1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TÀI LIỆU LỊCH SỬ VIỆT NAM

47 982 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 670,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÀI LIỆU WORD LỊCH SỬ VIỆT NAM

Trang 1

CHỦ ĐỀ 1: VẤN ĐỀ CHUẨN BỊ CHO CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Cách đây hơn 68 năm, mùa thu năm 1945, lần đầu tiên trong lịch sử, toàn thể nhân dân Việt Nam thực sự được nắm trong tay quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cấu hạnh phúc Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới, một bước ngoặt ngoan mục cho lịch sử dân tộc.Tố Hữu, trong những lời thơ của mình, đã không thể giấu được niềm sung sướng ấy:

“Mặt trời đỏ huyền kỳ mọc lên ôi náo nức

Nhạc dân gian cuồn cuộn bốc hồng trần

Ta đi đây, là trăm vạn thiên thần

Chiều chiến thắng phá tan quân quỷ sứ

Ta đi dưới bốn nghìn năm lịch sử

Đêm nay tràn hoa đỏ nghị vàng tươi

Ta đi đây với thế kỉ hai mươi

Mạch suối trẻ trong dòng người vô định”

(Vui bất tuyệt – Tố hữu)

Đây được xem là móc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, một sự kiên mà toàn thể nhân dân Việt Nam và những người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam đều tường tận Dưới

gốc nhìn của sinh viên ngành Quốc tế học, chúng em xin phép được tìm hiểu và trình bày

chủ đề này dựa trên những vấn đề nổi bật như sau:

• Vài nét về quá trình chuẩn bị Cách mạng

• Vấn đề thời cơ

• Diễn biến chính

• Vai trò của Đảng và Hồ Chí Minh

• Nguyên nhân thắng lợi và gía trị trường tồn của Cách Mạng

I Vài nét về quá trình chuẩn bị Cách mạng

Cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa và đã giành được thắng lợi bằng cuộc tổng khởi nghĩa trong 15 ngày (từ ngày 14 đến 18/8/1945) Để có được thắng lợi trong 15 ngày,

Trang 2

thắng lợi phải giành được một cách nhanh chóng, ít đổ máu, Cách mạng tháng Tám được chuẩn bị trong 15 năm kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (đầu năm 1930) đến năm 1945 Trong 15 năm đó, sự chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng của Đảng Cộng sản thể hiện ở các mặt sau :

1 Sự thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam

Năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930) và thông qua Cương lĩnh chính trị do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo Đảng ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kì khủng hoảng lãnh đạo cách mạng Đảng trở thành người duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng đắn Sự ra đời của Đảng là sự chuẩn bị nhân tố tất yếu đầu tiên cho thời kì vùng dậy oanh liệt nhất và bước nhảy vọt vĩ đại nhất trong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam

2 Phong trào cách mạng 1930 - 1931 :

Cao trào cách mạng 1930 - 1931 dưới sự lãnh đạo của Đảng đã diễn ra mạnh mẽ trong toàn quốc mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh Cao trào này đã khẳng định đường lối lãnh đạo của Đảng đã được thực hiện trong thực tiễn, Đảng ta ngày càng trưởng thành, được Quốc tế Cộng sản công nhận là một bộ phận độc lập trực thuộc Quốc tế cộng sản, hình thành trong thực tiễn khối liên minh công nông Cao trào cách mạng 1930 - 1931 là cuộc tổng diễn tập lần nhất, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám thắng lợi

3 Thoái trào cách mạng 1932 - 1935 :

Đây là thời kì địch đã tiến hành khủng bố và đàn áp dã man.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân tiếp tục đấu tranh chống khủng bố, phục hồi trong phong trào cách mạng, chuẩn bị cho phong trào cách mạng mới.Qua phong trào, Đảng và nhân dân đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm thành công cũng như thất bại, khắc phục khó khăn và sai lầm để Đảng chuẩn bị cho một cao trào cách mạng mới

4 Cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939 :

Trước sự thay đổi tình hình quốc tế và trong nước, Đảng phát động một cao trào đấu tranh cách mạng của quần chúng đòi hỏi các quyền tự do dân chủ cơm áo và hoà bình, chống chiến tranh, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai Cao trào đấu tranh dân chủ diễn ra sâu rộng với nhiều hình thức đấu tranh phong phú.Cao trào đó đã giáo dục sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chủ trương cách mạng của Đảng trong nhân dân, nâng cao uy tín và ảnh hưởng của Đảng Cộng sản, hướng quần chúng đi theo ngọn cờ cách mạng của Đảng, hình thành một đạo quân chính trị hùng hậu cho các mạng, tiếp tục rèn luyện Đảng và quần chúng trong thực tiễn cách mạng, tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm mới Phong trào dân

Trang 3

chủ 1936 - 1939 là cuộc diễn tập lần thứ hai, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám thắng lợi.

5 Cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945 :

• Tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, coi đó là nhiệm

vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân, đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa khi có thời cơ

b Chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và xây dựng căn

cứ địa cách mạng; phát triển lực lượng chính trị quần chúng, mở rộng các

tổ chức cứu quốc và Việt Minh; đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng ở cả nông thôn và đô thị

c Duy trì đội du kích Bắc Sơn, thành lập các đội cứu quốc quân, lập ra Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Bắc Sơn - Vũ Nhai và Cao Bằng; thực hiện chủ trương “sửa soạn khởi nghĩa”, và “sắm vũ khí đuổi thù chung”

d Phát động cao trào Kháng Nhật, cứu nước rộng rãi, khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận, tiến hành chiến tranh du kích cục

bộ, chuẩn bị thực lực để chuyển sang tổng khởi nghĩa (từ tháng 3 đến đầu tháng 8 năm 1945)

Kết luận : Qua 15 năm chuẩn bị và tích luỹ lực lượng, trực tiếp là thời kì 1939 - 1945 đã tạo nên một lực lượng cách mạng hùng hậu bao gồm cả lực lượng quần chúng và lực lượng vũ trang, tạo lực và thế cách mạng ở cả vùng nông thôn và đô thị, chờ đợi một thời

cơ ngàn năm có một

Trang 4

II Vấn đề thời cơ cách mạng

1 Thời cơ là gì?

Thời cơ là một hoàn cảnh thuận lợi đến trong một thời gian ngắn, là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định nhất, có lợi nhất cho việc phát huy mọi sức mạnh, đảm bảo cho một việc có thể tiến hành để giành thắng lợi Chủ nghĩa Mác - Lênin xem việc nắm vững thời cơ và kiên quyết hành động khi có thời cơ là

“nghệ thuật lãnh đạo cách mạng” của Đảng và của giai cấp vô sản; nó thể hiện rõ

tính chất, phẩm chất, lòng trung thành, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, trình độ, tài nghệ của người cộng sản Thời cơ là nhân tố khách quan, xuất hiện khi tình thế cách mạng được hình thành, song nhận thức đúng thời cơ là yếu tố chủ quan Trong mọi hành động của con người, khi nào thống nhất được điều kiện khánh quan với nhận thức chủ quan thì sẽ đạt được thành công Một cuộc cách mạng muốn thành công nhanh chóng và ít phải đổ máu thì ngoài việc chuẩn bị chu đáo cần phải biết chớp thời cơ cách mạng

Thời cơ cách mạng là là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa điều kiện thuận lợi về

khách quan và chủ quan; trong đó, điều kiện chủ quan giữ vai trò quan trọng nhất.

Cũng theo Chủ Nghĩa Mác-Lênin, thời cơ bùng nổ và thắng lợi của một cuộc cách mạng thì phải hội đủ 3 điều kiện sau đây:

• Kẻ thù đã suy yếu đến mức không thể thống trị như cũ được nữa

• Quần chúng bị thống trị họ không thể sống như cũ được nữa

• Đội tiên phong của cách mạng – tức Đảng đã sẵn sàng lãnh đạo cách mạng

2 Thời cơ trong Cách mạng tháng Tám

• Về kẻ thù:

Phát xít Nhật ngày càng bại trận.Ngày 6 và ngày 9/8/1945, Mĩ dội hai quả bom nguyên tử hủy diệt hai thành phố Hirosima và Nagaxaki Ngày 9/8/1945, Hồng quân Liên Xô tuyên chiến với Nhật, đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật ở vùng Đông Bắc – Trung Quốc

Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh không điều kiện khiến quân Nhật ở Đông Dương như “rắn mất đầu”, suy yếu rệu rã, chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim hoang mang đến cực độ

Trang 5

Quân pháp: vốn đã bị quân Nhật đảo chính vào đêm ngày 9/3/1945 Mặc dù, chúng có âm mưu muốn tái chiếm nước ta nhưng trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình, Pháp không kịp trở tay.

Quân Đồng minh: 16 nghìn quân Anh chưa vào miền Nam và 200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền Bắc để giải giáp quân Nhật

• Về phía ta:

Dưới chinh sách thống trị hà khắc của đế quốc phát xít, Pháp, Nhật đã đẩy nhân dân ta đến cảnh cùng cực, nạn đói 1944-1945 làm 2 triệu đồng bào ta bị chết đói

và hàng triệu người khác ngắc ngoải.Quần chúng nhân dân không thể sống như

cũ được nữa, mâu thuẫn giữa nhân dân ta với phát xít Nhật trở nên gay gắt

Tầng lớp, bộ phận trung gian, những người trí thức yêu nước, có tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những người có tinh thần dân tộc, kể cả một bộ phận trong giai cấp hữu sản nhưng gần với quần chúng, nhận thức được xu thế lịch sử, ngả về phía cách mạng Tương quan lực lượng có lợi cho phía cách mạng

Thông qua quá trình chuẩn bị lâu dài vềlực lượng chính trị, lực lượng vũ trang; đặc biệt thông qua khởi nghĩa từng phần,các cao trào kháng Nhật cứu nước, quần chúng cách mạng lúc này đã sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền

Đảng CSĐD đã chuẩn bị đầy đủ.Thông qua các Hội nghị BCHTW 11/1939, 11/1940, 5/1941, Đảng giương cao ngọn cờ GPDT lên hàng đầu Đảng có quyết tâm cao, sẵn sàng lãnh đạo quần chúng, chủ động chuẩn bị lực lượng cách mạng chu đáo, xây dựng và mở rộng Mặt trận Việt Minh, tận dụng tốt sự đoàn kết tin tưởng của nhân dân, góp phần thúc đẩy thời cơ chin muồi

• Thời cơ ngàn năm có một là vì:

Thời cơ cho cách mạng tháng Tám chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian

rất ngắn (từ khi Nhật đầu hàng Đồng minh (15/8) đến trước khi quân đồng minh kéo vào nước ta (đầu tháng 09/1945)) => Tổng khởi nghĩa diễn ra một cách

nhanh chóng và ít phải đổ máu.Khi thời cơ cách mạng đến, ta phải nhận thức

đúng thời cơ và kiên quyết hành động cách mạng.Nếu chúng ta không tiến hành khẩn trương thì thời cơ sẽ đi qua

Mặt khác, nếu tổng khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, cách mạng sẽ gặp khó khăn vì phát xít Nhật tuy yếu và đang trong cơn giãy chết, nhưng nếu chúng tập hợp quân để phản kháng thì cách mạng sẽ gặp nhiều tổn thất nặng nề, cách mạng

sẽ đổ nhiều xương máu Nếu Tổng khởi nghĩa nổ ra muộn hơn thì quân đồng minh Anh, Pháp, Trung Hoa dân quốc kéo vào nước ta thì cách mạng sẽ mất đi thế chủ động, chính phủ Trần Trọng Kim bắt tay với đế quốc, thời cơ cách mạng

sẽ trôi qua

Trang 6

Nhận thức đúng thời cơ cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Lúc này, thời cơ đã đến, dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập!”, “Đây là thời cơ ngàn năm có một, rất hiếm và rất quý, nếu bỏ qua thì sẽ không bao giờ có lại nữa”.

Cuộc tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945 là một thời điểm có một không hai, thể hiện nghệ thuật dự đoán và tận dụng thời cơ trong nước và quốc tế của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Cuộc tổng khởi nghĩa được tiến hành trong một bối cảnh đặc biệt và vô cùng thuận lợi.Tuy nhiên, xét về mặt khách quan, lúc bấy giờ, thời cơ thuận lợi nó đến với nhiều nước trong khu vực.Song, chỉ có cuộc Tổng khởi nghĩa của Việt Nam là giành được thắng lợi nhanh chóng và triệt để

Điểm mấu chốt đó chính là do thực lực của chúng ta, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc một cách đúng đắn, sáng tạo, tạo dựng được cơ sở, nền tảng cách mạng vững chắc để chờ đợi thời cơ thuận lợi phát động khởi nghĩa Nếu chúng ta không xây dựng, chuẩn bị tốt lực lượng; không tiến hành các đợt tập dượt từ thấp lên cao, thì dù thời cơ tới cũng

khó có thể tiến hành khởi nghĩa thắng lợi.Mới thấy rằng, trong cách mạng, nhân

tố chủ quan là vô cùng quan trọng và đóng vai trò tiên quyết

Cách mạng tháng Tám 1945 là “sự lặp lại” lịch sử ở đỉnh cao với việc kế thừa và phát

triển về nghệ thuật nắm thời cơ và kiên quyết hành động tận dụng thời cơ của ông cha ta

Câu hỏi:

1 Qua thời kỳ thoái trào và cao trào, hãy cho biết vai trò của Đảng trong giai đoạn đó?

2 Nội dung Luận cương tháng 10 và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng?

3 Phong trào 1936-1939 đã đóng góp gì vào cuộc diễn tập thứ 2 chuẩn bị cho thắng lợi của CMT8 sau này?

4 Hãy nêu nôi dung, mục tiêu, lực lượng tham gia trong Luận cương tháng 10?

5 Vì sao nói cao trào 1930-1931 là cuộc diễn tập thứ nhất?

6 Việt Nam có cơ hội và thách thức trong giai đoạn 1929-1933 là gì? Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nắm cơ hội như thế nào? Làm gì?

7 Luận cương tháng 10 có tiến bộ và hạn chế gì so với cách mạng Việt Nam bấy giờ?

8 So sánh Luận cương tháng 10 của Trần Phú và Cương lĩnh chính trị của Nguyễn Ái Quốc?

Trả lời:

1 Qua các thời kỳ cao trào và thoái trào, Đảng đã thể hiện vai trò như sau:

a Cao trào:

- Mở đầu cao trào ở Nghệ Tĩnh là cuộc biểu tình ngày 01/05/1930 do Đảng bộ Nghệ An lãnh đạo

- Tháng 10/1930, bộ máy chính quyền của đế quốc, phong kiến đã tan rã ở nhiều nơi, tổ chức Đảng

ở địa phương đã lãnh đạo nhân dân đứng ra quản lý mọi mặt đời sống, chính trị - xã hội ở nông thôn

- Các cuộc đấu tranh diễn ra liên tục vào ngày 1/8/1930, tháng 9 và 10 năm 1930 ở Nghệ Tĩnh

b Thoái trào:

Trang 7

- Các chi bộ Đảng trong nhà tù lãnh đạo phong trào đấu tranh, biến nhà tù thành trường học cách mạng và tìm cách liên lạc với cơ sở bên ngoài.

- Các Đảng viên còn lại bên ngoài âm thầm xây dựng lại tổ chức Đảng và quần chúng

- Ở Hà Nội, Sài Gòn, Đảng Cộng Sản Đông Dương đấu tranh hợp pháp, tranh cử vào Hội đồng thành phố để tuyên truyền, cổ động quần chúng theo khẩu hiệu của Đảng

- Cuối năm 1934 đầu 1935 hệ thống Đảng dần được hồi phục

Tuy Đảng Cộng Sản Đông Dương chịu tổn thất nặng nề nhưng vẫn giữ được gốc rễ trong quần chúng, dần dần khôi phục thế lực và đứng vững trên cương vị lãnh đạo

2 So sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên và Luận cương tháng 10:

a Nội dung:

•Cương lĩnh chính trị đầu tiên:

-Chiến lược cách mạng: tiến hành “ tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới

xã hội cộng sản”

-Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến và tư sản phản cách mạng, làm cho Việt Nam độc lập tự do, tịch thu sản nghiệp của đế quốc và phản cách mạng chia cho dân cày nghèo, tiến hành cách mạng ruộng đất

-Lực lượng cách mạng: công nông, tiểu tư sản, trí thức, lợi dụng hoặc trung lập phú nông, trung tiểu địa chủ, tư sản yêu nước

-Lãnh đạo cách mạng: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp vô sản

-Quan hệ với thế giới: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận khắng khít của cách mạng thế giới.Tuy còn vắn tắt nhưng đây là cương lĩnh giải phóng dân tộc đầu tiên của Đảng, thể hiện sự đúng đắn, sáng tạo, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp Độc lập tự do là tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh

•Luận cương tháng 10/1930:

-Tính chất: Cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiến thẳng lên

xã hội chủ nghĩa, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa

-Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ phong kiến và đế quốc là hai nhiệm vụ có quan hệ khắng khít.-Lực lượng cách mạng: giai cấp vô sản và nông dân

-Lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản và đội tiên phong là Đảng cộng sản

-Nêu rõ hình thức, biện pháp đấu tranh, quan hệ giữa cách mạng Đông dương và cách mạng thế giới

Hạn chế: chưa nêu rõ được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương, không đưa ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hang đầu, nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất, đánh giá không đúng khả năng cách mạng của tiểu tư sản, tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo bộ phận trung tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc thống nhất

3 Sỡ dĩ nói phong trào 1936-1939 là cuộc diễn tập thứ 2 cho thành công của CMT8 sau này là vì:

a Về phía Đảng: Có sự trưởng thành trong chỉ đạo sách lược cách mạng

b Về phía Quần chúng: được tập hợp trong nhiều tổ chức, tiêu biểu nhất là “mặt trận dân chủ Đông Dương”, hiểu rõ hơn về chủ nghĩa Mác- Lenin, được rèn luyện trong những hình thức đấu tranh mới ( đấu tranh chính trị công khai hợp pháp, bán công khai, nửa hợp pháp, bí mật và nửa bí mật) Nhiều cán bộ cách mạng mới được đào tạo cùng với hơn 3000 chiến sĩ cách mạng cũ tạo thành đội ngũ đông đảo

Phong trào 1936-1939 đã để lại nhiều bài học quý, nhất là về công tác vận động tổ chức quần chúng, hình thức đấu tranh và khẩu hiệu đấu tranh

4 Nội dung, mục tiêu, lực lượng tham gia được nêu trong Luận cương tháng 10/1930 (Trần Phú):

•Luận cương tháng 10/1930:

Trang 8

-Tính chất: Cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiến thẳng lên

xã hội chủ nghĩa, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa

-Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ phong kiến và đế quốc là hai nhiệm vụ có quan hệ khắng khít.-Lực lượng cách mạng: giai cấp vô sản và nông dân

-Lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản và đội tiên phong là Đảng cộng sản

-Nêu rõ hình thức, biện pháp đấu tranh, quan hệ giữa cách mạng Đông dương và cách mạng thế giới

5 Phong trào 1930-1931 là cuộc diễn tập đầu tiên của cách mạng tháng 8 là vì:

a Về phía Đảng được tập dượt về lãnh đạo: Qua lãnh đạo, Đảng đã đưa ra Luận cương chính trị của mình Luận cương đề ra hai khẩu hiệu chiến lược là “Độc lập dân tộc” và “ruộng đất cho dân cày” Hai khẩu hiệu này đáp ứng được nguyện vọng của đa số người dân, nhất là nông dân, lôi cuốn được đông đảo nông dân theo cách mạng, xây dựng khối liên minh công nông, tạo nên một nhân tố cơ bản nữa đảm bảo cho cách mạng việt nam thắng lợi: Có Đảng lãnh đạo, có liên minh công nông thì có tất cả

b Về phía quần chúng: lần đầu tiên được tập dượt đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng Qua đấu tranh, quần chúng đã được tập hợp, giáo dục, giác ngộ và tổ chức tạo nên sức mạnh Quần chúng thấy rõ hơn bộ mặt dã man của kẻ thù, giác ngộ hơn về chủ nghĩa Mác- Lenin, hiểu hơn về Đảng, về những người cộng sản và được rèn luyện một phương pháp cách mạng mới, đó là phương pháp cách mạng bạo lực của quần chúng theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lenin

Cao trào đào tạo them được nhiều cán bộ cách mạng mới, để lại nhiều bài học kinh nghiệm, kể cả bài học thành công và thất bại

6 Trong giai đoạn 1929-1933, Việt Nam đương đầu với rất nhiều thách thức và cơ hội

a Thách thức:

Kinh tế: 1929-1933, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam suy thoái (công nghiệp suy giảm; nông nghiệp: ruộng đất bỏ hoang, lúa gạo sụt giá; thương nghiệp xuất nhập khẩu đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả đắt đỏ…) Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam rất nặng nề so với các thuộc địa của Pháp cũng như các nước khác trong khu vực

Xã hội: Mâu thuẩn nảy sinh giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp do Công nhân thất nghiệp, nông dân bần cùng không lối thoát, tiểu thương tiểu chủ làm ăn khó khăn, phá sản, tư sản dân tộc làm ăn khó khăn, sinh viên ra trường không việc làm,… Chính những biến động trong xã hội đã dẫn đến Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với thực dân Pháp, nông dân và địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt

Chính trị: Đầu 1930, khởi nghĩa Yên bái thất bại, Pháp tiến hành khủng bố dã man những người yêu nước, làm căng thẳng những mâu thuẩn và tình hình bất ổn trong xã hội dân cao

b Thời cơ: 02/1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời kịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nông cả nước

Dựa vào tình hình thời cơ và thách thức trên, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã kịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nông trong cả nước Phong trào trên toàn quốc: 02-04/1930, nhiều cuộc đấu tranh của công nông diễn ra đòi tăng lương giảm giờ làm, giảm sưu thuế (công nhân đồn điền Phú Riềng, Dầu Tiếng,…), nhân ngày quốc tế lao động 01/05 cả nước bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh, lần đầu tiên công nhân Việt Nam biểu tình kỷ niệm ngày quốc tế lao động, đấu tranh đòi quyền lợi cho nhân dân lao động trong cả nước, thể hiện tình đoàn kết cách mạng với nhân dân lao động thế giới, từ

Trang 9

tháng 06-08/1930 nhiều cuộc đấu tranh diễn ra trên toàn quốc Phong trào ở Nghệ Tĩnh: ngày

9/12/1930 cuộc biểu tình của 8000 nông dân Hưng nguyên đòi giảm sưu thuế, quần chúng kéo đến phá nhà lao, đốt huyện đường, vây đồn lính khố xanh Nhiều cấp ủy Đảng ở thôn xã lãnh đạo nhân dân làm chủ vận mệnh, tự quản lý đời sống kinh tế chính trị văn hóa xã hội ở địa phương, làm chức năng của chính quyền Xô Viết

Đảng đã xây dựng mô hình Xô Viết tại Nghệ An và Hà Tĩnh

-Chính trị: thực hiện các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân, quần chúng tự do hoạt động trong các đoàn thể cách mạng Các đội tự vệ đỏ và tòa án nhân dân được thành lập

-Kinh tế: chia ruộng đất công cho dân cày nghèo, bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế muối,

….cho người nghèo

-Văn hóa xã hội: mở lớp dạy chữ quốc ngữ, xóa bỏ tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, trật tự trị an được giữ vững

7 Luận cương tháng 10 có những tiến bộ và hạn chế so với cách mạng Việt Nam bấy giờ:

Tiến bộ: xây dựng Liên minh công nông vững mạnh

Hạn chế: Chưa thấy được mâu thuẫn chủ yếu của một xã hội thuộc địa nên không đưa vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu nên nặng về đấu tranh giai cấp Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, tư sản dân tộc và trung tiểu địa chủ yêu nước Những nhược điểm này dần dần được Đảng

ta khắc phục qua quá trình đấu tranh thực tiễn của cách mạng

8 So sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên và Luận cương tháng 10/1930:

Nội dung so sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên của

Đảng

Luận cương tháng 10-1930Tính chất xã hội Xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa

nửa phong kiến, gồm 2 mâu thuẫn:

-Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc

VN với đế quốc (cơ bản nhất)-Mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến

Xã hội Đông Dương gồm 2 mâu thuẫn:

-Mâu thuẫn dân tộc-Mâu thuẫn giai cấp (cơbản)

Tính chất cách

mạng

-Làm cách mạng tư sản dân quyền + cách mạng thổ địa, tiến lên chủ nghĩa cộng sản

-Hai giai đoạn kế tiếp không có bức tường ngăn cách

-Cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa-Hoàn thành giai đoạn này mới làm tiếp giai đoạn khác

Kẻ thù của cách

mạng

Xác định: đế quốc Pháp, vua quan phong kiến, tư sản phản cách mạngkẻ thù không phải toàn bộ phong kiến, tư sản

Xác định: đế quốc, phong kiếnkhông phân biệt giai cấp phong kiến có bộ phận tiến bộ, không đề cập đến tư sản mại bảnVai trò lãnh đạo Giai cấp công nhân thông qua đội

tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Đông Dương

Lực lượng cách -Giai cấp công nhân, nông dân là -Chỉ gồm công nhân,nông dân

Trang 10

mạng động lực, gốc của cách mạng

-Cần phải liên minh với tiểu tư sản,

tư sản dân tộc, trung tiểu địa chủ

-Không đề cập đến giai cấp khác: tư sản dân tộc, tiểu tư sản, trung tiểu địa chủ

Ý nghĩa Là cương lĩnh cách mạng giải

phóng dân tộc sang tạo, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, xác định đúng lực lượng cách mạng

-Tích cực: Nêu rõ hình thức, phương pháp đấu tranh, mối quan

hệ giữa cách mạng Đông dương và cách mạng thế giới

-Hạn chế:

+Chưa nêu được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương

+Chưa xác định được kẻ thù chủ yếu

+Nặng nề đấu tranh giai cấp, cách mạng ruộng đất

+Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc, phong kiến của tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo trung tiểu địa chủ tham gia CM

Phương pháp

cách mạng

Bạo lực cách mạngQuan hệ giữa

cách mạng VN

với thế giới

Liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới

CHỦ ĐỀ 2: PHONG TRÀO ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

1 Bối cảnh ra đời ( Giải thích thêm về tên gọi)

4 Nội dung hoạt động

- Về văn hóa – giáo dục

- Về tư tưởng xã hội

- Về kinh tế

5 Phạm vi hoạt động

6 Nhận định chung

- Vai trò thực chất

- Thành tích nổi bật trong các lĩnh vực (văn hóa tư tưởng, các sáng tác văn học…)

- Thời gian hoạt động và tác dụng của ĐKNT

7 Trả lời câu hỏi

1. Bối cảnh ra đời

Trang 11

Đầu thế kỷ 20, Pháp hầu như đã hoàn thành quá trình bình định, dẹp yên các cuộc khởi nghĩa yêu nước bên trong Việt Nam (chỉ còn phong trào Khởi nghĩa Yên Thế của Đề Thám còn đang hoạt động) Cùng với việc mở rộng quá trình thực dân hoá, tư bản hóa nhằm khai thác thuộc địa một cách hiệu quả nhất, những cơ sở đầu tiên của kinh tế tư sản bắt đầu phát triển trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt

Đồng thời học tập từ thất bại của cuộc cải cách của nhóm Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi khởi xướng

ở Trung Quốc

Năm 1906, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh tham quan Khánh Ứng nghĩa thục tại Đông Kinh

(Tokyo) Cuối năm 1906, qua cuộc họp “trù bị” tại làng Nội Duệ (Bắc Ninh) đã quyết định thành lập Đông Kinh nghĩa thục tại Hà Nội

Tháng 3 năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục bắt đầu được khai giảng ở phố Hàng Đào, Hà Nội.

*Bối cảnh trong nước:

Phong trào này vừa có tính cách chánh trị vừa có tính cách văn hóa, quy tụ được đông đảo sĩ phu và quần

chúng Đông Kinh Nghĩa Thục có nguồn gốc trong sạch hơn là nguồn gốc của Đông Dương tạp

chí và Nam Phong, cả hai đều do Tây sáng lập và được tiền trợ cấp của thực dân.

Đông Kinh Nghĩa Thục bắt chước theo Khanh Ứng Nghĩa Thục của Nhật Bản nhằm mục đích cổ động duy tân và xây dựng Tân văn hóa

Đây là một trường tư thục đầu tiên ở nước ta không thâu học phí mà lại còn phát không sách, tập và bút giấy cho học trò Nhà trường chánh ở Hà Nội thành lập chưa được một năm mà đã đặt được chi nhánh ở hầu khắp các tỉnh miền Bắc và có đà tiến triển vào Trung, Nam

Đông Kinh nghĩa thục, đúng như tên gọi của nó, trước hết là một trường học, một trường học tư và hoàn toàn bất vụ lợi, được lập ra vì một nghĩa lớn Nghĩa lớn ấy nằm chính trong tôn chỉ sáng láng của phong trào Duy Tân: “Khai dân trí”, mở mang và nâng cao dân trí, để từ đó đi đến “Chấn dân khí”, tạo nên sinh khí mới cho dân tộc, và “Hậu dân sinh”, đưa đất nước đến phát triển phồn vinh cùng năm châu bốn biển Nói theo một cách nào đó và về thực chất, Đông Kinh nghĩa thục (và cả một loạt nghĩa thục bắt đầu từ Quảng Nam và lan ra nhiều nơi khác trước đó, mà Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội là điểm hội tụ tinh hoa cuối cùng) chính là một cuộc vận động và thực hành cải cách giáo dục rộng lớn, sâu sắc, cơ bản và sớm một cách đáng kinh ngạc Có thể tìm thấy ở phong trào này những vấn đề cơ bản và thậm chí còn nóng

Trang 12

hổi nhất cho cả sự nghiệp giáo dục của chúng ta ngay ngày hôm nay: từ triết lý giáo dục, mục tiêu đào tạo con người (và từ đó là mục tiêu xây dựng xã hội mới), nội dung giáo dục, chương trình giáo dục, phương pháp giáo dục, các mối quan hệ nội tại và với xã hội của giáo dục…, cả đến cách thức tổ chức nền giáo dục kiểu mới

Đặc biệt chủ trương cải cách giáo dục đó được đặt trong một “hệ thống mẹ” rộng lớn, bao quát hơn, gắn liền và là động lực quan trọng để chuyển động hệ thống mẹ ấy: cải tạo có tính cách mạng toàn bộ xã hội

Đó quả thật là một hiện tượng đặc sắc, một tỉnh ngộ anh minh và dũng cảm khác thường, một nhận thức mới có tính chất chuyển thời đại, còn mới mẻ và thiết thực cho đến tận ngày nay

*Ý nghĩa tên gọi:

Đông Kinh là tên trường Nghĩa thục là trường làm việc nghĩa như việc khai trí cho dân, dạy học không lấy tiền

2. Mục đích và những người sáng lập Đông Kinh nghĩa thục

 Mục đích

- Nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc và chí tiến thủ cho quần chúng

- Truyền bá một nền tư tưởng học thuật mới và một nếp sống văn minh tiến bộ

- Phối hợp hành động với các sĩ phu đã xuất dương và hỗ trợ cho phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và phong trào Duy Tân đang phát triển trong cả nước

Đặc biệt, để đúng với tên gọi nghĩa thục, các lớp học của trường được mở miễn phí.

 Người sáng lập

- Sau khi Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh tham quan Khánh Ứng nghĩa thục (1906) và nhen

nhóm ý định thành lập một nghĩa thục – một trường học kiểu mới, đến tháng 3 năm 1907, các sĩ

phu yêu nước cùng chí hướng với Phan Bội Châu như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Hoàng Tăng Bí, Vũ Hoành, bắt đầu mở trường Đông Kinh nghĩa thục

- Vai trò chính: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can (Thục trưởng) và Nguyễn Quyền (Giám học) Ngoài ra, trường còn mời Nguyễn Văn Vĩnh – nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà phiên dịch Việt Nam – được Pháp tin cậy để tránh sự dòm ngó của mật thám Pháp

 Phan Bội Châu (1867- 1940)

 Phan Châu Trinh (1872-1926)

 Lương Văn Can (1854-1927) tự là Hiếu Ôn và Ôn Như, hiệu Sơn Lão, là một nhà cách

mạng Việt Nam

+ Quê quán tại làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông

+ Năm 1874, ông đỗ Cử nhân, triều đinh phân là Giáo thụ Phủ Hoài nhưng ông từ chối

+ Chính phủ Pháp cử ông vào Hội đồng thành phố nhưng ông cũng không nhận

+ Năm 1879, ông mở trường dạy học tại nhà ( số 4 Hàng Đào)

+ Tháng 3.1907, ông liên kết với những người cùng chí hướng lập ra trường Đông Kinh nghĩa thục.+ Năm 1913, ông bị lưu đày sang Nam Vang

Trang 13

 Nguyễn Quyền ( 1869-1941) hiệu là Đông Đường, quê ở làng Thượng Trì, Thượng Mão,

phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Ông là một chí sĩ yêu nước Việt Nam thời cận đại.+ Do ông từng đỗ Tú tài khoa Tân Mão năm 1891, được bổ làm Huấn đạo

tỉnh Lạng Sơn, nên người đương thời thường gọi ông là Huấn Quyền

+ Năm 1907, ông từ quan rồi cùng với Lương Văn Can lập trường Đông Kinh nghĩa thục.

+ Ông làm Giám học của trường này Sau 9 tháng trường đã bị đóng cửa

+ Nguyễn Quyền cũng là người đứng ra lập hãng Hồng Tân Hưng bán hàng công nghệ nội hoá với mục đích tự cường kinh tế và cạnh tranh với các hãng buôn ngoại quốc

+ Năm 1908, ông bị bắt giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), kết án khổ sai chung thân rồi đem đày ra Côn Đảo

+ Năm 1910 ông được tha về tại Bến Tre

+ Năm 1920 ông đến Rạch Giá, Sa Đéc rồi về sống tại Bến Tre với gia đình Ông làm nghề bốc thuốc và mất năm 1941 tại Bến Tre

3. Bốn ban công tác của Đông Kinh nghĩa thục

 Ban giáo dục

- Chức năng: lo việc giảng dạy, học tập và chiêu sinh

- Trường dạy chữ Quốc ngữ và chữ Pháp và một số người không trực tiếp giảng dạy ở trường, thỉnh thoảng gửi bài về cộng tác

- Học sinh của trường chia làm 8 lớp, có lớp ban ngày, lớp ban đêm, chia làm hai cấp tiểu học và trung học Những học sinh quá nghèo được nhà trường sắp xếp cho ăn ở ngay trong kí túc xá

- Các môn khoa học tự nhiên thì trường dùng sách giáo khoa của các trường tiểu học Pháp, các môn khoa học xã hội thì nhà trường tự soạn để dạy viết bằng chữ Hán như: Nam quốc vĩ dân, Nam quốc lịch sử

- Nội dung các sách rất chú trọng đề cao truyền thống dựng nước và giữ nước oanh liệt của dân tộc Các sách chữ Hán in đẹp, rõ ràng, trên giấy tốt, có đóng bìa

- Trường có một thư viện có nhiều sách Tân thư nhập từ Trung Quốc, Nhật Bản để học viên, độc giả mượn về đọc, có hòm thư treo ở cửa “Hội quán” thu nhập ý kiến phê bình xây dựng cho nhà trường

 Ban cổ động

- Chức năng: tuyên truyền ảnh hưởng của trường ra ngoài quần chúng

- Hình thức hoạt động: là các buổi diễn thuyết và bình văn được tổ chức nhiều lần vào tối mồng một và ngày rằm

- Thành phần tham dự: quan lại, binh lính, viên chức, một số nông dân ngoại Hà thành

Nguyễn Quyền

Trang 14

- Nội dung: các diễn giả bình luận các bài in hoặc nói chuyên về một số đề tài lịch sử, quá khứ oanh liệt của dân tộc, ca ngợi các nhân vật lịch sử có công với nước, Cách mạng tư sản Pháp, đấu tranh giành độc lập Mĩ… rồi liên hệ với tình hình của Việt Nam lúc đó, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ hủ tục, hàng hàng nội, cắt tóc ngắn…

- Trong các buổi bình văn, thường giới thiệu những bài thơ văn ái quốc, kêu gọi duy tân do nhà trường sáng tác hoặc của Phan Bội Châu từ Nhật gửi về

- Những diễn giả nổi tiếng thời đó: Dương Bá Trạc, Lương Trúc Đàm, Phan Châu Trinh

 Ban Trước tác

- Chức năng: lo việc biên soạn tài liệu học tập cho học sinh, các tài liệu tuyên truyền

- Thành phần tham gia: Lê Đại, Lương Văn Can, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế…

- Nhà trường đã soạn và in một số sách giáo khoa, tài liệu tuyên truyền viết bằng chữ Hán

- Cuốn Quốc dân độc bản được in hàng vạn bản vẫn không thỏa mãn nhu cầu người đọc.

- Sách giới thiệu những kiến thức cơ bản về xã hội, quốc gia, quốc dân, định nghĩa về quan chế, thuế khóa, pháp luật

- Những sách về Tân thư được mua về làm tài liệu tham khảo biên soạn, nghiên cứu, giảng dạy.

 Ban tài chính:

- Lo các khoản thu chi của nhà trường

- Trường không thu học phí và giáo viên ban đầu cũng không có lương Ban đầu, nguồn kinh phí của trường dựa vào các khoản "lạc trợ" (ủng hộ) của các hội viên và những người hảo tâm yêu nước, cũng như các khoản đóng góp tự nguyện của học sinh

- Ban Tài chính còn chịu trách nhiệm mở các tiệm buôn bán và kinh doanh nhằm khuếch trương thực nghiệp, cổ động cải cách kinh doanh, đồng thời tăng thêm nguồn thu cho trường

- Sau này kinh phí dồi dào, trường cấp miễn phí giấy bút cho học sinh và trả giáo viên một số lương tượng trưng nhỏ

4. Nội dung hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục

 Về văn hóa – giáo dục

Chương trình hoạt động của nhà trường tập trung chống tư tưởng phong kiến thối nát, thực hiện cuộc cải cách tư tưởng văn hoá, xã hội

- Chống cựu học và hủ nho

- Chống chữ Hán và khoa cử

- Đề cao chữ Quốc ngữ và học những kiến thức mới

- Truyền thống lịch sử và lòng yêu nước đặc biệt được chú trọng

 Thành quả học chữ Quốc ngữ do trường Đông Kinh nghĩa thục tổ chức tuy còn mới mẻ và rất hạn chế (do nhà trường Đông Kinh nghĩa thục chỉ tồn tại được một thời gian rất ngắn), nhưng thứ

chữ vừa dễ học, dễ đọc, dễ nhớ, vừa tiện lợi, lại chuẩn xác, dần dần trở thành chữ viết chính thống của quốc gia được các tầng lớp trí thức đầu thế kỷ XX như các nhà học giả Huỳnh Tịnh

Trang 15

Của, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Văn Tố… tiếp tục phát động công cuộc cách mạng chữ viết này.

 Về mặt tư tưởng – xã hội:

- Đông Kinh nghĩa thục công khai phê phán tư tưởng phong kiến Nho giáo lỗi thời Thuyết “thiên

mệnh” của Nho giáo bị đả phá

- Lên án những phong tục tập quán lạc hậu, những nếp suy nghĩ lạc hậu, những thói cờ bạc, rượu

chè… Đông Kinh nghĩa thục đã phê phán rất sâu cay.

- Trong thời gian này cũng có nhiều sách, báo, văn thơ ra đời đã phê phán những hủ tục, những thói hư tật xấu trong giai đoạn bấy giờ

 Về mặt kinh tế:

- Đông Kinh nghĩa thục hô hào lập các hội buôn như:

+ Đỗ Chân Thiết có 1 hiệu kim hoàn ở phố hàng Bạc

+ Đồng Lợi Tế ở phố Mã Mây chuyên buôn bán hàng nội hóa

+ Hiệu Tụy Phương ở gần ga Hàng Cỏ chuyên buôn bán thuốc Bắc

+ Hoàng Tăng Bí và Nguyễn Quyền mở côngty Đông Thành Xương ở phố Hàng Gai vừa buôn bán hàng tạp hóa, vừa dệt xuyến hoa đại đóa, ướp chè sen

- Từ năm 1907 – 1908 trở đi, do ảnh hưởng của Đông Kinh nghĩa thục nhiều công ty đã ra đời như:

+ Quảng Hưng Long buôn bán nội hóa

+ Hồng Tân Hưng buôn bán và sản xuất đồ sơn

+ Nghiêm Xuân Quảng buôn bán the lụa Thái bình

+ Đồng Ích dệt và xuất khẩu lụa

- Các hội buôn lan ra các tỉnh: Phúc Yên, Hưng Yên, Việt Trì, Thanh Hóa, Vinh, Phan Thiết, Sài Gòn

- Đông Kinh nghĩa thục còn chủ trương đi tìm những vùng mỏ ở vùng núi Tây Bắc để xin Nhà

nước được khai mỏ, nhưng do vốn ít, thiếu kinh nghiệm, bị thực dân Pháp và Hoa kiều chèn ép nên không thực hiện được

- Khu vực nông nghiệp cũng được chú ý khuếch trương Hội chủ trương lập các đồn điền khai hoang, trồng cây lương thực ở Yên Lập (Hưng Hóa), Mĩ Đức (Hà Đông), nhưng bị thua lỗ nên chương trình phát triển nông nghiệp cũng không tiến hành được

 Với những hoạt đông tuyên truyền chấn hưng thực nghiệm và hành động kinh doanh cụ thể của

Đông Kinh nghĩa thục cũng góp phần thúc đẩy nền kinh tế tư sản dân tộc non trẻ phát triển.

5. Phạm vi hoạt động

Tháng 3 năm 1907, Đông Kinh nghĩa thục được khai giảng ở phố Hàng Đào, Hà Nội Hoạt động

và ảnh hưởng của Đông Kinh nghĩa thục nhanh chóng mở rộng ra khắp các vùng lân cận rồi lan sang

các tỉnh miền Bắc, miền Trung Ngoài 4 phân hiệu của trường được thành lập tại Hà Đông, Sơn Tây, sĩ

phu ở một số tỉnh khác của Bắc Kỳ cũng đua nhau tổ chức các trường lớp mô phỏng Đông Kinh nghĩa thục.

 Ở Bắc Kỳ và vùng phụ cận Hà Nội:

- Ở Hà Đông, Vũ Trác, Hoàng Tăng Bí nhiều lần về diễn thuyết và bình văn ở đây Trong năm

1907, ở Hà Đông đã thành lập được 3 phân hiệu nghĩa thục

- Ở Bắc Ninh, tại huyện Gia Lâm cũng có mấy địa điểm mở lớp học kiểu đông kinh nghĩa thục tương đối quy củ

- Ở Hưng Yên, song song với việc mở các nghĩa thục ở các huyện Văn Giang, Yên Mĩ,… còn

mở thêm một hiệu buôn hàng nội hóa lấy tên là Hưng Lợi Tế

Trang 16

- Ở Hải Dương, nhiều nhà nho yêu nước đã tuyên truyền, cổ động cho chủ trương canh tân đất nước.

- Ở Thái Bình, các huyện Kiến Xương, Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ đều có nghĩa thục hoạt động Các nhà nho đã vận động nhiều nhóm thân sĩ đứng ra mở trường dạy chữ Quốc

ngữ với nội dung giảng dạy như Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội.

- Ở nhiều địa phương khác còn tổ chức ra nhiều hội ái hữu, tương tế như Hội dệt vải, hội hỉ,…

- Ở các tỉnh trung du và miền núi như Vĩnh Phúc, Phúc Yên, Phú Thọ, Yên Bái,… ảnh hưởng của đông kinh nghĩa thục về chấn hưng công thương nghiệp, khai thác sản xuất hàng nội địa

 Phong trào nghĩa thục lan rộng vào cả các tỉnh ở Trung Kỳ và Nam Kỳ

- Ở Trung Kỳ:

+ Ở huyện Thanh Chương (Nghệ An), trường Võ Liệt thu hút nhiều thanh niên ở các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Hương Sơn, Đức Thọ đến học Tài liệu giảng dạy, học tập do đông kinh nghĩa thục Hà Nội cung cấp

+ Huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh), trường Phong Phú được tổ chức, thu hút con em các huyện Can Lộc, Cẩm Xuyên đến học Hoạt đông của trường cũng giống như các nghĩa thục khác.+ Ở Phan Thiết, trường Dục Thanh là một trung tâm giáo dục theo kiểu đông kinh nghĩa thục Nội dung giảng dạy gần giống như các trường tiểu học trong Nam Kỳ

- Ở Nam Kỳ: Phong trào mở các nghĩa thục không sâu rộng lắm Những người hưởng ứng

phong trào Duy Tân bằng một số bài báo; hay các khách sạn, hiệu buôn ra đời là những cơ sở

để liên lạc với những người yêu nước trong Nam Kỳ để hưởng ứng phong trào Đông Du và

phong trào Đông kinh nghĩa thục ở ngoài Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

6. Nhận xét chung về Đông Kinh nghĩa thục

Qua gần 9 tháng hoạt động, Đông Kinh nghĩa thục đã nuôi dưỡng được một phong trào cách

mạng công khai, hợp pháp khá sôi nổi, quyết liệt trong lĩnh vực đấu tranh về văn hoá và tư tưởng theo khuynh hướng dân chủ tư sản Đó cũng là một cuộc vận động chính trị, chuẩn bị về tinh thần, về tư tưởng cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng dân tộc, dân chủ trong thời đại mới

- Nâng cao được tinh thần yêu nước, cách mạng ở những nơi có phong trào, lôi cuốn họ vào cuộc đấu tranh cho độc lập, tự do và giàu mạnh của đất nước

- Đề cao chữ Quốc ngữ, mạnh dạn sử dụng trong giảng dạy, biên soạn, dịch thuật, sáng tác Từ

đó, chữ Quốc ngữ nhanh chóng thâm nhập các lĩnh vực xã hội, ngày càng cải tiến trở thành chữ viết của dân tộc

- Thúc đẩy nền kinh tế tư sản dân tộc ngày càng phát triển

- Đi đầu và có những thành tựu lớn trong sáng tác văn học phục vụ các cuộc đấu tranh của quần chúng; khơi dậy tinh thần đoàn kết yêu nước trong nhân dân

 Đông Kinh nghĩa thục đã trở thành nguy cơ lớn đối với thực dân Pháp Tháng 12.1907 chính

quyền thực dân Pháp chính thức thu hồi giấy phép đóng cửa Trường

 Đông Kinh nghĩa thục chỉ hoạt động được gần 09 tháng (từ tháng 03.1907 đến tháng 12.1907) Mặc dù thất bại, Đông Kinh nghĩa thục đã góp phần thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân ta lúc

bấy giờ; bước đầu tấn công hệ tư tưởng phong kiến, mở đường cho tư tưởng mới – tức tư tưởng

tư sản – trên cơ sở đó đã góp phần chuẩn bị về mặt tinh thần cho các phong trào đấu tranh rộng

lớn hơn sau đó Những kinh nghiệm hoạt động phong phú đa dạng của Đông Kinh nghĩa thục và

của phong trào ở các tỉnh đã được các phong trào yêu nước ở giai đoạn sau kế thừa và phát huy, làm phong phú thêm nội dung cũng như phương pháp đấu tranh

7. Trả lời câu hỏi:

Trang 17

• Đánh giá chủ trương của Đông Kinh Nghĩa Thục so với những cải cách giáo dục của Việt Nam hiện nay:

- Mục tiêu của Đông Kinh Nghĩa Thục là đào tạo ra những người biết độc lập suy nghĩ và tự hành động " thay vì đào tạo ra các thần dân bù nhìn chỉ biết làm theo mệnh lệnh" – Nhà giáo

Vũ Đình Khôi chia sẻ khi nói về Đông Kinh Nghĩa Thục

- Đông Kinh Nghĩa Thục có phương hướng nội dung phải thay đổi - nội dung thay đổi thì phương pháp cũng phải thay đổi Học trò phải có sáng tạo, tư duy chứ không rập khuôn, ỷ lại hay chờ chép

- Đông Kinh Nghĩa Thục phần lớn là làm thay đổi tư duy của con người thời đó Vì vậy, cải cách giáo dục hiện nay cũng nên thay đổi tư duy vì tư duy sẽ làm thay đổi mục tiêu

Tư tưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục cũng tiến bộ hơn rất nhiều so với hiện nay Như lớp học

mở miễn phí, sách được soạn và phát miễn phí

CHỦ ĐỀ 3: CHƯƠNG TRÌNH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ NHẤT CỦA TƯ BẢN PHÁP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VỚI VIỆT NAM

I Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914)

1 Một bộ máy hành chính cai trị chặt chẽ

- Sử dụng chính sách “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”

- Việt Nam bị chia cắt thành 3 kì: Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì với ba chế độ cai trị khác nhau

- Thủ đoạn “chia để trị” là một trong những nguyên tắc chỉ đạo hành động của chúng

Trang 18

2 Bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án và nhà tù

- 30/6/1915, lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương được thành lập

- ở cả ba xứ, còn tổ chức quân đội thân binh do bọn Việt gian phản đông, chuyên đàn áp các cuộc nổi dậy

c Hệ thống tòa án – nhà tù:

Trang 19

* Tòa án:

- Từ năm 1881, ở Nam Kì, xét xử theo hai thứ pháp luật, phân biệt công dân Pháp và không phải công dân Pháp

- Ở Trung Kì, bộ luật Gia Long vẫn là luật bảo hộ xứ này

- Ở Bắc Kì, có 2 loại tòa án, tòa án Tây và tòa án Nam

*Nhà tù:

- Trong 10 năm kết án hơn 24.380 người từ tù giam, khổ sai, chung thân đến tử hình

- Các nhà tù lúc nào cũng đông tù nhân: Côn Đảo năm 1912 giam tới 1326 người

- Vụ xét xử của Tòa đề hình “kết án các tên tù phạm việc trái phá Thái Bình và Hà Nội” ngày 5/9/1913,

- Báo chí là công cụ tuyên truyền đắc lực

- Các tờ báo đồng loạt được xuất bản với các nội dung về ca ngợi chính sách “khai hóa”, hô hào mở rộng công thương nghiệp, cổ động bỏ khoa cử…

- Những thói hư tật xấu vẫn được dung dưỡng: cờ bạc, rượu chè, hủ tục ma chay, cưới xin…

- Chiêu quái nhất trong chính sách “ngu dân” của Pháp chính là thuốc phiện

II Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2

- Diễn ra trong vòng 10 năm (1919 – 1929)

- Chính sách “cải lương hành chính” nhằm can thiệp trực tiếp vào các làng xã

- Tiến hành các cuộc cải cách về chính trị - hành chính để mở rộng cơ sở xã hội của thực dân Pháp nhưng không làm ảnh hưởng đến nền tảng thống trị ở thuộc địa

- Nhân dân Việt Nam phải gánh chịu số tiền thuế ngày càng nặng

- Thực hiện cuộc chia rẽ dân tộc và chủng tộc

- Có những chuyển biến mới trong văn hóa giáo dục

III Sự biến chuyển của cơ cấu kinh tế Việt Nam

Trang 20

CUỘC KHAI THÁC LẦN 1 CUỘC KHAI THÁC LẦN II

Giao thông

vận tải

-Được Pháp ưu tiên hàng đầu

- Năm 1912, tổng số đường sắt đã làm

xong ở Việt Nam là 2.059km

-Đường bộ được mở rộng đến những khu

vực hầm mỏ, đồn điền, bến cảng và các

vùng biên giới quan trọng

- Đường thủy được khai thông ở các sông

lớn như sông Hồng, Thái Bình, Hậu

- Ngành mỏ được quan tâm nhất

- Các ngành như xi măng, vải, sợi, gạch,

ngói, điện, nước, chế biến nông lâm sản

được đầu tư phát triển

- Được tăng cường đầu tư vốn và mở rộng quy mô sản xuất (đặc biệt là khai thác mỏ)

- Các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến cũng khá phát đạt

Nông

nghiệp

- chiếm đoạt ruộng đất của nông dân trên

quy mô lớn với nhiều hình thức để lập đồn

điền trồng cao su, cà phê , chè

Trang 21

IV Sự biến chuyển của xã hội Việt Nam

Giai cấp

địa chủ

- Ưu thế kinh tế và chính trị của địa chủ VN

tăng lên nhờ sự nâng đỡ của thực dân Pháp

và và trở thành cánh tay đắc lực cho thực

dân Pháp

- Phân hóa thành: địa chủ Pháp, địa chủ Nhà

thờ, địa chủ quan lại, địa chủ thường, còn có

địa chủ kiêm công thương

Được củng cố, phát triển lớn mạnh hơn trước nhờ sự che chở của thực dân Pháp

phát canh thu đối với tá điền, nạn sưu, thuế

ngày 1 nặng, nạn cho vay lãi và cầm cố duy

trì

- nông thôn nước ta ngày 1 phân hóa

- Chiếm đại đa số trong xã hội, bị phân hóa thành 3 tầng lớp: trung nông, bần nông và

cố nông

- Một trong số đó bị bần cùng hóa, ra các thành thị, hầm mỏ để làm việc song phải quay phải do không tìm được việc

Trang 22

Tầng lớp

tư sản

- tầng lớp tư sản đầu tiên đã xuất hiện, sớm

nhất là tư sản mại bản và có nguồn gốc xuất

ép rất nhiều về mặt chuyên môn lẫn chính trị

- Giai cấp tiểu tư sản ngày càng trở nên đông đảo

- Nó được kết hợp một cách lỏng lẻo bởi

ba bộ phận: trí thứ, tiểu thương và thợ thủ công

Trang 23

một giai cấp Tuy vậy, giai cấp công nhân tuy

đã ra đời nhưng mới ở giai đoạn “tự phát”

- Ngày càng đông đảo theo đà phát triển

- Trình độ văn hóa thấp, tính chất vô sản hiện đại bị hạn chế

- Điều kiện sống và lao động rất cực khổ

- Có tinh thần kỉ luật, ý thức đoàn kết cao được mài dũa qua quá trình lao động

và đấu tranh

=> Sớm được giác ngộ và nhanh chóng vươn lên nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

TRẢ LỜI CÂU HỎI

1 Quá trình khai thác thuộc địa của Pháp tạo ra những ảnh hưởng về văn hóa Nó còn kéo dài đến ngày nay không?

Văn hoá Vn vẫn còn chịu sự ảnh hưởng của văn hoá Pháp sau kế hoạch khai thác thuộc địa Đầu tiên

là về kiến trúc, kiến trúc nước ta chịu sự ảnh hưởng của kiến trúc Pháp, đặc biệt là Gothic Nhà thờ Đức Bà ở SG và Toà Đại Hình ở HN là những ví dụ tiêu biểu Thứ hai là về ngôn ngữ, chữ quốc ngữ của nước ta cũng một phần là do các nhà truyền đạo ở Pháp nghĩ ra để giúp việc truyền đạo trở nên dễ hơn, đồng thời, một số từ vay mượn của tiếng Pháp vẫn còn đc sử dụng đến ngày nay Thứ ba là về ẩm thực, một số món ăn pháp như bò bít tết và đặc biệt là rượu vang là một trong những thứ ko thể thiếu

ở một vài bữa tiệc ở VN

2 Giai cấp tư sản đã có những tiềm năng để thành 1 giai cấp chưa ?

Thời kì Pháp giai cấp Tư sản có thế lực yếu Bị thực dân Pháp chèn ép.Và chia thành 2 loại là tư sản dân tộc và tư sản mại bản

Tư sản dân tộc thế lực yếu tư tưởng chính trị không kiên định Khi thực dân Pháp cho một số quyền lợi họ sẽ theo Pháp và ko có quyền lực chính trị

Ngày đăng: 04/10/2016, 20:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w