1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội dung và nghệ thuật truyền kỳ tân phả của đoàn thị điểm

57 2K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 705,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, có thể thấy rằng khi nghiên cứu về tập Truyền kỳ tân phả của nữ sĩ họ Đoàn không chỉ bổ trợ kiến thức cho cá nhân người thực hiện đề tài mà qua đó còn làm tài liệu tham k

Trang 1

em nghiên cứ u ở khoa để có nhiều thời gian cho khóa luận

Qua đây, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô công tác tại bộ phận Thư viện Nhà trường đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong quá trình sưu tầm tài liệu để hoàn thành được khóa luận

Trong quá trình nghiên cứu, cũng như trong quá trình làm bài báo cáo vẫn còn tồn ta ̣i mô ̣t số hạn chế, rất mong các thầy cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ thầy, cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thành tốt hơn khóa luận của mình

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp K52 Đại học Sư phạm Ngữ văn đã cổ vũ, động viên tinh thần giúp tôi hoàn thành khóa luâ ̣n tốt nghiê ̣p

Sơn La, tháng 5 năm 2015

Tác giả

Triệu Thị Khang

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của khóa luận 6

7 Cấu trúc khóa luận 7

PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8

1.1 Hoàn cảnh lịch sử đầu thế kỉ XVIII ở Việt Nam 8

1.2 Thể truyền kỳ 9

1.2.1 Khái niệm thể truyền kỳ 9

1.2.2 Truyện truyền ky ̀ ở Việt Nam 11

1.3 Đoàn Thi ̣ Điểm và Truyền kỳ tân phả 13

1.3.1 Tác giả Đoàn Thị Điểm 13

1.3.2 Tác phẩm Truyền kỳ tân phả 18

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM 20

2.1 Tình yêu và khát vọng hạnh phúc 20

2.2 Ca ngợi người phu ̣ nữ trong xã hô ̣i phong kiến 25

2.2.1 Nho gia ́ o và những quy đi ̣nh chuẩn mực 25

2.2.2 Vẻ đẹp của người phụ nữ trong tập truyện 27

2.3 Phản ánh hiện thực xã hội 33

2.3.1 Cươ ̀ ng quyền, thần quyền 33

2.3.2 Sư ̣ suy sụp tinh thần, tư tưởng của tầng lớp nho sĩ 34

CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ CỦA ĐOÀN THI ̣ ĐIỂM 37

3.1 Kết cấu 37

3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người 40

Trang 3

3.3 Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật 42

3.3.1 Không gian nghệ thuật 42

3.3.2 Thời gian nghệ thuật 45

3.4 Ngôn ngữ trữ tình 47

PHẦN KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Truyền ky ̀ là thể loại có vị trí quan trọng trong nền văn ho ̣c Viê ̣t Nam Vốn

đươ ̣c bắt nguồn và kế thừa từ nền văn ho ̣c Trung Quốc xuất hiê ̣n ở cuối đời Đường, Tống, thể loa ̣i này đã đánh dấu sự phát triển chín muồi của tự sự nghê ̣ thuâ ̣t Thể truyền kỳ có nội dung li kì hấp dẫn nhằm phản ánh nhiều mă ̣t của đời sống xã hội thông qua các chi tiết hấp dẫn và các yếu tố kì ảo Đặc biệt, để khẳng đi ̣nh sự phát

triển đó, Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm chính là mô ̣t tác phẩm quan tro ̣ng

của nghệ thuật truyền kỳ Việt Nam

Truyền kỳ tân phả là tác phẩm đươ ̣c viết bằng chữ Hán của nữ nhà văn Viê ̣t

Nam Đoàn Thị Điểm có tính chất tiếp nối cho trào lư u nhân đa ̣o chủ nghĩa trong văn ho ̣c V iê ̣t Nam thế kỷ XVIII sau Nguyễn Dữ Như vậy, có thể thấy rằng khi

nghiên cứu về tập Truyền kỳ tân phả của nữ sĩ họ Đoàn không chỉ bổ trợ kiến thức

cho cá nhân người thực hiện đề tài mà qua đó còn làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, đặc biệt là với sinh viên chuyên ngành Ngữ văn

Ngoài ra, viê ̣c tìm hiểu và nghiên cứu về thể truyền kỳ nói riêng và tâ ̣p Truyền kỳ tân phả nói chung sẽ góp phần bổ trợ kiến thức cho bạn đọc về thể truyền kỳ

Việt Nam

1.2 Phần lơ ́ n ba ̣n đo ̣c chỉ biết đến Truyền kỳ tân phả khi ho ̣c mô ̣t số tác phẩm

thuô ̣c văn ho ̣c trung đa ̣i mà tập truyện này đươ ̣c nhắc đến.Vì vâ ̣y, tâ ̣p truyê ̣n này ít đươ ̣c quan tâm và cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về nó Song xét về thực tế, trong chương trình ho ̣c c huyên ngành Đa ̣i ho ̣c Ngữ v ăn phần văn ho ̣c trung đa ̣i , thể truyền kỳ là mô ̣t thể loa ̣i được nói tới , trong đó các

thành tựu được điểm qua , người ho ̣c tiếp câ ̣n với Truyền kỳ mạn lục mà không có tài liê ̣u của các tác phẩm và thành tựu khác để tham khảo và tìm hiểu

Vì vậy, qua viê ̣c nghiên cứu về tâ ̣p truyê ̣ n tôi muốn từ tác phẩm này sẽ tăng cường hiểu biết về thể loa ̣i truyền kỳ , đồng thời cung cấp thêm tài liê ̣u t ham khảo cho sinh viên, đặc biê ̣t là sinh viên khoa Ngữ văn Đây cũng chính là những lý do thúc đẩy tôi mạnh dạn tìm hiểu về các phương diê ̣n n ội dung và nghệ thuật của

Truyền kỳ tân phả để qua đó có thể góp một phần nhỏ vào viê ̣c tìm hiểu những giá

trị tư tưởng cũng như tài văn chương của Đoàn Thị Điểm

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề

Trong nghiên cứu, tập Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm được chú ý từ

khá sớm Chúng tôi có thể kể ra một số công trình cơ bản đề cập tới nội dung và nghệ thuật của tập truyện để lấy đó làm cơ sở cho quá trình tìm hiểu văn bản

Trước hết, chúng tôi tìm hiểu cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, của nhóm nghiên cứu Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm

Luận Các nhà nghiên cứu đã dành một số dòng ngắn gọn để giới thiệu về Đoàn Thị

Điểm và Truyền kỳ tân phả Công trình này xác nhận: “Tác phẩm chính viết bằng chữ Hán còn để lại, là tập Truyền kỳ tân phả Nay còn lưu lại bản in khắc năm

1811, của Lạc Thiện Đường Sách gồm sáu truyện, ghi rõ Hồng Hà Đoàn phu nhân làm, anh là Tuyết Am Đạm Như phê bình Nếu thật có lời bình của anh, thì những truyện này đã được viết trước năm 1735, là năm Đoàn Doãn Luân mất Điều đáng

lưu ý là lời văn và ý tứ trong Truyền kỳ tân phả và Chinh phụ ngâm của Đặng Trần

Côn có nhiều chỗ trùng hợp khá sát sao , rõ nhất là trong truyện cùng đề tài người chinh phu, truyện An ấp liệt nữ”, [15, tr.50 - 51]

Nối tiếp công trình nói trên, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX cũng nhận xét về thể loại truyền kỳ, đồng thời dẫn lời ngợi ca của Phan Huy Chú về Truyền kỳ tân phả, trong sự đối sánh với Truyền kỳ mạn lục như sau: “Loại truyện truyền kỳ sang giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, còn tiếp tục với Truyền kỳ tân phả của

Đoàn Thị Điểm, Đoàn Thị Điểm có ý thức kế thừa truyền thống Nguyễn Dữ, biểu

hiện ngay trong cách đặt tên tác phẩm của bà Truyền kỳ tân phả còn có tên là Tục Truyền kỳ Về phương diện nghệ thuật, Truyền kỳ tân phả không đuổi kịp Truyền kỳ mạn lục, nhưng về phương diện nội dung thì Truyền kỳ tân phả là có phần gần

với cuộc sống, với con người” [14, tr.25]

Tác giả Hà Như Chi trong cuốn Việt Nam thi văn giảng luận đã đề cập đến Truyền kỳ tân phả với cái tên mới Tục truyền kỳ và ghi nhớ công lao, đóng góp ở

phương diện đổi mới thi pháp nghệ thuật của “Bà Điểm họ Đoàn” Ông liệt kê nhan đề các truyện cụ thể: “Bà Điểm có lẽ đã trước tác nhiều, nhưng phần lớn bằng

Hán văn Bà có soạn sách Tục truyền kỳ, kể những chuyện lạ nước ta như chuyện Hải khẩu linh từ (Bà thần Chế Thắng), Vân Cát thần nữ (Bà chúa liễu Hạnh), An

Ấp liệt nữ (Vợ bé Đinh Nho Hoàn), Yến anh đối thoại (Yến anh nói chuyện), Mai

Trang 6

Huyền - Hoành sơn tiên cực (Cờ tiên ở núi Hoành Sơn), Nghĩa khuyển thập miêu

(Chó nuôi mèo) [8, tr.151]

Bên cạnh những cuốn tài liệu đề cập trực tiếp tới tác giả Đoàn Thị Điểm trong mối quan hệ với tập truyền kỳ , học giả Đoàn Quang Luận còn chú ý tới các mối quan hệ của các nhân sĩ đương thời và cho đó là những hoàn cảnh có ảnh hưởng

lớn tới tập sách Trong Mở rộng điển tích Chinh phụ ngâm, Đoàn Quang Luận chú

thích: có sách “nói về cuộc gặp gỡ của Đoàn Thị Điểm với Đặng Trần Côn”, có sách lại nói về “tình nghĩa vợ chồng sâu nặng giữa bà với tiến sĩ Nguyễn Kiều” Vì vậy, ông đã tự giải thích lí do vì sao “bây giờ chúng ta đi qua phía tây Nam Văn miếu sẽ thấy có ba đường phố gần nhau Đoàn Thị Điểm - Đặng Trần Côn - Bích Câu” Ba cái tên ấy hình như có duyên nợ không thể tách rời Ngoài tình nghĩa sâu nặng vợ chồng với tiến sĩ Nguyễn Kiều, bà có lẽ còn gửi gắm chút tình mến phục tài năng của cử nhân Đặng Trần Côn ở Bích Câu [16, tr.24]

Đến trung kì thế kỉ XX, nhóm nghiên cứu Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh

Lê, Phạm Luận, Lê Hoài Nam trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập III, đã

nhận xét về tác giả Đoàn Thị Điểm với những đóng góp về cách thức thể hiện đề tài: “Đoàn Thị Điểm một phụ nữ dòng dõi nho gia, cũng để nhân vật mình bào chữa thái độ bất chấp lễ giáo bằng cách trách người đàn ông, người trượng phu không cần câu chấp lễ nghi lặt vặt” [27, tr.33 - 34]

Nhìn chung, mỗi cuốn tư liệu lại quan tâm tới một khía cạnh mới Cuốn Văn xuôi tự sự thời trung đại lại khai thác ở phương diện khác - đi tìm ánh hồi quang

của lịch sử trong văn chương Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đã chọn lọc, so

sánh truyện Hải khẩu linh từ (trích Truyền kì tân phả) với bộ sử Đại Việt sử kí toàn thư Ông khẳng định: “thấy cốt lõi lịch sử của câu chuyện và những cách tân của Đoàn Thị Điểm” và đi đến nhận xét mọi chi tiết trong truyện Hải khẩu linh từ của

Đoàn phu nhân đều khớp với lịch sử chính xác đến từng năm, từng tháng và kể cả thời tiết của thế kỷ XIV – XV [18, tr.32]

Công trình thứ hai của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na – Cuốn Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam lại chú ý tới cốt truyện Truyền kỳ tân phả với

những mối tình say đắm và đau khổ của người phụ nữ: “Một số tác giả chuyển sang miêu tả những mối tình đắm say, thà chết để được ở bên nhau, còn hơn sống phải ly

biệt, An Ấp liệt nữ của Đoàn Thị Điểm là một ví dụ điển hình Các tác truyện ngắn

thế kỷ XVIII - XIX ít khai thác những mâu thuẫn, dẫn đến bi kịch khổ đau cho người

Trang 7

phụ nữ hoặc cả hai Họ thường viết về những mối tình tuy đắm đuối, nhưng thiên về tình cảm thuần túy, chẳng hạn mối tình Tú Uyên - Giáng Kiều (Truyện Bích Câu kỳ ngộ), Đinh Phu Nhân (An Ấp liệt nữ), Ca nữ họ Nguyễn - chàng lái đò họ Nguyễn - con gái Trần Phú Ông (Chuyện tình ở Thanh Trì)… Điều cần lưu ý là, dường như các cô gái trong truyện ngắn thế kỷ XVIII - XIX đều chủ động tìm đến tình yêu và đều hy sinh cho người mình yêu” [20, tr.397 - 398]

Đồng quan điểm với Nguyễn Đăng Na, ông Bùi Duy Tân khi biên soạn Tổng tập văn học Việt Nam đã bổ khuyết thêm về tập truyện ký chữ Hán Truyền kỳ tân phả: “Hải khẩu linh từ kể chuyện nàng Bích Châu, tài sắc là cung phi của vua Trần Duệ Tông đã vì đất nước dâng vua bản Kê minh thập sách, sau lại vì vua nhảy xuống biển sâu Vân Cát thần nữ, kể về Bà chúa Liễu Hạnh vốn là tiên nữ, giáng

trần với khát vọng sống và yêu rất mãnh liệt Cuộc đời Liễu Hạnh với hai lần giáng trần, là sự khẳng định và thể hiện khát vọng tự do, tình yêu giữa chốn trần gian Liễu Hạnh là một nhân vật diệu kỳ Trong tín ngưỡng dân gian, bà là một Thánh mẫu, là một trong tứ bất tử nơi thế giới u linh được nhân dân thờ phụng suốt mấy

trăm năm nay Vân Cát thần nữ là một tư liệu quý, có niên đại sớm về Liễu Hạnh

và tín ngưỡng thờ mẫu”, [24, tr.453 - 454]

Soi chiếu “văn học trung đại dưới góc nhìn văn hoá”, nhà nghiên cứu Trần

Nho Thìn đề cập đến không gian, thời gian trong truyện truyền kỳ nói chung và

trong Truyền kỳ tân phả nói riêng Ông viết: “Không gian, thời gian của loại truyện truyền kỳ có yếu tố kỳ ảo Truyện Vân Cát thần nữ (Truyền kỳ tân phả) là một dẫn

chứng Vợ ông Lê Thái Công, có mang quá kỳ sinh nở mắc bệnh nặng Một người đạo sĩ nói có thể giúp cho sinh nở nhanh Lê Thái Công cho mời vào, đạo sĩ xõa tóc bước lên đàn Thái Công ngã ra bất tỉnh, được lực sĩ dẫn đi lên thiên đình Khi ông hồi tỉnh thì vợ sinh con gái” [25, tr.183]

Trong cuốn Phùng Khắc Khoan, cuộc đời và thơ văn cuả Trần Lê Sáng, ở mục

II: “Vị thượng thư già, Phùng Khắc Khoan”, ở Kinh đô và ở quê nhà đã giải thích

rõ một số truyện trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, nhất là các truyện:

An Ấp liệt nữ, Vân Cát thần nữ Sứ giả Đinh Hoàn trong An Ấp liệt nữ đã ốm chết

khi vừa đến Yên Kinh, người vợ héo hon vì buồn bã, cuối cùng đã tự tử để đi theo tiếng gọi của chồng [22, tr.139 – 140]

Trang 8

Đáng chú ý và tổng quan nhất là cuốn Từ điển văn học, mục 185, Đặng Thị Hảo đã so sánh Truyền kỳ tân phả với Truyền kỳ mạn lục và Thánh Tông di thảo,

để nhận xét so sánh và khẳng định giá trị Truyền kỳ tân phả: “Ra đời sau Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục ngót hai thế kỷ, nhưng Truyền kỳ tân phả đã

không tiến kịp hai tác phẩm trên về cả nội dung và nghệ thuật Cốt truyện thường tản mạn, rườm rà, kết cấu lỏng lẻo, chú ý nhiều đến trau chuốt câu chữ, lời văn hơn là diễn tiến nội tại của tác phẩm” Để tăng tính xác thực bà viết: “Bàn về nghệ

thuật của Truyền kỳ tân phả, Phan Huy Chú, trong Lịch triều hiến chương loại chí

có viết: “Lời văn hoa lệ, nhưng khí cách yếu ớt, không bằng văn Nguyễn Dữ” [13, tr.448 - 449]

Từ những ý kiến trên , chúng tôi nhận thấy, điểm chung ý kiến của các công

trình nghiên cứu nói trên đều ít nhiều đề cập tới nội dung và nghệ thuật Truyền kỳ tân phả Do đó, chúng tôi xin phép kế thừa những quan điểm nói trên, đồng thời hệ

thống lại, đưa ra những ý kiến đóng góp với suy nghĩ góp một chút ít công sức xây dựng tư liệu cho cá nhân và cho sinh viên khoa Ngữ văn khi học thể loại truyền kỳ

Đây là lí do tôi tiến hành nghiên cứu về tâ ̣p Truyền kỳ tân phả với hai phương diện

nội dung và nghệ thuật tập truyện

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tâ ̣p truyê ̣n Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, tức là tìm hiểu

về nô ̣i dung và nghê ̣ thuâ ̣t của tác phẩm với các phương diê ̣n tình yêu , người phụ

nữ, hiê ̣n thực xã hô ̣i trong Truyền kỳ tân phả và tìm hiểu về kết cấu , quan niệm

nghệ thuật về con người, về thời gian, không gian nghệ thuật cùng các phương thức biểu hiện và phương tiện nghệ thuật của tác phẩm

4 Phạm vi nghiên cứu

Tác giả Đoàn Thị Điểm có nhiều tác p hẩm (dịch chữ Hán sang chữ Nôm, viết

bằng chữ Hán…), trong đó có Chinh phụ ngâm khúc, Hồng Hà phu nhân di văn, Truyền kỳ tân phả

Do mục đích nghiên cứu quy định, tôi chỉ tìm hiểu nội dung và nghệ

thuật Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm (tác phẩm Truyền kỳ tân phả, được Ngô Lập Chi và Trần Văn Giáp tuyển dịch bốn truyện: Hải khẩu linh từ (Truyện đền thiêng cửa bể), Vân Cát thần nữ (Truyện nữ thần ở Vân Cát), An Ấp liệt nữ (Truyện người liệt nữ ở An Ấp) và Bích Câu kỳ ngộ (Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu), do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1963)

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, tôi sử dụng 4 phương pháp chính sau:

5.3 Phương pha ́ p liên ngành

Thể loại truyền kỳ, là sự tương tác, mối giao hoà giữa văn học dân gian và văn học viết Do đó khi nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp phương pháp phân tích tác phẩm văn học viết với phương pháp phân tích tác phẩm văn học dân gian Các

khái niệm như đề tài, cốt truyện, kết cấu, nhân vật, sự kiện… vốn được áp dụng trong nghiên cứu tác phẩm văn học viết Các khái niệm như mô típ, kiểu truyện vốn

được áp dụng trong nghiên cứu văn học dân gian và cả văn học viết Khi nghiên cứu những phương diện đó trong cùng một tác phẩm, đề tài cần đặt trong mối tương quan giữa đặc điểm tác phẩm folklore với đặc điểm tác phẩm văn học viết Các phạm vi văn học có mối quan hệ với văn hóa Để từng bước chỉ ra sự giao

lưu giữa chúng, đề tài cũng sử dụng thêm phương pháp liên ngành văn hóa - văn học

- lịch sử - triết học

5.4 Phương pha ́ p so sánh

So sánh là phương pháp cần thiết để xử lí đề tài Muốn tìm ra những đặc điểm

về nội dung và nghệ thuật của tập truyện, tôi tìm tới phương pháp này

Tôi sẽ tiến hành mở rộng so sánh vớ i những tác phẩm cùng thể loa ̣i để nhìn nhận những giá trị tương đồng hay khác biệt về phương diện nội dung và nghệ thuật

6 Đóng góp của khóa luận

Tôi đã đề cập đến một phương diện nghiên cứu mới, là tìm hiểu về nội dung

và nghệ thuật Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm Cụ thể là tìm hiểu về tình

yêu, về vai trò của người phu ̣ nữ , về hiê ̣n thực xã hô ̣i trong Truyền kỳ tân phả và

các quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian, không gian nghệ thuật cùng các

phương thức, phương tiện nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm

Trang 10

Sau khi hoàn thiê ̣n , đề tài có thể làm tài liệu tham khảo ch o sinh viên chuyên ngành Ngữ văn khi ho ̣c về thể loa ̣i truyền kỳ

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo , nội dung chính của

khoá luận gồm ba chương:

Chương 1 Những vấn đề chung

Chương 2 Nô ̣i dung tác phẩm Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm

Chương 3 Giá trị nghệ thuâ ̣t trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Hoàn cảnh lịch sử đầu thế kỉ XVIII ở Việt Nam

Bất kì tác phẩm văn học thuộc thời kì nào cũng ra đời trên một cơ sở hiện thực

xã hội cụ thể Hiện thực khách quan thông qua thế giới chủ quan của nhà văn, được

hư cấu để sáng tạo tác phẩm Nhà văn hiện thực thường tập trung vào những đề tài

xã hội, đối tượng quen thuộc, thậm chí là những mảng đời tầm thường nhàm chán

Ở thời kì phong kiến, giai tầng vua quan, nông dân, nho sĩ… là đối tượng của nhà văn Nhà văn sẽ phản ánh bản chất và quy luật khách quan của đời sống thông qua các điển hình: hoàn cảnh điển hình, tính cách điển hình Nữ sĩ Đoà n Thị Điểm là người sống gần tro ̣n nửa đầu thế kỷ thứ XVIII Đây là mô ̣t giai đoa ̣n li ̣ch sử hết sức phức ta ̣p Vì vậy hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ đã chi phối rất sâu sắc tới các sáng tác của bà

Căn cứ vào hoàn cảnh li ̣ch sử cu ̣ thể , cho thấy t ừ thế kỷ XVI trở đi chế đô ̣ phong kiến đã bước vào thời kỳ suy vong và nằm trong tình tra ̣ng khủng hoảng nghiêm tro ̣ng

Nhân lúc hưu chiến , các tập đoàn phong kiến (Lê Tri ̣nh ngoài Bắc , Nguyễn trong Nam) lo mài nanh giũa vuốt để chờ di ̣p cấu xé lẫn nhau Chúng tăng cường bóc lột quần chúng để chuẩn bị gây chiến và cung phụng cho cuộc sống xa hoa trụy lạc của chúng Vì vậy tình cảnh xã hội ngày càng đen tối , đau khổ Lại thêm thiên tai, bệnh hoa ̣n dày vò Sử cũ chép:

“Tháng giêng Quý Tỵ (1713): Lúc ấy đã lâu không mưa, giá thóc gạo cao vụt, dân gian có người ăn vỏ cây, rễ cỏ, chết đói đầy đường, làng xóm các nơi tiêu điều hiu qua ̣nh” [5, tr.14]

“Tháng 8 Tân Dâ ̣u (1741):… Dân phiêu tán dắt dí u nhau đi kiếm ăn đầy đường Giá gạo cao vọt , mô ̣t trăm đồng tiền không được mô ̣t bữa no Nhân dân phần nhiều phải ăn rau, ăn củ, đến nỗi ăn cả thịt rắn, thịt chuột, chết đói chồng chất lên nhau Số dân còn la ̣i mười phần không đươ ̣c mô ̣t Làng nào vốn có tiếng trù mật cũng chỉ còn lại độ dăm ba hộ mà thôi” [5, tr.14]

Đứng trước thảm trạng như trên , các tầng lớp nhân dân nhất là nông dân chỉ còn một con đường duy nhất là vùng lên khởi nghĩa

Trang 12

Đặc biê ̣t những năm 30 và 40 của thế kỷ XVIII phong trào bùng lên sôi nổi như những tàn lửa rơi vào cánh đồng cỏ khô Đúng lúc này Đoàn Thi ̣ Điểm đang ở tuổi trưởng thành Bà chứng kiến hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nhà sư Dương Hưng (1737) là Nguyễn Tuyển , Nguyễn Cừ , Vũ Trác Oánh , Hoàng Công Chất, Lê Duy Mâ ̣t và đáng chú ý hơn cả là Nguyễn Danh Phương (tục gọi là Quâ ̣n He), Nguyễn Hữu Cần (tục gọi là Quận Hẻo ) lần lươ ̣t phất cờ khởi nghĩ a Hàng chục vạn nông dân đã nhiệt liệt hưởng ứng Chính quyền Lê Tri ̣nh lung lay “ quân

ở bốn đạo không đánh mà tự vỡ , thế giă ̣c la ̣i lớn lên , đài phong hỏa báo thông về đến sông Nhi ̣”

Phong trào nông dân khởi nghĩa nửa đầu thế kỷ tuy chưa thành công nhưng đã giáng những đòn sét đánh vào chế độ phong kiến thối nát , xô đẩy c ác tập đoàn thống tri ̣ mau sa xuống hố diê ̣t vong Trên cơ sở suy tàn của chế đô ̣ phong kiến , những thứ đa ̣o đức luân lý lễ g iáo Khổng Mạnh cổ truyền dần dần mất hiệu lực Phong trào khởi nghĩa đem la ̣i mô ̣t cuô ̣c sống tự do, thoải mái, lành mạnh thích hợp với yêu cầu của thời đa ̣i Đây là điều kiê ̣n để v ăn ho ̣c dân gian phát triển , văn ho ̣c cổ điển đa ̣t đến mô ̣t bước tiến bô ̣ mới : giàu tính chất hiện thực , giàu tinh thần nhân

đa ̣o chủ nghĩa và đâ ̣m đà phong vi ̣ dân tô ̣c về mă ̣t hình thức

Cũng trong giai đoa ̣n li ̣ch sử này , nền kinh tế hàng hóa phát triển hơn trước , các đô thi ̣ tâ ̣p trung và phồn vinh hơn trước , làm nảy nở yếu tố thị dân trong cuộc sống xã hô ̣i

Vì vậy trong cuộc sống cũng như trong văn học , tinh thần chống phong kiến phát triển mạnh mẽ, có khi trở thành một trào lưu rất h ấp dẫn Dù muốn hay không muốn, dù có ý thức hay không có ý thức , các nhà sáng tác văn học và nghệ thuật đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của những tiến triển mới của thời đại Hoàn cảnh xã hội đó đã tác động lớn tới đời sống gia đình nữ sĩ và phần nào đã ảnh hưởng đến các sáng tác của Đoàn Thi ̣ Điểm sau này

1.2.1 Khái niệm thể truyền ky ̀

Thể truyền kỳ có hai cách gọi : truyện truyền kỳ và tiểu thuyết truyền kỳ Truyện truyền kỳ vốn có nguồn g ốc Trung Hoa xuất hiện ở cuối đời Đường, Tống, đánh dấu sự chín muồi của tự sự nghệ thuật Hai chữ “truyền kỳ” bao hàm mấy ý

Trang 13

nghĩa sau: “Một là: có ý chuộng lạ (hiếu kỳ) như Hồ Ứng Lân đời Minh nói, kể

những việc khác thường, kế thừa truyền thống truyện chí quái từ đời Ngụy Tấn

Hai là, như tác giả đời Tống là Triệu Ngạn Vệ nói : đặc điểm của truyền kỳ là chứa đựng nhiều thể, có thể nhận thấy có yếu tố sử, yếu tố thơ, yếu tố nghị luận Các kiểu câu nghị luận thường ở dạng: “Thái sử công viết”, “Quân tử viết” Trong truyện truyền kỳ cũng xuất hiện tài kể chuyện với ngòi bút thi nhân” [15, tr.349] Tên gọi “truyền kỳ” không chỉ để gọi tên một thể loại tự sự có từ cuối đời Đường mà đến đời Minh Thanh nó lại chuyên dùng để chỉ thể loại hý khúc Theo nhà văn, nhà nghiên cứu Lỗ Tấn về nội dung thì truyện truyền kỳ khó phân biệt với truyện chí quái đời Lục triều , song về nghệ thuật kể chuyện thì đã có nhiều đổi khác Lời kể uyển chuyển, lời văn hoa mĩ “Kỳ” nghĩa là không có thật, nhấn mạnh tính hư cấu Cái gọi là truyền kỳ, chủ yếu là truyền cái kỳ trong tình yêu nam nữ và truyền cái kỳ trong thế giới thần kinh ma quỷ

Về mặt thể loại , truyền kỳ thực sự là truyện vì có kết cấu cốt truyện hoàn chỉnh như những tác phẩm nghệ thuật, có thắt nút, phát triển và có mở nút Điểm khác biệt cơ bản so với thể sử (chí truyện) - viết theo hệ thống gia phả , không có cốt truyện thì truyền kỳ lại có cốt truyện riêng mà không nhất thiết phải kể trọn vẹn cuộc đời của một hay dòng họ của nhân vật Rất nhiều câu chuyện chỉ đóng khung trong một giấc mơ hay một khúc đoạn cuộc đời, chẳng hạn như lúc đi học, đi thi hay lúc nghỉ trọ của một nho sinh…

Mô típ đối thoại, biện bác được sử dụng khá nhiều Về kết thúc, truyện có hai loại, có hậu và bi kịch Nhà văn gần như đã khước từ lối kết thúc trong truyện dân gian, cụ thể là cổ tích Ngay cả trong những truyện tưởng như kết thúc có hậu thì cuối cùng lại là kết thúc bi kịch

Kiểu kết thúc có hậu chỉ là dư ba, phảng phất nỗi niềm vô phương cứu chữa của hiện thực xã hội Điều đó tạo nên tính chất thẩm mĩ và tư tưởng hiện thực ở nhiều dạng vẻ

Về văn tự: Tất cả các tác phẩm viết theo thể truyền kỳ ở Việt Nam đều viết bằng chữ Hán

Thể truyền kỳ có một số đặc điểm cụ thể sau:

Một là: luôn viết về những truyện lạ, có thể lấy cốt truyện từ những câu chuyện đã có sẵn trong dân gian hoặc ở ngoài đời sống xã hội được ghi chép lại

Trang 14

dưới cái gốc li kì , kì ảo Thông qua mộng ảo , truyện truyền kỳ thường tả thực cuộc đời

Hai là: thông qua yếu tố kì ảo , truyện truyền kỳ phản ánh nhiều mặt của đời sống: số phận của người kĩ nữ, thư sinh đi thi, dân kẻ chợ… là những nhân vật trung tâm Chống chế độ phong kiến, chế độ môn phiệt, đòi hỏi tự do hôn nhân, đồng thời vạch mặt bọn trí thức phong kiến ham mê công danh, lợi lộc mà chìm đắm trong khoa hoạn… đã trở thành chủ đề quan trọng của truyện

Ba là : bố cục của truyện truyền kỳ thường mở đầu bằng lời giới thiệu nhân vật, quê quán, tính tình, phẩm hạnh… Kế đó, phần trung tâm của truyện kể những truyện kì ngộ lạ lùng Phần kết, kể lại lý do kể chuyện, dưới dạng “ban ngày yến tiệc, đêm nghe kể chuyện, thu thập các chuyện lạ, cảm thấy kinh hãi… ghi lại chuyện lạ” Người kể chuyện thường nhân danh một nhân vật trong tác phẩm hay một người cụ thể để kể lại, mục đích là để đảm bảo tính khách quan, dễ phân tích tâm lí nhân vật Một số sáng tác có thêm phần lời bình Thể truyền kỳ cũng thường xuất hiện những mô típ người lấy tiên, lấy ma, người hóa phép, biến hóa…

Bốn là: về phong cách, truyện truyền kỳ thường dùng văn xuôi để kể, đến chỗ

tả cảnh, tả người thì dùng văn biền ngẫu, khi nhân vật bộc lộ cảm xúc thì thường làm thơ mang màu sắc lãng mạn

Nói tóm lại, truyền kỳ là một thể văn ra đời ở Trung Quốc Thể văn này thường có nội dung li kì hấp dẫn nhằm phản ánh nhiều mặt của đời sống, ngôn ngữ uyển chuyển, bút pháp lãng mạn, tinh tế

1.2.2 Truyện truyền kỳ ở Việt Nam

Kết thúc thời kỳ trung đại, truyện truyền kỳ Việt Nam có được một số thành

tựu cơ bản sau: Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh), Việt điện u linh (Lí Tế Xuyên), Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm), Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh), Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ), Tang thương ngẫu lục (Phạm Đình Hổ - Nguyễn Án)…

Trong số các sáng tác kể trên, các truyện Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tông, Truyền ky ̀ mạn lục của Nguyễn Dữ, Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm

đánh dấu sự chín muồi của nghệ thuật truyền kỳ Việt Nam

Trang 15

Cách gọi truyền kỳ chứng tỏ các tác giả đã đi theo truyền thống truyền kỳ Trung Hoa Tuy nhiên, về thể thức thì thay đổi, chẳng hạn như, hệ thống thơ ca thù tạc của nhân vật rất nhiều Nhà văn đã tăng yếu tố này nhằm biểu hiện tốt hơn thế giới nội tâm của nhân vật

Ở thế kỉ XV, Thánh Tông di thảo “đánh dấu một bước tiến rõ rệt của văn tự sự

truyện ký từ chỗ nặng về ghi chép sự tích cũ đến chỗ hư cấu phỏng tác những truyện mới”

Tập truyện Truyền kỳ tân phả (Cuốn phả mới về truyền kỳ) của nhà văn Đoàn

Thị Điểm, viết theo lối truyện kể, có nhiều bài thơ xen kẽ, còn có tên gọi khác là

Tục truyền kỳ lục (Viết nối truyện truyền kỳ) Tác phẩm có tính chất tiếp nối cho

trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII

Tập văn có 6 truyện nhưng giới nghiên cứu văn học cho rằng chỉ có 3

truyện Hải khẩu linh từ (Truyện đền thiêng cửa bể), Vân Cát thần nữ (Thần nữ Vân Cát) và An Ấp liệt nữ (Liệt nữ ở An Ấp) là do Đoàn Thị Điểm sáng tác, số

còn lại chưa rõ là của ai

Nhìn chung, cả 6 truyện đều là những câu chuyện cuộc đời, về con người trong buổi xế chiều của xã hội phong kiến Việt Nam được biểu hiện dưới màu sắc

hoang đường, quái đản Mượn yếu tố hoang đường nhưng Truyền kỳ tân phả có

nhiều ưu điểm trong việc phản ánh thực trạng xã hội đương thời

Tuy nhiên, tác giả cũng không tránh khỏi những mâu thuẫn quen thuộc của nhà văn thời đó trong lập trường phê phán của mình cũng như trong cách quan niệm về một xã hội lí tưởng

Nhiều truyện tác giả một mặt chỉ trích giới quan trường cao thấp nhằm phơi bày mặt trái của xã hội phong kiến, mặt khác ra sức đề cao đạo đức, trật tự phong kiến, ca ngợi vai trò của minh quân, vẽ lên hình tượng lí tưởng về những ông vua công minh vì dân vì nước

Đoàn Thi ̣ Điểm chủ trương đề cao đến mức cực đoan những người phụ nữ tiết nghĩa vẹn toàn bằng cách cho người phụ nữ – nhân vật chính của truyện, vì một tình yêu mãnh liệt tự nguyện chết theo chồng

Điểm nổi bật nhất của Truyền kỳ tân phả là người viết có ý thức ủng hộ lối

sống phóng khoáng vượt khỏi khuôn khổ lễ giáo phong kiến và đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội

Trang 16

Phần lớn các truyện đều được xây dựng từ những nhân vật có thật, hoặc những truyền thuyết lịch sử Tác giả khéo léo dẫn dắt và xây dựng tính cách nhân vật làm cho câu chuyện có sức truyền cảm sâu sắc và thấp thoáng xuất hiện tâm lí nhân vật, điều mà văn học trung đại chưa đạt tới Điểm hạn chế của tác phẩm là cốt truyện còn tản mạn, rườm rà, kết cấu lỏng lẻo, chú ý nhiều đến câu chữ hơn nội dung Vì vậy, nhà nghiên cứu Phan Huy Chú đã nhận xét: “ Lời văn thì hoa lệ nhưng khí cách yếu ớt, không bằng văn của Nguyễn Dữ”

1.3 Đoàn Thi ̣ Điểm và Truyền kỳ tân phả

1.3.1 Tác giả Đoàn Thị Điểm

Theo gia phả (Đoàn Thi ̣ thực lu ̣c) thì họ Đoàn nguyên trước là ho ̣ Lê , đến đời Đoàn Doãn Nghi mới đổi ra ho ̣ Đoàn

Đoàn Thị Điểm được giới nghiên cứu nhất trí đánh giá là “một thiếu phụ có danh nhất trong làng văn” Việt Nam Thế nhưng tài liệu về Đoàn Thị Điểm còn lại không nhiều Trong kho thư tịch cổ Việt Nam cũng chỉ có đôi dòng về bà, chẳng

hạn như ở Lịch triều hiến chương loại chí, Tang thương ngẫu lục, Đại Nam hiển ứng truyện, Nam thiên trân dị tập, Sơn cư tạp thuật, Hát Đông thư dị…

Những ghi chép ở các văn bản nói trên được Phan Kế Bính góp nhặt lại đưa

vào chương thứ VIII “Các người có danh tiếng” của Nam Hải dị nhân liệt truyện (lời Tựa viết năm Nhâm Tí, niên hiệu Duy Tân thứ Sáu - 1912) Mãi đến

những năm 50 – 60 của thế kỉ XX, các tác giả Trúc Khê Ngô Văn Triện, Thuần Phong Ngô Văn Phát, La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn trong khi tìm hiểu về vấn

đề tác quyền của Chinh phụ ngâm khúc mới phát hiện được Đoàn thị thực lục - gia phả

của dòng họ Đoàn, do cháu rể của Đoàn Thị Điểm soạn, gồm tiểu sử tổ tiên 9 đời và

sự tích Đoàn Thị Điểm lúc sinh thời Ngoài ra còn có bài văn tế Đoàn Thị Điểm của

chồng bà là Nguyễn Kiều (Hai bản Đoàn thị thực lục mà Ngô Văn Triện và Hoàng

Xuân Hãn sử dụng là hai bản hơi khác nhau, với hai bài văn tế khác nhau)

Nay hệ thống lại các tài liệu trên, chúng ta có thể thấy cuộc đời ngắn ngủi bốn mươi mấy năm của Đoàn Thị Điểm hiện lên không khác gì một thiên truyền kỳ với rất nhiều sóng gió

Đoàn Thi ̣ Điểm (1705 – 1748) sinh ra ở làng Giai Pha ̣m (sau đổi là Hiến Pha ̣m), thuô ̣c huyê ̣n Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay thuô ̣c huyê ̣n Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên)

Trang 17

Tìm hiểu về gia đình và đời tư của bà, biết được cha của bà là Đoàn Doãn Nghi, đậu hương cống thời Lê mạt Thi Hội không đâ ̣u, ông không ra làm quan, về nhà mở dạy học và bốc thuốc Mẹ đẻ bà là cô gái xinh đẹp con quan Thái lĩnh bá ở phường Hà Khẩu (khu vực Hàng Bạc, Hàng Buồm ngày nay) – vốn nổi tiếng là nơi buôn bán sầm uất nhất kinh đô

Năm 16 tuổi, Đoàn Thị Điểm được Thượng thư Lê Anh Tuấn nhận làm con nuôi, nhà của ông ở phường Bích Câu – sát kề Quốc tử giám, nơi được coi là trung tâm văn hóa đương thời với rất nhiều dinh thự lớn ngày đêm dập dìu văn nhân tài

tử Sau, Đoàn Thị Điểm còn nhận lời dạy học cho một cung nhân trong phủ chúa Trịnh Chắc hẳn bà đã tận mắt thấy những cảnh phồn hoa, tai đã nghe những chuyện thâm cung bí sử cho đến cả những cuộc thanh trừng thảm khốc mà chính những người quen thân của bà là nạn nhân (Thượng thư Lê Anh Tuấn, Thượng thư Nguyễn Công Hãng đều vì bị nghi ngờ chống lại việc Trịnh Giang lên ngôi mà bị cách chức, sau bị bắt uống thuốc độc chết)

Năm 25 tuổi (1729) cha mất, cả gia đình lại dời về làng Vô Ngại, huyê ̣n Đường Hào, tỉnh Hưng Yên Chẳng bao lâu anh trai bà là Đoàn Doãn Luân cũng mất, mô ̣t mình bà phải chăm sóc mẹ già, chị dâu, đàn cháu thơ và quán xuyến viê ̣c nhà Năm 35 tuổi, gă ̣p thời loạn lạc, bà đã đưa cả gia đình đến lánh nạn và mở trường dạy học ở Chương Dương (nay thuộc Thường Tín – Hà Nội) Vào năm 37 tuổi, một lần nữa bà bén duyên với Thăng Long khi bà ưng thuận lời cầu hôn của ông Nguyễn Kiều người làng Phú Xá (Phú Thượng – Tây Hồ ngày nay) Hơn một tháng tân hôn, liền kề sau đó là ba năm chờ chồng đi sứ, tiếp nữa là ba năm hạnh phúc ngắn ngủi ở quê chồng Có thể nói, Thăng Long chưa lúc nào tách khỏi cuộc đời Đoàn Thị Điểm, kể cả khi bà đã quyết rửa sạch lòng trần, yên phận với nghề dạy học và bốc thuốc ở Đường Hào thì tiếng tăm về tài sắc của bà đã khiến các danh sĩ Hà thành trong đó có Đặng Trần Côn, có “Trường An tứ hổ”… không để bà được yên

Cũng chính vì lẽ đó, từ xưa đến nay các nhà nghiên cứu luôn có những tranh luâ ̣n, giả thiết và những tồn nghi về bà Các nhà nghiên cứu cho rằng, chỉ biết đến một bà Điểm họ Đoàn trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỉ XVIII Thế nhưng gần đây, ông Nguyễn Trác Cách sinh năm 1936, trưởng tộc dòng họ Nguyễn Trác ở

Trang 18

thành phố Hải Dương có cung cấp thông tin nói rằng: từ lâu trong dòng họ ông vẫn lưu truyền qua nhiều thế hệ về những giai thoại văn chương giữa Nguyễn Trác Luân (sinh năm 1699) với người em là Nguyễn Thị Điểm, vốn ham học ngay từ khi còn nhỏ và thường cùng anh xướng họa thơ văn Theo những người trong dòng họ

này thì bà mới là tác giả của Tục truyền kỳ và bản dịch Chinh phụ ngâm nổi tiếng

Vào đầu những năm 70 thế kỉ XX, nhân dịp nhà nghiên cứ u Phan Huy Lê (nay

là Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) và nhà nghiên cứ u Bùi Văn Nguyên (Khoa Văn Đại học sư phạm Hà Nội) về thăm Hải Dương, bố và chú của ông Nguyễn Trác Cách là Nguyễn Trác Thức và Nguyễn Trác Ngữ (nay đã qua đời) đã trực tiếp gặp và trình bày vấn đề này

Sau đó không lâu, trên Tạp chí Văn học, số 6 năm 1977, nhà nghiên cứ u Bùi Văn Nguyên viết bài “Bà Điểm nào trong hai bà Điểm, tương truyền có tham gia

dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn” Bằng cách đặt lại vấn đề, tìm

hiểu thêm các thư tịch và báo chí có liên quan, đồng thời đối chiếu với kết quả điều tra ở thực tế địa phương, ông đã đi đến kết luận: “Sự thật, có hai bà Điểm khác nhau, một bà họ Nguyễn, một bà họ Đoàn, hai bà sống có phần đồng thời, ở cùng một vùng, nay là tỉnh Hải Hưng, đều có người anh trùng tên là Luân và đều giỏi văn thơ, pha nghề dạy học”

Tuy nhiên về vấn đề dịch giả đích thực của Chinh phụ ngâm diễn ca cũng như tác quyền của Tục truyền kỳ thì nhà nghiên cứ u cũng phải công nhận “chưa có đủ

dữ liệu để khẳng định”

Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng “có hai bà Điểm” là vì các thư tịch viết về bà Điểm không nhất quán, chỗ thì nói là Đoàn Thị Điểm em gái Đoàn Doãn Luân, chỗ lại nói Nguyễn Thị Điểm em Nguyễn Trác Luân trong khi nội dung các giai thoại lại trùng lặp, chồng chéo

Lâu nay, xu hướng chung của giới nghiên cứu là coi tất cả các giai thoại này đều là chuyện về Đoàn Thị Điểm và lí giải rằng: “Sở dĩ lầm họ như vậy, là vì người

ta đã lầm tưởng rằng bà là em Nguyễn Trác Luân”

Căn cứ để nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên và dòng họ Nguyễn Trác nghi ngờ

về tính chân thực của tiểu sử Đoàn Thị Điểm (trên thực tế là nghi ngờ các giai thoại

có liên quan đến Đoàn Thị Điểm) là: Nguyễn Trác Luân 22 tuổi đã đỗ Tiến sĩ, làm

Trang 19

đến Phó đô ngự sử, sau thăng Hữu thị lang bộ Công, lại thuộc thế hệ đàn anh của Đặng Trần Côn

Vì vậy, Nguyễn Thị Điểm mới có thể dựa thế ông anh mà chê Đặng Trần Côn

là “Trẻ thơ mới học, thơ từ chẳng bõ ngứa tai” được Mặt khác, ông Nguyễn Trác Luân còn có thời gian làm đốc trấn Nghệ An, khi mất được dân địa phương lập miếu thờ làm thành hoàng, vì vậy bà Nguyễn Thị Điểm mới có thể hiểu rõ về Nghệ

An mà viết nên An ấp liệt nữ hay Vân Cát thần nữ

Trong khi đó bà Điểm họ Đoàn gia đình thanh bạch, sống chủ yếu dựa vào nghề dạy học, không hẳn có nhiều thời gian đặt chân đến kinh kỳ, nhất là càng không thể vào đến Nghệ An, trừ chuyến đi theo chồng trước lúc từ giã cõi đời… Phải trả lời thế nào đối với câu hỏi mà nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên đã đặt

ra và cũng là băn khoăn của dòng họ Nguyễn Trác về “nghi án văn chương” này?

Có thể, chỉ với Đoàn thị thực lục, với ngôi từ đường họ Đoàn còn đó cùng ngôi mộ bà ở quê ông Nguyễn Kiều, với Tang thương ngẫu lục, đặc biệt là các bản Truyền kỳ tân phả hiện còn (các bản 1811 và 1864 đều ghi “Hồng hà Đoàn phu nhân trứ”) , có thể khẳng định về sự tồn tại của một tác giả Đoàn Thị Điểm (chí ít cũng là tác giả của Truyền kỳ tân phả)

Cũng có thể Đoàn Thị Điểm là nguyên mẫu của một số giai thoại, nhưng là

những giai thoại cụ thể nào, thì chưa thể tìm được câu trả lời (kể cả giai thoại về câu đối „Điểm‟ „Luân‟ ) Vì gắn với câu đối Điểm - Luân nổi tiếng trong khi ông Đoàn Doãn Luân chỉ đỗ đến hương nguyên rồi ở nhà bốc thuốc dạy học, chân không bước đến thị thành, lại mất sớm còn ông Nguyễn Trác Luân thì đỗ đại khoa, làm quan to mà nhân vật Thị Điểm lập tức bị nhầm tưởng là em ông này, bị đổi họ Nguyễn và bị đẩy quê quán sang Đường Hào

Trong môi trường đầy hạn chế về phương tiện truyền thông đương thời, các giai thoại một khi hình thành, tham gia vào đời sống truyền miệng cũng có nghĩa là

nó đã bắt đầu một đời sống mới với những biến đổi không ngừng, có nhầm lẫn cũng là điều dễ hiểu Tai hại hơn nữa là, đến một lúc nào đó, các dị bản truyền khẩu này lại được ghi chép vào giấy trắng mực đen, khiến con cháu đời sau “không biết đằng nào mà lần”

Trang 20

Trở lại với cái tên Nguyễn Thị Điểm? Có một người thực như vậy trong dòng

họ Nguyễn Trác là em ông Nguyễn Trác Luân hay không? Trả lời được câu hỏi này thì mới có thể đi đến giải quyết các vấn đề tiếp theo Tiếc thay, dòng họ Nguyễn Trác không còn gì để có thể “nói có sách, mách có chứng”

Các câu đối, gia phả, sắc phong, thậm chí cả ngôi nhà thờ họ năm gian mang tên Duy Ái Từ đã bị đốt cháy trong cuộc kháng chiến chống Pháp (Nhân đây cũng xin nhắc một điều là: kháng chiến chống Pháp muộn hơn so với niên đại của các

bản Truyền kỳ tân phả rất nhiều)

Việc “lưu truyền qua nhiều thế hệ” trong dòng họ Nguyễn Trác chủ yếu chỉ là vin vào các giai thoại về “Nguyễn Thị Điểm” Thế là những giai thoại vốn dĩ để làm đẹp cho bà Đoàn, đến lượt nó, lại trở thành khởi nguồn cho truyền thuyết về bà Nguyễn Thị Điểm của dòng họ Nguyễn Trác

Có thể mượn lời của Phan Kế Bính trong lời Tựa Nam hải dị nhân để khép lại

vấn đề này: “Nước Nam ta từ xưa đến nay, trải hơn 4000 năm, chẳng thiếu gì người tài đức, người danh tiếng, nhưng bởi vì sự tích xa xôi mà không rõ, hoặc vì sử sách biên sót mà không tường Chỉ còn người nào ghi vào sử, hoặc chép vào kí tái của

các tư gia, thì còn có thể lưu truyền lại được Nhưng ngặt vì sách thì ít nên lưu truyền ra không được rộng Người ta nói truyện cổ tích chẳng qua chỉ một vài người được trông vào sách, rồi thì truyền khẩu cho nhau, lõm bõm người nhớ khúc này, kẻ nhớ khúc kia, mỗi người truyền đi lại sai một tí, té ra nhầm lẫn sai cả sự

thực của người xưa”

Cho đến nay vẫn còn rất nhiều những nghi vấn và uẩn khúc về tác giả thực sự

của tập Truyền kỳ tân phả Nhưng khi tìm hiểu chúng tôi nhận thấy rằng, phần lớn các nhà nghiên cứu và các tài liệu có liên quan đến Truyền kỳ tân phả của bà Đoàn

Thị Điểm còn để lại phần nhiều và đều cho rằng nữ sĩ họ Đoàn chính là tác giả của

tập truyện này Vì vậy, trong đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu Truyền kỳ tân phả của tác giả Đoàn Thị Điểm

Có thể thấy rằng, Đoàn Thị Điểm là mô ̣t tác gia lớn của nền văn học thời trung

đa ̣i, với bút pháp đa dạng, vừa giỏi văn Hán, lại vừa giỏi thơ Nôm Bà sáng tác

nhiều nhưng tản mát phần lớn Ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm bà còn là tác giả

tâ ̣p truyê ̣n ký, Truyền kỳ tân phả và mô ̣t ít thơ văn câu đối chữ Hán, chữ Nôm được

Trang 21

lưu giữ trong Hồng Hà phu nhân di văn Đương nhiên, thể loại và tác phẩm cũng chưa phải là tất cả, đóng góp của bà Đoàn Thị Điểm chính là ở những giá trị nhân văn cao cả, những tư tưởng lớn lao vì dân vì nước và những đă ̣c sắc nghê ̣ thuâ ̣t mà

bà đã gửi gắm và đa ̣t được trong trước tác của mình Bà là ngôi sao sáng trong hàng ngũ những nữ sĩ Viê ̣t Nam, mô ̣t nhà giáo, mô ̣t lương y tài đức vẹn toàn

1.3.2 Tác phẩm Truyền kỳ tân phả

Chịu ảnh hưởng của thời đại , của hoàn cảnh riêng và có một khả năng văn tài

xuất sắc , Đoàn Thị Điểm đã sáng tác Truyền kỳ tân phả có giá trị và diễn nôm Chinh phụ ngâm khúc thành công tốt đẹp

Do phạm vi nghiên cứu quy định, chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu tập Truyền kỳ tân phả của tác giả Đoàn Thị Điểm Tập Truyền kỳ tân phả (quyển sách mới ghi chép những chuyện kỳ lạ) cũng có tên Tục truyền kỳ là một tác phẩm viết bằng chữ

Hán văn

Đây là tác phẩm nằm trong bô ̣ sách Cảo thơm trước đèn của Văn ho ̣c Viê ̣t Nam Truyền ky ̀ tân phả là một tác phẩm dễ đọc phù hợp cho các độc giả yêu thích văn ho ̣c và các nhà nghiên cứu Theo Lịch triều hiến chương loại chí của nhà sử học xuất sắc Phan Huy Chú thì Truyền kỳ tân phả bao gồm 6 truyê ̣n: Vân Cát thần nữ, An Ấp liê ̣t nữ, Bích Câu kỳ ngộ, Hoành sơn tiên cục, Mai huyễn, Nghĩa khuyển

khuất miêu… nhưng bỏ sót Hải khẩu linh từ

Theo Tang thương ngẫu lu ̣c của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án trong mục nó i về Đă ̣ng Trần Côn la ̣i cho truyê ̣n Bích Câu kỳ ngộ là của Đặng Trần Côn Về sau này, Trúc Khê, Nguyễn Đỗ Mu ̣c , Hoàng Xuân Hãn cũng cho Bích Câu kỳ ngộ là của Đặng Trần Côn ; nhưng Đinh Gia Thuyết , Trần Văn Giáp la ̣i khẳng đi ̣n h Bích Câu kỳ ngộ là của Đoàn Thị Điểm Truyền kỳ tân phả đã được Ngô Lập Chi và Trần Văn Giáp tuyển dịch bốn truyện: Hải khẩu linh từ, Vân Cát thần nữ, An Ấp liệt nữ và Bích Câu kỳ ngộ, do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1963

Bản dịch được sử dụng trong luận văn do Ngô Lập Chi và Trần Văn Giáp thực hiện, Phạm Văn Thắm biên tập lại chủ yếu là về mặt chuyển đổi địa danh và kỹ thuật trình bày

Tác phẩm chính có nhan đề Truyền kỳ tân phả ký hiệu A 48 Thư viê ̣n Khoa

học nhà nước, nhà xuất bản La ̣c Thiê ̣n Đường in năm Gia Long thứ 10 (1811)

Trang 22

Tác phẩm được in trên bản gỗ , nét chữ rõ ràng , chân phương, chưa rách nát ,

bao gồm sáu truyê ̣n sau này: Hải khẩu linh từ, Vân Cát thần nữ, An Ấp liê ̣t nữ, Bích Câu kỳ ngộ, Long hổ đấu kỳ, Tùng bách thuyết thoại

Viết Truyền kỳ tân phả, nữ sĩ có ý đề cao kẻ hiền tài và phê phán bo ̣n thống tri ̣

gian ác hiểm đô ̣c Đằng sau hình thức li kì vẫn bao hàm ý nghĩa xã hô ̣i rõ rê ̣t Qua đó

ta thấy một phần nào hiện thực đen tối của thời đại và lòng mong ước của mọi ngườ i Tác phẩm đã thể hiê ̣n mô ̣t đă ̣c trưng cơ bản của văn ho ̣c trung đa ̣i Viê ̣t Nam Tức là lấy văn ho ̣c dân gian làm nền tảng

Tiểu kết

Từ thế kỷ XVI trở đi xã hội Việt Nam bước vào giai đoa ̣n lịch sử có nhiều biến

đô ̣ng phức ta ̣p Chế đô ̣ phong kiến đã bước vào thời kỳ suy vong và nằm trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm được giới nghiên cứu nhất trí đánh giá là “một thiếu phụ

có danh nhất trong làng văn” Việt Nam Đặc biệt tài năng đó của tác giả đã được

bô ̣c lô ̣ và thể hiê ̣n thông qua tác phẩm Truyền kỳ tân phả

Từ những phương diê ̣n trên, tôi nhận thấy Truyền kỳ tân phả là một tác phẩm văn xuôi bằng chữ Hán khá nổi tiếng của Đoàn Thị Điểm Tập truyện được viết theo lối văn truyền kỳ và viết về đề tài lịch sử Việt Nam Qua đó, tác phẩm còn cho

thấy được giá trị hiện thực cũng như tư tưởng nhân văn của tác giả

Trang 23

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ

CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM

2.1 Tình yêu và khát vọng hạnh phúc

Tình yêu luôn là đề tài muôn thuở của văn học Tuy nhiên, đề tài ấy khá mới lạ

ở thời trung đa ̣i Điều này cũng trở nên dễ hiểu bởi văn ho ̣ c giai đoa ̣n đương thời còn bị chi phối bởi những đi ̣nh kiến xã hô ̣i và những quy đi ̣nh ngă ̣t ng hèo của lễ giáo phong kiến Thế nhưng , khác với nhiều nhà văn khác , Đoàn Thi ̣ Điểm đã mạnh dạn đưa đề tài này vào thể nghiệm trong các sáng tác của mình, đă ̣c biê ̣t trong

Truyền kỳ tân phả

Cùng với dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc ưu tú, Truyền kỳ tân phả là lời ca

tình yêu mặn nồng và thắng lợi

Tình yêu ở đây là thứ tình yêu xuất phát từ trái tim , tự do phóng khoáng vượt

ra mo ̣i lễ giáo phong kiến Tình yêu đã trở thành một lẽ sống tuyệt đối Tình yêu là cuô ̣c đời của hầu hết các nhân vâ ̣t

Trong Hải khẩu linh từ, Bích Châu là người có tình yêu thương vô bờ bến đối

với chồng hay chính là đức vua Duệ Tông Bên cạnh đó, nàng luôn ra sức phụ giúp vua những công việc chính sự Khi biết vua sắp sửa đem quân đi đánh Chiêm Thành nàng hết lời can ngăn Vua không nghe, nàng tình nguyện đi theo giúp sức Đến cửa bể Kỳ Hoa chiến thuyền gặp bão táp, giông tố, mười phần nghiêng ngả vì tên Giao thần đòi nhà vua cho hắn một người vợ mà không được Để cứu vua và quân sĩ, nàng xin hi sinh thân mình xuống biển làm vợ tên Giao thần Nhờ đó mà sóng yên biển lặng Như vậy, có thể thấy rằng ngoài tình yêu đối với chồng nàng còn hi sinh một tình yêu vĩ đại của bản thân vì sự bình yên cho dân, cho nước

Ở truyện Bích Câu kỳ ngộ , Giáng Kiều là nhân vật tiên nữ ước ao đu ợc lấy

chồng và sinh con Khi được kết hôn với chàng Tú Uyên nàng cảm thấy thời gian ở cõi trần gian thật quá ngắn ngủi , nàng đã bàn bạc với chồng phải lên cảnh tiên để kéo dài hạnh phúc lứa đôi

“Danh phâ ̣n tuy là tro ̣ng, nhưng trần tu ̣c cũng đáng khinh, đa ̣i để người ta sinh

ra ở trời đ ất, chỉ là bốn chất : Đất, gió, nước, lửa… Khoảng đời phú quý trăm năm trên cõi trần , cũng chỉ bằng cảnh thanh nhàn một ngày đêm trên cõi tiên Kê ̣ có câu rằng:

Trang 24

Nhân sinh như điểu đồng lâm túc, Đại hạn lai thì các tự phi!

Hay tình yêu của Đinh phu nhân đối với chồng trong An Ấp liê ̣t nữ, nàng yêu

chồng say đắm, mãnh liệt Khi gần chồng thì săn sóc chồng cả trong giấc ngủ

“Ấy ai rỏ thêm giọt nước vào đồng hồ cho đêm thêm dài, để cho thiếp khỏi nỗi băn khoăn về lang quân mỗi khi gặp buổi sáng sớm” [6, tr.65]

Lúc xa chồng thì nhớ thương, sầu muô ̣n như dâng lên ngâ ̣p cả đất trời:

“Mỗi khi gặp cảnh xuân quang , tiết trời thay đổi , mưa trôi hoa lạnh , khói ngậm quất hồng, đó là những lúc phu nhân đau từng khúc ruột Có khi nghe ve kêu buổi tối, chim hót buổi sáng đó là những lúc phu nhân buồn não ruột Ngẩng trông trăng càng thêm than thở, hóng gió mát luống những ngại ngùng” [6, tr.70]

Ngày qua tháng lại cô phòng vẫn lẻ bóng , hạnh phúc lứa đôi sao ngà y mô ̣t xa vời Nàng giở lại kỉ vật ngày xưa để đưa mình trở về những ngày ái ân nồng thắm Này chiếc áo la y chồng nàng để lại trước khi ra đi Nàng mặc vào mình nhưng cũng không an ủi được chút nào

“Ta ở một mình với buồng không buồn đứt ruột

Buồn thay! Với chiếc áo cô đơn, làm bạn với ánh trăng suông” [6, tr.71]

Càng trông càng xa , càng chờ c àng vắng Hết lo cho chồng “ tiếng xe lăn lô ̣c

cô ̣c nơi chân trời xanh biếc đầy cát lầm” la ̣i lo cho mình Nàng lo sợ nhất là tuổi trẻ chóng qua “tuổi thanh xuân cha ̣y nhanh như bóng mă ̣t trời nhấp nhoáng”

Tâm tra ̣ng Đinh phu nhân cũng giống như tâm tr ạng người chinh phu ̣ trong

Chinh phụ ngâm Nếu xưa kia khi chồng sắp sửa nhâ ̣n ph ận sự của quân vương ,

chàng nghĩ rất đúng theo lễ giáo : “Chồng ra đi là thỏa mãn chí bình sinh” Nàng sẵn sàng nghe theo lời khuyên bảo của chồng : “Ta sinh vào triều Lê , nhâ ̣n quan

Trang 25

tước triều Lê, ăn bổng lô ̣c triều Lê, Đông, Tây, Nam, Bắc vua sai đi đâu là đi đấy” Nhưng nàng không phải là con người của lý trí Những khái niê ̣m ấy dần dần chìm ngâ ̣p trong tình thương nỗi nhớ ngày mô ̣t bối rối như tơ vò “Tình trăm mối dâ ̣y lên trong lòng không biết nào nguôi” Hạnh phúc ái ân trở nên là hương vi ̣ duy nhất của cuô ̣c sống Chồng nàng trở về là ước mong tha thiết nhất Công danh phú quý cũng không bằng đươ ̣c sống bên chồng

“Chồng ta về lòng ta vui sướng không phải vì chồng được đeo ấn phong hầu” Nhưng Đinh Hoàn không trở về “ca khúc khải hoàn”, Đinh Hoàn không bao giờ trở về nữa Đời phu nhân bỗng nhiên tối sầm lại “Trăm năm như đêm tối, trời kia đô ̣c

đi ̣a chi!” Chồng chết nàng đau đớn quá chừng Nàng đã mất t ất cả Nàng đã quyên sinh “thiếp này xin hy sinh tính mê ̣nh , cho được truy tùy” vì nàng không tìm thấy hạnh phúc nào nữa Chồng nàng là tất cả đời nàng Sau khi chết , vua chúa sắc phong cho nàng là người “tiết li ệt” nhưng Đinh phu nhân chết theo chồng không phải vì nàng bị ám ản h bởi công thức cứng nhắc “ Liê ̣t nữ bất canh nhi ̣ phu” (người liê ̣t nữ không lấy hai chồ ng) Bà là con người của tình cảm chứ không hoàn toàn chịu sự câu thúc của lễ giáo hẹp hòi

Như vâ ̣y, vươ ̣t ra ngoài khuôn thép của lễ giáo phong kiến , Đoàn Thi ̣ Điểm đã thể hiê ̣n mô ̣t tình yêu thâ ̣t cao cả , mãnh liệt Đối với bà tình yêu là hương vị tuyệt vời, là chất xúc tác mạnh mẽ nhất c ó thể khiến cho đôi lứa thề nguyền sống chết bên nhau Họ có thể cùng nhau vượt mọi khó khăn, gian khổ và vươ ̣t thời gian để ra khỏi thế giới bụi trần cùng về cõi tiên cảnh hưởng hạnh phúc lâu dài

Có thể trước đây, Nguyễn Dữ đã có những dự cảm rằng, ở trên cõi tiên rồi cũng còn có những bất hạnh nếu như họ đã bị cấm lấy chồng Vì thế, ở trong truyện

Từ Thức lấy vợ tiên ông đã để cho nàng Giáng Hương được mặc bộ xiêm lụa và nói

ra như một sự thật là: “hôm nay màu da hồng hào, chứ không khô gầy như trước

nữa" Còn Đoàn Thị Điểm đã viết thành công câu chuyện kỳ thú Bích Câu kỳ ngộ

là đã nói lên những khát vọng muốn lấy chồng và đẻ con của tiên nữ Giáng Kiều Ở đây tác giả đã cho Giáng Kiều là một tiên nữ xuống trần và cùng kết duyên với người trần mắt thịt

Nàng Liễu Hạnh trong Vân Ca ́ t thần nữ cũng tươ ̣ng trưng cho khát vọng hạnh

phúc Tình yêu đối với nàng là một lẽ sống cao nhất Trên trờ i dưới đất ở đâu

Trang 26

dường như cũng chỉ có tình yêu Liễu Ha ̣nh nguyên là Giáng Tiên xuống trần gian làm người mẹ hiền, dâu thảo, vợ tốt Thời gian thấm thoắt trôi đi, nàng đã phải về chầu trời, nàng không sao chịu được Vì vậy, nàng xuống trần lần thứ hai và gặp Đào sinh ở vư ờn đào, nàng ngỏ ý muốn cùng chàng kết tóc xe tơ Đào sinh còn e ngại muốn phải có mối lái cho hợp lễ – lễ giáo phong kiến – nàng gạt đi nói rằng:

“Người trượng phu làm viê ̣c gì không cần câu chấp nghi lễ lặt vặt Kìa xem như nàng Văn Quân, nàng Hồng Phất đời sau cũng chẳng ai chê là trái nghĩa mà chỉ khen là biết yêu tài Thiếp với chàng trên không có cha me ̣, dưới không có thân thích, tri kỷ gặp nhau một lời vàng đá , còn cần gì phải mối lái” [6, tr.132 – 133]

Nói xong hai người thong thả cùng về Từ đó sắt cầm hòa hợp, kính yêu lẫn nhau Sau đó một năm, sinh được một con trai, rất thông minh

Ngày tháng bỗng chốc trôi qua cũng đã ba năm, vào mồng ba tháng ba, Tiên

nữ tự nhiên không bệnh gì mà mất, xuân xanh mới hai mươi mốt tuổi

Từ khi về trời, vì trần duyên chưa hết, vì tơ tình còn vướng víu cho nên những khi hầu chầu nơi Ngọc lâu hay hội yến Dao trì nàng thường chau mày, nhỏ lệ Thượng Đế biết được liền phong làm Liễu Hạnh Công chúa và cho trở xuống tràn gian lần nữa Tiên chúa trở về làng cũ thăm Lão bà và mọi người trong nhà, dặn dò người anh trông nom bề thân rồi biến đi

Sau khi biến lên cung tiên, đã mãn hạn năm năm công cán, nàng lại nhớ đến duyên ước ba sinh, liền tâu với Thượng Đế xin được giáng xuống c õi trần lần nữa,

để thỏa nguyê ̣n sinh hóa vô thường, ngao du tùy thích Thượng Đế y cho lời tấu ấy, nàng đi xuống trần gian lần thứ ba mang theo hai nàng tiên khác là Quế và Thị và từ đó không quay về trời nữa

Có thể nói, Liễu Ha ̣nh công chúa của nhà trời chắc hẳn có thân th ích ruô ̣t rà với đấng Thiên tử (con trời – vua chúa phong kiến tự xưng như thế ) đã ngu ̣y biê ̣n với lễ giáo phong kiến , hơn nữa đã tuyên chi ến với lễ giáo phong kiến ! Tình yêu xuất phát từ trái tim nồng cháy đã hạ lễ giáo xuống hàng “lặt vặt” Trác Văn Quân đang có tang chồng nhưng vì mê khúc “Tư mã cầu hoàng” mà trốn theo Tương Như Hồng Phất đang đêm lẩn ra k hỏi nhà Dương Tố để đoạn tu yê ̣t với cuô ̣c đời kỹ nữ Nàng đi theo Lý Tĩnh Lý là người có tài, mă ̣c dù Lý là bề tôi của Dương Tố Lần đầu tiên trong văn học ta, Văn Quân và Hồng Phất được đề cao như gương mẫu của tình yêu tự do

Trang 27

Tình yêu không phải chỉ với nhân vật nữ như Đinh phu nhân, Liễu Ha ̣nh mới

là lẽ sống mà ngay như Đào sinh trong Vân Cát thần nữ, theo đòi cửa Khổng sân

Trình, đâ ̣u đa ̣i khoa và sung chức Hàn lâm , thế mà khi Giáng Tiên về tr ời, chàng tình nguyện vứt bỏ tất cả công danh sự nghiê ̣p để đi theo tiếng go ̣i của yêu đương

“Tiê ̣n sinh nay có phúc được gặp tiên , sinh con đẻ cái, gia đình sum họp, ngờ đâu giữa đường chia phô , phượng loan gãy cánh , chăn đơn gố i chiếc, tịch mịch nhường nào, nay tiê ̣n sinh xin đi theo để thoả tấm lòng khao khát” [6, tr.106]

Không đươ ̣c cùng người yêu chung hưởng ái ân , chàng cảm thấy bản thân mình đau đớn, dằn vă ̣t tưởng như có thể chết đi được

“Tiê ̣n sinh không phải không biết giữ gìn lấy hơi tàn nhưng chỉ e vì buồn rầu về nỗi thương con nhớ vợ không chắc gì có thể sống được” [6, tr.106]

Và cuối cùng chàng cáo quan về đắm mình trong khói mây và thơ rượu , cho khuây khỏa nỗi nhớ thương sầu muô ̣n

Nối gót Đào sinh là Trần Tú Uyên trong truyê ̣n Bích Câu kỳ ngộ Trần sinh là

con nhà “ thi lễ”, sớm thông minh đĩnh ngô ̣ nổi tiếng là kỳ đồng Lên sáu tuổi đã biết luâ ̣t thơ, mười lăm tuổi “tay không r ời quyển sách, lúc nào cũng chỉ nghĩ làm sao nối đươ ̣c chí cha” Nhưng trong di ̣p trẩy hô ̣i chùa Ngo ̣c Hồ , chàng đã gặp giai nhân tra ̣c đô ̣ mười bảy , mười tám tuổi , mày vẽ liễu , má hoa đào… nghiêng nước nghiêng thành” , hai bên chuyê ̣n trò thân mâ ̣t Từ đó đời chàng thay đổi nh anh chóng Chàng bỏ ăn, bỏ ngủ, bỏ cả học hành rồi đi nằm mộ cầu tiên , mă ̣c dầu trước kia chàng vẫn coi chuyê ̣n thần tiên là hoang đường

Được báo mộng, chàng mua bức tranh tố nữ treo lên vách, trước bàn ho ̣c ngày đêm khấn nguyê ̣n bức tranh , ăn ở với bức tranh , than thở với người trong tranh ; đinh ninh rằng người trong tranh có duyên nợ với mình, là người yêu của mình:

“Ba sinh duyên lộ gần đây, Rõ ràng tiên ca ̉nh ở ngay bên mình!” [6, tr.161]

Không lâu sau đó, chàng được toại nguyện Vơ ̣ chồng sống trong ha ̣nh phúc tràn trề Nhưng rồi tình duyên giữa hai người lại trở nên trắc trở vì Trần sinh sao nhãng mo ̣i viê ̣c, lại say đắm ma m en Nàng khuyên giải không được bèn bỏ đi Đến lúc Trần sinh hối la ̣i cũng không ki ̣p Trần sinh chỉ biết gục đầu “ trước bức tranh mĩ nhân kêu khóc” bỏ cả ăn ngủ học hành , chết đi sống la ̣i không biết bao

Trang 28

nhiêu lần Hết làm th ơ đoa ̣n trường la ̣i đi cầu cúng đền chùa nhưng đều vô hiê ̣u Cuối cùng chàng quyết đi ̣nh lấy giải khăn là của nàng ngày trước toan thắt cổ tự tử

“Thà rằng chết gặp mặt Không nỡ sống biê ̣t ly!” [6, tr.189]

May thay Giáng Kiều vì nặng tình , nă ̣ng nghĩa không nỡ dứt áo ra đi hẳn

“Thiếp vẫn ở đây! Khi biê ̣t ly, đi mười bước có đến chín bước quay đầu lại ” Và

từ đây tình duyên của hai vợ chồng lại càng nồng đượm hơn trước

Nếu như Liễu Ha ̣nh vẫn lưu luyến cõi trần vì tơ duyên còn vướng víu thì Tú Uyên – Giáng Kiều quyết định từ bỏ cõi trần ngắn ngủi , sắc đẹp tuổi xanh mau bị tàn phai Họ cùng lên tiên để đươ ̣c ngày dài tháng rô ̣ng , kéo dài tình duyên và tận hưởng ha ̣nh phúc bên nhau

Khác với truyện Vân Cát thần nữ, ca ngợi ha ̣nh phúc nơi trần gian; trong Bích Câu kỳ ngộ, nữ sĩ la ̣i dài lời thuyết lý về cõi đời là mây nổi , là chim bay , còn cõi

tiên là thanh nhàn, lô ̣ng lẫy, nguy nga…Không có gì khác, nữ sĩ vẫn trước sau nhiê ̣t tình ca ngợi hạnh phúc ái ân Hạnh phúc ái ân đã có sức hấp dẫn kỳ diệu Bằng hình tượng nghệ thuật , nữ sĩ ho ̣ Đoàn đã khẳng đi ̣nh dứt khoát dù ở trên trời hay dưới đất ở đâu có tình yêu là ở đấy có bồng lai tiên cảnh

Có thể thấy rằng , tình yêu trong Truyền ky ̀ tân phả thâ ̣t say đắm, mãnh liệt và

táo bạo Tình yêu là cuộc đời, là lẽ sống Hết tình yêu là hết sự sống Ở đâu có tình yêu là ở đấy có sức sống dâng lên sôi nổi, đầy hương sắc

Đoàn Thi ̣ Điểm đã tiếp thu màu sắc tình cảm của thời đa ̣i Cùng với ca dao ,

dân ca, các truyện kể dân gian, các truyện nôm khuyết danh và hữu danh, Truyền ky ̀ tân phả đã phản ánh được mộ t yêu cầu lớn của thời đa ̣i , đó là yêu cầu giải phó ng

cuô ̣c sống tình cảm , chống la ̣i “ khuôn vàng thước ngo ̣c” của đa ̣o đức và lễ giáo phong kiến

2.2 Ca ngợi người phu ̣ nữ trong xã hô ̣i phong kiến

2.2.1 Nho giáo và những quy định chuẩn mực

Nho giáo vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc và được truyền vào nước ta từ thời Bắc thuô ̣c Nho giáo được coi là nền tảng của xã hội thời phong kiến Quy đi ̣nh của Nho giáo đã bô ̣c lô ̣ nhiều điểm ha ̣n chế, nhất là khi nói về thân phâ ̣n người phu ̣ nữ

Ngày đăng: 12/10/2016, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2008), Hán Việt từ điển giản yếu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển giản yếu
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
2. Lại Nguyên Ân (chủ biên), Bùi Trọng Cường (1995), Từ điển văn học Việt Nam, quyển I, (Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ IX), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam
Tác giả: Lại Nguyên Ân (chủ biên), Bùi Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
3. Lại Nguyên Ân (chủ biên), Bùi Trọng Cường (1997), Từ điển văn học Việt Nam, (Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam
Tác giả: Lại Nguyên Ân (chủ biên), Bùi Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
5. Ngô Lập Chi, Trần Văn Giáp, Hoàng Hữu Yên (phiên dịch và chú thích, hiệu đính và giới thiệu) (1963), Truyền kỳ tân phả, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ tân phả
Tác giả: Ngô Lập Chi, Trần Văn Giáp, Hoàng Hữu Yên (phiên dịch và chú thích, hiệu đính và giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1963
6. Nguyễn Huệ Chi (1999), Truyền kỳ Việt Nam, quyển II, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
7. Nguyễn Đổng Chi (sưu tầm, khảo dị) (2000), Sự tích công chúa Liễu Hạnh, trong sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích công chúa Liễu Hạnh," trong sách "Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (sưu tầm, khảo dị)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
8. Hà Như Chi (2000), Thi văn giảng luận từ khởi thủy đến cuối thế kỷ XIX, tái bản, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi văn giảng luận từ khởi thủy đến cuối thế kỷ XIX
Tác giả: Hà Như Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
9. Nguyễn Đăng Duy (1998), Nho giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10. Nguyễn Thị Bích Hải (2007), “Truyền thống “hiếu kỳ” trong tiểu thuyết Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, tr.77 - 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống “hiếu kỳ” trong tiểu thuyết Trung Quốc”, Tạp chí "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Năm: 2007
11. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
12. Nguyễn Ngọc Hiệp (2005), “Đời sống của nhân vật truyền kỳ ngoài tác phẩm và trong lòng tín ngưỡng dân gian Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa dân gian, tr.24 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống của nhân vật truyền kỳ ngoài tác phẩm và trong lòng tín ngưỡng dân gian Việt Nam”, Tạp chí "Văn hóa dân gian
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hiệp
Năm: 2005
13. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Đỗ Hồng Chung, Phương Lựu, Nguyễn Hoành Khang, Trần Đình Việt, Nguyễn Khắc Phi, Trần Hữu Tá, Đặng Thị Hảo (ban biên tập), (1983), Từ điển Văn học, (N- Y), tập2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Đỗ Hồng Chung, Phương Lựu, Nguyễn Hoành Khang, Trần Đình Việt, Nguyễn Khắc Phi, Trần Hữu Tá, Đặng Thị Hảo (ban biên tập)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1983
14. Nguyễn Lộc (1999), “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17. Trần Thanh Mại (1961), Những câu chuyện thần linh ma quái, số 2, tạp chí Nghiên cứu văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những câu chuyện thần linh ma quái", số 2, tạp chí
Tác giả: Trần Thanh Mại
Năm: 1961
18. Nguyễn Đăng Na (1997), Văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại, tập 1, Truyện ngắn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
19. Nguyễn Đăng Na (2007), Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại - Những chặng đường lịch sử và xu hướng phát triển, trong sách Truyện ngắn Việt Nam - lịch sử - Thi pháp - Chân dung, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại - Những chặng đường lịch sử và xu hướng phát triển", trong sách "Truyện ngắn Việt Nam - lịch sử - Thi pháp - Chân dung
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
20. Nguyễn Đăng Na (2007), Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
21. Ngô Thị Phượng (2014), “ Nhân vật Nho sĩ trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ”, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học, Đa ̣i ho ̣c Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật Nho sĩ trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ”
Tác giả: Ngô Thị Phượng
Năm: 2014
25. Trần Nho Thìn (2008), Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa
Tác giả: Trần Nho Thìn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
26. Đinh Phan Cẩm Vân (2000), “Cái “ky ̀” trong tiểu thuyết truyền kỳ”, Tạp chí Văn học, tr.48 - 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái “kỳ” trong tiểu thuyết truyền kỳ”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Đinh Phan Cẩm Vân
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w