Năm 1996 Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị TTĐTBDGVLLCT của Đại học Quốc gia Hà Nội thành lập, Đại học Quốc gia Hà Nội lúc này có 2 Bộ môn Lịch sử Đảng: Bộ môn Lị
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=======================
NGUYỄN THANH HẢI
ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI (1974-2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=======================
NGUYỄN THANH HẢI
ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI (1974-2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đăng Tri
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Đăng Tri, có kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thanh Hải
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ của các thầy cô giáo khoa Lịch sử của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Ngô Đăng Tri - Trưởng bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Khoa Lịch sử) đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thanh Hải
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 7
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu chính 8
6 Bố cục 8
Chương 1: ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG Ở ĐẠI HỌC TỔNG HỢP HÀ NỘI (TỪ NĂM 1974 ĐẾN NĂM 1995) 9
1.1 Đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng ở Bộ môn Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử (từ năm 1974 đến năm 1985) 9
1.1.1 Quá trình hình thành Bộ môn Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử 9
1.1.2 Đào tạo và nghiên cứu tại Bộ môn Lịch sử Đảng từ năm 1974 đến 1985 16
1.2 Đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng từ năm 1986 đến năm 1995 22
1.2.1 Tại Bộ môn Lịch sử Đảng thuộc Khoa Lịch sử 22
1.2.2 Tại Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 31
Tiểu kết 39
Chương 2: ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI (TỪ NĂM 1996 ĐẾN 2014) 41
2.1 Đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng ở Bộ môn Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 41
2.1.1 Đào tạo và nghiên cứu từ năm 1996 đến năm 2005 41
2.1.2 Đào tạo và nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2014 48
2.2 Đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng ở Bộ môn Lịch sử Đảng, Trung
Trang 7tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị 57
2.2.1 Đào tạo và nghiên cứu từ năm 1996 đến năm 2005 57
2.2.2 Đào tạo và nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2013 67
Tiểu kết 72
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 73
3.1 Nhận xét chung 73
3.1.1 Về thành tựu 73
3.1.2 Về hạn chế 83
3.2 Kinh nghiệm và các vấn đề đặt ra 89
3.2.1 Kinh nghiệm 89
3.2.2 Một số vấn đề đặt ra 94
Tiểu kết 98
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 109
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bộ môn khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam thuộc Khoa Lịch
sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (trước đây là Đại học Tổng hợp Hà Nội) được thành lập năm 1974 với nhiệm
vụ nghiên cứu khoa học và đào tạo cử nhân Lịch sử Đảng Từ năm 1988, Bộ môn Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử đảm nhiệm thêm chức năng giảng dạy môn Lịch sử Đảng cho toàn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Năm 1995, Đại học Tổng hợp Hà Nội tách thành 2 trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXH&NV) và Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN), Bộ môn Lịch
sử Đảng thuộc Khoa Lịch sử, ĐHKHXH&NV Năm 1996 Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị (TTĐTBDGVLLCT) của Đại học Quốc gia Hà Nội) thành lập, Đại học Quốc gia Hà Nội lúc này có 2 Bộ môn Lịch sử Đảng: Bộ môn Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử dạy môn Lịch sử Đảng (sau là môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam) cho sinh viên hai trường ĐHKHXHNV và ĐHKHTN, đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng; Bộ môn Lịch sử Đảng của Trung tâm làm nhiệm
vụ dạy môn Lịch sử Đảng (sau là Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam) cho sinh viên các trường, khoa còn lại của Đại học Quốc gia Hà Nội, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng
Năm 2013, Trung tâm ĐTBDGVLLCT giải thể, Bộ môn Lịch sử Đảng của Trung tâm sáp nhập vào Bộ môn Lịch sử Đảng của Khoa Lịch sử Bộ môn Lịch sử Đảng Khoa Lịch sử lúc này vừa làm chức năng Bộ môn chuyên ngành của Khoa Lịch sử đó là: đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ lịch sử; vừa làm chức năng của Bộ môn Lý luận chính trị là dạy môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam cho toàn Đại học Quốc gia Hà Nội
Qua 40 năm đào tạo và nghiên cứu khoa học (1974-2014), Bộ môn
Trang 9Lịch sử Đảng của Đại học Tổng hợp và sau là Đại học Quốc gia Hà Nội đã đạt được những thành tựu to lớn về đào tạo và nghiên cứu khoa học Về đào tạo, hai Bộ môn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (nay là môn Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam) cho toàn thể sinh viên của trường Đại học Tổng hợp và Đại học Quốc gia Hà Nội Trong đào tạo chuyên ngành, hai Bộ môn đã trở thành địa chỉ hàng đầu, uy tín, tin cậy trong đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng, đã đào tạo hàng ngàn cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ Lịch sử Đảng, góp phần cung cấp đội ngũ cán bộ chất lượng cho các trường Đại học, viện nghiên cứu và hệ thống chính trị các cấp Về nghiên cứu khoa học, hai
Bộ môn đã chủ trì và tham gia biên soạn thành công nhiều công trình có giá
trị cao về Lịch sử Đảng như: “Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”,
“Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Giáo
trình tư tưởng Hồ Chí Minh”, “82 năm Đảng Cộng sản Việt Nam, những chặng đường”, “Đảng với vấn đề nông dân, nông thôn, nông nghiệp thời kỳ 1930-1945”…
Tuy vậy, hiện nay Bộ môn Lịch sử Đảng cũng như các ngành khoa học khác đang đứng trước những yêu cầu cấp bách cần giải quyết: đổi mới chương trình và hệ thống chuyên đề đại học, sau đại học; về sự thống nhất nhận thức một số sự kiện lịch sử Đảng; về bổ sung đội ngũ cán bộ giáo viên;
về kết hợp giữa nhiệm vụ của Bộ môn chuyên ngành thuộc Khoa Lịch sử với
chức năng kiêm nhiệm giảng dạy môn “Đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam” cho toàn ĐHQGHN,…
Năm 2014 là năm kỷ niệm 40 năm thành lập Bộ môn lịch sử Đảng ở Đại học Quốc gia Hà Nội Đây là mốc lịch sử hết sức quan trọng của Bộ môn nói riêng và của ngành lịch sử Đảng trên cả nước nói chung Trong dòng chảy lịch sử 40 năm, Bộ môn đã có rất nhiều đóng góp cũng như những kinh
Trang 10nghiệm quý báu, đặc biệt trong vấn đề đào tạo và nghiên cứu khoa học
Xuất phát từ thực tiễn trên đây, tôi quyết định chọn đề tài “Đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở Đại học Quốc gia Hà Nội (1974-2014)” nhằm trình bày khái quát công tác đào tạo đại học, sau đại học
cũng như hoạt động nghiên cứu khoa học Lịch sử Đảng suốt 40 năm hình thành và phát triển, trên cơ sở đó, khẳng định những thành tựu, hạn chế, và rút
ra kinh nghiệm cho công tác đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bộ môn Lịch sử Đảng tại Đại học Quốc gia Hà Nội có quá trình phát triển lâu dài, mang ý nghĩa lớn Bởi vậy, đã có một số cuốn sách, bài báo, tạp chí hay những bài viết đề cập đến những nội dung liên quan với mức độ và cách tiếp cận khác nhau, tiêu biểu như:
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) Quá trình xây dựng và trưởng thành, PGS.TS Vũ Quang Hiển, Tạp chí Lịch sử Đảng số 10-2006; Bộ môn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam những cố gắng và thành tựu, PGS.TS Ngô
Đăng Tri NXB CTQG, Hà Nội, 1996 Trong các bài viết này, các tác giả đã
đề cập đến tình hình công tác tổ chức đội ngũ cán bộ, cũng như công tác đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học của Bộ môn qua các thời kỳ; đây là những bài viết có tính khái quát cao, trình bày tổng quan về Bộ môn, tuy nhiên, trong một bài viết ngắn gọn lại đề cập nhiều vấn đề nên vấn đề đào tạo và nghiên cứu khoa học chưa được đề cập sâu rộng
nói chung và Bộ môn Lịch sử Đảng ở Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng:
Vận dụng quan điểm đối ngoại của Đại hội IX trong giảng dạy môn Lịch sử
Trang 11Đảng Cộng sản Việt Nam, trong tác phẩm Quán triệt, vận dụng Nghị quyết Đại hội IX, nâng cao chất lượng giảng dạy lí luận Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, NXB CTQG, Hà Nội, 2002; Phương pháp nêu vấn đề trong dạy và học Lịch sử Đảng, PGS TS Vũ Quang Hiển, Tạp chí Lịch sử Đảng, số
1-2007, in lại trong sách Về phương pháp nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008; Quá trình nhận thức của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bài trong sách Quán triệt, vận dụng quan điểm Đại hội X của Đảng vào giảng dạy các môn lí luận chính trị, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007; Đổi mới phương pháp dạy và học môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam theo học chế tín chỉ, Hội thảo khoa học “Giảm tải, nâng cao chất lượng dạy và học các môn khoa học Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh (trong các trường đại học, cao đẳng)”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2007; Bàn về phương thức kiểm tra, đánh giá môn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Hội thảo khoa học Giảng
dạy các môn lí luận chính trị ở các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập quốc tế, 2007; Mấy suy nghĩ về nhiệm vụ giảng viên môn Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam, HTKH “Những vấn đề lí luận và thực tiễn của đào tạo theo tín chỉ các môn lí luận chính trị ở Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay”, Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lí luận chính trị, Đại học
Quốc gia Hà Nội, 5-2009…
Những cuốn sách hay những bài viết được đề cập trên đây, hầu hết là viết về vấn đề phương pháp giảng dạy và hiệu quả các môn lý luận chính trị; nhưng chưa có luận văn chuyên sâu nào về công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học của Bộ môn Lịch sử Đảng ở Đại học Quốc gia Hà Nội từ khi thành lập (1974) cho đến nay (2014)
Vì vậy công trình nghiên cứu này của tôi hoàn toàn có ích và hữu dụng, đóng góp sự nghiên cứu của mình vào nghiên cứu khoa học Lịch sử Đảng nói
Trang 12chung và công tác đào tạo, nghiên cứu Lịch sử Đảng tại Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích
Làm rõ quá trình đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam tại Đại học Quốc gia Hà Nội, qua đó đúc rút ra những kinh nghiệm cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo Lịch sử Đảng hiện nay
* Nhiệm vụ
+ Tập trung sưu tầm, tập hợp, hệ thống hóa tư liệu về đào tạo và nghiên cứu về Lịch sử Đảng ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây và ở ĐHQGHN hiện nay
+ Trình bày quá trình hoạt tổ chức-hoạt động đào tạo và nghiên cứu của
Bộ môn Lịch sử Đảng Khoa Lịch sử và Bộ môn Lịch sử Đảng thuộc Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, ĐHQGHN
+ Tổng kết thành tựu, hạn chế trong 40 năm đào tạo và nghiên cứu Lịch
sử Đảng, trên cơ sở đó rút ra các kinh nghiệm chủ yếu, đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm đổi mới kết cấu môn học, chương trình môn học, giáo trình và phương pháp giảng dạy môn Lịch sử Đảng ở Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của Đại học Quốc gia Hà Nội
* Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian : từ năm 1974 đến năm 2014
Về không gian: Đại học Quốc gia Hà Nội
Về nội dung: Hoạt động đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu chính
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận sử học Macxit, trong đó chủ yếu dùng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp hai phương pháp đó Đồng thời khóa luận cũng sử dụng các phương pháp như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tế
Nguồn tư liệu
Các văn kiện, báo cáo tổng kết của Đảng và Nhà nước về công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị
Các báo cáo, công trình tổng kết, đề án của trường Đại học Tổng hợp
Hà Nội(cũ), trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội về công tác đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học
Các báo cáo tổng kết, kế hoạch về tình hình đào tạo, nghiên cứu khoahọc của Khoa Lịch sử, Bộ môn Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử
Tài liệu khảo sát thực tế và các công trình khoa học có liên quan
Trang 14Chương 1: ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG Ở ĐẠI HỌC
TỔNG HỢP HÀ NỘI (TỪ NĂM 1974 ĐẾN NĂM 1995)
1.1 Đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng ở Bộ môn Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử (từ năm 1974 đến năm 1985)
1.1.1 Quá trình hình thành Bộ môn Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử
Năm 1906, Trường Đại học Đông Dương, tiền thân của ĐHQGHN ngày nay được thành lập theo Quyết định số 1514a, ngày 16/5/1906 của Toàn quyền Đông Dương Trường ĐH Đông Dương đặt trụ sở tại 19-Lê Thánh Tông-Hà Nội Sau Cách mạng tháng Tám, cơ sở này thuộc về Trường ĐHQG Việt Nam; sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc do Trường ĐHTH Hà Nội quản lý, sử dụng và nay là một trong những cơ sở chính của ĐHQGHN
Cùng thời gian đó, Trường ĐHQG Việt Nam khai giảng khoá đầu tiên vào 15/11/1945 dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đây là trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực đầu tiên được thành lập dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Trường Đại học Quốc gia Việt Nam trực tiếp kế thừa truyền thống khoa học và giáo dục của Trường Đại học Đông Dương
Tiếp đó, đến năm 1951, Trường Khoa học Cơ bản (tại Chiến khu Việt Bắc) được thành lập Đây là một trong những trường tiền thân của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sau này
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 2138/TC ngày 4-6-1956 của Thủ tướng Chính phủ, Giáo sư Ngụy Như Kon Tum được bổ nhiệm làm Giám đốc đầu tiên Ban đầu, Trường chỉ có hai ban
là Ban Khoa học và Ban Văn khoa Ban Văn khoa gồm hai bộ phận tương đối độc lập là văn và sử do GS Trần Đức Thảo phụ trách chung Một thời gian ngắn sau đó, ngay trong năm 1956, Ban Văn khoa được chia thành hai khoa là Khoa Văn học và Khoa Lịch sử Khoa Lịch sử chính thức ra đời từ đây, trở
Trang 15thành một trong bốn khoa đầu tiên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Đó
là một sự kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền sử học Việt Nam hiện đại Từ đây, những tên tuổi lớn, những tác phẩm lớn, những lớp lớp cử nhân được đào tạo góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Những ngày đầu mới thành lập, Khoa Lịch sử cũng như Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đứng trước muôn vàn khó khăn vất vả: cơ sở vật chất thiếu thốn, giáo trình, tài liệu tham khảo khan hiếm Bù lại, trong những ngày đầu xây nền đắp móng này, Khoa có được một đội ngũ các nhà khoa học tài năng và vô cùng tâm huyết với sự phát triển của Khoa và của cả nền sử học nước nhà Đó là các giáo sư Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Trần Văn Giầu Dưới sự dẫn dắt của các thầy, lớp cán bộ trẻ đầu tiên của Khoa đã nhanh chóng trưởng thành, từng bước đảm nhiệm việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Ngày 15-10-1956 khóa học đầu tiên của trường Đại học Tổng hợp long trọng khai giảng tại giảng đường lớn của khu Đại học Việt Nam tại số 19 đường Lê Thánh Tông, Hà Nội Hơn 430 sinh viên từ nhiều địa phương trên mọi miền của Tổ quốc đã hân hoan tựu trường Trong hai năm học đầu tiên (1956-1957 và 1957-1958), vượt qua những thiếu thốn và những khó khăn về nhiều mặt trong buổi đầu xây dựng, cán bộ và sinh viên đã dần dần ổn định nề nếp làm việc, học tập Việc biên soạn chương trình, giáo trình giảng dạy phù hợp với thực tiễn nước ta Một số giáo trình tài liệu khoa học của Liên Xô đã được dịch sang tiếng Việt làm tài liệu học tập nghiên cứu cho sinh viên Cùng thời gian này, một số chuyên gia Liên Xô đã tận tình giúp đỡ đội ngũ cán bộ khoa học nhà trường bồi dưỡng và nâng cao trình độ
Việc mở rộng quy mô đào tạo và sự ổn định từng bước cơ sở vật chất,
cơ cấu tổ chức của nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh phong trào
Trang 16dạy tốt, học tốt Quy mô đào tạo của nhà trường ngày càng được mở rộng, số sinh viên chuyển vào trường từ 430 người năm 1956-1957 tăng lên 967 người năm học 1961-1961 Cùng với đó, chất lượng đào tạo cũng ngày càng được đảm bảo Đến năm 1960-1961, toàn trường đã có 80 giáo trình của hầu hết các môn học Đến năm học 1964-1965, “số lượng giáo trình tăng lên nhanh chóng, đạt 203 giáo trình”
Bên cạnh đó, việc xác định mục tiêu đào tạo luôn được đặt ra trong các
kỳ đại hội của Đảng bộ và các hội nghị cán bộ công nhân viên chức toàn trường, nhà trường tích cực mời một số chuyên gia giỏi của các nước anh em thuộc hầu hết các ngành sang làm việc để nhanh chóng giúp đỡ nâng cao trình
độ chuyên môn cho cán bộ, nhiều sinh hoạt chuyên đề, trao đổi và tổng kết kinh nghiệm giảng dạy đã được tổ chức nhằ nâng cao chất lượng giảng dạy và chuyên môn cho cán bộ Trong sinh viên, phong trào tìm chọn phương pháp học tập tốt nhất, phù hợp nhất với yêu cầu học theo lối nghiên cứu ở trường đại học cũng diễn ra sôi nổi
Để kịp thời động viên và khẳng định những cố gắng thành tích chuyên môn của các bộ sinh viên, Ban Giám đốc đã quyết định tổ chức hội nghị khoa học toàn trường lần thứ nhất vào năm 1960 và hội nghị khoa học sinh viên vào năm 1961 Đây là những hội nghị khoa học đầu tiên của ngành đại học Điều đó khẳng định vai trò của một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học, một nhà trường có phong trào sinh viên có nghiên cứu khoa học sớm nhất, rộng nhất Những sinh hoạt học thuật ấy từ đây được duy trì đều đặn hàng năm và đạt được kết quả xuất sắc
Các môn giáo dục chính trị tư tưởng được xác định có vị trí quan trọng trong chương trình đào tạo sinh viên Thời lượng các môn học chủ nghĩa Mác
- Lênin là 113 tiết trong đó dành một phần cho giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trang 17Năm học 1964-1965 diễn ra và kết thúc thắng lợi trong cao trào thi đua
“Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” Đồng thời đó cũng là năm học kết thức chặng được đầu tiên trong quá trình xây dựng, trưởng thành của trường ĐHTH Hà Nội Thành tựu chín năm xây dựng và trưởng thành của trường ĐHTH đã tạo ra cơ sở vật chất và tinh thần để nhà trường có thể vươn lên “hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ trong những giai đoạn kế tiếp”[10;13]
Từ năm 1965, các môn lý luận chính trị được quy định là môn thi bắt buộc với sinh viên tốt nghiệp các trường Đại học Tại Đại học Tổng hợp, Bộ môn Mác-Lê nin được thành lập trong đó có Tổ Lịch sử Đảng Tổ Lịch sử Đảng đảm nhiệm việc giảng dạy môn Lịch sử Đảng cho sinh viên toàn trường, “vận dụng theo chương trình, giáo trình của trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương” [10;13]
Hình thức đào tạo tại chức được tiếp tục mở rộng Các khoa Văn, Sử, Sinh vật đã mở các lớp bồi dưỡng chuyên đề cho gần 300 học viên Để tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, đưa phong trào nghiên cứu khoa học vào nề nếp, tháng 5-1966 phòng Nghiên cứu khoa học được thành lập Cũng trong thời gian này, để mở rộng ảnh hưởng của khoa học cơ bản đối với đòi sống xã hội, trường đã quyết định thành lập “Hội phổ biến khoa học kỹ thuật” Mỗi khoa thành lập một chi hội, tích cực tuyên truyền phổ biến kinh nghiệm khoa học cho cán bộ sinh viên trong trường và nhiều cơ quan, đơn vị, nhân dân địa phương nơi sơ tán Hơn 4 năm sống trên rừng núi Bắc Thái, gian nan vất vả, nhưng thầy và trò trường ĐHTHHN vững vàng trước mọi thử thách chủ động sáng tạo và hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị của mình
Đến giữa năm 1970, toàn trường đã trở về cơ sở cũ ở Hà Nội Giữa lúc nhà trường đang dân đi vào thế ổn định thì tháng 4-1972 đế quốc Mỹ lại ồ ạt ném bom miền Bắc, tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai Trước
Trang 18tình hình đó, nhà trường nhanh chóng thích ứng với tình hình thời chiến Từ năm 1972, thực hiện chỉ thị 222/TTg của Thủ tướng Chính phủ, công tác nghiên cứu khoa học và phục vụ thực tế của trường ĐHTHHN bước sang giai đoạn mới Nhà trường nhanh chóng đón nhận chỉ thị trên nền tảng thuận lợi, hầu hết các khoa đang triển khai nhiều đề tài nghiên cứu thực tế Sau đợt học tập đầu tiên, hầu như cả trường đã ra quân trên một diện rộng từ khu IV đến Lạng Sơn, trên nhiều địa bàn ác liệt, của cuộc kháng chiến chống Mỹ Đến năm 1973 toàn trường tập trung về Hà Nội
Trong tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang tiến nhanh tới ngày toàn thắng, Đại học Tổng hợp Hà Nội cũng bước vào năm học 1974-
1975 với nhiều thay đổi mau lẹ Ngay từ tháng 3-1973, Đại hội Đảng bộ nhà trường lần thứ 11 đã xác định rõ nhiệm vụ quan trọng của trường trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng, nhà trường đã mở rộng thêm một bước hệ thống đào tạo, tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu tổ chức
Năm học 1974-1975, nhà trường mở thêm khoa kinh tế-chính trị và ngành Lịch sử Đảng (Khoa Lịch sử ) Đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường lên tới “585 người, trong đó có 145 tiến sĩ, phó tiến sĩ” [10; 27] Thời
kỳ này nhà trường đã nâng thời gian đào tạo lên 4 năm rưỡi Việc biên soạn giáo trình và cải tiến chương trình giảng dạy cho phù hợp với yêu cầu mới trở nên cấp bách Trong 3 năm (1973-1975) toàn trường đã có “12 giáo trình cơ
sở và chuyên đề được in tipô và 19 giáo tình được in rônêo” [10; 25]
Về phía Khoa Lịch sử, Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (tháng 1973), Khoa Lịch sử rời Dũng Liệt- Hà Bắc trở về Hà Nội Khoa tổ chức cho sinh viên nhanh chóng ổn định nơi ăn ở, học tập và đi lao động, thực tập thực
1-tế, nhiều đoàn cán bộ, sinh viên đã vào các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh và vùng giải phóng Quảng Trị để nghiên cứu, lấy tư liệu làm luận án tốt nghiệp
Trang 19Dự báo nhu cầu đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng sẽ tăng nhanh, dưới sự chỉ đạo của Ban Khoa giáo Trung ương, của Bộ Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, tháng 9-1974, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã thành lập một Bộ môn mới là Bộ môn Lịch sử Đảng do thầy Hoàng Bá Sách làm chủ nhiệm Bộ môn được giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ nghiên cứu lịch sử Đảng cho các viện, các ban nghiên cứu lịch sử Đảng ở trung ương và các địa phương, cung cấp giáo viên giảng dạy lịch sử Đảng cho các trường đại học và cao đẳng thuộc Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Đối với Khoa Lịch sử, Bộ môn Lịch sử Đảng đóng vai trò là Bộ môn khoa học, “trực tiếp đào tạo sinh viên từ năm thứ nhất, hệ bốn năm rưỡi”
Mặc dù việc giảng dạy và nghiên cứu về Lịch sử Đảng đã có từ lâu ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội do Bộ môn Mác - Lênin đảm nhiệm, tuy nhiên việc nghiên cứu lịch sử Đảng trong bối cảnh hiện tại cần phải được nâng cao và đẩy mạnh hơn nữa Bởi vậy, quyết định thành lập Bộ môn Lịch
sử Đảng tại Khoa Lịch sử là một quyết định đúng đắn của nhà trường cũng như của khoa, trước tiên nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của sinh viên, đồng thời tạo ra không gian học thuật, nghiên cứu lịch sử Đảng một cách độc lập cho cán bộ của Bộ môn
Đồng thời, thành lập Bộ môn là một việc làm thiết thực góp phần vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc và đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ cứu nước Việc đào tạo và nghiên cứu lịch sử Đảng được đẩy mạnh nhiều hơn nhằm phục vụ thực tiễn, cỗ vũ tinh thần yêu nước, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng
Những năm 1974-1979, Bộ môn chỉ có thầy Hoàng Bá Sách – chủ nhiệm Bộ môn, thầy Lê Mậu Hãn-Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, trực tiếp đứng lớp, cùng thầy Kiều Xuân Bá, vốn là cán bộ của khoa chuyển công tác lên Vụ công tác Chính trị của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Trợ giảng
Trang 20gồm các cán bộ trẻ như các cử nhân Trần Kim Đỉnh, Đặng Hồng Hạnh, Nguyễn Đình Lê, Ngô Đăng Tri Đây là số cán bộ trẻ, vốn là sinh viên Khoa Lịch sử, nhập ngũ vào quân đội trong những năm 1971-1972, sau giải phóng miền Nam được phục viên trở lại khoa học tập tại chuyên ngành Lịch sử Đảng mới mở
Trong đợt phong hàm năm 1984, Bộ môn Lịch sử Đảng chỉ có PGS Lê Mậu Hãn Lớp cán bộ kế tiếp những người thầy đầu tiên của Bộ môn vốn là sinh viên tốt nghiệp các khóa 18, 19, 20 và 21 (Trần Kim Đỉnh, Nguyễn Đình
Lê, Đặng Hồng Hạnh, Ngô Đăng Tri, Vũ Quang Hiển, Đinh Trung Kiên, Nguyễn Hồng Phúc, Hoàng Hồng) phải vừa làm vừa học trong tình hình kinh
tế xã hội khủng hoảng ngày càng trầm trọng Lực lượng vừa lớn lên đã không được duy trì nguyên vẹn
Bước vào những năm 80, trong khó khăn chung của đất nước, của ngành giáo dục, Khoa Lịch sử nói chung và Bộ Lịch sử Đảng nói riêng phải chịu hậu quả trực tiếp và hết sức nặng nề của cơ chế quan liêu bao cấp và những đòi hỏi ngặt nghèo của cơ chế thị trường Do khó khăn trong đời sống kinh tế mà nhìn chung trong xã hội sự quan tâm đên ngành Sử nói chung cũng như đến giáo dục truyền thống bị suy giảm nghiêm trọng Số lượng sinh viên theo học bị giảm mạnh mẽ
Giai đoạn 1974-1985 là những năm đầy thử thách khắc nghiệt về vật chất, nhưng thầy và trò của Bộ môn Lịch sử Đảng, xác định rõ nhiệm vụ: tin tưởng vào vào Đảng, chính quyền, giữ vững tinh thần, đồng thời tích cực giảng dạy, nghiên cứu, phục vụ cho khoa học Lịch sử Đảng nước nhà Với sự kiên trì, nỗ lực của mình, Bộ môn sớm khẳng định vai trò của mình, trở thành một địa chỉ tin cậy, được Bộ giao nhiệm vụ đào tạo lớp chuyên tu, nâng cao trình độ cho gần 40 cán bộ giảng dạy Lịch sử Đảng của các trường đại học trong cả nước
Trang 211.1.2 Đào tạo và nghiên cứu tại Bộ môn Lịch sử Đảng từ năm 1974 đến 1985
Trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn, sử học có nhiều lợi thế trực tiếp tham gia phục vụ sự lãnh đạo của Đảng Vì thế, ngay từ khi Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập thì Khoa Lịch sử là một trong bốn khoa đầu tiên của trường có chức năng đào tạo cán bộ nghiên cứu và giảng dạy sử học ở bậc đại học cho cả nước
Việc giảng dạy và nghiên cứu Lịch sử Đảng ở Đại học Tổng hợp Hà Nội đã có từ lâu Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Tổ Mác-Lê nin trực thuộc Ban Giám hiệu trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập đảm nhận nhiệm vụ dạy lý luận chính trị, trong đó có môn Lịch sử Đảng, về sau đổi tên thành Trung tâm Mác-Lê nin và đảm nhận nhiệm vụ khác Tuy nhiên, việc thành lập Bộ môn Lịch sử Đảng vào năm 1974, cho thấy quyết định đúng đắn của Khoa, Nhà trường và Bộ Trung học và Chuyên nghiệp, từ đây việc giảng dạy và nghiên cứu lịch sử Đảng có không gian học thuật riêng biệt, nhằm đáp ứng được yêu cầu thực tiễn cách mạng lúc bấy giờ
Trong những ngày đầu thành lập, hòa chung vào công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế ở miền Bắc và đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, Bộ môn lịch sử Đảng đã cố gắng hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Bộ môn và đẩy mạnh công tác đào tạo Trước tiên là đào tạo cử nhân Lịch sử Đảng nhằm cung cấp cho sinh viên khối kiến thức chuyên sâu về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời tạo cho sinh viên khả năng nghiên cứu độc lập, nhằm hoàn thiện và nâng cao năng lực làm việc, hơn nữa việc đào tạo cử nhân lịch
sử Đảng cũng cung cấp cho đất nước những “chiến sĩ trung kiên trên mặt trận
tư tưởng”, nhân rộng tinh thần yêu nước dân tộc, giúp nhân dân thấu suốt
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, củng cố tinh thần, đẩy mạnh quá trình đi tới ngày toàn thắng
Trang 22Việc giảng dạy, nghiên cứu Lịch sử Đảng trong hệ thống trường Đảng, trong các trường đại học, cao đẳng được triển khai bằng cách đưa thêm các lực lượng giáo viên vào giảng dạy Các lớp đào tạo cấp tốc giáo viên Lịch sử Đảng, giáo viên Mác - Lênin ở Đại học Tổng hợp được tổ chức mạnh mẽ
Năm 1975-năm học hòa bình đầu tiên cũng là năm khởi đầu cuộc vận động biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Chi đoàn cùng với Đoàn thanh niên của trường đã dấy lên và phát động phong trào xây dựng tập thể học sinh Xã hội chủ nghĩa Từ tập thể lớp 3B Khoa Sử được Thành đoàn
Hà Nội công nhận trong niên học trước đó (1974-1975), Phong trào “Sinh viên tự quản” từ Khoa Lịch Sử, đặc biệt là ở Bộ môn Lịch sử Đảng, đã có sức mạnh lan tỏa, trở thành kinh nghiệm tốt cho các khoa khác học tập và áp dụng Tính hiệu quả và chiều sâu của phong trào xây dựng tập thể học sinh XHCN không chỉ dừng lại ở hình thức tổ chức mà là xác định một phương pháp học tập đúng đắn, khoa học cho sinh viên, nâng cao lòng yêu nghề và có hoài bão lớn
Từ năm học 1975-1976, trong khí thế chung chiến thắng, Khoa Lịch sử
đã hồ hởi bước sang thời kỳ mới Thời kỳ này, số lượng sinh viên tăng lên nhanh chóng Ngoài mấy chục sinh viên cũ từ mặt trận trở về, đa số là cán bộ các cơ quan, bộ đội, các trường văn hóa, các đơn vị, quan nhân xuất ngũ, chuyển ngành, học sinh phổ thông do yêu cầu và lòng ngưỡng mộ, đã nô nức
và Khoa Lịch sử với lòng đầy tin tưởng và tự hào Không còn thời mỗi khóa
là một lớp nữa mà sinh viên được chọn ngay từ đầu Sinh viên là đảng viên, cán bộ, bộ đội chiếm tỷ lệ cao trong các năm học sau chống Mỹ, hình thành Đảng bộ bộ phận, Liên chi đoàn với số đảng viên đông nhất trong toàn trường Trong đó, cán bộ, bộ đội và đảng viên trong Bộ môn chiếm 100%
Sinh viên Bộ môn Lịch sử Đảng các khóa từ 1974 đến 1979 (Khóa 18 đến Khóa 23) phần lớn là bộ đội chuyên ngành, được đào tạo theo chương
Trang 23trình riêng ngay từ năm thứ nhất Mỗi lớp là một chi bộ, có khoảng trên dưới
25 đảng viên Chương trình đào tạo đại học được nối dài khoảng 4 năm rưỡi Đội ngũ cán bộ giáo viên cũng được bổ sung thêm nhiều thầy cô trẻ, được đào tạo cả trong nước và nước ngoài, nhưng cũng có những thầy cô phải ra đi do nhu cầu tăng cường cán bộ cho các cơ sở phía Nam Trong hoàn cảnh đó, lớp giáo viên mới gần như phải lên bục giảng ngay trong một vài năm đầu, những
cử nhân được giữ lại từ những năm đầu tiên của Bộ môn như cử nhân Trần Kim Đỉnh, Đặng Hồng Hạnh, Nguyễn Đình Lê, Ngô Đăng Tri
Năm 1975, thầy Lê Mậu Hãn được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, thầy Hoàng Bá Sách được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Bộ môn Giáo trình, tài liệu học tập, những năm mới thành lập, số công trình nghiên cứu được công bố còn hết sức khiêm tốn, những dưới sự dẫn dắt của PGS Chủ nhiệm khoa Lê Mậu Hãn và chủ nhiệm Bộ môn Hoàng Bá Sách, Bộ môn đã dày công xây dựng bài giảng Lịch sử Đảng cho sinh viên ngành lịch sử-theo phương thức mỗi cán bộ phụ trách một bài, và hệ thống chuyên đề phục vụ đào tạo sinh viên ngành:
1 Đường lối quân sự của Đảng
2 Quá trình hình thành và phát triển đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa
3 Xây dựng Đảng qua các thời kỳ cách mạng
4 Đảng lãnh đạo đấu tranh ngoại giao và vận động quốc tế trong quá trình cách mạng Việt Nam
5 Đảng lãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc thời kỳ 1965-1972
6 Đảng lãnh đạo xây dựng, bảo vệ hậu phương chi viện tiền tuyến thời
kỳ 1945-1975
7 Phương pháp khai thác tư liệu lịch sử Đảng qua các nhân chứng lịch sử
Trang 248 Một số vấn đề về nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
9 Phương pháp cách mạng Việt Nam ở miền Nam
10 Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin Nội dung chính của những chuyên đề này nhằm cung cấp cho sinh viên trước hết là kiến thức cơ sở về chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp theo là phương pháp trong nghiên cứu lịch sử Đảng để giúp sinh viên nắm bắt được tình hình nghiên cứu lịch sử Đảng qua từng giai đoạn, phương pháp tốt để nghiên cứu những sự kiện, con người của Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Bên cạnh đó, cũng đi sâu vào lịch sử cách mạng Việt Nam, qua đó phân tích được đường lối đúng đắn của Đảng, hay những thiếu sót trong quá trình lãnh đạo qua các giai đoạn lịch sử từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong các giai đoạn kế tiếp
Có thể nói, những chuyên đề này khá phù hợp với nhận thức của sinh viên chuyên ngành, giúp sinh viên nhận thức được từ phương pháp đến cách thức nghiên cứu lịch sử Đảng Trang bị cho sinh viên khối kiến thức nghề nghiệp vững chắc để đóng góp cho ngành khoa học Lịch sử Đảng nước nhà
Từ năm 1980 (khóa 24), việc đào tạo được thực hiện theo khung chương trình chung của Khoa Lịch sử trong ba năm đầu, đến năm thứ tư mới tách lớp để học các chuyên đề chuyên ngành Lịch sử Đảng
Theo đó, sinh viên học ba năm đầu theo khối kiến thức chung của Khoa Lịch sử, vào năm thứ 4, sau khi hoàn thành xong học khối kiến thức cơ bản,
cơ sở của ngành như: Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Lịch sử Việt Nam cận đại, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Lịch sử thế giới cổ trung, Lịch sử thế giới cận đại, Lịch sử thế giới hiện đại, Cơ sở khảo cổ học, Các dân tộc ở Việt Nam, Phương pháp luận sử học và khối kiến thức nghiệp vụ là: Lịch sử sử học (thế giới, Việt Nam), Sử liệu học (đại cương), phương pháp định lượng; một số học phần Hán-Nôm; sinh viên Khoa Lịch sử được phép tự nguyện đăng ký
Trang 25vào chuyên ngành mà mình mong muốn
Vào đầu năm học thứ tư, sinh viên học theo chuyên ngành lịch sử Đảng với khối kiến thức chuyên ngành, trong đó có 28 học phần bắt buộc và 7 học phần tự chọn Mỗi học phần được ký hiệu bằng một mã số riêng thể hiện vị trí của học phần đó trong chương trình đào tạo cũng như trình độ và khối lượng của nó Mỗi kiến thức học phần có khối lượng từ 2 đến 6 đơn vị học trình, thông thường, khối kiến thức chuyên ngành lịch sử Đảng chiếm khoảng 2 đơn
vị học trình Đơn vị học trình thì lại được quy định bằng 15 tiết, mỗi tiết 45 phút lý thuyết, thảo luận, bài tập hoặc bằng 30-45 tiết thực hành, hoặc bằng 45-90 tiết thực tập tại cơ sở, hoặc bằng 45-60 tiết làm tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp, nghiên cứu khoa học Các học phần lý thuyết chủ yếu được nghe giảng trên lớp hoặc tự học
Đối với học phần thực hành, sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng được đi thực tế theo sự hướng dẫn chỉ đạo của khoa và Bộ môn Vào đầu học
kỳ cuối cùng của khóa học, sinh viên được hướng dẫn đăng ký làm khóa luận hoặc thi tốt nghiệp theo chuyên ngành Lịch sử Đảng Đối với những sinh viên làm khóa luận, khoa sẽ xét theo tiêu chí điểm trong các học kỳ trước, những sinh viên đủ điều kiện sẽ được làm khóa luận, khóa luận tốt nghiệp được xem như một học phần lựa chọn có khối lượng kiến thức là 10 đơn vị học trình, đề tài khóa luận tốt nghiệp do cán bộ giảng viên hướng dẫn xác định, đăng ký và thông qua ở Bộ môn; những đề tài có tính chất liên Bộ môn phải được Chủ nhiệm khoa thông qua trước khi giao cho sinh viên thực hiện
Những sinh viên còn lại sẽ thi tốt nghiệp bao gồm 2 môn: Quá trình lãnh thổ dân tộc và môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Môn học “Quá trình lãnh thổ dân tộc” giúp sinh viên nhận thức được một cách khái quát
về lịch sử lãnh thổ dân tộc, quá trình giữ và giành độc lập dân tộc
Đối với môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sinh viên tổng hợp được
Trang 26khối kiến thức về Đảng Cộng sản Việt Nam: từ quá trình thành lập, quá trình phát triển, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi toàn vẹn lãnh thổ đến thắng lợi trong công cuộc phát triển kinh tế, giữ vững lãnh thổ, lãnh hải và lãnh không của Việt Nam
Mỗi cán bộ giảng dạy trung bình từ 300 đến 350 giờ/năm học Trong đào tạo, Bộ môn luôn chú trọng việc đổi mới và hoàn thiện khung chương trình, hệ thống giáo trình, bài giảng, phương pháp giảng dạy
Từ những thành tích trong đào tạo, Bộ môn được Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đánh giá cao về chất lượng đào tạo cán bộ chuyên môn Lịch
sử Đảng Từ năm 1980-1982, Bộ môn vinh dự được Bộ ủy quyền đào tạo “các lớp chuyên tu, nâng cao trình độ về Lịch sử Đảng cho 40 cán bộ giảng dạy lịch
sử Đảng của các trường đại học từ Đà Nẵng trở ra”
Sau khi thành lập, công tác nghiên cứu của Bộ môn ngày càng được đẩy mạnh hơn nữa nhằm thiết thực góp phần vào công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam, những mảng đề tài phục
vụ quốc phòng được đặc biệt chú ý, một số sinh viên cùng với cán bộ, giáo viên vào các vùng mới giải phóng ở miền Nam để viết lịch sử địa phương, khảo sát,… Tiêu biểu như năm 1974, cùng với sinh viên khoa Sinh học, Địa chất, sinh viên Bộ môn Lịch sử Đảng và một số Bộ môn trong Khoa Lịch sử đã tiến hành một đợt khảo sát dọc Trường Sơn và thu được nhiều kết quả
Thành tựu của khoa học lịch sử Đảng trước năm 1975 đã tạo nên được quan niệm, nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của Lịch sử, sưu tầm và lưu trữ được một khối lượng tư liệu Lịch sử Đảng phong phú đưa Lịch sử Đảng thành môn học ở trường Đảng, các trường đại học và cao đẳng
Sau ngày thống nhất đất nước, công tác nghiên cứu Lịch sử Đảng được xúc tiến mạnh mẽ trong cả nước Đất nước thống nhất là điều kiện thuận lợi cho các ngành khoa học cơ bản mở rộng việc điều tra, khảo cứu trên toàn quốc Ưu
Trang 27tiên cho những đề tài các tỉnh phía Nam là một hướng nghiên cứu quan trọng trong nghiên cứu trong nghiên cứu khoa học của trường Đại học Tổng hợp thời kỳ sau giải phóng Thực hiện chủ trương đó, Bộ môn đã triển khai nhiều đề tài khoa học về điều tra chủ nghĩa thực dân kiểu mới, về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên địa bàn miền Nam Các chương trình phối hợp nghiên cứu với các trường đại học miền Nam cũng được hình thành và bước đầu thu được kết quả
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, Bộ môn cũng có nhiều công trình nghiên cứu khoa học kỷ niệm 50 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, kỷ niệm 30 năm thành lập Đại học Tổng hợp Hà Nội… Đặc biệt, Bộ môn đã xây dựng được hệ thống bài giảng, tài
liệu tham khảo chuyên sâu cho sinh viên như: Nguyễn Ái Quốc tiếp thu và truyền
bá chủ nghĩa Mác – Lê nin vào Việt Nam, Đảng lãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, Một số vấn đề về nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam…
Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, do có Đường lối đổi mới, nhất là đổi mới về tư duy lý luận, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm hơn đối với các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn nói chung, sử học nói riêng Trong bối cảnh đó, khoa học Lịch sử Đảng có môi trường học thuật, điều kiện vật chất thuận lợi hơn cho việc nghiên cứu, giảng dạy và xây dựng đội ngũ
1.2 Đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng từ năm 1986 đến năm 1995
1.2.1 Tại Bộ môn Lịch sử Đảng thuộc Khoa Lịch sử
Sau Đại hội VI (12-1986) của Đảng, đất nước chuyển sang thời kỳ đổi mới, song khó khăn vẫn còn rất lớn, khủng hoảng kinh tế-xã hội vẫn trầm trọng Trong khi đó tình hình các nước XHCN càng ngày càng diễn biến phức tạp, ít nhiều đã tác động đến việc nghiên cứu, học tập của thầy và trò Bộ môn,
đặc biệt là với môn Lịch sử Đảng Trong thời gian này, Khoa đã tổ chức hình
thức đào tạo liên chuyên ngành của Bộ môn Lịch sử Đảng với Bộ môn Cận
Trang 28hiện đại Việt Nam và Bộ môn Lịch sử Thế giới Cán bộ trong Bộ môn tích cực giảng dạy, liên kết nhằm nâng cao chất lượng Sinh viên cũng bắt đầu lựa chọn nhóm, ngành học, tích lũy kiến thức theo các đơn vị học trình, các chứng chỉ,…
Năm 1988, Bộ môn Lịch sử Đảng Khoa Lịch sử được bổ sung thêm cán bộ giảng viên từ Tổ Lịch sử Đảng của Trung tâm Mác - Lênin của Đại học Tổng hợp Lúc này Bộ môn Lịch sử Đảng đảm nhiệm 2 chức năng: Bộ môn khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng thuộc Khoa Lịch sử có chức năng nghiên cứu, đào tạo cử nhân theo chương trình của Khoa Lịch sử và chức năng thuộc các môn khoa học Mác - Lênin có nhiệm vụ “dạy môn Lịch sử Đang theo chương trình, giáo trình của Bộ giáo dục và Đào tạo cho sinh viên các khoa, các ngành không chuyên sử của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội”
Cũng trong thời gian này, Khoa Lịch sử khuyến khích các cán bộ giảng dạy mạnh dạn sử dụng máy vi tính và các trang thiết bị hiện đại trong công việc chuyên môn của mình Thông qua sự giúp đỡ của Đại học Ôxtrâylia và
đề tài VH26 hợp tác với Hà Lan, “từ năm 1994 Khoa Lịch sử đã xây dựng được văn phòng thông tin nối mạng internet” [30; 39], đây cũng là một trong những địa chỉ email đầu tiên ở Việt Nam Việc hiện đại hóa phương thức giảng dạy của khoa, giúp cho sinh viên Lịch sử Đảng hứng thú hơn với công việc học tập, đồng thời cũng nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin
Trong 10 năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986-1996) tuy sự nghiệp đổi mới đã thu được những thành tựu có ý nghĩa lớn, song, đất nước vẫn gặp nhiều khó khăn về kinh tế- xã hội Trong khi đó tình hình các nước XHCN càng ngày càng diễn biến phức tạp, ít nhiều đã tác động đến việc nghiên cứu, học tập của thầy và trò Bộ môn, đặc biệt là với môn Lịch sử Đảng Số lượng sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng giảm sút mạnh mẽ Hàng năm Khoa
Trang 29Lịch sử có trên 100 sinh viên mỗi khóa, song với chuyên ngành Lịch sử Đảng,
số sinh viên đăng ký theo học (năm thứ 4) chỉ ở mức một con số, có khóa chỉ
còn 1 đến 2 người Như khóa 35 (1990-1994) có 2 sinh viên (Dương Thị Huệ,
Lê Mậu Nhiệm), khóa 36 (1991-1995) có 2 sinh viên (Ngô Vương Anh, Hoàng Kim Ninh), thậm chí khóa 37 (1992-1996) chỉ có duy nhất 1 sinh viên (Võ Văn Bé)
Để khắc phục khó khăn, Khoa đã tổ chức hình thức đào tạo liên chuyên ngành giữa Bộ môn Lịch sử Đảng với Bộ môn Lịch sử Việt Nam Cận - Hiện đại và Bộ môn Lịch sử Thế giới Cán bộ trong Bộ môn đã tích cực giảng dạy, liên kết nhằm giữ vững, nâng cao số lượng và chất lượng đào tạo Sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng những khóa quá ít có thể được gửi sang nghe chung một số chuyên đề gần, cần cùng với sinh viên chuyên ngành khác Ngước lại, khi sinh viên các chuyên ngành khác giảm sút, có thể sang nghe chuyên đề hay đi thực tế chung với sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng
Bên cạnh xây dựng đội ngũ giáo viên, công tác học liệu được Bộ môn Lịch sử Đảng và Khoa Lịch sử chú trọng ngay từ đầu, song rất thiếu thốn, chưa đa dạng Trước năm 1996, tài liệu nghiên cứu, học tập cho sinh viên chuyên ngành là các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, các văn kiện của Đảng, các tác phẩm của Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo của
Đảng, Nhà nước Như Đường kách mệnh (Hồ Chí Minh), Dưới lá cờ vẻ vang
của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới (Lê Duẩn), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam (Trường
Chinh), Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp (Phạm Văn Đồng), Chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc (Võ Nguyên Giáp); Về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội (Đỗ Mười, 1992);
Đề cương văn hóa Việt Nam (Trường Chinh, 1943); văn kiện, cương lĩnh,
nghị quyết của Đảng là được coi là căn cứ lịch sử Đảng, ngoài ra còn một số
Trang 30giáo trình các thầy cô trong Bộ môn biên soạn như: Chiến lược đại đoàn kết
Hồ Chí Minh (Lê Mậu Hãn, Phùng Hữu Phú,…); Tư tưởng độc lập tự do đến chiến lược đại đoàn kết (Bài viết trên tạp chí khoa học, ĐHTHHN, 1992) Đề cương Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Kiều Xuân Bá, Lê Mậu Hãn), Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh (Lê Mậu Hãn, Phùng Hữu Phú,…); Đảng CSVN các Đại hội và hội nghị Trung ương, (Lê Mậu Hãn, Ngô Đăng Tri, ,
1995) ; Ngoài ra Bộ môn còn sử dụng có chọn lọc tài liệu của các tác giả khác để làm giáo trình và tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên
Những môn học thuộc chương trình bắt buộc, sinh viên sử dụng những
tác phẩm kinh điển của Các Mác, Ăng-ghen Một số tác phẩm dịch như: Một
số phương pháp luận sử học (J.Topolsoki), Đại cương phương pháp luận sử học (E.M Jukow), Lịch sử là gì? (E.H.Carr), …
Đối với hoạt động đào tạo sau đại học, ngay sau khi được thành lập vào năm 1956, tập thể cán bộ Khoa Lịch sử đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo sau đại học Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ xâm lược, công tác đào tạo sau đại học chủ yếu được hỗ trợ bởi các nước Xã hội chủ nghĩa anh em Nhiều cán bộ ngành sử đã được gửi đi đào tạo các hệ phó tiến sĩ và tiến sĩ, sau đó trở về tham gia công tác giảng dạy và nghiên cứu tại Khoa
Bốn năm sau ngày thống nhất đất nước, với đội ngũ cán bộ giảng dạy
đã được bồi dưỡng chuyên môn cao và nhằm đáp ứng nhu cầu học sau đại học ngành Lịch sử trong cả nước, Khoa Lịch sử bắt đầu tổ chức đào tạo hệ phó tiến sĩ từ năm 1980 (sau này chuyển thành hai hệ thạc sĩ và tiến sĩ Riêng đối với Bộ môn Lịch sử Đảng, lúc mới thành lập, Bộ môn chỉ có nhiệm vụ đào tạo cử nhân để cung cấp giáo viên Lịch sử Đảng cho các trường đại học và cao đẳng, cán bộ nghiên cứu cho các viện, các ban nghiên cứu Lịch sử Đảng của trung ương và địa phương trong cả nước Đến năm 1990, Bộ môn được
Trang 31giao nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng, mã số:
50316
Học viên cao học được tuyển sinh theo hai hình thức là xét tuyển và thi tuyển sinh Với hình thức xét tuyển, sinh viên hệ chính quy được chuyển tiếp sinh trong năm tốt nghiệp nếu có đủ những điều kiện:
- Tốt nghiệp loại giỏi hoặc điểm trung binh chung các môn học 2 năm đầu đạt 7.0 trở lên, điểm trung ình chung các môn học 2 năm cuối đạt 8.0 trở len và số đơn vị học trình số đơn vị học trình thi lại toàn khóa không quá 5 % tổng số đơn vị học trình;
- Được khen thưởng về thành tích trong học tập hoặc nghiên cứu khoa học cấp trường, khoa trực thuộc trở lên;
- Ngành tốt nghiệp đại học đúng với chuyên ngành đào tạo thạc sĩ (chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam)
Chương trình đào tạo thạc sĩ có khối lượng kiến thức từ 80 đến 100 đơn
vị học trình gồm ba phần:
Phần 1: Kiến thức chung, gồm các môn Triết học, Ngoại ngữ
Phần 2: Kiến thức cơ sở và chuyên ngành, bao gồm những môn học nâng cao kiến thức cơ sở, bổ sung và cập nhật kiến thức chuyên ngành
Phần 3: Luận văn thạc sĩ
Thông thường thời gian tuyển sinh học viên cao học vào khoảng tháng
2 và tháng 8 hàng năm, khai giảng (nhập học) vào tháng 11 Thời gian học chuyên môn là 2 năm (học kỳ I, II, III, IV) trong đó học 2 môn chung vào học
kỳ I (từ tháng 12 đến hết tháng 5) còn học các môn chuyên ngành và thực hiện và bảo vệ luận văn vào học kỳ II, kỳ III và kỳ IV Với luận văn tốt nghiệp, học viên sẽ đăng ký đề tài và Xemina đề cương cuối học kỳ II, sau đó nộp luận văn vào tháng 9 và bảo vệ luận văn trong tháng 10 và 11 hàng năm
Chương trình đào tạo tiến sĩ gồm 3 phần:
Trang 32Phần 1: Phần kiến thức chung và kiến thức cơ sở, chuyên ngành của chương trình
Phần 2: Các chuyên đề tiến sĩ nhằm trang bị cho nghiên cứu sinh năng lực nghiên cứu khoa học, cập nhật và nâng cao kiến thức liên quan trực tiếp đến đề tài, giúp nghiên cứu sinh có đủ trình độ chuyên môn giải quyết đề tài luận án
Ngoài ra, nghiên cứu sinh còn phải hoàn thành thêm môn Ngoại ngữ C nâng cao và chuyên ngành với thời lượng 4 đơn vị học trình
Hầu hết các luận án phó tiến sĩ, tiến sĩ bảo vệ đã được xuất bản thành sách hoặc được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành và có những đóng góp thiết thực cho cuộc sống Nhiều người sau khi tốt nghiệp đã trở thành các nhà khoa học có uy tín, giữ các chức vụ chủ chốt trong cơ quan khoa học và chỉ đạo thực tiễn ở Trung ương và địa phương
Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, do có đường lối Đổi mới, nhất là đổi mới về tư duy lý luận, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm hơn đối với các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn nói chung, sử học nói riêng Trong bối cảnh đó, khoa học Lịch sử Đảng có môi trường học thuật, điều kiện vật chất
Trang 33thuận lợi hơn cho việc nghiên cứu, giảng dạy và xây dựng đội ngũ
Tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã
mở ra một giai đoạn mới trong đời sống kinh tế xã hội ở nước ta Tư duy đổi mới của Đảng đã trở thành cơ sở phương pháp luận giúp đội ngũ cán bộ, công nhân viên trường Đại học Tổng hợp Hà Nội quán triệt vận dụng vào trong công tác để tìm cách tháo gỡ, khó khăn, đổi mới nhà trường Năm 1987 là thời điểm nhà trường chuyển hướng và đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, chủ trương của Ban Giám hiệu và Đảng ủy là hướng công trình khoa học vào phục vụ 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng và phục vụ Thủ đô Hà Nội Theo tinh thần đó, hàng chục đề tài nghiên cứu có giá trị thiết thực đã được hình thành, xúc tiến Các đề tài đã hướng vào nghiên cứu kết cấu kinh tế - xã hội, những vấn đề văn hóa - tư tưởng trong thời kỳ quá độ, cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tư duy… nhằm phục vụ trực tiếp cho việc hoạch định chiến lược kinh tế-xã hội của Đảng
Sang đầu những năm 90, hình tình nghiên cứu khoa học có nhiều bước phát triển mới, song song với nhiệm vụ giảng dạy, các cán bộ trong Bộ môn cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu, đóng góp quan trọng trong ngành khoa học Lịch sử Đảng Từ năm 1990, số lượng các công trình được công bố ngày càng nhiều và sự chú trọng về học thuật ngày càng nâng cao Mở đầu là
bài viết của PGS.NGƯT Lê Mậu Hãn: Hồ Chí Minh với ngọn cờ độc lập dân
tộc trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, đăng trên Tạp chí lịch sử Đảng, số
5-1990 [8, 118] Trong bài viết, tác giả đã khẳng định Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Hội nghị thành lập Đảng do Hồ Chí Minh chủ trì
là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, một cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh Kế thừa và phát huy tinh thần đó, các cán bộ trong Bộ môn đã có nhiều thành tựu trong nghiên cứu khoa học Về giáo trình: Có nhiều cuốn sách thuộc các học phần khác nhau do cán bộ của
Trang 34Bộ môn chủ trì, tham gia biên soạn (chủ yếu là Giáo sư Lê Mậu Hãn) đã được
xuất bản như: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 2 tập (cho bậc Đại học,1989), Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1990),
Khung chương trình đào tạo thạc sĩ, phó tiến sĩ Lịch sử Đảng (cho Bộ Giáo
dục và Đào tạo, 1991, cho Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996), Lịch sử lớp 12 hệ
chuyên ban trung học (1993); Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III (1998),
Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Lê Mậu Hãn, Ngô Đăng Tri)
Về bài giảng chuyên đề chuyên sâu Lịch sử Đảng: do các giảng viên của Bộ môn nghiên cứu, biên soạn và đưa vào giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành, học viên cao học, nghiên cứu sinh như: Truyền bá chủ nghĩa Mác- Lê nin Việt Nam; sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam; Giai cấp tư sản và các đảng phái chính trị trước 1945; Đảng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945; Các nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu Lịch sử Đảng; Đường lối đối ngoại của Đảng, Một số vấn đề về tư tưởng Hồ Chí Minh; Sự chuyển biến của phong trào yêu nước 30 năm đầu thế kỷ XX; Hậu phương của chiến tranh nhân dân Việt Nam; Xây dựng Đảng qua các thời cách mạng; Đảng lãnh đạo chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc,
Về sách tham khảo: Các cán bộ trong Bộ môn đã chủ biên, độc lập nghiên cứu, tham gia biên soạn được khoảng 50 đầu sách với nhiều chủ đề,
phạm vị khác nhau như: Bốn mươi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; Các đại hội Đảng ta; Tìm hiểu một số thuật ngữ, khái niệm trong các
môn lý luận Mác – Lê nin; Lịch sử Đảng bộ Hà Nội; Lịch sử Đảng bộ Hà
Tĩnh (2 tập, 1994 và 1995); Lịch sử Đường sắt Việt Nam; Đảng Cộng sản Việt Nam – các đại hội và Hội nghị Trung ương; Những chặng đường lịch sử của Công an Hà Nội; Thắng lợi kháng chiến chống Mỹ và 20 năm xây dựng đất nước sau chiến tranh; 20 năm hoạt động của Đảng bộ và nhân dân Triệu Sơn,
Trang 35Khu du kích Khánh Trung – Khánh Thiện trong kháng chiến chống Pháp, Cách mạng tháng Tám và sự nghiệp giải phóng văn hóa Việt Nam; Vùng tự
do Thanh – Nghệ-Tĩnh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; Mấy vấn đề về xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến ở Thanh-Nghệ- Tĩnh trong kháng chiến chống Pháp; Hoạt động kỷ niệm cách mạng tháng Mười, một hình thức đấu tranh quan trọng ở Việt Nam những năm 1930 – 1945; Hội đồng cung cấp mặt trận trong kháng chiến chống Pháp; Sự thành lập nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Xô Viết Nghệ Tĩnh, luận chứng đầu tiên về một hình thái nhà nước kiểu mới ở Việt Nam; Vấn đề ruộng đất trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh; Việt Nam đất nước Anh hùng, Ba mươi năm chiến đấu và xây dựng,…
Về đề tài nghiên cứu: Các cán bộ trong Bộ môn đã chủ trì, tham gia nghiên cứu hơn một số đề tài cấp nhà nước, cấp bộ, thành phố, cấp Đại học
Quốc gia như: Chương trình tổng kết của Đảng bộ Hà Nội (1993); Từ điển
Bách khoa Việt Nam (1995); Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh (1995),
Về các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí: Có khoảng 40 bài viết được đăng rên các tạp chí lớn ở trung ương như Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Lịch sử quân sự, Tạp chí Xưa và nay, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á,
Về trao đổi quốc tế: một số cán bộ của Bộ môn đã dự Hội nghị, hội thảo, trao đổi khoa học quốc tế tổ chức tại Việt Nam và ngoài nước như: Liên
Xô, Hà Lan, Cộng hòa Liên bang Đức, Liên bang Nga, Xingapo,, Malaixia, Thái Lan,…
Những công trình hoặc tuyển tập công trình do cán bộ của Bộ môn chủ trì hay tham gia thực hiện đều có chất lượng cao đóng góp thiết thực cho yêu
Trang 36cầu giảng dạy và phục vụ sự nghiệp chung, trong đó có những công trình được đánh giá cao như:
+ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, 2 tập, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1989, 380 trang
+ Lịch sử Đường sắt Việt Nam, Nxb Lao Động, Hà Nội, 1994, 350 trang + Đảng Cộng sản Việt Nam – các Đại hội và hội nghị Trung ương, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, 180 trang
+ Đảng bộ Hà Nội lãnh đạo công cuộc xây dựng chính quyền 1986) Đề tài cấp Bộ (tham gia), năm 1991
(1954-Nhìn chung, 10 năm 1986-1996 là thời gian Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Khoa Lịch sử thực hiện đổi mới hoạt động đào tạo và nghiên cứu trong điều kiện hết sức khó khăn Tuy vậy, nhờ sự cố gắng, tâm huyết của cả thầy và trò, Bộ môn tiếp tục khẳng định được vai trò, vị thế của một ngành khoa học chính trị, có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đổi mới đất nước, phục vụ đắc lực cho sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự lớn mạnh của Khoa Lịch sử
1.2.2 Tại Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
Năm 1985, trước yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác - Lênin của các trường đại học, cao đẳng, môn chính trị của các trường Trung học chuyên nghiệp trong cả nước “Thực hiện Chỉ thị 25 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V, theo đề nghị của Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 1985, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Nguyễn Đình Tứ đã ký Quyết định số 1582/QĐ về việc thành lập Trung tâm
Bồi dưỡng cán bộ giảng dạy lý luận Mác - Lênin tại Trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội”
Trang 37Việc ra đời của Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ giảng dạy lý luận Mác - Lênin phản ánh nhu cầu khách quan là việc bồi dưỡng, cập nhật các chủ trương, đường lối của Đảng đối với đội ngũ cán bộ giảng dạy các Bộ môn khoa học Mác - Lênin hết sức quan trọng và cần thiết Bên cạnh đó, Trung tâm làm nhiệm vụ giảng dạy các môn lý luận Mác – Lenin cho sinh viên toàn
trường Đại học Tổng hợp
Việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ phải được tiến hành tập trung, với quy mô lớn, theo sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Ban Khoa giáo Trung ương, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương Do đó, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp thấy cần thiết phải thành lập một tổ chức đủ mạnh đảm bảo công việc này
Bộ chọn nơi đặt Trung tâm ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, vì lúc bấy giờ ở Trường vốn có Bộ môn Mác - Lênin, có nhiều cán bộ giảng dạy có kinh nghiệm Hơn nữa, lúc này trong Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã có khoa Triết học, khoa Kinh tế chính trị (trực thuộc Ban Giám hiệu nhà trường)
và Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (trực thuộc Khoa Lịch sử của trường) với đội ngũ giảng dạy đông đảo cả về số lượng, đứng hàng đầu trong
cả nước về chất lượng
Đặt Trung tâm ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp muốn huy động được đông đảo cán bộ của nhà trường phục vụ cho công tác bồi dưỡng do Trung tâm đảm nhiệm Sau khi có quyết định thành lập Trung tâm, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã có Quyết định số 1648/QĐ, ngày 11 tháng 12 năm 1985 cử “đồng chí Nguyễn Duy Qúy, Phó hiệu trưởng kiêm giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm”[10; 8]
Việc dạy và học các môn khoa học Mác - Lênin ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội từ sau khi có chỉ thị 25 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
Trang 38khóa V, được đẩy mạnh theo hướng tăng cường đổi mới nội dung và phương pháp Đặc biệt từ sau Đại hội VII (1991), với việc Đảng đã khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc về vai trò, vị trí của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh… trong đời sống cách mạng Việt Nam, đã khắc phục được những tư tưởng dao động trong xã hội nói chung, các trường đại học nói riêng Như vậy, cuối năm 1985 trở đi, các tổ chức trực thuộc Ban Giám hiệu Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội có thêm tổ chức mới – đó là Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ giảng dạy lý luận Mác - Lênin với con dấu và tài khoản riêng
Trong quyết định của Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp ghi rõ:
- Nhiệm vụ cụ thể của Trung tâm do Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp quy định
-Trung tâm có con dấu riêng và được phép mở tài khoản tại ngân hàng
- Trung tâm được tổ chức và hoạt động theo quy định về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Trung tâm trường Đại học, ban hành theo quyết định số 09/QĐ, ngày 21/3/1984 của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, các cán bộ làm công tác chính trị tư tưởng ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các Sở Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan giáo dục trong cả nước
Nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo các bậc đại học và sau đại học Tổ chức thực hiện và phối hợp nghiên cứu khoa học phục
vụ công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị Tổ chức thực hiện các nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội của đất nước
Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm lúc mới thành lập là Bồi dưỡng cập nhật kiến thức và tập huấn, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng và các Hội
Trang 39nghị Trung ương các khóa cho đội ngũ giảng viên lý luận các trường đại học,cao đẳng trong cả nước đồng thời cập nhật các chủ trương, đường lối của đảng và bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ giảng dạy các Bộ môn Khoa học Mác - Lênin thuộc các trường Đại học, Cao đẳng dưới sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Ban khoa giáo Trung ương, Ban tư tưởng – Văn hóa Trung ương
Ngay từ khi mới thành lập, Trung tâm đã khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao
Trước hết, Trung tâm tiến hành kiện toàn về mặt tổ chức Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, bổ nhiệm hai Phó Giám đốc của Trung tâm là đồng chí Nguyễn Mạnh Chinh và đồng chí Hoàng Đôn, đồng thời một số cán bộ được điều động về Trung tâm như: Trần Đăng Huân, Võ Phương Thảo, Đào Xuân Chúc, Nguyễn Hữu Vui Tổ Lịch sử Đảng của Trung tâm lúc này do thầy Trần Duy Khang làm tổ trưởng
Theo đề nghị của Trung tâm, lãnh đạo Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội có quyết định bố trí cho Trung tâm lúc đầu 1 phòng, sau đó là 2 phòng tầng 4 nhà C khu vực Thượng Đình của trường để làm trụ sở của Trung tâm
Lúc mới thành lập, Trung tâm gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ Nhờ sự quan tâm của Đảng ủy và Ban Giám hiệu nhà trường, những khó khăn ban đầu từng bước được khắc phục tạo tiền đề cho sự phát triển của Trung tâm về sau
Số cán bộ thuộc biên chế của Trung tâm được tăng dần theo thời gian,
cả về cán bộ khoa học lẫn cán bộ phục vụ Sau khi Trung tâm được thành lập một thời gian ngắn, tháng 12 – 1986, Đảng đã tiến hành Đại hội VI – Đại hội
có vai trò lịch sử trong đại, mở đầu thời kỳ đổi mới một cách toàn diện ở đất nước ta
Đại hội đề ra nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải thấm
Trang 40nhuần, nắm vững và thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội VI Thực hiện nhiệm vụ này, đối với ngành Giáo dục, đặc biệt là giáo dục Đại học và Trung học chuyên nghiệp là phải tổ chức một cách nghiêm túc việc học tập, nghiên cứu văn kiện Đại hội VI cho đội ngũ giảng viên lý luận Mác - Lênin của các trường đại học và cao đẳng trong cả nước
Trung tâm đã triển khai kế hoạch của Ban Khoa giáo Trung ương và Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp tổ chức học tập Nghị quyết Đại hội VI cho đông đảo lực lượng cán bộ giảng dạy Mác - Lênin các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học, dạy nghề trong cả nước, được các đồng chí lãnh đạo của Bộ cũng như người học đánh giá cao
Bên cạnh việc tổ chức học tập Nghị quyết của các Đại hội Đảng, Trung tâm đã thực hiện nhiệm vụ tổ chức cho đội ngũ cán bộ giảng viên Mác –Lênin trong toàn quốc học tập các Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào dịp hè Những năm đầu tổ chức học tập trung, mời giảng viên kiêm nhiệm là chính Các giảng viên phần lớn dạy từ các trường Đảng, Viện nghiên cứu, các trường đại học có trình độ cao và có kinh nghiệm Bên cạnh đội ngũ giảng viên có trình độ cao và rất có kinh nghiệm, Trung tâm có trách nhiệm quản lý lớp học, đảm nhiệm chuẩn bị về mặt tài liệu, cán bộ giáo vụ, hướng dẫn thảo luận và tham gia đánh giá kết quả học tập của học viên
Ngoài nhiệm vụ chính lúc này là tổ chức quán triệt các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Trung tâm đã thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ giảng dạy Mác - Lênin của toàn ngành giáo dục Trung tâm tổ chức nhiều sinh hoạt khoa học chuyên đề nhằm rà soát, bổ sung chương trình, giáo trình kịp thời đưa ra nhiều tri thức mới vào hệ thống bài giảng, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn của các môn học, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả giảng dạy các môn học Mác- Lênin
Mặc dù cơ sở vật chất còn nhỏ bé, trong những năm đầu thành lập, lãnh