1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lịch sử nghiên cứu magma Việt Nam

13 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 514,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thành tạo magma Việt Nam từ lâu đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đưa ra những sơ đồ phân chia magma khác nhau. Dưới đây sẽ lần luợt điểm qua một số sơ đồ chủ yếu nhất theo trật tự thời gian, thuộc 2 giai đoạn: giai đoạn trước năm 1954 và giai đoạn sau năm 1954

Trang 2

Các thành tạo magma Việt Nam từ lâu đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đưa ra những sơ đồ phân chia magma khác nhau Dưới đây sẽ lần luợt điểm qua một số sơ đồ chủ yếu nhất theo trật tự thời gian, thuộc 2 giai đoạn: giai đoạn trước năm 1954 và giai đoạn sau năm 1954

1 Giai đoạn trước năm 1954

Trong giai đoạn này địa chất Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng chủ yếu do người Pháp tiến hành Lúc đầu việc nghiên cứu địa chất còn mang tính

tản mạn “Bản đồ địa chất Đông Dương” tỷ lệ 1: 4.000.000 (Fuchs, 1882) chỉ là những nét phác thảo sơ lược về cấu tạo địa chất Đông Dương Từ khi thành lập “Sở

Địa chất Đông Dương” (1889) cùng với sự xuất bản các kỷ yếu (mémories; 1912 - 1927) và chuyên san địa chất (bulletins, từ 1913), việc nghiên cứu địa chất ở Đông

Dương đã được đẩy mạnh hơn, đặc biệt là về địa tầng và cấu trúc khu vực

Fromaget (1927) là người đầu tiên nêu quan niệm về vai trò của chuyển động

Hercyni ở Đông Dương kèm theo xâm nhập granit-monzonit và granodiorit sau Môscôvi Ông đã chia lịch sử địa chất khu vực trước Trias ra các giai đoạn: khởi

đầu trước Hecxin, tạo núi (Dinant và Môscôvi), phun trào (Ural-Permi), đồng thời cũng nhấn mạnh pha kịch phát ở cuối Trias “Xứ Đông Pháp, cấu tạo địa chất, đá,

các mỏ và mối liên quan có thể của chúng với kiến tạo” là một công trình lớn của

Fromaget (1941) cùng với tờ “Bản đồ địa chất Đông Dương, tỷ lệ 1: 2.000.000 ” (Paris, 1952) đã phản ánh các kết quả nghiên cứu chủ yếu của Sở Địa chất Đông

Dương và các quan điểm chủ đạo của Fromaget và Saurin Trên bản đồ này phần lớn khối lượng phun trào acid được coi như có tuổi Trias

Nhìn chung, trong giai đoạn này các công trình nghiên cứu địa chất lãnh thổ Đông Dương được tiến hành bởi các nhà địa chất Pháp theo xu hướng kiến tạo - địa tầng Chính vì vậy, những vấn đề về đặc điểm thạch học, khoáng sản liên quan với các thành tạo magma hầu như không được chú ý Trong khảo sát thực địa và chỉnh

lý tài liệu văn phòng hoàn toàn không tiến hành việc phân chia tổ hợp tự nhiên các

đá magma (phức hệ hay loạt), cũng như xây dựng các tiêu chí phân loại và đối sánh chúng Chỉ có 2 công trình về thạch học các đá magma (P.Bourret, 1924 và A

Lacroix, 1933) được công bố trong giai đoạn này Trong công trình đầu, các kiểu

thạch học chủ yếu của đá magma và biến chất ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ được mô

tả rất ngắn gọn và sơ lược, thiếu số liệu về tuổi thành tạo và không phân nhóm đá

theo phức hệ Trong chuyên khảo nổi tiếng của Lacroix (1933) việc phân chia các

đá đã được tiến hành, mặc dù chỉ dựa trên những nguyên tắc cơ bản của hệ thống phân loại thạch học thuộc giai đoạn này Tuy vậy, đặc điểm thạch học các đá được trình bày quá ngắn gọn và không đầy đủ, luận giải về vị trí địa chất - cấu trúc của chúng còn rất sơ lược và hầu như không giúp hiểu rõ hơn về tiến trình hoạt độn g magma của khu vực nghiên cứu Về cơ bản, chuyên khảo này bao gồm các tài liệu

do chính Lacroix thu thập theo những lộ trình thực địa trên toàn lãnh thổ Đông Dương, cùng với tài liệu của các đồng nghiệp Giá trị lớn nhất của chuyên khảo này cho đến nay chính là số liệu phân tích hoá học các đá magma ở Đông Dương

Những quan điểm cơ bản về vị trí địa chất và sự phân chia theo tuổi các thành tạo magma Việt Nam cũng như toàn Đông Dương được chứa đựng chủ yếu trong

Trang 3

các công trình nghiên cứu của J Fromaget (1930, 1933, 1935, 1941, 1952) Ông đã

phân chia các đá magma xâm nhập ở Đông Dương ra các nhóm tuổi sau: Arkei, Proterozoi, Hercyni và Neotrias; đồng thời đã nhấn mạnh vai trò của các xâm nhập Caledoni và sau Lias ở phần phía Nam lãnh thổ Ông đã xếp vào nhóm tuổi Tiền Cambri các đá granit dạng gneis của khối Sông Chảy, granitoid bị gneis hoá thuộc dãy Phan Si Pan, trong số đó có cả granit trẻ bị biến chất khu vực thuộc các khối Pu

Si Lung, Nậm Rốm, Phia Ma Như vậy, nhóm đá magma tuổi Proterozoi bao gồm các thành tạo xâm nhập rất đa dạng về thành phần và có tuổi rất khác nhau Các đá

granitoid Hercyxin (trước Carbon muộn), theo Fromaget, phổ biến rộng rãi nhất, bao gồm các khối ở Trung Bộ, Đông Bắc Bắc Bộ và Tây Bắc Bắc Bộ (thực tế rất

nhiều khối xâm nhập kể trên có tuổi trước Trias sớm và muộn, một phần Creta muộn và Paleogen) Fromaget cho rằng các xâm nhập kiềm là đồng kiến tạo

(syntectonic) và xuất hiện trong thời gian chuyển động của các lớp phủ kiến tạo

Với quan điểm này ông đã cố gắng giải thích mối tương quan ngược giữa đá kiềm với các đá vụn thô màu đỏ và xếp chúng đều vào Nori Rõ ràng sự phân chia magma của Fromaget còn quá sơ lược và chưa sát với thực tế

2 Giai đoạn từ năm 1954 đến nay

Đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước việc nghiên cứu magma được các nhà địa chất Xô Viết và Việt Nam tiến hành gắn liền với nhiệm vụ đo vẽ bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản ở tỷ lệ trung bình Trong bản đồ địa chất miền Bắc Việt

Nam tỷ lệ 1:500.000 (1960 - 1965) Dopjikov và cộng sự đã phân chia các thành tạo

xâm nhập miền Bắc Việt Nam ra các phức hệ và các loạt với hai nhóm tuổi thành

tạo là Trước Cambri (phức hệ Sông Chảy, loạt Bảo Hà - Ca Vịnh) và sau Trias (loạt

Điện Biên Phủ, loạt Bản Xang-Phia Bioc, loạt Phan Si Pan ) (bảng 1.1) Các phức

hệ xâm nhập và á núi lửa phân biệt với nhau theo tuổi thành tạo, các dấu hiệu về thạch học, đặc điểm xâm nhập, vị trí của chúng trong các cấu trúc địa chất, đặc điểm khoáng hoá v.v Các đá núi lửa được phân chia trong các phân vị trầm tích

và trầm tích - núi lửa (điệp Sông Hiến, Jura không phân chia )

Bảng 1.1: SƠ ĐỒ PHÂN CHIA MAGMA XÂM NHẬP

MIỀN BẮC VIỆT NAM

(Dopjikov A.E và nnk, 1965)

I CÁC THÀNH TẠO MAGMA TRƯỚC CAMBRI MUỘN

1 Phức hệ Sông Chảy (NP3)

2 Loạt Bảo Hà - Ca Vịnh (NP3)

a Phức hệ Bảo Hà (gabro-amphibolit)

b Phức hệ Ca Vịnh (plagiogranit)

II CÁC THÀNH TẠO MAGMA TRIAS

3 Loạt Điện Biên Phủ (T1)

4 Loạt Bản Xang - Phia Bioc (T3)

a Phức hệ Bản Xang - Núi Nưa (siêu bazic)

b Phức hệ Núi Chúa (gabroid)

Trang 4

c Phức hệ Phia Bioc (granitoid)

III CÁC THÀNH TẠO MAGMA CRETA - PALEOGEN

5 Phức hệ Cao Bằng (K1)

6 Phức hệ Pia Oắc (K2)

7 Loạt Phan Si Pan (K2-E)

a Phức hệ Phu Sa Phin

b Phức hệ Đèo Mây

c Phức hệ Mường Hum - Phia Ma

d Phức hệ Nậm Xe - Tam Đường

e Phức hệ Yê Yên Sun

f Phức hệ Sông Chu - Bản Chiềng

g Phức hệ Pu Sam Cap

h Phức hệ Chợ Đồn

8 Các xâm nhập á núi lửa có tuổi khác nhau

Các khái niệm chủ yếu được sử dụng trong sơ đồ phân chia trên gồm:

* “Phức hệ xâm nhập” bao gồm các nhóm đá gần gũi nhau về nguồn gốc (đồng magma), và có chung về đặc điểm địa hoá và sinh khoáng Phức hệ xâm nhập thường là các thành tạo nhiều pha (có nghĩa là sự hình thành các thể xâm nhập là

kết quả của sự tham gia một số hợp phần trong lò magma hay ở mức định vị này của xâm nhập) Các đá của phức hệ xâm nhập có thể có nguồn gốc sâu, là sản phẩm

của quá trình phân dị kết tinh, đồng hoá và các quá trình tương tự xảy ra trong các tầng cấu trúc trên Các phức hệ xâm nhập còn bao gồm các thành tạo mạch, biến chất tiếp xúc và sau magma đi kèm với các khối xâm nhập

* “Loạt xâm nhập” để chỉ nhóm đá magma được thống nhất bởi tính gần gũi

về thời gian hình thành các thể xâm nhập, và bởi vậy có chung các điều kiện kiến tạo và được xuất hiện trong cùng một chu kỳ hoạt động magma dưới sâu Các quá trình thành tạo magma dưới sâu có thể suy luận theo thành phần và thứ tự thành tạo của các thể xâm nhập Trong các thời điểm khác nhau của sự tiến hoá, lò magma có thể chứa đựng các mảnh vỏ lục địa hoặc manti với thành phần khác biệt Bởi vậy,

có thể xếp vào cùng một “loạt xâm nhập” các thể xâm nhập được cấu thành bởi các

đá rất khác nhau: siêu bazơ, bazơ và acid (loạt Bản Xang - Phia Bioc), bazơ - acid (loạt Bảo Hà - Ca Vịnh và Điện Biên Phủ) hoặc siêu kiềm - kiềm - acid và bazơ (loạt Phan Si Pan) Loạt xâm nhập có thể liên tục (như loạt Điện Biên Phủ, Phan Si

Pan) hoặc không liên tục (như loạt Bảo Hà - Ca Vịnh, Bản Xang - Phia Bioc)

Trong công trình nghiên cứu này các thành tạo magma, đặc biệt là magma xâm nhập, bước đầu đã được nghiên cứu chi tiết, có hệ thống theo những đặc điểm

về địa chất - cấu trúc, thành phần khoáng - thạch học, địa hoá học, vị trí tuổi và khoáng sản liên quan Mặc dù còn có hạn chế về số liệu phân tích định lượng có độ

chính xác cao (nhóm nguyên tố vết và đồng vị), song công trình nghiên cứu này

đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nghiên cứu địa chất nói chung và magma nói riêng ở miền Bắc Việt Nam Chỉ tiếc rằng, trong sơ đồ phân chia magma nêu

Trang 5

trên hoàn toàn thiếu vắng giai đoạn hoạt động magma Paleozoi Sự khiếm khuyết này đã được các nhà địa chất Việt Nam bổ sung trong các công trình nghiên cứu tiếp theo, chủ yếu trong công tác đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 và được tổng

hợp xuất bản trong cuốn “Địa chất Việt Nam - phần miền Bắc” do Trần Văn Trị chủ biên (1977) Trong công trình nghiên cứu này, đơn vị phân chia cơ bản các thành tạo magma xâm nhập là: “phức hệ” - là tổ hợp cộng sinh tự nhiên của các đá

magma gần gũi về đặc điểm tướng và vị trí cấu trúc, phát sinh trong cùng một giai

đoạn và chế độ magma - kiến tạo Phân vị lớn hơn phức hệ là “nhóm phức hệ” - là

tổ hợp các phức hệ magma có quan hệ chuyển tiếp về thành phần vật chất và sinh ra

trong cùng một giai đoạn magma - kiến tạo; và “loạt phức hệ” - là tổ hợp các phức

hệ magma sinh thành trong cùng một thời kỳ hay chu kỳ magma - kiến tạo Các

phức hệ xâm nhập và phun trào đồng magma (comagmatic) của từng giai đoạn được gộp chung trong khái niệm “dãy núi lửa - pluton” Mỗi dãy có thể bao gồm từ một đến hai phức hệ xâm nhập (pluton, á núi lửa) và một phức hệ núi lửa Các thành tạo núi lửa, theo truyền thống vẫn được phân chia trong các phân vị địa tầng (điệp, hệ

tầng, )

Theo nội dung trên, các tác giả đã phân định được 3 loạt phức hệ tương ứng với 3 thời kỳ hoạt động magma trong lịch sử hình thành và phát triển của các miền

uốn nếp miền Bắc Việt Nam (bảng 1.2):

a- Loạt Proterozoi muộn - Paleozoi ở Bắc Bộ là sản phẩm của chu kỳ magma - kiến tạo địa máng thuộc miền uốn nếp Paleozoi Bắc Bộ

b- Loạt Paleozoi Trường Sơn tương ứng với chu kỳ magma - kiến tạo địa máng của hệ uốn nếp Paleozoi muộn Trường Sơn

c- Loạt Permi muộn - Paleogen đặc trưng chung cho cả miền Bắc Việt Nam và tương ứng về thời gian với sự hình thành các võng phân dị kiểu Sông Đà, Phong Sa

Lỳ, loạt võng chồng kiểu Sông Hiến, An Châu, Sầm Nưa, Tú Lệ, Pu Sam Cáp …

Các vòm phủ basalt Đệ tứ (sau Paleogen) ứng với chuyển động kiến tạo mới (Neotectonics)

Bảng 1.2: SƠ ĐỒ PHÂN CHIA MAGMA XÂM NHẬP VIỆT NAM

(PHẦN MIỀN BẮC)

(Trần Văn Trị, Nguyễn Xuân Tùng & nnk, 1977)

A THỜI KỲ PROTEROZOI MUỘN - PALEOZOI Ở BẮC BỘ (NP-PZ)

I GIAI ĐOẠN NP-1

1 Phức hệ Bảo Hà

2 Phức hệ Ca Vịnh

3 Phức hệ Bản Ngậm

II GIAI ĐOẠN PZ:

1 Phức hệ gabro - diorit - diaba

2 Phức hệ Sông Chảy

3 Phức hệ Po Sen

Trang 6

4 Phức hệ Loa Sơn

5 Phức hệ Mường Lát

6 Phức hệ Phia Ma

7 Phức hệ Mường Hum

B THỜI KỲ PALEOZOI Ở TRƯỜNG SƠN (PZ)

1 Phức hệ Vit Thu Lu

2 Phức hệ Bù Khạng

3 Phức hệ Trường Sơn

C THỜI KỲ PERMI MUỘN - PALEOGEN (P3-E)

I GIAI ĐOẠN P 3 -T 3 :

a Nhóm phức hệ Điện Biên - Ngân Sơn

1 Phức hệ Điện Biên

2 Phức hệ Ngân Sơn

b Nhóm phức hệ Núi Nưa - Phia Bioc:

1 Phức hệ Núi Nưa và Bản Xang

2 Phức hệ Núi Chúa

3 Phức hệ Cao Bằng

4 Phức hệ Sông Mã - Núi Điệng

5 Phức hệ Phia Bioc

II GIAI ĐOẠN J-K 1

1 Phức hệ Mù Cang Chải (Nậm Chiến)

2 Phức hệ Phu Sa Phin

III GIAI ĐOẠN K 2

Phức hệ Pia Oắc

IV GIAI ĐOẠN E (NHÓM PHỨC HỆ PHAN SI PAN)

1 Phức hệ Yê Yên Sun

2 Phức hệ Sông Chu - Bản Chiềng

3 Phức hệ Nậm Xe - Tam Đường

4 Phức hệ Chợ Đồn

5 Phức hệ Pu Sam Cap

Một thành công nổi bật của công trình nghiên cứu này là đã xác lập giai đoạn hoạt động magma Paleozoi phát triển phong phú và đa dạng trong cả hai miền cấu trúc Bắc Bộ và Trường Sơn, được đặc trưng bằng các phức hệ magma xâm nhập và các hệ tầng núi lửa, tạo nên những tổ hợp pluton - núi lửa điển hình Tuy nhiên, sơ

đồ phân chia magma Việt Nam (phần miền Bắc) trong công trình nghiên cứu này chủ yếu vẫn đứng trên quan điểm kiến tạo địa máng (tĩnh); mặt khác, do số liệu

phân tích định lượng thành phần vật chất các thành tạo magma còn bị hạn chế, đặc

biệt là các giá trị tuổi đồng vị (chủ yếu phân tích bằng phương pháp K-Ar) Hơn

nữa, do quá nhấn mạnh về đặc điểm, vị trí cấu trúc của các thành tạo magma trong

Trang 7

chu kỳ magma - kiến tạo hơn là luận giải sự tiến hoá về thành phần vật chất và tính cùng nguồn magma của chúng, nên việc phân chia các phức hệ, các loạt còn định

tính, ít sức thuyết phục (ví dụ: việc xếp các phức hệ Po Sen, Mường Hum vào giai

đoạn hoạt động magma Paleozoi chỉ dựa trên yếu tố bình đồ cấu trúc là chưa chuẩn xác; việc ghép phức hệ Ngân Sơn với phức hệ Điện Biên, phức hệ Núi Nưa với phức hệ Phia Bioc vào cùng một nhóm phức hệ chưa được thoả đáng) Các sản

phẩm magma của các thời kỳ hình thành móng cổ trước Proterozoi muộn chưa được nghiên cứu chi tiết, phân chia cụ thể

* Sau ngày đất nước ta hoàn toàn thống nhất (1975) công tác nghiên cứu địa

chất nói chung và magma nói riêng được đẩy mạnh và đã đạt được nhiều thành quả

rực rỡ Tiêu biểu cho thời kỳ này chính là công trình “Bản đồ địa chất Việt Nam tỷ

lệ 1:500.000” do chính các nhà địa chất Việt Nam thực hiện Trong công trình

nghiên cứu này các thành tạo magma được nghiên cứu chi tiết, được đối sánh, tổng hợp thận trọng để phân ra các phức hệ, nhịp, nhịp lớn magma với các khái niệm chủ yếu sau:

“Phức hệ magma” là đơn vị cơ sở để đo vẽ bản đồ địa chất khu vực, gồm các thể địa chất magma có mối liên quan về lãnh thổ (trong phạm vi đới thành hệ cấu

trúc), gần gũi nhau về tuổi và có mối liên quan thạch sinh (hình thành trong cùng một quá trình tạo đá, tức là đồng magma) “Nhịp magma” gồm nhiều phức hệ

magma xuất hiện trong một giai đoạn lịch sử địa chất “Nhịp lớn magma” gồm các

nhịp magma hoặc các phức hệ magma, thường luôn bắt đầu từ những tổ hợp đá magma mafic cao natri, rồi theo thời gian được thay thế bằng tổ hợp ngày càng giàu granitoid hơn, ngày càng giàu kali hơn và vào giai đoạn kết thúc thường hình thành

các đá magma có độ kiềm cao hoặc các đá kiềm thực sự Khái niệm “nhịp lớn

magma” này gần gũi với quan điểm của Iu A Bilibin (1955), G Stille (1964), Iu

A Kuznetsov (1964) về tiến hoá magma có quy luật và định hướng một cách

nghiêm ngặt trong tiến trình phát triển các miền uốn nếp địa máng

Bảng 1.3: SƠ ĐỒ PHÂN CHIA CÁC THÀNH TẠO MAGMA VIỆT NAM

(Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao, 1988; Đào Đình Thục & Huỳnh Trung, 1995)

I NHỊP LỚN MAGMA ARKEI - PROTEROZOI SỚM:

A Nhịp magma Arkei:

Phức hệ Kon Kbang

Phức hệ Sông Ba

Phức hệ Plei Manko

B Nhịp magma Proterozoi sớm:

Phức hệ Bảo Hà

Phức hệ Ca Vịnh

Phức hệ Sông Re

II NHỊP LỚN MAGMA PROTEROZOI MUỘN (TRƯỚC SINI):

Phức hệ Po Sen

Trang 8

Phức hệ Chu Lai - Ba Tơ

Phưc hệ Xóm Giấu

Phức hệ Mường Hum

III NHỊP LỚN MAGMA PALEOZOI SỚM - GIỮA:

A NHỊP MAGMA PALEOZOI SỚM:

* Các thành tạo núi lửa:

Điệp Sông Mã

Hệ tầng A Vương

* Các thành tạo xâm nhập

Phức hệ Núi Nưa,

Phức hệ Hiệp Đức

Phức hệ Bó Xinh

Phức hệ Chiềng Khương

B NHỊP MAGMA PALEOZOI SỚM - GIỮA (TRƯỚC DEVON)

* Các thành tạo núi lửa:

Hệ tầng Long Đại và Sông Cả

Hệ tầng Nam Du

* Các thành tạo xâm nhập:

Phức hệ Sông Chảy

Phức hệ Đại Lộc

C NHỊP MAGMA PALEOZOI GIỮA (TRƯỚC CACBON)

* Các thành tạo núi lửa:

Hệ tầng Pia Phương

* Các thành tạo xâm nhập:

Phức hệ Ngân Sơn

Phức hệ Mường Lát

Phức hệ Trường Sơn

Phức hệ Phia Ma

IV NHỊP LỚN MAGMA PALEOZOI MUỘN - MESOZOI SỚM

A NHỊP MAGMA PALEZOI MUỘN:

* Các thành tạo núi lửa

Hệ tầng Đăk Lin

Hệ tầng Cẩm Thuỷ

* Các thành tạo xâm nhập

Phức hệ Ba Vì

Phức hệ Cao Bằng

Phức hệ Điện Biên

Trang 9

Phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn

B NHỊP MAGMA TRIAS SỚM - GIỮA

* Các thành tạo núi lửa

Hệ tầng Sông Hiến

Hệ tầng Đồng Trầu

Hệ tầng Mang Yang

* Các thành tạo xâm nhập

Phức hệ Núi Điệng

Phức hệ Sông Mã

Phức hệ Vân Canh

C NHỊP MAGMA TRIAS MUỘN (TRƯỚC NORI)

* Các thành tạo núi lửa

Hệ tầng Mường Trai

* Các thành tạo xâm nhập

Phức hệ Núi Chúa

Phức hệ Phia Bioc

Phức hệ Hải Vân

V NHỊP LỚN MAGMA MESOZOI MUỘN - KAINOZOI SỚM

* Các thành tạo núi lửa

Hệ tầng Đèo Bảo Lộc

Hệ tầng Đơn Dương

Phức hệ núi lửa Tú Lệ

Hệ tầng Pu Tra

* Các thành tạo xâm nhập

Phức hệ Định Quán - Ankroet

Phức hệ Đèo Cả

Phức hệ Phu Sa Phin

Phức hệ Pia Oắc

Phức hệ Yê Yên Sun

Phức hệ Bản Chiềng

Phức hệ Chợ Đồn

Phức hệ Pu Sam Cap

VI NHỊP LỚN MAGMA KAINOZOI MUỘN

* Các thành tạo núi lửa

Basalt Kainozoi

* Các thành tạo xâm nhập

Phức hệ Phước Thiện

Trang 10

Theo sơ đồ phân chia trên (bảng 1.3), các thành tạo magma Việt Nam được

phân ra 6 nhịp lớn magma: Arkei - Proterozoi sớm; Proterozoi muộn; Paleozoi sớm

- giữa; Paleozoi muộn - Mesozoi sớm; Mesozoi muộn - Cenozoi sớm và Cenozoi muộn Trong mỗi nhịp lớn magma bao gồm các nhịp và phức hệ magma cụ thể Nhìn tổng thể, trong chuyên khảo này, các thành tạo magma Việt Nam đã được nghiên cứu, tổng hợp khá đầy đủ và chi tiết về đặc điểm địa chất - cấu trúc, thạch học - khoáng vật, thạch địa hoá, vị trí tuổi và khoáng sản liên quan Lần đầu tiên các thành tạo magma tuổi Arkei đã được mô tả ở địa khối Kon Tum trong nhịp magma Arkei duy nhất ở nước ta Các thành tạo magma xâm nhập và núi lửa đã được phân chia trong cùng một nhịp magma thể hiện rõ mối liên quan về nguồn gốc

giữa chúng - tính cùng nguồn magma (comagmatic)

Tuy nhiên, do đứng trên quan điểm kiến tạo địa máng (tĩnh), nên việc gộp các

phức hệ magma xâm nhập, các thành tạo núi lửa vào các nhịp, nhịp lớn magma chủ yếu tuân theo tiến trình hoạt động magma trong các chu kỳ magma - kiến tạo của các miền địa máng uốn nếp, mà ít đề cập đến việc luận giải môi trường địa động lực thành tạo các dung thể magma theo học thuyết kiến tạo mảng Hơn thế nữa, tuổi thành tạo của một số phức hệ magma còn thiếu số liệu phân tích tuổi đồng vị tin cậy, mà đôi khi chỉ dựa trên sự đối sánh với các thành tạo trầm tích - biến chất mà tuổi thành tạo của chúng lại căn cứ trên mức độ biến chất hoặc sự tương đồng về thành phần thạch học

* Trong công trình nghiên cứu “Thành hệ địa chất và địa động lực Việt Nam” (Nguyễn Xuân Tùng, Trần Văn Trị và nnk, 1992) các thành tạo magma Việt Nam đã

được tổng hợp và luận giải theo quan điểm kiến tạo mảng: phân tích thành phần vật chất - cấu trúc theo phương ngang và trong không gian - thời gian gọi tắt là phân

tích ngang (lateral analysis) Chúng đã được phân ra các thành hệ với quan niệm:

“Thành hệ magma là tổ hợp cộng sinh tự nhiên của các đá magma gần gũi về đặc

điểm tướng, cùng nguồn gốc và có cùng điều kiện địa động kiểm soát sự định vị của chúng” Các thể và các phức hệ magma cụ thể được xem như biểu hiện thực tế của

các thành hệ (hoặc kiểu thành hệ) Phân vị lớn hơn thành hệ là “họ thành hệ” (siêu

mafic và mafic, femic - salic, salic, migmatit, magma "khô"…)

Bảng 1.4: CÁC THÀNH HỆ MAGMA VIỆT NAM

(Nguyễn Xuân Tùng, Trần Văn Trị, 1992)

A HỌ THÀNH HỆ SIÊU MAFIC VÀ MAFIC

1 Thành hệ dunit - harburgit

2 Thành hệ pyroxenit - peridotit

3 Thành hệ siêu mafic - gabroid kiềm

4 Thành hệ gabro - verlit

5 Thành hệ basalt tholeit

6 Thành hệ basalt cao natri

7 Thành hệ basalt olivin kiềm

Ngày đăng: 17/10/2016, 15:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN