom đến 64.04mg/l, Iot đến 19.04mg/l, Flo đến 16.3 mg/l, Asen đến 0.8mg/l,
Bo đến 256.0mg/l, Sắt đến 373.0mg/l, Oxit Silic đến 488.0mg/l, Sunfua Hydro đến150mg/l Chính nhờ những yếu tố vi lượng này mà giá trị chữa bệnh và các giá trịkinh tế khác của nước khoáng ở nước ta tăng lên rõ rệt
Riêng với mục đích chữa bệnh, nguồn nước khoáng ở nước ta đã được phânchia thành các nhóm như nhóm nước khoáng Cacbonic, nhóm nước khoáng Silic,nhóm nước khoáng Brom- Iot- Bo, nhóm nước khoáng Sunfua Hydro, nhóm nướckhoáng phóng xạ, nhóm nước khoáng có thành phần Ion và tổng hàm lượng muối, vànhóm nước khoáng nóng
Đặc biệt nguồn nước khoáng nóng ở nước ta khá dồi dào, với trên 80% tổng
số nguồn có nhiệt độ cao trên 35%, ngoài tác dụng chữa bệnh còn có điều kiện thuậnlợi để hoạt động quanh năm, nhất là trong thời kỳ mùa đông tương đối lạnh ở miềnBắc nước ta
Các nguồn khoáng ở Vĩnh Hảo (Ninh Thuận), Mỹ Lâm (Tuyên Quang),Kim Bôi (Hòa Bình) là các điểm du lịch nước khoáng nổi tiếng ở nước ta được khaithác phục vụ đông đảo khách du lịch từ nhiều năm nay
Sinh vậtNguồn tài nguyên sinh vật ở nước ta rất đa dạng và phong phú Tài nguyênquý giá này cũng đã được khai thác để phục vụ cho mục đích du lịch
Tài nguyên sinh vật có giá trị tạo nên phong cảnh làm cho thiên nhiên đẹp
và sống động hơn Đối với một số loại hình du lịch như du lịch sinh thái, tham quan,nghiên cứu khoa học, tài nguyên sinh vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trước hết làtính đa dạng sinh học, là sự bảo tồn được nhiều nguồn gen quý giá rất đặc trưng chovùng nhiệt đới, trong đó có nhiều loài đặc hữu của Việt Nam, là việc tạo nên nhữngphong cảnh mang dáng dấp của vùng á nhiệt đới và ôn đới lạ mắt đối với những ngườisống ở vùng nhiệt đới
Tài nguyên sinh vật ở nước ta phục vụ mục đích du lịch được tập trung khaithác ở:
Trang 38- Các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên và các khu rừng di tích,lịch sử, văn hóa, môi trường
Để bảo vệ sự đa dạng và phong phú của các hệ sinh thái Việt Nam, Chínhphủ Việt Nam đã chú trọng xây dựng hệ thống các khu rừng đặc dụng
Tính đến năm 1997 trên phạm vi cả nước đã có 105 khu rừng đặc dụng,trong đó có 10 vườn quốc gia, 61 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa-lịch sử- môi trường với tổng diện tích là 2.092.466 ha bằng 10.5% diện tích đất lâmnghiệp và gần 6% diện tích lãnh thổ Việt Nam
Hệ thống vườn quốc gia bao gồm vường quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình)
có diện tích 22.200 ha được thành lập từ năm 1962, các vườn quốc gia Ba Bể (BắcKạn) có diện tích 23.340 ha, Ba Vì (Hà Tây) có diện tích 7.377ha và Tam Đảo ( VĩnhPhúc) có diện tích 36.883 ha được thành lập từ năm 1977, vườn quốc gia Nam CátTiên (Đồng Nai) có diện tích 35.302 ha được thành lập năm 1978, vườn quốc gia CônĐảo (Bà Rịa- Vũng Tàu) có diện tích 15.043 ha được thành lập năm 1984, các vườnquốc gia Cát Bà (Hải Phòng) có diện tích 15.200 ha, Bến Én (Thanh Hóa) có diện tích16.634 ha được thành lập từ năm 1986 và vườn quốc gia Yok Đon (Đắc Lắc) có diệntích lớn nhất tới 58.200 ha được thành lập từ năm 1991
Hệ thống các vườn quốc gia là nơi tập trung tính đa dạng sinh học cao trong
đó có nhiều loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm Theo kết quả điều tra nghiên cứuthì hiện ở nước ta đã phát hiện khoảng 11.000 loài thực vật và gần 2000 loài động vật,đặc biệt chỉ riêng trong 1997 trong tổng số 7 loài động vật đặc hữu phát hiện đượctrên thế giới thì ở Việt Nam có 4 loài Tính đa dạng sinh học cao, đặc biệt là sự hiệndiện của các loài động thực vật đặc hữu quý hiếm là yếu tố quan trọng để hệ thống cácvườn quốc gia Việt Nam trở thành những tài nguyên du lịch có giá trị Trong số cácvườn quốc gia hiện nay, vườn quốc gia Ba Bể với hồ tự nhiên và hệ thống núi đá vôiđược đánh giá là vào loại cổ nhất trên thế giới đang được đề nghị UNESCO xét đưavào danh mục di sản thiên nhiên thế giới
Ngoài ra còn một số khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, môi trường khá tiêubiểu có giá trị du lịch như Hương Sơn (Hà Tây), Côn Sơn- Kiếp Bạc (Hải Dương),Đền Hùng (Phú Thọ), Hoa Lư (Ninh Bình), Sầm Sơn ( Thanh Hóa), Rừng thông ĐàLạt (Lâm Đồng), núi Bà Đen (Tây Ninh) Các vườn quốc gia và các khu rừng di tíchlịch sử, văn hóa, môi trường này có giá trị khoa học và thẩm mỹ cao lại gắn liền với
Trang 39các điểm du lịch và tuyên du lịch nổi tiếng nên rất cần được chú trọng bảo vệ và khaithác phục vụ mục đích du lịch.
- Một số hệ sinh thái đặc biệt
Ở nước ta có một số hệ sinh thái đặc biệt rất tiêu biểu cho thiên nhiên củavùng nhiệt đới đã được khai thác phục vụ cho mục đích du lịch như các hệ sinh tháirừng ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, hệ sinh thái rạn san hô ở Quảng Ninh,Hải Phòng, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa- Vũng Tàu… các hệ sinh thái vùng đấtướt và cửa sông mà điển hình là khu vực Tràm Chim (Đồng Tháp), Xuân Thủy (NamĐịnh) đã được quy hoạch để trở thành các khu bảo vệ Ramsar đầu tiên ở nước ta vàcũng là các khu bảo vệ Ramsar đầu tiên ở vùng Đông Nam Á
- Các điểm tham quan sinh vật
Ở nước ta có rất nhiều điểm tham quan sinh vật thu hút đông đảo khách dulịch như tại các vườn thú, vườn bách thảo, các công viên vui chơi giải trí (thủy cung)
ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; các viện bảo tang sinh vật ở Hà Nội, Hải Phòng,Nha Trang; các sân chim, vườn chim và vườn hoa trái ở đồng bằng Sông Cửu Long;các cơ sở thuần dưỡng voi ở Buôn Đôn (Đắc Lắc), nuôi khi ở đảo Rều (Quảng Ninh),nuôi trăn, rắn, cá sấu ở đồng bằng sông Cửu Long…
Các cảnh quan du lịch tự nhiênTrên đây là các dạng tài nguyên du lịch tự nhiên chủ yếu dựa trên các thànhphần của tự nhiên để làm cơ sở cho việc xác định các loại hình du lịch và có địnhhướng khai thác chúng theo những chủ đề và chương trình nhất định Nhưng trongthực tế, các dạng tài nguyên luôn gắn bó với nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổsung và hỗ trợ cho nhau và cùng được khai thác một lúc tạo nên các sản phẩm du lịchhoàn chỉnh, có tính tổng hợp cao Vì thế các tài nguyên du lịch tự nhiên cần được xemxét dưới góc độ tổng hợp của các dạng tài nguyên với nhau tại mỗi một đơn vị lãnhthổ có không gian và thời gian xác định Các đơn vị lãnh thổ này xet về mặt địa lý tựnhiên là các thể tổng hợp tự nhiên có cấu trúc thẳng đứng là các thành phần tự nhiên,
có cấu trúc ngang bao gồm các bộ phận hợp thành, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
về nguồn gốc hình thành, về quá trình phát sinh, phát triển Các thể tổng hợp tự nhiênđược phân chia ra các cấp phân vị khác nhau với các quy mô, kích thước và được khaithác cho nhiều mục đích khác nhau Chỉ có một số cảnh quan tự nhiên hoặc các thànhphần, bộ phận của chúng chứa đựng các tài nguyên du lịch mới tạo nên các cảnh quan
Trang 40du lịch tự nhiên Tùy theo đặc điểm và quy mô mà có thể phân chia chúng thành cácđiểm du lịch tự nhiên hoặc các khu du lịch tự nhiên
Điểm du lịch tự nhiên là nơi có dạng tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khảnăng thu hút khách du lịch nhưng có giới hạn trong một phạm vi không lớn lắm
Khu du lịch tự nhiên có ưu thế nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, có nhiềudạng tài nguyên du lịch hấp dẫn, bao gồm một phạm vị không gian rộng hơn trong đó
có nhiều điểm du lịch tự nhiên Có thể quan niệm Vịnh Hạ Long (hoặc Hạ Long- CátBà) là một khu du lịch tự nhiên, với ưu thế nổi bật của cảnh quan núi đá vôi ngậpnước, có nhiều dạng tài nguyên du lịch tự nhiên đặc sắc (phong cảnh, hang động, khíhậu, sinh vật), có phạm vi không gian rộng lớn, hơn 1500km2, và có nhiều điểm dulịch tự nhiên hang Đầu Gốc, động Thiên Cung, bãi Ti Tốp, hòn Gà Chọi…
Hiện nay, phạm vi, kích thước của các điểm du lịch và các khu du lịch cũngchưa được xác định thống nhất Ngay việc Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục củaLiên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận các di sản thiên nhiên thế giới cũng đã thừanhận các di sản này có kích thước rất khác nhau Nếu như di sản Mai Reserve ở Xâysen chỉ rộng có 18ha thì di sản Dải san hô ngầm vĩ đại ở Ôxtralia có tổng diện tích tới
35 triệu ha
Các di sản thiên nhiên thế giớiTheo UNESCO, một địa điểm trên trái đất được xem xét và công nhận là disản thiên nhiên thế giới phải đáp ứng được ít nhất một trong các tiêu chuẩn và cácđiều kiện về tính toàn vẹn sau:
- Là những mẫu hết sức tiêu biểu cho những giai đoạn tiến hóa của trái đất
- Là những mẫu hết sức tiêu biểu cho quá trình địa chất đang diễn biễn cho
sự tiến hóa sinh học và tác động qua lại giữa con người và môi trường thiên nhiên.Loại mẫu này khác biệt với loại thuộc thời kỳ của lịch sử trái đất và liên quan đến quátrình tiến hóa đang diễn ra của thực vật và động vật, các dạng địa hình, các miền biển
và miến nước ngọt
- Có những hiện tượng tạo thành hoặc đặc điểm tự nhiên hết sức nổi bật nhưnhững mẫu tiêu biểu nhất cho hệ sinh thái quan trọng nhất, những phong cảnh tuyệtđẹp hoặc những tổ hợp đặc sắc các yếu tố thiên nhiên và văn hóa