tài liệu lịch sử quan hệ quốc tế đông á và đông nam á THAM KHẢO
Trang 1LÊ PHỤNG HOÀNG
KHOA LỊCH SỬ
Trang 2
D LỊCH SỬ QUAN HỆ QUỐC TẾ
Ở ĐÔNG NAM Á TỪ SAU CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẾN CUỐI CHIẾN TRANH LẠNH
Trang 31 Khái quát về quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á trong quá khứ
Được các nhà chỉ huy quân sự Hoa Kì và Anh dùng trong Chiến tranh Thái BìnhDương để chỉ một trong các chiến trường chính(23) và trở nên quen thuộc với dư luận quốctế ngay sau khi chiến tranh kết thúc như là nơi bùng phát làn sóng đấu tranh giành độc lậpchống ách thống trị của các nước phương Tây, Đông Nam Á được định vị trên quả địa cầutrong phạm vi từ 920 đến 1400 kinh Đông và từ 280 vĩ Bắc đến 150 vĩ Nam Là một quần thểđịa lí bao gồm các đảo, bán đảo, quần đảo và vịnh trải dài từ Ấn Độ Dương sang Thái BìnhDương, Đông Nam Á hiện bao gồm 11 quốc gia: Philippines, Indonesia, Đông Timor,Brunei, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan và Myanmar, với tổngdiện tích ø 4,358 triệu km2 và dân số gần 500 triệu (theo số liệu giữa thập niên 1990)
Tuy được biết đến như một trong các trung tâm phát sinh chủng tộc: người vượn Java(Pithecanthropus modjokertensis), người Homosapien trên đảo Kalimantan , nơi cư dân đãthực hiện một cuộc cách mạng nông nghiệp sớm nhất thế giới (khoảng 15.000 năm TCN),Đông Nam Á lại thiếu những không gian bao la, thuận lợi cho sự phát triển các kĩ thuật tinhtế, do mặt bằng lãnh thổ bị chia cắt manh mún bởi các dãy núi cao, bởi các cao nguyên tuyrộng lớn nhưng không thuận tiện cho việc đi lại, các sông to, biển cả, các khu rừng nhiệtđới bạt ngàn Vì lẽ này, không một cư dân Đông Nam Á nào đủ sức tạo dựng một nền vănminh lớn, ngang hàng với hai nền văn minh vĩ đại nằm sát hai bên: Ấn Độ và Trung Hoa.Không có khả năng tác động lên người bên cạnh, tất sẽ bị họ tác động trở lại, nhất là khiĐông Nam Á lại nằm giữa hai nền văn minh lớn vừa nêu
Cũng do bị chia cắt manh mún về mặt lãnh thổ, Đông Nam Á không phải là nơithuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của các đế quốc Những Phù Nam, Chân Lạp, Srivaya,Majapahit đều không tồn tại lâu Đến cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, xuất hiện vàinước như Đại Nam của triều Nguyễn, Xiêm La của triều Chakkri và Miến Điện của triềuKonbaung, tuy lớn nhưng vẫn chưa hội đủ sức mạnh chi phối quan hệ cả vùng
Đặc điểm chung của các triều đại phong kiến mới trỗi dậy trên là vừa bận củng cố
23 () Tại Hội nghị diễn ra ở Québec (Canada) vào tháng 8.1943, tổng thống Hoa Kì F Roosevelt và thủ tướng Anh W Churchill đã quyết định thành lập Bộ tư lệnh Đông Nam Á (South East Asia Command – SEAC) do phó đô đốc Lord Louis Mountbatten cầm đầu Có tổng hành dinh lúc đầu đặt ở New Dehli, từ tháng 8.1944 dời về Kandy (Ceylon), SEAC chịu trách nhiệm các xứ Miến Điện, Thái Lan, Malaya (kể cả Singapore) và đảo Sumatra Sau đó, Hội nghị Potsdam (7 – 8.1945) đã ra quyết định chuyển sang cho SEAC một phần khu vực địa lí đang thuộc quyền phụ trách của tướng Douglas MacArthur, tư lệnh mặt trận Tây-Nam Thái Bình Dương, nhằm giúp ông này tập trung vào kế hoạch tiến công các đảo chính quốc Nhật Bản Vậy là Lord Mountbatten đảm trách thêm toàn bộ quần đảo Đông Ấn thuộc Hà Lan( ngoại trừ Tây Timor), Bắc Borneo và phần Đông Dương nam vĩ tuyến 16 Tháng 11.1945, tổng hành dinh của Lord Mountbatten dời về Singapore Giữa tháng 11.1946, Bộ tư lệnh Đông Nam Á giải tán
Hội nghị Potsdam giao cho SEAC nhiệm vụ tiếp quản sự đầu hàng của quân đội Nhật, giải giáp và hồi hương họ, di tản tù binh Đồng minh, trị an và hỗ trợ việc phục hồi chính quyền thuộc địa cho đến lúc quy chế tương lai của những vùng giải phóng được xác định rõ ràng
82
Trang 4chỗ đứng trong nước, và nếu có quan tâm đến hoạt động xác lập ảnh hưởng đối ngoại, thìchủ yếu là trong quan hệ với các nước láng giềng lục địa (chẳng hạn triều Konbaung củaMiến Điện xung đột với triều Chakkri của Xiêm La, hay triều Nguyễn Việt Nam tranhgiành ảnh hưởng với triều Chakkri ở hai xứ láng giềng nhỏ hơn là Lào và Campuchia).Vảchăng, các nước này chưa bao giờ là cường quốc biển để có thể mở rộng ảnh hưởng ra khỏiĐông Nam Á – lục địa Vì vậy, có thể kết luận rằng trongá suốt chiều dài lịch sử của mình,Đông Nam Á được cấu thành chủ yếu bởi vô số tiểu quốc vừa có mối quan hệ qua lạikhông bền vững, vừa nằm kẹp giữa hai đại quốc Ấn Độ và Trung Hoa Thêm một lí do nữađể Đông Nam Á trở thành nơi chịu tác động từ bên ngoài
Văn minh Ấn Độ được đưa vào Đông Nam Á chủ yếu bằng con đường thương mạivà truyền giáo, và do giới thương nhân và giáo sĩ thực hiện, trong lúc vai trò của giới cầmquyền hầu như không đáng kể Trong lúc đó, văn minh Trung Quốc xâm nhập vào ĐôngNam Á qua ngõ Việt Nam là chính và bằng con đường bạo lực (chiến tranh xâm đoạt lãnhthổ, đô hộ và đồng hóa), mà người đôn đốc thực hiện không ai khác hơn ngoài các hoàngđế Trung Hoa Đông Nam Á được họ xem như là một trong các lãnh thổ thuộc phạm vibành trướng thếlực Do ở Đông Nam Á chưa bao giờ nổi lên một cường quốc đủ mạnh đểđương đầu với Trung Quốc, các vị hoàng đế xứ này đã tiêm nhiễm thói quen xem ĐôngNam Á là vùng lãnh thổ hải ngoại nối dài của Hoa lục, hay nói cách khác, như sân sau củaTrung Quốc Và thực tế là họ đã tạo được ảnh hưởng áp đảo đến mức chi phối phần lớnquan hệ giữa các tiểu quốc Đông Nam Á Tuy nhiên, ảnh hưởng của Trung Quốc khôngđược cảm nhận đồng đều ở Đông Nam Á: rõ rệt nhất là trên phần Đông Nam Á – lục địa,nhưng ở mức độ thấp hơn nhiều trên phần Đông Nam Á – đảo Lí do rất dễ thấy là TrungQuốc của các vị hoàng đế phong kiến chưa bao giờ xây dựng được một hạm đội đủ mạnhđể khống chế biển Đông
Hạm đội của Trịnh Hòa và các chuyến đi biển của ông trong thế kỉ XVI thời nhàMinh nên được xem như là một nỗ lực thăm dò tình hình biển Đông và biểu dương thanhthế của thiên triều phương Bắc, hơn là mưu toan xác lập ảnh hưởng lâu dài trong vùng.Ngay trong thời cực thịnh của mình (Khang Hy và Càn Long), nhà Thanh còn bận củng cốphần biên giới lục địa ở các hướng Tây và Bắc, hơn là dồn sức bành trướng xuống hướngNam (bán đảo Trung Ấn), đừng nói gì đến Đông Nam Á – đảo
Từ thế kỉ XVI, vị thế của Trung Quốc ở Đông Nam Á bắt đầu bị thách thức bởi sựxuất hiện của người Âu Trên bước đường tìm đến Trung Quốc, những người Âu đầu tiên làcác giáo sĩ thừa sai và thương nhân Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã xem Đông Nam Á nhưmột trạm dừng chân lí tưởng Giá trị của Đông Nam Á càng tăng thêm, khi họ nhận ra đâylà quê hương của nhiều mặt hàng gia vị và lâm sản nhiệt đới có giá trị cao trên thị trườngchâu Âu
Ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Nam Á bắt đầu suy tàn từ năm 1842, khi triềuThanh buộc phải kí Điều ước Nam Kinh, do thất bại trong cuộc Chiến tranh Nha phiến lầnthứ nhất Từ thời điểm này, Đông Nam Á trở thành đấu trường của các cường quốc phươngTây cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trang 5Trong thế kỉ XIX, Đông Nam Á (ngoại trừ Thái Lan) đều lần lượt trở thành thuộc địacủa các nước phương Tây: Pháp, Hà Lan, Anh và Hoa Kì Riêng Thái Lan phần nào nhờ vịtrí nước đệm giữa hai đối thủ chính trong vùng là Anh và Pháp mà giữ được nền độclập,nhưng vẫn phải trả giá bằng một loạt các hiệp ước bất bình đẳng kí với các nước phươngTây
Từ thời điểm trên, các thuộc địa Đông Nam Á từ chỗ được sử dụng như là bàn đạpxâm nhập Trung Quốc đã bắt đầu được khai thác như là nguồn cung cấp những nguyên liệunhư than đá, dầu cọ, cao su, thiếc, quặng sắt vốn rất cần cho nền công nghiệp đang tăngtrưởng nhanh của phương Tây,như là thị trường tiêu thụ thành phẩm công nghiệp có xuấtxứ từ châu Âu và đồng thời là căn cứ đảm bảo vị thế cường quốc của các nước phương Tâytrong vùng Viễn Đông
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, đặc biệt ø từ những năm 1930, Đông Nam Á trởthành đấu trường cho những hoạt động tranh giành ảnh hưởng giữa Nhật Bản, nước đang rasức xác lập vị thế bá quyền ở Trung Quốc và xây dựng khu vực Thịnh vượng chung ĐạiĐông Á, và Hoa Kì, nước đang nỗ lực bảo vệ ảnh hưởng ưu thế đã giành được ở Hội nghịWashington (1921 – 1922) Chính mối quan hệ kình địch giữa hai đại cường này đã đưađến cuộc Chiến tranh Thái Bình Duơng
Trong thời gian chiến tranh, toàn bộ vùng Đông Nam Á thuộc quyền kiểm soát củaNhật Chính quyền thực dân phương Tây ở các thuộc địa đều lần lượt bị thay bằng chínhquyền của người bản xứ, đặt dưới sự bảo trợ của người Nhật Nước Đông Nam Á duy nhấtcòn độc lập là Thái Lan đã tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại “gió chiều nào chechiều đó”, nghĩa là quay sang ủng hộ cuộc chiến của người Nhật
Ảnh hưởng của các nước phương Tây bị lung lay đến tận gốc rễ Ngoại trừ Hoa Kìđã có ý định sẽ trao trả độc lập cho Philippines vào năm 1944, các nước phương Tây cònlại – Anh, Pháp và Hà Lan – đều chưa sẵn sàng công nhận một thực tế là quyền lực thốngtrị kéo dài có khi đến cả hàng trăm năm của họ đã bị người Nhật xóa bỏ
Về phần mình, không một dân tộc Đông Nam Á nào mong muốn nhìn thấy ngườiphương Tây sẽ quay lại, dù ách chiếm đóng của quân phiệt Nhật tỏ ra tàn bạo gấp bội lầnchế độ thống trị của thực dân phương Tây Không dừng lại ở thái độ phản kháng thụ động,người dân Đông Nam Á còn biết bộc lộ sự chống đối bằng các phong trào đấu tranh vũtrang Tuy nhiên, cho đến khi cuộc chiến kết thúc, không một phong trào nào đủ sức đánhbại quân chiếm đóng Nhật để tự giải phóng mình Trong hoàn cảnh này, tất nhiên họkhông thể ngăn cản các nước phương Tây quay lại dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhậtđầu hàng
Chỉ có điều là những điều kiện – cả khách quan lẫn chủ quan – cho sự phục hồi chếđộ thực dân đã vĩnh viễn lùi vào quá khứ Người Mĩ đã tỏ ra thức thời khi chủ động thựchiện việc trao trả độc lập cho Philippines ngay trong năm 1946 Sau một thời gian ngắn
84
Trang 6ngần ngừ, người Anh cũng sớm từ bỏ ý định phục hồi chế độ thực dân, do các biến cố đảolộn ở Ấn Độ Tháng 7.1947, họ trao trả độc lập cho Miến Điện Người Anh cũng hành xửtương tự như ở Malaya: tiến hành thương thảo trao trả độc lập cho tổ chức chính trị UMNOquy tụ các chính đảng của ba cộng đồng người Mã Lai, người Hoa và người Ấn; họ đồngthời ra sức trấn áp cuộc đấu tranh vũ trang do đảng Cộng sản Malaya phát động nhằm mụcđích đảm bảo các quyền lợi còn lại trên bán đảo Malaya sau khi rút đi
Không đi theo con đường của người Mĩ và người Anh, thực dân Hà Lan đã cố phụchồi nguyên trạng trước chiến tranh ở Indonesia, bất chấp sức đề kháng quyết liệt của ngườibản xứ Một cuộc chiến tranh đã bùng phát và kéo dài suốt 4 năm để rồi kết thúc bằng thấtbại của Hà Lan Công bằng mà nói, kết quả của cuộc chiến được quyết định không phảingoài trận địa, mà là trên bàn thương thuyết, nơi người Hà Lan dù giành được ưu thế ápđảo ngoài chiến trường vẫn phải tháo lui trước sức ép của quốc tế, chủ yếu từ phía người
Mĩ Liù do để người Mĩ can thiệp theo hướng có lợi cho người Indonesia không hẳn vì lítưởng yêu chuộng tự do, bài xích chế độ thực dân, mà chủ yếu vì chính phủ Mĩ đã nhìnthấy trong giới lãnh đạo Indonesia một lực lượng chống Cộng vốn có cơ hội tự bộc lộ quahành động trấn áp thẳng tay cuộc nổi dậy của đảng Cộng sản Indonesia diễn ra ở Madiun(Đơng bộ Java)
Ở Đông Dương, người Pháp đi theo cách hành xử chẳng khác người Hà Lan, để rồicũng phải đối mặt với cuộc kháng chiến bùng ra dữ dội của người bản xứ Chỉ có điều làngười Mĩ đã, sau một thời gian cân nhắc, chọn ủng hộ người Pháp Lí do để người Mĩkhông lặp lại ở Đông Dương những gì họ đã từng làm ở Indonesia là vì họ đánh giá cuộckháng chiến do Mặt trận Việt Minh, mà đứng đầu là Hồ Chí Minh, lãnh đạo như là một nỗlực xóa bỏ chế độ thực dân để thay bằng chế độ cộng sản Một loạt các sự kiện diễn ra nốitiếp nhau: thắng lợi của đảng Cộng sản Trung Quốc ở Hoa lục (10.1949), CHND TrungHoa và Liên Xô công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) (1.1950), sự ra đờicủa Liên minh Xô-Trung (2.1950), chiến tranh Triều Tiên bùng nổ (6.1950) đã đượcWashington diễn giải như là những bằng chứng cho thấy Liên Xô đang chuyển hướng mởrộng, thông qua Trung Quốc, phạm vi ảnh hưởng sang Viễn Đông, sau khi đã bị chặn đứng
ở châu Âu và Iran Diễn biến này đã gây lo lắng cho các nhà hoạch định đường lối đốingoại của Hoa Kì, vốn đang chịu sự chi phối của chủ thuyết Truman và chính sách ngănchặn
Từ đầu thập niên 1950, Đông Nam Á trở thành đấu trường giữa Hoa Kì và TrungQuốc
2 Đông Nam Á trong nhãn quan người Mĩ
Ngay trong lúc Chiến tranh thế giới thứ hai còn đang tiếp diễn, tổng thống F.Roosevelt đã nhìn thấy ở Liên Xô một đối thủ tiềm tàng có thể gây khó khăn cho chiếnlược toàn cầu thời hậu chiến của Hoa Kì(24) Nhằm vượt qua trở ngại này, Roosevelt có ý
24 () Độc giả nào quan tâm đến chính sách đối ngoại của tổng thống F Roosevelt trong thời gian chiến tranh,
Trang 7liên kết với Anh thành một mặt trận chung ngăn chặn Liên Xô mở rộng ảnh hưởng ở châuÂu thời hậu chiến, xây dựng Trung Quốc thành một đồng minh vững mạnh và ổn định ởchâu Á đủ sức đối phó với các hoạt động của Liên Xô ở Viễn Đông
Tuy nhiên, kết quả cuối cùng của cuộc nội chiến Quốc-Cộng ở Hoa lục đã đi ngượclại tính toán của Mĩ Trong một nỗ lực xoay chuyển tình thế, Hoa Kì đã chọn Nhật Bảnthay vào vai trò vốn đã được dự định dành cho Trung Quốc Bên cạnh đó, Washington cònxác lập tuyến phòng thủ ở phía tây Thái Bình Dương mà Hoa Kì phải cố duy trì để đối phó
với điều được Nhà Trắng gọi là “mối đe dọa từ phía cộng sản” Tuyến này khởi đầu từ
quần đảo Aleutian, kéo dài đến Nhật Bản, quần đảo Ryukyu và kết thúc ở quần đảoPhilippines Sau khi chiến tranh Triều Tiên khởi phát, tuyến phòng thủ đã được mở rộng đểgộp luôn Đài Loan và Nam Triều Tiên và cả Australia lẫn New Zealand Được xây dựngphù hợp với quan điểm chiến lược của Lầu Năm Góc là không để quân Mĩ sa vào một cuộcchiến trên lục địa châu Á vốn hãy còn rất xa lạ với họ, tuyến phòng thủ nêu trên chỉ baogồm các đảo và quần đảo chạy dọc theo bờ biển Đông Bắc Á và Đông Nam Á
Nhưng quan điểm trên không mặc nhiên cĩ nghĩa rằng Hoa Kì chấp nhận viễn cảnhĐông Nam Á-lục địa có thể trở thành một Đông Âu của Trung Quốc Chính sách ngănchặn được thể hiện thành mức chi viện lớn lao dành cho cuộc chiến của người Pháp ở ĐôngDương, qua sự thành lập tổ chức quân sự SEATO Vì nhiều nguyên nhân, các nỗ lực vừanêu đều không những không mang lại kết quả như Hoa Kì mong đợi, mà còn đẩy Hoa Kìcuối cùng sa vào cảnh huống mà nhiều đời tổng thống đã cố tránh: cuộc chiến trên lục địa
ở châu Á, mà ở đây là cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1954 – 1975)
Không chỉ hiện ra trong mắt của người Mĩ như là phòng tuyến ngăn chặn ảnh hưởngcủa chủ nghĩa cộng sản quốc tế, mà đại biểu là CHND Trung Hoa, Đông Nam Á còn đượcHoa Kỳ đánh giá là một trong những khu vực có ý nghĩa chiến lược hàng đầu trên thế giới
Vị thế này được khẳng định bởi eo biển Malacca, và các eo biển khác như Lombok, Sundanối liền Ấn Độ Dương với biển Đơngvà biển Java Kiểm soát các eo biển này được xem làmột phương tiện ngăn chặn hữu hiệu Trung Quốc mở rộng thế lực bằng đường biển ra khỏivùng Đông Nam Á Ýù nghĩa chiến lược của Đông Nam Á càng thêm tăng từ thập niên
1960, khi trong vùng châu Á-Thái Bình Dương xuất hiện thêm, ngoài Nhật Bản, nhiềucường quốc kinh tế, như Hàn Quốc, Đài Loan, Hongkong, Singapore, vốn là những nướchay lãnh thổ có các mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với Hoa Kì nói riêng, với thế giới phươngTây về nhiều mặt
Sức mạnh kinh tế tăng lên của các nước và vùng lãnh thổ vừa nêu góp phần củng cố
vị thế của Hoa Kì trong vùng Tuy nhiên, tất cả đều có một điểm yếu cơ bản là phụ thuộcnặng nề vào nguồn nhiên liệu nhập từ Trung Đông và được vận chuyển ngang qua eo biểnMalacca Bảo vệ con đường hàng hải huyết mạch này trở thành nhân tố có ý nghĩa sốngcòn đối với vị thế vững chắc của Hoa Kì trong vùng
có thể tìm đọc Lê Phụng Hoàng Franklin Roosevelt – Tiểu sử chính trị Tủ sách ĐHSP TP.HCM, 2004
86
Trang 8Vị thế của toàn vùng châu Á-Thái Bình Dương (mà Đông Nam Á là một phần) trongchiến lược đối ngoại toàn cầu của Hoa Kì tăng lên với thời gian, nhất là khi quan hệ mậudịch và đầu tư giữa châu Á-Thái Bình Dương với vùng bờ biển phía tây giáp Thái BìnhDương của Hoa Kì tăng lên nhanh chóng từ thập niên 1970 và 1980 Vì lẽ này, sự hiệndiện của Hoa Kì trong vùng không hề sút giảm, bất chấp “Hội chứng Việt Nam” Và nóthực sự trở thành nhân tố không thể thiếu được, khi được nhiều nước tiếp nhận như là mộtđối trọng với ảnh hưởng ngày càng lớn lao của Trung Quốc đang nỗ lực thực hiện chươngtrình bốn hiện đại hóa (mà một trong số đó là hiện đại hóa quốc phòng)
3 Đông Nam Á trong nhãn quan người Trung Quốc
Người Trung Quốc đã cố mở rộng ảnh hưởng xuống Đông Nam Á và biển Đông từrất sớm, ngay sau khi Tần Thủy Hoàng gồm thâu sáu nước , thống nhất Hoa lục Tuy nhiên,cho đến nửa đầu thế kỉ XIX, nỗ lực này của họ đã bị người Việt Nam chặn đứng và chưabao giờ vượt ra khỏi bán đảo Đông Dương
Không thành công với hướng bành trướng dọc theo bờ biển Việt Nam, người TrungQuốc lẽ ra có thể chọn con đường thứ hai là biển Đông, nhưng họ lại chưa bao giờ đáp ứngnổi điều kiện không thể thiếu được là một hạm đội hùng mạnh
Tình trạng thất thế của Trung Quốc trước sự lấn lướt của phương Tây và Nhật Bảnkéo dài hơn một thế kỉ – từ những thập niên đầu thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX – khônglàm nguôi đi tham vọng giành lại Đông Nam Á và biển Đông nơi người Trung Quốc, dù làQuốc Dân đảng hay đảng Cộng sản
Sau khi kiểm soát được Hoa lục đúng vào thời khắc Chiến tranh lạnh sắp bước sanggiai đoạn đỉnh điểm, Mao Trạch Đông và những người lãnh đạo CHND Trung Hoa đã làmsống lại tham vọng khống chế biển Đông và tạo ảnh hưởng ưu thế ở Đông Nam Á Lầnnày, đối thủ của họ không phải là các tiểu quốc phong kiến như thời Trung Cổ, hay cácnước tư bản Tây Âu và Nhật Bản như thời cận đại, mà là Hoa Kì
Quan hệ đối đầu Trung – Mĩ không chỉ được cảm nhận ở vùng Đông Nam Á, màcòn trong toàn vùng châu Á-Thái Bình Dương Chỉ hơn nửa năm sau khi đảng Cộng sảnnắm quyền ở Hoa lục, CHND Trung Hoa và Hoa Kì đã đụng đầu trực tiếp trong cuộc chiếntranh khốc liệt trên bán đảo Triều Tiên Nếu người Mĩ rút ra được bài học là không nêntrực tiếp giao chiến với Giải phóng quân Trung Quốc trên phần lục địa châu Á, thì nhữngngười lãnh đạo Bắc Kinh cũng nhận thức được rằng chiến tranh trực diện với siêu cường tưbản không phải là giải pháp tốt nhất cho bài toán tái lập ảnh hưởng ưu thế trong vùng
Học tập kinh nghiệm của Stalin ở Đông Âu, những người lãnh đạo đảng Cộng sản vàNhà nước Trung Hoa đã toan tính xoay sang lời giải thứ hai nằm trong vai trò của các đảngmaoít bản xứ Tuy nhiên, như thực tế của nửa sau thập niên 1940 và những năm đầu thậpniên 1950 đã cho thấy, các đảng này chỉ có thể quấy rối, chứ không đủ sức lật đổ các chế
Trang 9độ đương quyền Tệ hơn nữa, diễn biến này chỉ càng làm cho những nước Đông Nam Ánào có đảng maoít hoạt động mạnh thêm gắn bó với Hoa Kì.
Nhưng một lần nữa, người ta lại thấy phát sinh một trường hợp khác hẳn: Việt Nam.Nhờ biết cách khai thác ngọn cờ giải phóng dân tộc, mà cuộc chiến tranh tái lập chế độthực dân của người Pháp đã cung cấp lời biện minh hùng hồn nhất, đảng Lao động ViệtNam đã vượt lên trên tình cảnh chung của các đảng cộng sản maoít khác ở Đông Nam Á.Những người lãnh đạo Trung Quốc đã không bỏ lỡ cơ hội mà tình trạng sa lầy của ngườiPháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã mang lại: Việt Nam một lần nữatrở thành cưả ngõ thuận lợi nhất cho hoạt động mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc ởĐông Nam Á và khắp vùng châu Á-Thái Bình Dương Một câu hỏi liền được đặt ra choBắc Kinh: người Mĩ sẽ phản ứng ra sao ? Liệu có khả năng sẽ bùng phát trên bán đảoĐông Dương một cuộc chiến giữa hai nước, tương tự như trên bán đảo Triều Tiên?
Lời giải được tìm thấy trong năm 1954: Việt Nam bị chia cắt thành hai miền, tươngtự như trường hợp Triều Tiên một năm trước đó Trong lúc người Mĩ thấy khó chấp nhậngiải pháp chia cắt hai miền Việt Nam và đã thể hiện quyết tâm ngăn chặn ảnh hưởng củacộng sản lan xuống phía Nam vĩ tuyến 17 bằng cách thành lập SEATO – một động tháikhông khác Hiệp ước An ninh Mĩ – Hàn ra đời một năm trước đó, thì người Trung Quốc lạixem đây là thắng lợi không nhỏ: thêm một lãnh thổ nữa trở thành vùng đệm che chắn biêngiới của họ Và sẽ càng hay hơn nữa, nếu vùng đệm này được mở rộng thêm Tất nhiên làvới điều kiện tiến trình vừa nêu phải diễn ra dưới tác động trực tiếp của họ Cho đến giữathập niên 1960, mọi việc trên bán đảo Đông Dương dường như diễn ra trong tầm kiểm soátcủa Bắc Kinh Tuy nhiên, khi người Mĩ bắt đầu đổ quân ào ạt vào miền Nam Việt Nam,người Trung Quốc bắt đầu đối mặt với một thực tế khắc nghiệt: viễn cảnh của một cuộcchiến Triều Tiên khác, trong lúc đang phải giải quyết biết bao vấn đề đối nội phát sinh từcuộc thử nghiệm “ba ngọn cờ hồng” đầy tai hại và từ cuộc đấu đá giành quyền lưc mangtên “Cách mạng văn hóa” đầy tai hoạ Càng đáng sợ hơn khi Liên minh Xô-Trung giờ đãhoàn toàn mất ý nghĩa, còn quan hệ Xô – Mĩ đã được cải thiện đáng kể Vậy là họ đã vội
vã đánh tiếng ngay lập tức theo một cách rất đặc thù của người Trung Quốc: người không đụng đến ta, ta sẽ không đụng đến người Nhưng đây lại là kiểu phản ứng mà những người
lãnh đạo VNDCCH không mong đợi ở người đồng minh phương Bắc, và họ càng không thểchấp nhận chuyện người Trung Quốc đem sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà củanhân dân Việt Nam ra mặc cả với người Mĩ Quan hệ giữa người Việt Nam và Trung Quốc
vì thế ngày càng trở nên xấu đi một cách mau chóng, nhất là trong nửa sau thập niên 1970,khi Trung Quốc sử dụng Campuchia Dân chủ như một công cụ gây sức ép lên Việt Nam,còn Việt Nam chọn con đường dựa hẳn vào Liên Xô – kẻ thù số một của Trung Quốc
Đang nỗ lực thay thế chỗ trống mà Hoa Kì đã để lại ở Đông Nam Á sau thất bại ởViệt Nam, Trung Quốc tất không dung thứ sự chọn lựa vừa nêu của Việt Nam Không
thành công với mưu toan “dạy cho Việt Nam một bài học”, Trung Quốc đã liên kết với Hoa
Kì tạo thành một liên minh không chính thức hỗ trợ đường lối đối đầu của các nướcASEAN quanh vấn đề Campuchia, chống lại các nước Đông Dương được Liên Xô hậu
88
Trang 10thuẫn
Hậu quả là trong hơn 10 năm, quan hệ quốc tế trong vùng Đông Nam Á hoàn toànchịu sự chi phối của vấn đề Campuchia, kèm với biết bao tác động tiêu cực phát sinh Tìnhhình chỉ được cải thiện dần theo mối quan hệ ngày càng tốt hơn giữa hai siêu cường Hoa Kìvà Liên Xô
CHƯƠNG I CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC HOA KÌ, ANH VÀ HÀ
VÀ THÁI LAN (1945 – 1957)
Ngay sau khi đế quốc Nhật bị đánh bại, đế quốc Anh đã không chỉ tìm cách áp đặttrở lại chế độ thực dân ở các nước cựu thuộc địa Miến Điện và Malaya, mà còn ra sức hỗtrợ hoạt động tương tự của các đế quốc Pháp và Hà Lan Tuy nhiên, sớm nhận ra tính chấtkhông thể đảo ngược của những đổi thay đã diễn ra ở Đông Nam Á trong thời gian chiếntranh, đế quốc Anh cố thu xếp trao trả độc lập cho các cựu thuộc địa với hi vọng cứu vãncàng nhiều càng tốt những quyền lợi còn lại của mình Hành động thức thời này đã giúpAnh giữ vững vị thế trong vùng chí ít cho đến cuối thập niên 1960
Trong lúc đó, do không biết chọn cách hành xử khôn ngoan như vậy, đế quốc HàLan ở Indonesia và đế quốc Pháp ở Đông Dương vừa sa vào cuộc chiến tranh xâm lược kéodài, với đủ mọi hậu quả tai hại về mọi mặt, vừa lần lượt đánh mất mọi ảnh hưởng trongvùng trong nửa đầu và nửa sau thập niên 1950
Không chỉ biết chọn cách ứng xử tương tự như người Anh trong quan hệ vớiPhilippines, Hoa Kì còn biết dựa vào ảnh hưởng chính trị lớn lao trên trường quốc tế và sứcmạnh kinh tế-tài chính áp đảo để tác động lên Hà Lan theo hướng thúc ép nước này traotrả độc lập cho Indonesia và giúp Thái Lan thoát khỏi các biện pháp trừng phạt của người
Trang 11Anh Những hoạt động ngoại giao vừa nêu là một trong các nguyên nhân đưa Hoa Kì vào
vị thế cường quốc có ảnh hưởng lớn nhất ở Đông Nam Á trong những năm tháng Chiếntranh lạnh
I.1 CHÍNH SÁCH CỦA HOA KÌ ĐỐI VỚI PHILIPPINES
Philippines trở thành thuộc địa của Hoa Kì từ năm 1898, sau khi Tây Ban Nha bị Mĩ đánhbại trong cuộc chiến tranh giữa hai nước Ngày 24.3.1934, Quốc hội Mĩ đã thông qua, theo đề nghịcủa tổng thống F Roosevelt, Đạo luật Tydings - McDuffie dự trù Hoa Kì sẽ trao trả độc lập cho
Cộng hòa Philippines sau một thời kì chuyển tiếp kéo dài 10 năm có tên gọi chính thức là “ Thời kì
Thịnh Vượng chung”, trong đó Philippines sẽ được hưởng quyền tự trị Ngày 10.12.1941, thời kì
chuyển tiếp đã đột ngột bị cắt ngang bởi cuộc chiến tranh xâm lược của Nhật
Dù chống trả rất kiên cường, liên quân Mĩ – Philippines phải lùi dần trước sức mạnh ápđảo của quân Nhật Ngày 2.1.1942, Manila được tuyên bố là thành phố bỏ ngỏ; đầu tháng 4.1942,khi chiếm đảo Bataan, quân Nhật coi như kiểm soát toàn bộ quần đảo, dù liên quân Mĩ –Philippines vẫn còn cố thủ trên đảo Corregidor cho đến đầu tháng 5 Chính phủ tự trị ManuelQuezon (người lãnh đạo đảng Quốc dân) đã kịp thời di tản sang Mĩ
Trong những năm bị chiếm đóng, một bộ phận các nhà hoạt động có tiếng của đảng Quốcdân đã hợp tác với Nhật Được sự đỡ đầu của người Nhật, ngày 15.10.1943, họ đã tuyên bố thànhlập chế độ Cộng hòa Philippines trong khuôn khổ “Khu vực Thịnh vượng chung”, với José Laurel– một chính khách thuộc đảng Quốc dân – làm tổng thống Trong lúc đó, đảng Cộng sản đã phátđộng cuộc kháng chiến và xây dựng một lực lượng vũ trang có tên gọi Quân đội nhân dân khángNhật (Hukbalahap, được gọi tắt là Huk) hoạt động mạnh trên đảo Luzon Tuy nhiên, do phạm vihoạt động của Huk không vượt ra ngoài phạm vi trung bộ Luzon, nỗ lực giải phóng Philippineskhỏi ách chiếm đóng của Nhật phải trông cậy chủ yếu vào quân đội Mĩ
Về phần mình, chính phủ Mĩ đã sớm xác định rõ chính sách thời hậu chiến đối vớiPhilippines Ngày 13.8.1943, tổng thống Roosevelt đã nhắc lại cam kết đã đưa ra trong Đạo luật
Tydings – McDuffie: “Tôi xin hứa với nhân dân Philippines rằng Cộng hòa Philippines sẽ được
thành lập vào lúc sức mạnh của kẻ thù Nhật bị đập tan” [4, tr.314] Lời cam kết của người đứng
đầu chính phủ Mĩ được thể hiện thành luật được Quốc hội thông qua ngày 29.6.1944
Ngày 20.10.1944, quân đội Mĩ đổ bộ lên bờ đông đảo Leyte Ba ngày sau, tướngMacArthur, tư lệnh Mặt trận Tây Nam Thái Bình Dương, tuyên bố phục hồi Cộng hòa tự trịPhilippines dưới quyền lãnh đạo của Sergio Osmeđa (thay cho Manuel Quezon qua đờitháng 6.1944) và xóa bỏ chính thể Cộng hòa Philippines của J Laurel
Tháng 2.1945, sau khi giải phóng Manila, MacArthur trao quyền quản lí dân sự đấtnước Philippines cho chính phủ Osmeđa Ngày 4.7.1945, toàn bộ quần đảo được giải phóngkhỏi lực lượng chiếm đóng Nhật Lúc này, ở nhiều nơi trong nước đang diễn ra, dưới tácđộng của đảng Cộng sản Philippines, làn sóng đấu tranh đòi độc lập của các lực lượng cánhtả được tập hợp trong Liên minh Dân chủ ra đời trong tháng 7.1945 Liên minh đề ra chủtrương nền độc lập hoàn toàn, cải cách ruộng đất và công nghiệp hóa, đồng thời kêu gọithành lập chính phủ liên hiệp cũng như trừng trị những kẻ cộng tác với chính quyền chiếm
90
Trang 12đóng Nhật
Ảnh hưởng lớn lao của đảng Cộng sản trong Liên minh dân chủ đã khiến người Mĩ
lo lắng Càng đáng lo hơn khi Osmeđa đã, trong quá trình chuẩn bị vận động tranhû chứctổng thống, quyết định tham gia Liên minh dân chủ vào tháng 1.1946 Hành động này đãgây chia rẽ trong nội bộ đảng Quốc dân Manuel Roxas và những người ủng hộ đã li khaivà tuyên bố thành lập chính đảng mới: đảng Tự do MacArthur ngay lập tức lên tiếng ủnghộ Roxas và thực hiện một số động thái tác động trực tiếp lên cuộc bầu cử diễn ra ngày23.4.1946 Roxas đã thắng cử với 54% số phiếu bầu (tương đương 1,330 triệu phiếu), so với1,130 triệu phiếu của Osmeđa
Trong bối cảnh trên, người Mĩ xét thấy không nên kéo dài thêm thời hạn trao trảđộc lập
Trước khi hoàn tất việc trao trả độc lập, Mĩ tìm cách đảm bảo vị trí ưu thế của tư bản
Mĩ trong nền kinh tế Philippines Ngày 30.4.1946, Quốc hội Mĩ đã thông qua Đạo luậtThương mại Philippines, hay còn gọi là Đạo luật Bell, theo đó sau khi được độc lập,Philippines phải kí với Mĩ một hiệp ước thương mại cho phép hoàn toàn miễn thuế số hànghóa trao đổi giữa hai nước cho đến năm 1954, sau đó thuế đánh vào hàng hóa trao đổi giữahai nước sẽ tăng dần mỗi năm, bắt đầu từ 5% năm 1955 và lên đến 100% năm 1974 Phía
Mĩ lập luận rằng việc tăng dần mức thuế như vậy sẽ giúp các nhà kinh doanh Philippinescó đủ thời gian tìm được những thị trường khác ngoài Hoa Kì, vì những hàng hóa chính màPhilippines xuất sang Hoa Kì như đường, đay, thuốc lá, dầu dừa sẽ bị giới hạn dần cho đếnnăm 1974 thì không được nhập nữa Tất nhiên, phía Mĩ cũng được lợi vì với mức thuế ưuđãi vừa kể, hàng hóa Mĩ nhập vào Philippines sẽ được bán với giá không bị cạnh tranh
Một hạn chế khác đối với chủ quyền kinh tế của Philippines là vấn đề tiền tệ Đạoluật Bell quy định hối suất cưỡng bách giữa đồng peso và đồng dollar là theo tỷ lệ 2/1 Tỷlệ có tính chất bó buộc này là rất bất lợi cho nền kinh tế Philippines vì nó sẽ khiến cho giáhàng hóa của nước này trên thị trường thế giới trở nên quá đắt và do đó sẽ không có sứccạnh tranh Hơn thế nữa, nó còn khuyến khích đồng vốn từ Philippines chảy mạnh ra ngoài.Mục đích thực sự của việc quy định tỉ lệ hối suất quá cao này là tạo điều kiện cho việcchuyển về nước những số vốn mà tư bản Mĩ đã đầu tư vào Philippines trước đây
Đạo luật Bell còn trù tính đưa vào Hiến pháp Philippines điều khoản tu chính đặcbiệt, theo đó người Mĩ được quyền khai thác tài nguyên và làm chủ đất đai ở Philippines,ngang bằng với người bản xứ Nội dung này đã khiến không ít người Philippines tức giận vìhọ không hề được hưởng quyền này ở ngay tại Hoa Kì Đáp trả phản ứng này, chính giớiWashington tuyên bố thẳng thừng rằng việc đảm bảo ưu quyền của Mĩ trong quan hệthương mại giữa hai nước sẽ là điều kiện để vốn đầu tư của Mĩ chảy vào Philippines nhằmphục hồi nền kinh tế nước này khỏi những tàn phá do chiến tranh gây ra
Dù có không ít nội dung tỏ ra bất lợi cho Philippines, Đạo luật Bell đã được các đạibiểu của đảng Tự do trong Quốc hội gây sức ép thông qua, vì họ đại diện cho quyền lợi của
Trang 13giới chủ nhân các đồn điền trồng mía, vốn mưu tính sẽ vận động Mĩ dành cho Philippinesmột thị trường tiêu thụ đường miễn thuế ở Mĩ.
Ngày 4.7.1946, tổng thống Philippines Manuel Roxas đã tiếp nhận nền độc lập đượcchuyển giao từ tay tướng Douglas MacArthur, đại diện chính phủ Hoa Kì, trong một buổi lễđược tổ chức trọng thể tại thủ đô Manila(25)
Tất nhiên đây không phải là sự chuyển giao vô điều kiện Ngày 14.3.1947, hai nước
kí một thỏa ước quân sự cho phép Mĩ sử dụng 23 căn cứ quân sự đặt trên lãnh thổPhilippines trong thời hạn 99 năm và đảm bảo quyền đặc miễn tài phán cho nhân viênquân sự Mĩ Một tuần lễ sau, hai nước kí thỏa ước về viện trợ quân sự, theo đó Mĩ sẽ pháichuyên gia quân sự sang giúp Philippines xây dựng quân đội và cam kết bảo vệ Philippinestrong trường hợp nước này bị xâm lược từ bên ngoài
Nếu phần nhân nhượng về kinh tế đã gây ra những bất đồng trong giới thượng lưuPhilippines, thì các thỏa ước quân sự lại tạo ra sự nhất trí cao, vì họ lo sợ rằng việc rút cáclực lượng Mĩ khỏi đây sẽ khiến Philippines không đủ sức chống lại một cuộc tiến công từbên ngoài, hoặc một cuộc dấy loạn ở bên trong Họ cũng tính toán rằng sự hiện diện củamột lực lượng quân sự Mĩ đông đảo ở nước họ sẽ giúp tiết kiệm một khoản ngân sách đángkể, mà lí ra phải dành cho quốc phòng Hơn thế nữa, sự hiện diện này sẽ tạo thêm công ănviệc làm cho người bản xứ
Sau khi chiến tranh Triều Tiên khởi phát (6.1950), Mĩ đã tăng cường quan hệ vớiPhilippines Tháng 8.1951, tổng thống Philippines Quirino trong lúc viếng thăm Hoa Kì đã
kí Hiệp ước phòng thủ chung Có hiệu lực từ ngày 27.8.1952, Hiệp ước này đã cho ra đờiliên minh Hoa Kì - Philippines và biến Philippines thành một khâu trong chuỗi căn cứ của
Mĩ ở Tây Thái Bình Dương kéo dài từ Nam Triều Tiên đến tận New Zealand
I.2 CHÍNH SÁCH CỦA ANH ĐỐI VỚI MIẾN ĐIỆN
Miến Điện bị thực dân Anh xâm chiếm sau ba cuộc chiến tranh: 1824 – 1825, 1852 – 1854và tháng 11.1885 Ngày 1.1.1886, Anh sáp nhập Miến Điện vào Ấn Độ Ngày 1.4.1937, phù hợpvới Đạo luật được ban hành năm 1935, Miến Điện được tách ra khỏi Ấn Độ để trở thành thuộc địariêng của Anh, trực thuộc chính phủ London Cho đến lúc Chiến tranh Thái Bình Dương khởi phát,Miến Điện vẫn không được hưởng quy chế dominion, bất chấp cuộc đấu tranh sôi nổi của ngườidân bản xứ và Hiến chương Đại Tây Dương đã được thủ tướng Anh Churchill kí ngày 14.8.1941
Địa vị thuộc địa của Miến Điện không hề được cải thiện dưới ách chiếm đóng của Nhật, dùNhật có tuyên bố trao trả độc lập cho Miến Điện và cho thành lập một chính phủ bản xứ vào tháng8.1943 Có khác chăng là phong trào giải phóng dân tộc diễn ra sôi động hơn và được tổ chức chặt
25 () Bốn ngày sau , chủ tịch nước VNDCCH Hồ Chí Minh đã gửi điện chúc mừng đến chính phủ và nhân dân
Philippines Bức điện viết: "Nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam vui mừng chào đón ngày 4.7.1946 là một
ngày kỉ niệm trong lịch sử giải phóng các dân tộc Đông Nam châu Á, dân tộc Philippines đã khôi phục quyền tự do bằng một con đường hòa bình nó làm vinh dự đặc biệt cho Hợp chủng quốc Mĩ" [Hồ Chí Minh Toàn tập, T.4, tr.269]
92
Trang 14cheõ hôn: thaùng 8.1944, Lieđn ñoaøn nhađn dađn töï do choâng phaùt xít (Anti-Fascist People’s FreedomLeague – AFPFL) ñöôïc thaønh laôp, quy tú caùc löïc löôïng khaùng Nhaôt mánh nhaât trong nöôùc Ngaøy1.5.1945, moôt soâ ñôn vò AFPFL ñaõ kieơm soaùt Rangoon, hai ngaøy tröôùc khi quađn Anh coù maịt Nhövaôy, Mieân Ñieôn được xem như ñaõ thoaùt khoûi aùch chieâm ñoùng cụa Nhaôt tröôùc khi Chieân tranh ThaùiBình Döông keât thuùc
Chính saùch cụa Anh ñoâi vôùi Mieân Ñieôn ñöôïc ñònh roõ trong “Saùch Traĩng” ñöôïc cođng
boâ ngaøy 17.5.1945: Mieân Ñieôn seõ ñöôïc höôûng quyeăn töï trò hoaøn toaøn trong khoâi ThònhVöôïng Chung Tuy nhieđn, Mieân Ñieôn caăn trại qua moôt thôøi kì thuoôc quyeăn cai trò tröïc tieâpcụa Anh cho ñeân ngaøy 9.12.1948 Nhieôm vú cụa chính phụ tröïc trò seõ laø thöïc hieôn caùc bieônphaùp khođi phúc ñaât nöôùc theo ñuùng höôùng vaø sau ñoù seõ toơ chöùc moôt cuoôc toơng tuyeơn cöû.Trong luùc chôø ñôïi ngöôøi Mieân Ñieôn soán moôt bạn hieân phaùp rieđng tređn cô sôû cụa chính phụtöï trò, Hieân phaùp naím 1937 seõ ñöôïc phúc hoăi Ñoăng thôøi, hai beđn, töùc ñái dieôn chính phụAnh vaø ñái dieôn chính phụ töï trò Mieân Ñieôn seõ tieân haønh thöông thuyeât veă moôt hieôp öôùclieđn quan ñeân nhöõng vaân ñeă vaên seõ thuoôc traùch nhieôm cụa London sau khi chính phụ töï trò
ra ñôøi
Nhöng ngay töø ñaău, Aung San, ngöôøi caăm ñaău toơ chöùc AFPFL bao goăm cạ nhöõngngöôøi coông sạn, ñaõ noùi raât roõ raỉng nhađn dađn Mieân Ñieôn muoân coù moôt neăn ñoôc laôp hoaøntoaøn OĐng e ngái nhöõng ñaịc quyeăn veă kinh teâ vaø cạ quađn söï maø ngöôøi Anh muoân giöõ lái seõlaøm cho chính phụ töï trò chư coøn laø buø nhìn
Do AFPFL laø moôt toơ chöùc chính trò mánh vaø coù moôt löïc löôïng quađn söï ñaùng keơ neđnngöôøi Anh khođng theơ laøm ngô tröôùc laôp tröôøng cụa noù Chính phụ Cođng ñạng Anh quyeâtñònh tieân haønh ñaøm phaùn vôùi Aung San töø thaùng 2.1946, nhöng cuoôc ñaøm phaùn khođng manglái ngay nhöõng keât quạ mong muoẫn Soât ruoôt tröôùc dieên tieân naøy, moôt boô phaôn nhöõng ngöôøicoông sạn ñaõ ly khai khoûi AFPFL vaø tieân haønh cuoôc ñaâu tranh vuõ trang cođng khai choâng láingöôøi Anh Trong khi ñoù, cuoôc ñaøm phaùn giöõa hai beđn vaên tieâp túc vaø thaùng 9.1946 ñaõmang lái moôt thoûa öôùc tám thôøi Theo ñoù, moôt hoôi ñoăng haønh phaùp goăm 11 thaønh vieđn seõñöôïc thaønh laôp: 6 seõ laø ngöôøi cụa AFPFL, soâ coøn lái laø ñái dieôn cụa nhöõng nhoùm chính tròkhaùc Hoôi ñoăng seõ do Aung San laõnh ñáo Tuy nhieđn, boô phaôn coøn lái cụa ñạng Coông sạntrong AFPFL khođng ñoăng tình vôùi thoûa hieôp vöøa keơ Hó bò khai tröø khoûi AFPFL
Söï vieôc toaøn boô ñạng Coông sạn bò gát khoûi AFPFL ñaõ ñaùp öùng ñuùng yù ñoă cụa ngöôøiAnh laø chư muoân ñaøm phaùn vôùi nhöõng ngöôøi theo chụ nghóa dađn toôc Aung San vaø Anh ñaõnoâi lái cuoôc ñaøm phaùn ôû London vaø ngaøy 27.1.1947, hai beđn ñaõ kí hieôp öôùc dón ñöôøng chovieôc thaønh laôp chính phụ töï trò Mieân Ñieôn Quoâc hoôi laôp hieân seõ ñöôïc baău ra ñeơ soán thạohieân phaùp Trong luùc chôø ñôïi hieân phaùp môùi, Hoôi ñoăng haønh phaùp seõ tieâp túc hoát ñoông nhölaø moôt chính phụ lađm thôøi vaø moôt vieđn cao ụy Anh seõ ñái dieôn Mieân Ñieôn ôû London Anhseõ vaôn ñoông ñeơ Mieân Ñieôn ñöôïc thu náp vaøo LHQ vaø ñöôïc caùc quoâc gia khaùc cođng nhaôn
Cuoôc baău cöû Quoâc hoôi laôp hieân dieên ra ngaøy 9.4.1947 ñaõ mang lái thaĩng lôïi lôùn choAFPFL: 194 trong toơng soâ 210 gheâ Töø thaùng 8, chính phụ Anh ñaõ khôûi söï ñaøm phaùn vôùi ñái
Trang 15diện Hội đồng hành pháp Miến Điện về việc chuyển giao quyền hành, bất chấp sự việc làngày 16.6, Quốc hội lập hiến Miến Điện tuyên bố nước Cộng hòa Miến Điện sẽ khôngtham gia khối Thịnh Vượng Chung Ngày 17.10.1947, Thakin Nu, người kế vị Aung San( bịám sát chết ngày 19.7.1947), và thủ tướng Anh Clement Attlee đã kí Hiệp ước London
công nhận Miến Điện là “nước độc lập hoàn toàn và có chủ quyền” ở ngoài khối Thịnh
Vượng Chung
Ngày 4.1.1948, lễ trao trả độc lập đã được cử hành trọng thể ở thủ đô Rangoon Vàcũng giống như trường hợp của Philippines, Miến Điện hai ngày sau đó đã kí với Anh mộthiệp định quân sự: một số chuyên gia quân sự người Anh sẽ làm công tác huấn luyện trongquân đội Miến, hạm đội Anh được phép sử dụng các cảng của Miến, quân đội Anh đượctạo mọi dễ dàng khi cần giúp đỡ Miến Điện và những nước khác trong khối Thịnh VượngChung, các quyền lợi kinh tế của công dân Anh trên lãnh thổ Miến Điện sẽ được tôn trọngvà sẽ được bồi thường nếu bị trưng thu
I.3 CHÍNH SÁCH CỦA ANH ĐỐI VỚI MALAYA
Do nằm ngay trên đường biển ngắn nhất nối liền Ấn Độ Dương với Biển Đông và TháiBình Dương, Malaya là lãnh thổ đầu tiên ở Đông Nam Á bị thực dân phương Tây xâm chiếm Lúcđầu, chỉ mỗi Malacca – một tiểu quốc Hồi giáo – nằm án ngữ eo biển chiến lược cùng tên rơi vàotay người Bồ Đào Nha năm 1511, và người Hà Lan năm 1641 Từ năm 1786, thực dân Anh bắt đầutiến trình chiếm đoạt toàn bộ bán đảo Tiến trình này được hoàn tất năm 1910 Dưới sự cai trị củathực dân Anh, bán đảo Malaya đã trải qua hai sự thay đổi đáng chú ý:
- Về kinh tế, Malaya trở thành nơi thực dân chú ý đầu tư khai thác các nguồn nguyên liệunông nghiệp và khoáng sản, đáng chú ý nhất là cao su và thiếc Sự phát triển của nền kinh tế đồnđiền và hầm mỏ với phương thức khai thác tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy quan hệ sản xuất tư bảnchủ nghĩa ở Malaya phát triển mạnh hơn so với các thuộc địa Đông Nam Á khác Do bị khai thácmột cách phiến diện và cũng do dân số tăng một cách đột biến, Malaya phải luôn đối phó với vấnđề lương thực Năm 1940, nước này phải nhập đến 2/3 số lương thực cần dùng
- Để có đủ số lao động dùng trong các đồn điền và hầm mỏ, trong lúc người dân Malayatiếp tục bị cột chặt vào ruộng đất do chính quyền thực dân chủ trương duy trì quan hệ phong kiến ởnông thôn nhằm thu phục giai cấp phong kiến, người Hoa và người Ấn đã được khuyến khích di cưsang Malaya Kiều dân hai nước này đã dần dần chiếm ưu thế trong tỉ lệ dân số ở StraitsSettlements và Tây bộ Malaya Đến năm 1941, người gốc Hoa chiếm 43% dân số Malaya Họchiếm tỉ lệ rất cao trong giới công nhân hầm mỏ Còn người gốc Ấn chiếm trên 10% dân số, đa sốhọ là công nhân đồn điền
Như vậy đến giữa thế kỉ XX ở Malaya đã ra đời ba cộng đồng dân tộc lớn: Hoa, Ấn vàMãlai Cả ba đều rất khác nhau trong nhiều lĩnh vực: nghề nghiệp, địa bàn sinh sống, ngôn ngữ,văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo Người Anh không làm gì cả để xóa bỏ sự cách biệt này
Do vậy, ba cộng đồng vừa kể phát triển một cách biệt lập và xa lạ với nhau Đặc điểm này đã tácđộng một cách tiêu cực đến sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc
Giữ vai trò năng động nhất trong phong trào giải phóng dân tộc ở Malaya trong thời gian
94
Trang 16giữa hai cuộc chiến tranh thế giới là cộng đồng người Hoa dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sảnMalaya được thành lập năm 1930 Tuy đã nỗ lực rất nhiều trong sự nghiệp xây dựng một phongtrào đấu tranh chống đế quốc mạnh mẽ trong nước, ảnh hưởng của đảng Cộng sản cho đến lúc đấtnước bị Nhật xâm lăng (1942) vẫn không lan ra khỏi cộng đồng người Hoa Đảng Cộng sảnMalaya trên thực tế vẫn là chính đảng của cộng đồng người Hoa Theo tư liệu của chính phủ thuộcđịa, tỉ lệ hội viên người Hoa so với hội viên các cộng đồng khác trong các tổ chức của đảng trongnhững năm 1930 là 15/1 Còn trong đảng tỉ lệ này lên đến 50/1
Kéo dài trong suốt ba năm rưỡi (từ tháng 2.1942 đến tháng 9.1945), ách thống trị của phátxít Nhật đã đè nặng lên cuộc sống của người bản xứ Một trong những vấn đề mà họ phải đối phólà tình trạng thiếu lương thực do việc nhập khẩu bị đình trệ Còn nông dân Malaya không muốn giatăng sản xuất để rồi phải đánh đổi lấy những đồng bạc mất giá
Bị thúc bách bởi cái đói, dân thành thị và công nhân đồn điền, hầm mỏ đã đi vào rừng, nơicòn nhiều đất đai bị bỏ hoang Họ đã trồng rau cải, khoai lang, khoai mì, chăn nuôi heo và gia
cầm Đến cuối chiến tranh, số người này – mà người ta quen gọi là dân squatter(26) – lên đếnkhoảng nửa triệu Phần đông họ là người Hoa
Cộng đồng người Hoa còn là đối tượng chính mà chính sách chiếm đóng khắc nghiệt của phátxít Nhật nhằm vào, vì họ tham gia tích cực vao cuộc đấu tranh chống âm mưu bành trướng củaNhật ngay từ giữa những năm 1930.Bị trấn áp thẳng tay, người Hoa đã nồng nhiệt ủng hộ phongtrào kháng chiến do đảng Cộng sản Malaya phát động Có thể nói rằng người Hoa hầu như chiphối toàn bộ phong trào kháng chiến, không những về thành phần lãnh đạo mà cả nhân số Một
tác giả người Anh tên F Spencer Chapman có ghi lại trong hồi ký “The Jungle is Neutral” (1953)
rằng hoạt động du kích ở Malaya là độc quyền của người Hoa Về khách quan, tình hình này đãtạo ra những hậu quả không có lợi cho cuộc kháng chiến sau này chống âm mưu áp đặt trở lại áchthống trị của đế quốc Anh
Tháng 4.1942, đảng Cộng sản đã thành lập Quân đội nhân dân Malaya kháng Nhật(Malaya People’s Anti-Japanese Army – MPAJA) nhằm thống nhất các đội chiến đấu lẻ tẻ màquân số vào khoảng một vạn người, trong đó đại bộ phận là người Hoa, ngoài ra còn có một sốcông nhân đồn điền người Ấn Độ và nông dân Malaya MPAJA đã tiến hành các hoạt động dukích Họ được dân squatter nồng nhiệt ủng hộ Đây là nguồn bổ sung về quân số và tiếp tế lươngthực cho các đơn vị quân du kích Bên cạnh MPAJA, đảng Cộng sản còn thành lập một tổ chứcquần chúng mang tên Liên hiệp Nhân dân Malaya kháng Nhật (Malaya People’s Anti-JapaneseUnion – MPAJU) quy tụ khoảng 10 vạn người thuộc các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau,nhưng vẫn chủ yếu là người gốc Hoa
Đầu tháng 9.1945, quân Anh bắt đầu đổ bộ lên báo đảo Mã Lai và dựng lên một chếđộ quân quản, mà sẽ tồn tại đến ngày 31.3.1946 nhằm lập lại trật tự thuộc địa cũ Các ủyban nhân dân và lực lượng vũ trang kháng Nhật hoàn toàn bị cấm hoạt động
Cho đến khi “tình trạng khẩn cấp” được ban hành (1948), thuộc địa Mã Lai có một ý nghĩakinh tế đặc biệt lớn lao đối với Anh vì giá trị những hàng hóa xuất khẩu từ Mã Lai sang Mĩ còn lớnhơn giá trị giá trị hàng xuất khẩu từ chính Anh sang Mĩ: năm 1947 các con số tương ứng là 284
26 () Thuật ngữ dùng để chỉ dân chiếm ngụ đất đai một cách bất hợp pháp ở Bắc Mĩ
Trang 17triệu và 240 triệu USD(27) Bán đảo Malaya, cùng với Singapore, là cơ sở cho quyền lực của Anh ởĐông Nam Á Việc phục hồi các mỏ và đồn điền ở Malaya không đòi hỏi quá nhiều công sức vàthời gian
Tháng 10.1945, chính quyền thuộc địa tuyên bố kế hoạch cải tổ lại hệ thống cai trịthuộc địa Bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1.4.1946, mục tiêu hàng đầu của kế hoạch cải tổ làtránh những quy chế cai trị khác nhau từng tồn tại trước chiến tranh: 9 sultanat, mà trướckia nằm trong các Tiểu quốc liên bang (Federated States) và các Tiểu quốc không liênbang (Unfederated States), cùng với Penang và Malacca - hai bang của Straits Settlements
- sẽ được lập thành Liên hiệp Malaya (Malayan Union) Riêng Singapore, do những khácbiệt về kinh tế, cấu trúc chủng tộc và tầm quan trọng chiến lược, được Anh tách ra thànhmột thuộc địa riêng biệt Với kế hoạch này, toàn bộ lãnh thổ Mã Lai sẽ nằm dưới quyềncai trị trực tiếp của chính quyền thuộc địa và như vậy một chút quyền lực còn sót lại trướckia của các sultan sẽ không còn nữa Kế hoạch cải tổ này vừa tạo dễ dàng cho việc cai trịthuộc địa, vừa tách được Singapore, mà lâu nay là trung tâm của phong trào cách mạngtrên bán đảo, và giai cấp vô sản của thành phố-cảng này, vốn luôn chiếm vị trí tiên phongtrong các lực lượng cách mạng Mã Lai, khỏi bán đảo Malaya và quần chúng lao động MãLai
Cải tổ lớn thứ hai là một quy chế khá rộng rãi cho việc xin nhập quốc tịch Mã Lai.Theo đó, đều có thể xin nhập tịch bất cứ ai sinh đẻ tại Malaya hoặc đã sinh sống tại đây ítnhất 10 trong quãng thời gian 15 năm trước năm 1942 Những người mới đến sau này có thểxin nhập tịch sau 5 năm cư trú Cùng với việc thành lập Liên hiệp Malaya, quy chế vừanêu đã khiến nhiều người Malaya thuộc tầng lớp trung và thượng lưu vừa bất mãn vừa lolắng, vì cấu trúc dân tộc của Liên hiệp Malaya năm 1947 cho thấy chỉ có 49,5% dân số làngười Mã Lai, so với 38,4% là người Hoa, nhưng họ tập trung với tỉ lệ cao ở thành thị(64,4%), trong lúc tỉ lệ người Malaya ở thành thị là 21,1% Trước chiến tranh, người Hoa đãtạo được địa vị ưu thế trong nền kinh tế Malaya, dù họ chưa có mặt trong bộ máy côngquyền thuộc địa Nay, nếu người Hoa được nhập tịch dễ dàng, thì chút trở ngại ngăn cản họïmở rộng ưu thế từ địa hạt kinh tế sang địa hạt chính trị sẽ không còn nữa
Tuy nhiên, cả hai dự án cải tổ trên đều mau chóng trở nên lỗi thời do những thayđổi lớn lao ở Malaya thời hậu chiến
Sự thay đổi đầu tiên là sự ra đời của Tổ chức Dân tộc Mã lai thống nhất (UnitedMalaya National Organisation – UMNO) do Ja’afer, tể tướng sultanat Johore, lãnh đạo.Đây là phản ứng của giới quý tộc Malaya chống lại chính sách thời hậu chiến của chínhquyền thực dân Anh đối với Malaya Khai thác tâm lí dân tộc của người Malaya và dựa vàoảnh hưởng lớn lao mà giới quý tộc còn duy trì được trong nông dân, UMNO đã mạnh mẽđòi Anh thừa nhận những quyền ưu đãi của cộng đồng người Malaya Nhờ đó chỉ trong mộtthời gian ngắn, UMNO đã mau chóng trở thành một đảng quần chúng, mang màu sắc dântộc – cộng đồng, được sự ủng hộ của đông đảo người Mã Lai thuộc mọi tầng lớp và giai
27 () Daily Worker, September 16.1948.
96
Trang 18cấp UMNO đã quyết liệt phản đối quy chế nhập tịch rộng rãi mà thực dân Anh dành chocộng đồng người Hoa
Sự thay đổi lớn thứ hai là đảng Cộng sản Malaya với uy tín lớn lao trong thời chiếnđã trở thành đảng mạnh trong thời hậu chiến Đảng đã kiểm soát được hai tổ chức côngđoàn lớn là Tổng Liên hiệp công nhân và Liên hiệp công đoàn toàn Malaya với tổng sốđoàn viên lên đến trên 46 vạn người Hai công đoàn này trong nửa đầu năm 1946 đã tổchức nhiều cuộc bãi công khắp bán đảo, kèm với những yêu sách chính trị (ngoài nhữngyêu sách kinh tế) như: chính quyền thực dân chấm dứt chính sách đàn áp, đảm bảo cácquyền dân chủ
Trước những thay đổi lớn trên, Anh quyết định sửa đổi đường lối cai trị thuộc địa.Tháng 7.1947, Hiến pháp thành lập Liên bang Malaya (Federation of Malaya) thay choLiên hiệp Malaya được ban hành và sẽ có hiệu lực từ ngày 1.2.1948 Theo đó, các sultanđược thừa nhận là người cầm đầu các sultanat của mình; Anh vẫn tiếp tục bảo hộ cácsultanat này Đáng chú ý là Anh đã tìm cách nâng đỡ cộng đồng người Malaya qua quy chếnhập tịch khá phức tạp
Đại khái có hai quy chế: một đương nhiên được nhập tịch, một phải làm đơn xin.Những người đương nhiên mang quốc tịch Liên bang là công dân của các sultanat thànhviên Liên bang, là các công dân sinh ra tại Straits Settlements và thường xuyên cư ngụtrong lãnh thổ Liên bang và những công dân Anh sinh ra tại bất cứ nơi nào trên lãnh thổLiên bang và thường xuyên cư ngụ tại đó Những người được sinh ra trên lãnh thổ Liênbang, nói được tiếng Malaya và theo phong tục, tập quán Malaya, những người thườngxuyên cư ngụ trên đất Liên bang có cha mẹ cũng sinh ở đây và bất cứ ai lúc sinh ra có chalà công dân Liên bang thì cũng được công nhận mang quốc tịch Liên bang Có thể được xétnhập tịch những người sinh trên đất Liên bang và đã cư ngụ ở đây không dưới 8 năm trongquãng thời gian 20 năm trước khi xin nhập tịch, còn những ai không sinh ra trên lãnh thổLiên bang thì phải cư ngụ không dưới 15 năm trong quãng thời gian 20 năm trước khi xinnhập tịch Trong cả hai trường hợp, tuổi không được dưới 18 và phải nói được tiếng Malayahay tiếng Anh
Sự thay đổi lớn lao kể trên cho thấy rõ trong chính sách đối với Malaya thời hậuchiến, người Anh đã quyết định dành ưu đãi cho cộng đồng người Mã Lai Có thể giải thíchsự chuyển hướng quan trọng này bằng nhiều lí do
Sau chiến tranh, tại các thuộc địa quan trọng của Anh ở vùng Đông Nam Á, Nam Á vàTrung Đông đều bùng lên những phong trào đấu tranh đòi độc lập Bằng vào kinh nghiệm thống trịthuộc địa lâu năm của mình, Anh biết rằng khó có thể dập tắt những cuộc đấu tranh chỉ bằngnhững biện pháp thuần túy quân sự Vả chăng, trong quãng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh,Anh cũng tỏ cho thấy tính linh hoạt và sự nhạy bén trong chính sách cai trị thuộc địa bằng việcthiết lập quy chế tự trị (dominion hay self-government) Và trong mỗi thuộc địa, Anh đều cố xácđịnh một chính sách cai trị cụ thể, phù hợp với tình hình ở nơi đó Trong chuyện này, bán đảoMalaya không phải là một ngoại lệ Đặc điểm lớn nhất trong tình hình chính trị ở Malaya trước và
Trang 19sau chiến tranh là sự tồn tại của ba cộng đồng dân tộc phát triển biệt lập với nhau về mọi mặt: vănhóa, ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục, kinh tế, địa bàn sinh sống Đó là các cộng đồng người Hoa,người Mã Lai và người Ấn Vị thế chính trị của mỗi cộng đồng cũng rất khác Chế độ cai trị củaAnh ở Malaya có một chỗ dựa khá vững chắc là giới quý tộc địa chủ người Mã Lai, mà đại diệntiêu biểu là các sultan Họ có một ảnh hưởng lớn lao trong cộng đồng người Mã Lai, vốn đa phầnlà những nông dân ít học Trong khi đó, cộng đồng người Hoa, mà đa phần là công nhân lại chịusự chi phối của đảng Cộng sản Malaya và các tổ chức công đoàn của đảng này Trong và sau chiếntranh, đảng Cộng sản đã tạo được một ảnh hưởng lớn lao trong nước nhờ cuộc kháng chiến chốngNhật mà đảng đã lãnh đạo Tuy nhiên, ảnh hưởng của đảng chỉ giới hạn trong cộng đồng ngườiHoa
Cho rằng kế hoạch thành lập Liên bang Mã Lai và quy chế nhập tịch Mã Lai là có ýphân biệt, đảng Cộng sản Malaya và một số tổ chức chính trị và đoàn thể trong cộng đồngngười Hoa và người Ấn đã mạnh mẽ lên tiếng phản đối, nhưng tổ chức UMNO có ảnhhưởng lớn lao trong cộng đồng người Mã Lai lại bày tỏ sự ủng hộ Phản ứng trước tình hìnhnày, tháng 3.1948, đảng Cộng sản Malaya đã khởi nghĩa vũ trang Và như thường thấy ởcác thuộc địa khác, người Anh sẵn sàng đàm phán với các tổ chức theo chủ nghĩa dân tộc,trong lúc thẳng tay đối phó với các tổ chức theo cộng sản Từ giữa tháng 6.1948, chínhquyền thực dân Anh tiến hành những biện pháp trấn áp khắc nghiệt nhằm vào đảng Cộngsản và các tổ chức của đảng Ngày 12.7, tình trạng khẩn cấp đã được ban hành trong cảnước Ngày 23, đảng Cộng sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật Từ đó, giữa chính quyềnthực dân Anh và đảng Cộng sản đã diễn ra cuộc xung đột vũ trang kéo dài nhiều năm trời
Do vị trí chiến lược của mình và cũng do tầm quan trọng của Malaya về kinh tế (lãnh thổmang lại nhiều USD nhất trong khu vực sterling), London cố gắng không để quyền kiểm soát bánđảo này vuột khỏi tay mình Lúc đầu, do không tìm được kế sách đối phó thích hợp, người Anh đãrất chật vật khi đương đầu với chỉ khoảng 4000 du kích Tuy nhiên, từ năm 1952, chính quyền thựcdân Anh đã dần lấy lại thế chủ động sau khi một loạt biện pháp xã hội và chính trị được mang rathực hiện một cách có hiệu quả: tái định cư vào các ấp chiến lược khoảng 50 vạn dân squatter gốcHoa (nguồn cung ứng nhân lực và vật lực của quân du kích), tăng số người không phải gốc Mã Laiđược nhập tịch Malaya, cải thiện điều kiện sinh họat kinh tế của cộng đồng Mã Lai Đặc biệt quantrọng là chính sách định hướng Malaya đến một nền độc lập đầy đủ trong khuôn khổ Thịnh VượngChung và được thiết lập trên cơ sở cộng tác giữa ba cộng đồng
Trong lúc thẳng tay đối phó với phong trào cộng sản, người Anh đồng thời khuyếnkhích những phần tử bảo thủ và dân tộc chủ nghĩa trong cả ba cộng đồng tham gia sinhhoạt chính trị Dưới sự che chở của chính quyền thực dân, tháng 10.1954, một liên minhbao gồm 3 tổ chức chính trị lớn nhất trong cả nước — UMNO của cộng đồng Mã Lai, Hiệphội người Hoa ở Mã Lai (Malayan Chinese Association - MCA) và Đại hội người Ấn ở MãLai (Malayan Indian Congress - MIC) — đã ra đời Tháng 7.1955, Liên minh đã giànhđược thắng lợi gần như tuyệt đối trong cuộc bầu cử Quốc hội liên bang đầu tiên: 51 trongtổng số 52 ghế Nhà lãnh đạo Liên minh là Tengku Abdul Rahman đã đứng ra thành lậpchính phủ Trong lúc đó, cuộc đấu tranh vũ trang diễn ra theo chiều hướng bất lợi cho đảngCộng sản và ngày càng thu hẹp dần Từ năm 1952, quân du kích mất dần thế chủ động và
98
Trang 20giảm bớt hoạt động Họ không còn đủ sức đe dọa hệ thống quyền lực mà người Anh sẽ đểlại trên bán đảo sau khi rút đi.
Trong hoàn cảnh trên, từ ngày 18.1 đến ngày 18.2.1956 ở London đã diễn ra cáccuộc đàm phán giữa đoàn đại biểu Malaya do Abdul Rahman cầm đầu và đoàn đại biểuchính phủ Anh Hai bên đạt được thỏa thuận rằng Malaya sẽ được trao trả độc lập vào ngày31.8.1957; bù lại, sau khi được độc lập, Malaya sẽ tham gia khối Thịnh Vượng chung và sẽ
kí với Anh một hiệp ước về “phòng thủ chung” Ngày 12.10.1957, hai nước kí Hiệp ướcPhòng thủ và Tương trợ quy định: a) Anh sẽ giúp Liên bang Malaya xây dựng quân đội; b)Anh, Australia và New Zealand sẽ, theo yêu cầu của Liên bang Malaya, trợ giúp nước nàyquân lính để tiếp tục các cuộc hành quân chống khủng bố; c) trong trường hợp xảy ra mộtcuộc tiến công vũ trang vào lãnh thổ Liên bang Malaya hay vào các lãnh thổ thuộc Anh ởViễn Đông, các bên kí kết sẽ hợp tác đầy đủ
I.4 HÀ LAN TÌM CÁCH LẬP LẠI CHẾ ĐỘ THỰC DÂN Ở INDONESIA
— CHIẾN TRANH HÀ LAN - INDONESIA
I.4.1 Hà Lan mưu toan quay lại Indonesia
Ngày 17.8.1945 tại Jakarta, Ahmed Sukarno, người được xem là nhà lãnh đạo hàngđầu của phong trào giải phóng dân tộc trong quãng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thếgiới, đã đọc bản tuyên ngôn độc lập trước đám đông dân chúng tụ tập tại nhà ông
Do Sukarno chấp bút, Tuyên ngôn nêu rõ: “Chúng tôi, nhân dân Indonesia, chân thực tuyên bố nền
độc lập của nhân dân Indonesia Những vấn đề gắn liền với việc chuyển giao chính quyền sẽ được giải quyết theo cách cẩn trọng nhất và trong thời hạn ngắn nhất”[57, tr 85; 18,tr.112] Hiến pháp
được BPKI (28) thông qua ngày hôm sau xác định rõ Nhà nước mới hoàn toàn độc lập và được xâydựng trên cơ sở của các nguyên tắc “Pantja Sila”(29)
Nước Cộng hòa Indonesia được thành lập, Sukarno được bầu làm tổng thống, còn Hatta –nguyên phó chủ tịch BKPI – được bầu làm phó tổng thống
28 () Ủy ban khảo sát công tác chuẩn bị nền độc lập của Indonesia (Badan Penjelidikan Kemerdekaan Indonesia – BPKI) được thành lập ngày 1.3.1945
29() Các nguyên tắc “Pantja Sila” được Sukarno nêu ra trong bài diễn văn đọc tại phiên bế mạc diễn ra ngày 1.6.1945 của BPKI Có cả thảy 5 nguyên tắc:
- Chủ nghĩa dân tộc Indonesia đề cập đến sự cần thiết thành lập một nhà nước dân tộc thống nhất, thống lĩnh toàn bộ lãnh thổ Indonesia;
- Chủ nghĩa quốc tế hay chủ nghĩa nhân đạo, nghĩa là từ bỏ mọi chủ nghĩa sôvanh và nước Indonesia có chủ quyền nỗ lực lập quan hệ hữu nghị với tất cả các dân tộc và quan hệ hợp tác quốc tế bình đẳng;
- Mafakat, nghĩa là cách giải quyết thống nhất, được thông qua mà không cần biểu quyết, sau khi đã cùng nhau thảo luận (musjawarah) bất kì vấn đề nào được đưa ra, do vậy thường mang tính chất thỏa hiệp, dung hòa;
- Chế độ dân chủ phù hợp với các truyền thống tương trợ (gotong-rojong) của xã hội Indonesia;
- Niềm tin vào thượng đế, được hiểu như là thái độ khoan dung đối với tín ngưỡng (mỗi người có thể tin vào thượng đế của mình)
Trang 21Một trong những việc làm đầu tiên của chính quyền mới là công bố vào ngày 5.10sắc lệnh thành lập Lực lượng quốc phòng (Tentara Keamanan Rakjat – TKR),mà đầu năm
1946 được đổi thành Quân đội Cộng hoà Indonesia(Tentara Republik Indonesia-TRI) Đâylà một việc làm cực kì cần thiết, vì chỉ ít ngày trước đó, chính xác là ngày 29.9, quân Anhbắt đầu đổ bộ lên quần đảo với lí do chính thức là giải giáp quân đội Nhật và giải phóng sốtù binh và kiều dân người Hà Lan đã bị quân đội Nhật bắt giam trong thời gian chiến tranh
Tư lệnh đạo quân Anh là tướng Christison ra tuyên bố xác định rõ rằng quân Anh sẽ chỉlàm hai nhiệm vụ: thứ nhất là giải giáp quân Nhật, thứ hai là giải phóng và cho hồi hươngnhững binh lính đồng minh bị quân Nhật bắt làm tù binh Thông báo còn đảm bảo rằngquân Anh sẽ giới hạn việc chiếm đóng ở một số thành phố chính và không có ý can thiệpvào công việc nội bộ của Cộng hòa Indonesia [39, tr.177-178] Thông báo đồng thời nhấn
mạnh rằng “chính phủ Indonesia sẽ không bị tước bỏ quyền lực, nhưng được yêu cầu duy trì chính quyền dân sự bên ngoài những vùng chịu sự chiếm đóng của binh lính Anh” [39,
tr.179] và đồng thời bày tỏ hi vọng rằng Hà Lan và Indonesia sẽ đi đến chỗ dàn xếp vớinhau thông qua đàm phán Có thêm câu sau là vì cùng đổ bộ với quân Anh có cả một sốbinh lính Hà Lan và các viên chức thuộc địa dứơi sự cầm đầu của toàn quyền Van Mook.Ông này có mặt ở Jakarta từ ngày 4.10
Về phần mình, chính phủ Sukarno đã, trong một thông cáo được công bố ngày25.10.1945 liên quan đến quan hệ đối ngoại, bày tỏ quan điểm rằng Cộng hòa Indonesiasẵn sàng thương lượng với bất kì nước nào trên cơ sở thừa nhận quyền tự quyết của nhândân Indonesia [39, tr.178] Nguyên do của động thái này là ngày càng có nhiều quân HàLan đã núp bóng quân Anh quay lại Indonesia
Khi quân đội Anh và Hà Lan triển khai lực lượng của mình và chiếm đóng một sốnơi, đã xảy ra những cuộc đụng độ ác liệt giữa họ và quân đội Cộng hòa Indonesia Lựclượng TKR còn non trẻ không thể là đối thủ của đạo quân Anh và Hà Lan vừa thiện chiếnhơn, vừa được trang bị tốt hơn Tình hình so sánh lực lượng hoàn toàn bất lợi cho Cộng hòaIndonesia đã buộc Sukarno xem xét khả năng thương thuyết với Hà Lan Nhưng ngay ngày
16.10, toàn quyền Van Mook đã sớm ra tuyên bố rằng Sukarno và Hatta là “hoàn toàn không thích hợp cho công việc đàm phán”, vì họ đã cộng tác với quân phiệt Nhật trong thời
gian chiến tranh Tất nhiên đây chỉ là cái cớ: người Hà Lan nghĩ rằng với ưu thế về sứcmạnh quân sự có sẵn, họ sẽ sớm dập tắt làn sóng đấu tranh giành độc lập của người bảnđịa và lập lại chế độ thực dân trên toàn quần đảo
Dù nhận thức rõ thâm ý của toàn quyền Van Mook, nhưng do không thể tiếp tụccuộc đấu tranh vũ trang, nên ngày 14.11.1945, Sukarno đã chỉ định Sutan Sjahrir thành lậpchính phủ mới, còn bản thân ông tự nguyện rút vào vị trí của một nguyên thủ quốc gia Làmột nhà hoạt động dân tộc chủ nghĩa nổi tiếng theo đường lối đấu tranh ôn hòa, thanh danhkhông bị hoen ố bởi quan hệ cộng tác với người Nhật, đã tốt nghiệp một trường đại học ởHà Lan, Sjahrir rõ ràng thích hợp hơn Sukarno trong nỗ lực tìm kiếm một giải pháp thươnglượng với người Hà Lan
100
Trang 22I.4.2 Hiệp ước Linggadjati.
Lúc đầu, người Hà Lan không lộ một phản ứng tích cực nào trước diễn biến trên.Tuy nhiên, từ cuối năm 1945, người Anh lần lượt rút hết quân đội khỏi Indonesia để đưasang các thuộc địa của họ trong vùng Mất sự hỗ trợ của Anh, Hà Lan không thể tập trungđủ lực lượng trấn áp cuộc đấu tranh của người bản xứ Toàn quyền Van Mook buộc phảiđồng ý tiến hành thương lượng với đại diện chính phủ Indonesia Địa điểm được chọn chocuộc đàm phán lúc đầu là Hoge Veluwe (Hà Lan), sau được chuyển về thị trấn Linggadjati(Java)
Được bắt đầu từ ngày 15.3.1946, cuộc thương thuyết dằng dai và nhiều lần bị giánđoạn giữa hai bên cuối cùng đã đưa đến Hiệp ước Linggadjati được kí tắt vào ngày15.11.1946 và kí chính thức vào ngày 25.3.1947 tại Batavia Hiệp ước gồm những điểmchính sau:
- Chính phủ Hà Lan thừa nhận trên thực tế chính quyền Cộng hòa ở Java, Madura vàSumatra, nghĩa là trên phần lãnh thổ có hơn 80% dân số sinh sống;
- Hai chính phủ sẽ cộng tác thành lập một nhà nước liên bang dân chủ được gọi làHợp chúng quốc Indonesia, gồm ba thành viên là Cộng hòa Indonesia, Borneo và miền ĐạiĐông
Với tư cách là nước có chủ quyền, Liên bang nói trên sẽ gia nhập Liên hiệp Hà Lan Indonesia mà nguyên thủ sẽ là quốc vương Hà Lan và thừa nhận các quyền sở hữu và kinhdoanh của các chủ nhân người Hà Lan và phương Tây có các xí nghiệp nằm trên lãnh thổcủa mình;
Liên hiệp sẽ thành lập các cơ quan riêng để xử lí các vấn đề có liên quan đếnquyền lợi của các xứ thành viên, đặc biệt là trong các lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng, kinhtế và tài chính;
- Liên hiệp Hà Lan - Indonesia và Hợp chúng quốc Indonesia sẽ phải được thành lậpkhông trễ hơn ngày 1.1.1949;
- Hai bên sẽ giảm quân số, và Hà Lan sẽ rút dần quân khỏi nước Cộng hòa, tùy theonhu cầu gìn giữ an ninh và trật tự
Với nội dung như trên, Hiệp định Linggadjati không làm hài lòng những phần tử quákhích và bảo thủ của cả Hà Lan lẫn Indonesia Bên cạnh đó, đã sớm phát sinh các bất đồngtrong cách hiểu của hai bên đối với những điều khoản chính của Hiệp định NgườiIndonesia cho rằng họ phải được xem là đối tác bình đẳng với Hà Lan trong những côngviệc chung như thiết lập các Nhà nước mới trên những đảo khác; do Java và Sumatra tậptrung đến 80 – 85% dân số Indonesia, nước Cộng hòa Indonesia phải giữ vai trò chủ đạotrong Hợp chúng quốc Về phần mình, người Hà Lan đưa ra lập luận rằng trong tư cách là
người nắm giữ quyền lực trên pháp lí (de jure), họ phải có tiếng nói quyết định trong tiến
trình xây dựng Liên hiệp, và mọi xứ thành viên của Hợp chúng quốc đều được hưởngquyền ngang nhau
I.4.3 Hà Lan phá vỡ Hiệp ước Linngadjati – CGO được thành lập
Trang 23Không dừng lại ở những cuộc cãi lí, người Hà Lan còn mau chóng mang ra thực hiệnquan điểm của họ: thiết lập một loạt chính quyền tự trị trên các đảo Borneo, Celebes, cácquần đảo Moluccas và Tiểu Sundas, mà không thèm tham khảo trước ý kiến của chính phủSjahrir Trong lúc đó, vị thế quốc tế của Cộng hòa Indonesia được tăng cường đáng kể quaviệc xứ này được một số cường quốc phương Tây như Mĩ, Anh và một số nước châu Á
khác, trong đó có Ấn Độ, công nhận trên thực tế (de facto) Ngày 31.3 và 17.4.1947, Anh
và Hoa Kì đã lần lượt công nhận trên thực tế Cộng hòa Indonesia Diễn biến này hoàn toàntrái với mong đợi của Hà Lan Ngoài ra, việc duy trì một lực lượng viễn chinh giờ đã lênđến trên 10 vạn quân ở miền đất nằm rất xa chính quốc, vốn đang kiệt quệ sau những nămsống dưới ách chiếm đóng tham tàn của Đức quốc xã và chiến tranh khốc hại, đã trở thànhgánh nặng vượt quá sức chịu đựng của ngân sách chính quốc Trong lúc đó, ngân sáchthuộc địa lại hầu như trống rỗng
Trong những điều kiện trên, thực dân Hà Lan nôn nóng giải quyết cuộc xung độtbằng con đường mà họ cho là ngắn nhất: chiến tranh Ngày 27.4.1947, phía Hà Lan gửi đến
chính phủ Sjahrir một bị vong lục chứa đựng điều được họ gọi là “những đề xuất cuối cùng”: trong lúc chờ đợi Hợp chúng quốc Indonesia ra đời, lập chính phủ lâm thời hỗn hợp
và hội đồng đối ngoại chung cho toàn quần đảo Indonesia, trong đó tiếng nói chung cuộcthuộc về người đại diện Hà Lan; lập một lực lượng hiến binh hỗn hợp Hà Lan-Indonesia cónhiệm vụ duy trì trật tự và luật pháp trên cả quần đảo Bị vong lục cần được trả lời trongthời hạn hai tuần Nếu được thực hiện đầy đủ, những đòi hỏi này đồng nghĩa với sự tái lậptoàn bộ quyền thống trị của Hà Lan trên cả quần đảo Indonesia
Hiểu rằng bác bỏ “những đề xuất cuối cùng” sẽ đưa đến chiến tranh, ngày 19.6,
Sjahrir lên tiếng đồng ý thành lập chính phủ lâm thời hỗn hợp và hội đồng đối ngoạichung, nhưng muốn giữ lại quyền đảm bảo luật pháp và trật tự trên phần lãnh thổ củaCộng hòa Indonesia Bị công kích dữ dội, Sjahrir từ chức ngày 27.6.1947 Người thay làAmir Sjarifuddin, một chính trị gia người Công giáo Thực ra ông này chẳng thể làm gìkhác hơn là lặp lại đề nghị của Sjahrir Đã quyết tâm gây chiến, Hà Lan khai thác ngay lờitừ chối của người Indonesia Tuy nhiên, nhằm tránh làm mếch lòng người Mĩ vốn đã lêntiếng vào ngày 27.6 thúc giục cả Hà Lan lẫn Indonesia nên tiếp tục đàm phán, Hà Lan đãđợi đến ngày 21.7 mới khởi sự “cuộc hành quân cảnh sát” tấn công vào lãnh thổ Cộng hòaIndonesia Cuộc chiến diễn ra theo chiều hướng hoàn toàn bất lợi cho Indonesia Với quânsố lên đến 12 vạn và được trang bị tốt hơn, đạo quân viễn chinh Hà Lan đã giành đượcnhiều chiến thắng và đến đầu tháng 8, đánh chiếm những thành phố, cảng va økhu đồn điềnchính ở Đông bộ Java, Đông và Nam bộ Sumatra Lãnh thổ thuộc quyền kiểm soát củachế độ Cộng hòa giờ chỉ còn khoảng 1/3 đảo Java, bao gồm vùng chung quanh Jogjakartavà Surakarta và tỉnh Bantam nằm ở cực tây đảo Vào những ngày đầu tháng 8, Hà Lan coinhư đã đạt được những mục tiêu chính của lần khai chiến này Tuy nhiên, có một điều màHà Lan đã không tính đến: phản ứng dữ dội của cộng đồng quốc tế
Chỉ một thời gian ngắn sau khi người Hà Lan quay lại quần đảo, tình hình ở Indonesia đãthu hút sự chú ý của thế giới Cường quốc đầu tiên lên tiếng về tình hình Indonesia là Liên Xô
102
Trang 24Ngày 21.1.1946, đoàn đại biểu CHXHCNXV Ukraina(30) đã gửi đến HĐBA LHQ một bức thư nhậnxét rằng các hoạt động quân sự của Anh và Hà Lan chống Indonesia sẽ tạo thành mối đe dọa đếnhòa bình và an ninh trong vùng
Đầu tháng 3.1946, đoàn điều tra tình hình ở Indonesia của LHQ được thành lập theo yêucầu của Ukraina đã thông qua nghị quyết phê phán Hà Lan đã bỏ qua 3 dữ kiện hiển nhiên liênquan đến tình trạng bế tắc hiện nay trong quan hệ giữa hai nước: chủ quyền của Indonesia đã thayđổi, sau khi Hà Lan đầu hàng Nhật không điều kiện năm 1942; Indonesia tuyên bố độc lập ngày17.8.1945; sự tồn tại trong thực tế của chính phủ Indonesia [69, tr.286-287]
Mười ngày sau khi Hà Lan khởi sự cuộc chiến, HĐBA LHQ đã nhóm họp theo yêucầu của Ấn Độ và Australia Ngay trong ngày 1.8.1947, HĐBA đã thông qua khuyến cáohai bên đình chỉ các hoạt động quân sự và giải quyết vấn đề bằng con đường thương lượng.Được sự ủng hộ của Ba Lan, Colombia và Australia, Liên Xô đưa ra đề nghị Hà Lan rútquân về các vị trí được dùng làm nơi xuất phát của cuộc tấn công ngày 21.7, trước khi haibên khởi sự đàm phán Lo sợ đề nghị này sẽ tạo thành một tiền lệ bất lợi cho vị thế của họ ởcác xứ thuộc địa, nhóm các nước thực dân (Anh, Pháp và Bỉ) đã bác bỏ đề xuất này Pháiđoàn Mĩ đã đưa ra giải pháp thỏa hiệp: hai bên ngừng bắn dọc theo đường mặt trận hiện tạivà giải quyết tranh chấp thông qua trung gian
Ngày 7.8, theo yêu cầu của Liên Xô và Ba Lan, đại diện của Cộng hòa Indonesia làSutan Sjahrir được phép tham dự phiên họp của HĐBA Ông kiên trì đòi hỏi quân Hà Lanrút về vị trí xuất phát và đề nghị HĐBA thành lập một ủy ban điều tra vụ việc ngay trênđất Indonesia Bác bỏ cách biện giải của Hà Lan rằng các diễn biến ở Indonesia là “côngviệc nội bộ” của Hà Lan, ngày 25.8, HĐBA đã thông qua nghị quyết do Mĩ đề xuất về việcthành lập Ủy ban thiện chí (Committee of Good Offices – CGO) bao gồm ba thành viên:hai trong số này phải là thành viên HĐBA nhưng được chọn theo đề nghị của hai bên xungđột; còn thành viên thứ ba sẽ do hai thành viên đầu đề cử Hà Lan đã đề nghị Bỉ, Indonesiacử Australia, còn Hoa Kì được chọn làm thành viên thứ ba
I.4.4 Hiệp ước Renville
Khởi sự hoạt động từ cuối tháng 10.1947, CGO đã dàn xếp để Hà Lan và Indonesiangồi vào bàn đàm phán từ ngày 8.12.1947 trên chiến hạm Renville của Hoa Kì buông neotrong cảng Jakarta Phải đàm phán trong hoàn cảnh rất bất lợi: quân đội đã chịu những tổnthất nặng nề và đang thiếu vũ khí một cách nghiêm trọng, do vậy khó lòng tiếp tục chiếnđấu, phái đoàn Indonesia do thủ tướng Amir Sjahrifuddin cầm đầu đã không thể làm gìkhác hơn là đành kí vào Hiệp ước ngày 19.1.1948
Được gọi là Hiệp ước Renville, văn kiện chứa đựng một điều khoản rất bất lợi chongười Indonesia: đó là họ phải đồng ý ngừng bắn dọc theo cái gọi là “đường Van Mook”,tức lằn ranh tiến quân xa nhất của Hà Lan vào sâu trong lãnh thổ Cộng hòa Indonesia Như
30 () Khác với tất cả các quốc gia thành viên khác, Liên Xô được có tất cả 3 đoàn đại biểu trong ĐHĐ LHQ: Liên Xô, Ukraina và Bielorussia
Trang 25vậy, chính quyền Cộng hòa sẽ bị cắt lìa khỏi các cảng có ý nghĩa chiến lược và kinh tế vàcác tỉnh Đông bộ Java dồi dào lương thực Tuy nhiên, chính phủ Sjahrifuddin đặt hi vọngvào lời đảm bảo của đại diện Hoa Kì trong CGO rằng chính phủ Washington sẽ dùng ảnhhưởng của mình để buộc Hà Lan tuân thủ một điều khoản khác của Hiệp ước Renville: saumột thời gian chuyển tiếp kéo dài ít nhất 6 tháng, nhưng không quá 12 tháng, một cuộctrưng cầu dân ý sẽ được tổ chức trong những phần đất trước đây thuộc Cộng hòa Java vàSumatra để dân ở đây tự quyết định xem họ sẽ thuộc về nước Cộng hòa hay một nhà nướckhác của Hiệp chúng quốc Indonesia
Bất chấp những điều kiện nặng nề của nó, Hiệp ước Renville vẫn là một nhân
nhượng cần thiết cho Indonesia Sukarno nhìn nhận: “Chúng ta chỉ cần có thời gian để lấy lại hơi thở” [57, tr.104] Nhưng các chính đảng lớn trong nước (Masjumi, đảng Dân tộc
Indonesia…) lại không nghĩ như vậy Đứng trước sự công kích kịch liệt của họ, ngày23.1.1948, Amir Sjahrifuddin từ chức Sáu ngày sau, Sukarno giao cho phó tổng thốngHatta – một chính khách không đảng phái – thành lập một nội các tổng thống, nghĩa là chỉchịu trách nhiệm trước cá nhân ông
Ngày 2.2.1948, Hatta tuyên bố chính phủ ông tuân thủ Hiệp ước Renville và khởi sựcuộc đàm phán về việc thực thi văn kiện ngoại giao này Bất bình trước chính sách củachính phủ đối với Hà Lan và do nhiều nguyên nhân đối nội khác, tháng 9.1948, đảng Cộngsản Indonesia (PKI) đã phát động một cuộc nổi dậy vũ trang ở thành phố Madiun (Đông bộJava) Được sự đồng ý của tổng thống Sukarno, chính phủ Hatta thẳng tay trấn áp PKI, Bịthiệt hại lớn về nhân mạng, PKI phải mất nhiều năm mới phục hồi
Đầu tháng 11.1948, khi cuộc nổi dậy của PKI bị dập tắt, chính phủ Hatta khởi sựđàm phán với Hà Lan quanh vấn đề thành lập chính phủ tạm quyền trong lúc chờ đợi Hiệpchúng quốc Indonesia trở thành quốc gia có đầy đủ chủ quyền Các đại diện của Cộng hòaIndonesia sẵn sàng thừa nhận chủ quyền chính thức của Hà Lan trong thời gian chuyển tiếpvà kết hợp lực lượng vũ trang và hoạt động đối ngoại của Cộng hòa Indonesia vào trongLiên bang do Hà Lan đề nghị Nhưng họ không muốn đại diện của Hà Lan trong Liên bangcó quyền quyết định, trong thời gian chuyển tiếp, đưa binh lính Hà Lan đến “bình định”những vùng mà, theo ý ông ta, cần được phục hồi an ninh và vãn hồi trật tự
Kéo dài được hơn một tháng, cuộc đàm phán có nguy cơ rơi vào bế tắc vì không bênnào muốn nhân nhượng Cuối cùng, ngày 11.12, đại diện Cộng hòa Indonesia tuyên bố sẵnsàng thừa nhận quyền phủ quyết của đại diện Hà Lan duy nhất trong chính phủ tạm quyền,nhưng trước hết cần làm rõ một số vấn đề, chẳng hạn như giới hạn của quyền này Xử sựkhông khác lần trước, đại diện Hà Lan lại đưa ra một tối hậu thư mới, theo đó xung đột sẽtái diễn nếu Cộng hòa Indonesia không chấp nhận một quy chế ngang hàng với quy chếcủa các nhà nước khác trong khuôn khổ Hiệp chúng quốc
I.4.5 Hà Lan phá vỡ Hiệp ước Renville – Mĩ gây sức ép buộc Hà Lan nhượng bộ
104
Trang 26Không để cho chính phủ Cộng hòa Indonesia kịp có thời gian phản ứng, sáng sớmngày 19.12, quân đội Hà Lan đã tấn công Jogjakarta, thủ phủ tạm thời của chính phủ Cộnghòa Gần như mọi thành viên của chính phủ Cộng hòa ( trong đó có cả Sukarno và Hatta)đã bị bắt làm tù binh Trong những ngày sau đó, quân Hà Lan mau chóng chiếm nốt nhữngphần lãnh thổ còn lại của Cộng hòa Indonesia, bất chấp sự phản đối quyết liệt của nhiềunước châu Á, như Ấn Độ, Saudi Arabia, Iran, Afghanistan, Pakistan, Ceylan và Australia.HĐBA LHQ đã ra liền hai nghị quyết vào các ngày 24 và 28.12 đòi hai bên ngừng bắnngay lập tức và thả các nhà chính trị đang bị giam giữ Mưu toan đặt thế giới trước “một sựđã rồi” như đã từng thành công trong lần gây chiến trước, Hà Lan vẫn tiếp tục các hoạtđộng quân sự và cho thành lập ba “nhà nước” mới trên phần lãnh thổ của Cộng hòaIndonesia đã bị chiếm – Pasunda, Đông Java và Nam Sumatra
Tuy nhiên, hành động gây hấn quá trắng trợn của Hà Lan đã đánh động tình cảmyêu nước của người Indonesia Các hoạt động du kích chống quân xâm lược trên các đảoJava và Sumatra đã mau chóng vượt qua tình trạng rời rạc để trở thành phong trào khángchiến mạnh mẽ và có hiệu quả Ở nhiều nơi, quân Hà Lan đã buộc phải chuyển sang thếphòng ngự Diễn biến này là bằng chứng hùng hồn rằng người Indonesia không còn chấpnhận đường lối cai trị độc đoán của người Hà Lan và là nhân tố chính thúc đẩy HĐBALHQ ngày 28.1.1949 ra một nghị quyết mới với những lời lẽ gay gắt hơn kêu gọi hai bênngừng bắn ngay lập tức, thả các nhà hoạt động chính trị và khôi phục chế độ Cộng hòa vớiđầy đủ những quyền đã có của nó HĐBA cũng kêu gọi nối lại đàm phán và xác định mộtlịch trình rất cụ thể để giải quyết các vấn đề sau: thành lập chính phủ lâm thời trước ngày15.3, tiến hành bầu cử Quốc hội lập hiến trước ngày 15.10, bàn giao chủ quyền cho Hiệpchúng quốc Indonesia trước ngày 1.7.1950
CGO được đổi tên thành Ủy hội của LHQ về Indonesia (UN Commission forIndonesia), trong đó đại diện Mĩ nắm giữ vai trò chính Ủy ban được trao một chức năngrộng lớn hơn: thay vì chỉ là một cơ quan quan sát, Uûy ban có quyền đưa ra các lời khuyếncáo đến các bên xung đột và đến HĐBA
So với các nghị quyết trước, nghị quyết ngày 28.1.1949 sẽ chẳng tác động đến HàLan nhiều hơn nếu nó không đi kèm với phản ứng ngày càng tỏ ra thất lợi cho Hà Lan từphía Hoa Kì, nước đề xướng và chủ trì Kế hoạch Marshall, nguồn cung cấp tài chính lớnnhất và duy nhất cho nỗ lực tái thiết đất nước Hà Lan sau chiến tranh Nếu tại cuộc đàmphán Renville, Hoa Kì còn cố giữ thái độ trung lập, thì cuộc nổi dậy của PKI trong nhữngtháng cuối năm 1948 đã làm thay đổi quan điểm của Washington Cho rằng cuộc nổi dậycủa Madiun được thực hiện theo chỉ thị của Liên Xô(31), Hoa Kì đã đánh giá cao chính phủCộng hòa Indonesia qua hành động trấn áp không nương tay của chính phủ này nhằm vàocuộc nổi dậy va ønhìn thấy ở Indonesia trổi lên một lực lượng thứ ba, bên cạnh PKI và thực
31 () Điểm phát xuất của nhận định này là sự kiện Musso, người lãnh đạo cuộc nổi dậy, đã, sau hơn 20 năm sống lưu vong ở Liên Xô, từ Moskva trở về Indonesia vào tháng 8.1948, chỉ hơn một tháng trước cuộc nổi dậy
Trang 27dân Hà Lan: chủ nghĩa dân tộc vừa chống thực dân, vừa chống cộng sản của các nhà lãnhđạo những chính đảng Hồi giáo, dân tộc và quân đội
Không đủ sức đương đầu với dư luận thế giới và nhất là sức ép của Hoa Kì, ngày6.7.1949, Hà Lan đành chấp nhận ngưng bắn và phóng thích các thành viên đang bị giamgiữ của chính phủ Cộng hòa Indonesia, rút quân khỏi các lãnh thổ đã chiếm của Cộng hòaIndonesia và bước vào đàm phán với đại diện của Cộng hòa Indonesia và của các lãnh thổtự trị khác
I.4.6 Hiệp ước The Hague
Diễn ra một cách khó khăn dưới sự chứng kiến của Ủy hội LHQ về Indonesia, Hộinghị Bàn tròn kéo dài từ ngày 23.8 đến ngày 2.11.1949 ở The Hague đã đi đến một hiệpước bao gồm các thỏa thuận sau:
- Hà Lan thừa nhận chủ quyền của Cộng hoà Hiệp chúng quốc Indonesia bao gồmCộng hòa Indonesia và 14 lãnh thổ hay quốc gia tự trị (mà phía Hà Lan đã dựng ra sau
Hiệp định Linggadjati) Hiệp ước ghi rõ rằng “vương quốc Hà Lan chuyển giao một cách không điều kiện và không thể đảo ngược toàn bộ chủ quyền đối với Indonesia cho Cộng hòa Hiệp chúng quốc Indonesia” Công việc chuyển giao này phải được hoàn tất trước ngày
30.12.1949 Riêng quy chế của lãnh thổ Tân Guinea sẽ được bàn thảo tại một hội nghịkhác được dự kiến sẽ diễn ra trong tháng 10.1950;
- Liên hiệp Hà Lan-Indonesia sẽ được thành lập trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện,thuộc quyền lãnh đạo của nữ hoàng Hà Lan, nhưng quyền này không được xâm phạm đếnquy chế của các nước thành viên trong tư cách là những nhà nước độc lập và có chủ quyền;
- Indonesia thừa nhận mọi quyền cùng những ưu đãi, mà trong thời thuộc địa giớikinh doanh Hà Lan và các nước khác đã được hưởng, và tiếp nhận món nợ mà chính phủthuộc địa để lại là 4,3 tỉ guilders;
- Hà Lan rút quân khỏi Indonesia, nhưng vẫn được quyền duy trì một phái bộ quânsự có nhiệm vụ huấn luyện quân đội Indonesia
Ngày 27.12.1949, đã diễn ra lễ chuyển giao chủ quyền từ tay Hà Lan sang Cộng hòaHiệp chúng quốc Indonesia, mà tổng thống là Ahmed Sukarno Hiến pháp được thông quangày 14.8.1950 khẳng định rằng Indonesia là một nhà nước thống nhất có tên gọi chínhthức là “Cộng hòa Indonesia” Ngày 28.9.1950, Indonesia được kết nạp vào LHQ
I.5 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA THÁI LAN – QUAN HỆ THÁI LAN - HOA
KÌ
So với các nước Đông Nam Á khác, Thái Lan(32) là một trường hợp đặc biệt: vẫn bảo toàn đượcnền độc lập, bất chấp cuộc chạy đua xâm chiếm thuộc địa diễn ra ở Đông Nam Á giữa các đế quốcphương Tây trong nửa sau thế kỉ XIX Có thể giải thích thành công này bằng hai nguyên nhân: thứnhất, Thái Lan được Anh và Pháp – hai đối thủ lâu đời từng va chạm không ít lần trong quá trình
32 () Trước năm 1949, Thái Lan có tên là Xiêm; từ năm 1939 đến năm 1946 là Thái Lan; từ năm 1946 đến năm 1949, lấy lại tên Xiêm và từ năm 1949 đến nay, Thái Lan
106
Trang 28xâm chiếm thuộc địa – chọn làm nước đệm ngăn cách các thuộc địa của họ trên bán đảo Trung Ấn(Miến Điện và Malaya thuộc Anh, Đông Dương thuộc Pháp); thứ hai, các vua Mongkut (1851 –1868) và Chulalongkorn (1868 – 1910) đã sáng suốt tiến hành một cuộc cải cách trong nước Mộtnguyên nhân khác không kém quan trọng là những nhà lãnh đạo Thái Lan biết theo đuổi mộtđường lối đối ngoại rất thực dụng được xây dựng theo phương châm “Gió chiều nào, che chiều ấy”.
Mặc dù vậy, cái giá phải trả là không nhỏ: trong nửa sau thế kỉ XIX, Thái Lan phải kí một loạtcác hiệp ước bất bình đẳng với nhiều nước Âu-Mĩ Chỉ có điều vị thế sút kém của Thái Lan trongquan hệ đối ngoại kéo dài không lâu Chỉ trong vòng thập niên đầu của thế kỉ XX, Thái Lan đãgiành lại vị thế đối ngoại bình đẳng, sau khi đã lần lượt kí các hiệp ước về biên giới với Pháp vàAnh trong các năm 1907 và 1909 Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, đường lối đối ngoại thựcdụng đã góp phần tăng cường vị thế của Thái Lan ở Đông Nam Á khi nước này chọn đứng về phíaAnh và Pháp bằng lời tuyên chiến chống Đức và Áo-Hung ngày 22.7.1917 Nhờ vậy, Thái Lan làmột trong những nước được mời tham dự Hội nghị Versailles, kí vào hòa ước kết thúc chiến tranhvà trở thành thành viên Hội Quốc Liên
Trong Chiến tranh Thái Bình Dương, Thái Lan một lần nữa chọn đứng về phía kẻ mạnh: ngày21.12.1941, Thái Lan đã kí với Nhật một hiệp ước có giá trị trong 10 năm, theo đó Thái Lan sẽ hỗtrợ Nhật Bản trong cuộc chiến của nước này chống Anh và Hoa Kì, còn Nhật sẽ giúp Thái Lan thuhồi những lãnh thổ mà nước này đã buộc phải nhượng cho Miến Điện thuộc Anh Ngày 25.1.1942,Thái Lan đã ra lời tuyên chiến chống Anh và Hoa Kì Ngày 20.8.1943, Nhật thực hiện lời hứa bằngcách chuyển cho Thái Lan bốn bang Mã Lai thuộc Anh – Kedah, Perlis, Kelantan và Trengganu vàhai bang Shan trong lãnh thổ Miến Điện thuộc Anh – Kengtung và Mongpan Cũng nên thêm rằngtrước đó hơn hai năm, ngày 9.5.1941, Pháp đã buộc phải, dưới sức ép của Nhật, cắt nhượng choThái Lan toàn bộ bờ tây sông Mekong của Lào và một phần ba lãnh thổ Campuchia từ sôngMekông đến tỉnh Stung Treng, rồi đến Tonlesap và theo hướng tây nam đến tận Vịnh Xiêm La.Xem ra chính sách đối ngoại thực dụng đã mang lại cho Bangkok không ít lợi lộc
Không may cho Thái Lan là trong cuộc chiến Thái Bình Dương, kẻ mạnh lúc đầu hóa ra là kẻbại vào hồi cuối: ngày 14.8.1945, Nhật tuyên bố đầu hàng không điều kiện trước quân đồng minh
Trung thành với đường lối đối ngoại lâu nay, Thái Lan phản ứng rất nhanh chóng:chỉ hai ngày sau khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng, Thái Lan ra tuyên bố phủ nhận giá trị lời
tuyên chiến chống Hoa Kì và Anh Chính phủ Bangkok thanh minh rằng Thái Lan “không có tham vọng đối với số lãnh thổ” của Miến Điện và Malaya đã được Nhật “giao thác” và
“sẵn sàng trao trả ngay khi Anh sẵn sàng tiếp nhận chúng” Không lâu sau đó, Thái Lan
phủ nhận giá trị pháp lí mọi thỏa thuận chính trị đã kí với Nhật trong thời gian chiến tranh
Bước chuyển hướng đối ngoại của Thái Lan được Hoa Kì đón nhận một cách tíchcực Bộ Ngoại giao đã ra thông báo nêu rõ rằng Hoa Kỳ chưa bao giờ xem lời tuyên chiến
là sự thể hiện đầy đủ ý muốn của nhân dân Thái và rằng trong 4 năm qua, “chúng tôi không coi Thái Lan như là nước thù địch, mà là nước cần được giải phóng khỏi tay kẻ thù Giờ đây, khi sự nghiệp giải phóng đã hoàn thành, chúng tôi muốn thấy Thái Lan quay về với chỗ đứng cũ trong cộng đồng các quốc gia như là một đất nước tự do, có chủ quyền và độc lập”[4, tr.289] Ngày 5.1.1946, Hoa Kì đã tái lập quan hệ ngoại giao với Thái Lan
Trang 29Nhưng lập trường của Anh thì khác hoàn toàn Đầu tháng 9, một phái đoàn TháiLan đã đến bản doanh của đô đốc Lord Louis Mountbatten, người phụ trách bộ Tư lệnhĐông Nam Á đặt tại Kandy (Ceylan) để được nghe quyết định về việc quân đồng minh sẽvào lãnh thổ Thái Lan tiếp quản sự đầu hàng của quân Nhật Nếu quyết định này làchuyện có thể đoán trước, thì yêu sách gồm 21 điều kèm theo (trong đó có những đòi hỏirất ngặït nghèo như Anh có toàn quyền kiểm soát lực lượng vũ trang Thái Lan, các hoạtđộng xuất khẩu nguyên liệu chiến lược và gạo của Thái,Anh được xây dựng bất cứ côngtrình quân sự nào trên lãnh thổ Thái Lan) [30, tr.21] đã được người Thái đánh giá khôngkhác yêu sách 21 điều mà Nhật đã áp đặt lên Trung Quốc năm 1915 [32, tr.238], hay nhưmột mưu toan biến Thái Lan thành nước thuộc địa [83a, tr.23] Đầu tháng 12.1945, Anh đòiThái Lan bồi thường số tài sản của kiều dân Anh bị hủy hoại trong chiến tranh, đòi TháiLan xuất miễn phí sang các thuộc địa của Anh 1,5 triệu tấn gạo; thậm chí Anh còn muốnthay mặt Thái Lan tiến hành các cuộc thương lượng với Pháp về số đất mà Thái Lan đãcưỡng chiếm của Lào và Campuchia trong thời gian chiến tranh Tóm lại, Anh rõ ràng xemThái Lan như một nước đã trực tiếp tham chiến bên cạnh Nhật và nay phải trả giá cho hànhđộng này trong tư thế kẻ bại trận
Tuy nhiên, Hoa Kì đã kịp thời gây sức ép lên Anh để trong Hòa ước được kí ngày3.4.1946, nước này chỉ giữ lại một phần yêu sách, theo đó Thái Lan hoàn trả những phầnđất đã chiếm của Miến Điện và Malaya, giao nộp 1,5 triệu tấn gạo như khoản bồi thườngchiến tranh Những yêu sách nào gây tổn hại đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ củaThái Lan đều được bãi bỏ Sự giúp đỡ mà Mĩ dành cho Thái Lan không dừng lại ở đó.Tháng 12 cùng năm, Thái Lan được Hoa Kì cấp cho một khoản tín dụng không lớn về sốlượng – chỉ 10 triệu USD, nhưng có ý nghĩa quan trọng về chính trị-ngoại giao: từ nay, TháiLan được giới chức Mĩ đánh giá là một đối tác đáng tin cậy Cũng trong năm 1946, Mĩ cònmua của Thái Lan một khối lượng lớn cao su và năm 1947, mua toàn bộ khối lượng thiết bịối đọng trong những năm chiến tranh Vụ giao dịch này đã mang lại cho tư sản Thái Lan sốlãi là 12 triệu USD Tháng 10.1949, Hoa Kì trả lại cho Thái Lan số vàng trị giá 43,7 triệuUSD bị phong tỏa trong các ngân hàng Mĩ trong thời gian chiến tranh
Thắng lợi của đảng Cộng sản Trung Quốc ở Hoa Lục (10.1949) và sự bùng phát củachiến tranh Triều Tiên (6.1950) đã tạo ra một tình thế mới ở Đông Nam Á không có lợicho quyền lợi của Hoa Kì Chuyển biến này đã thúc đẩy Washington đi đến quyết định ápdụng, sau một thời gian ngắn cân nhắc, chủ thuyết Truman và chính sách ngăn chặn ởĐông Nam Á Với vị trí tiếp giáp ba nước Đông Dương vốn đang bị, theo đánh giá của Hoa
Kì, chủ nghĩa cộng sản đe dọa, Thái Lan trở thành một thứ hậu phương chiến lược phục vụchính sách đối đầu với chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á và vùng Thái Bình Dương
Nắm bắt một cách nhạy bén sự thay đổi trên, giới cầm quyền ở Bangkok đã mauchóng thể hiện đường lối “ ngảtheo chiều gió” truyền thống Ngày 23.6.1950, Quốc hộiThái Lan đã thông qua quyết định của chính phủ gửi gạo, gỗ và những sản phẩm khác cùngvới 1200 quân sang tham chiến ở Triều Tiên bên cạnh Mĩ Số quân này sau đó được tăngdần lên 4000, tức 1/8 quân số Thái Lan trong nửa đầu thập niên 1950 Chính sách này phù
108
Trang 30hợp với quyền lợi của giới tư sản-quan liêu, vốn giờ đây đang thu được nhiều lợi nhuận nhờgiá những mặt hàng chiến lược tăng lên
Về phần mình, ngày 19.9.1950, Hoa Kì đã kí với Thái Lan Thỏa thuận hợp tác kinhtế và kĩ thuật Hoa Kì đã phái sang Thái Lan một phái bộ quân sự đặc biệt để thực hiệnhiệp ước này Không lâu sau đó, ngày 17.10, hai bên kí Thỏa thuận hỗ trợ quân sự, theo đóHoa Kì cam kết giúp Thái Lan tổ chức lại quân đội, tăng quân số, sử dụng những vũ khí vànắm vững những kĩ thuật quân sự hiện đại, huấn luyện binh lính, cải thiện hệ thống hậucần Ngày 9.11.1950, Hoa Kì lập lãnh sự quán ở Chiangmai, một thành phố có ý nghĩachiến lược ở miền Bắc Thái Lan
Phong trào giải phóng ở ba nước Đông Dương càng phát triển mạnh, thì vị thế củaThái Lan trong các ý đồ chiến lược của Mĩ càng trở nên quan trọng Ngày 13.7.1954, chínhphủ Mĩ loan báo một chương trình tăng cường viện trợ quân sự cho Thái Lan Cho đến năm
1957, số viện trợ quân sự của Mĩ dành cho việc hiện đại hóa quân đội bắt đầu từ năm 1951nhiều khi vượt cả chi phí quân sự trong ngân sách của Thái Lan
CHI PHÍ QUÂN SỰ CỦA THÁI LAN VÀ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ
CỦA HOA KÌ CHO THÁI LAN (1951 – 1957)
Năm Chi phí quân sự của Thái Viện trợ quân sự của Mĩ
(đơn vị: triệu USD) (Đơn vị: triệu USD)
Tháng 8.1953, thiếu tướng Donovan được cử làm đại sứ Mĩ ở Thái Lan Một tờ báo
hàng đầu ở Bangkok đã nhận xét: “Trong vai trò là đại sứ của Mĩ ở vùng chiến lược này, tướng Donavan có thể báo cho Bộ Ngoại giao Mĩ đầy đủ tin tức về các biến cố diễn ra trên lục địa châu Á”
Thất bại của chủ nghĩa thực dân cũ Pháp và thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản ởĐông Dương đã khiến Mĩ và chính quyền Thái Lan lo lắng Ngay từ tháng 4.1954, tổng
thống Eishenhower đã công bố “Học thuyết domino” dọn đường cho mưu tính xây dựng
một khối chống Cộng mạnh mẽ ở Đông Nam Á, mô phỏng theo khối quân sự NATO Ngày8.9.1954, một khối quân sự như vậy mang tên SEATO, mà Thái Lan là một thành viên, đãđược thành lập ở Manila Trong tiến trình thương lượng trước khi ký hiệp ước, phái đoànThái Lan đã nằng nặc đòi SEATO phải được xây dựng theo kiểu mẫu NATO [32, tr.271],
Trang 31nghĩa là phải có một lực lượng quân sự chung và khi một trong số các nước thành viên lâmchiến thì những nước còn lại đương nhiên phải trợ giúp quân sự Nhưng đề nghị này đã bịcác nước tham dự khác bác bỏ Lúc bấy giờ, chính Mĩ cũng không muốn phân tán lực lượngquân sự của mình và điều quân khỏi những vị trí chiến lược trên Thái Bình Dương Mặc dùvậy, giới cầm quyền Bangkok vẫn luôn tìm cách bày tỏ sự ủng hộ nhiệt tình dành choSEATO, mỗi khi có cơ hội thuận tiện Ngày 21.2.1955, sau khi phê chuẩn Hiệp ước thànhlập SEATO, thủ tướng Pibul Songgram nhắc lại rằng nếu phải quyết định có căn cứ quânsự trên lãnh thổ Thái Lan theo quy định của hiệp ước, người Thái sẵn sàng làm chuyện này[32, tr.271] Trong bài diễn văn bế mạc hội nghị bàn việc thực thi các điều khoản của hiệpước Manila diễn ra trong các ngày 23- 25.2.1955 ở Bangkok, hoàng thân Wan nhấn mạnh
rằng “các nước có nhu cầu cấp bách cần được tổ chức chúng ta hỗ trợ là Lào, Campuchia và nước Việt Nam tự do [VNCH], và việc các nước này ở cạnh Bangkok [trung tâm của SEATO] sẽ tỏ ra có ích trong chuyện này” [32, tr.271]
Do Lào và Campuchia từ chối tham gia SEATO, Hoa Kì đã tìm cách lôi hai nước nàyvào một liên minh kinh tế và tài chính với Thái Lan, để qua đó mà tác động đến đường lốiđối ngoại và đối nội của hai nước này Tháng 10.1954, chính phủ Bangkok tuyên bố quyết
định trợ giúp kinh tế cho Lào và Campuchia nhằm “mục đích xây dựng hàng rào ngăn chặn sự xâm nhập của chủ nghĩa cộng sản vào Thái Lan”, và cho phép hai nước được nhập và
xuất khẩu hàng hóa quá cảnh qua Bangkok mà không phải nộp thuế Tháng 3.1955, chínhphủ Lào đã chấp thuận kế hoạch vừa kể của Bangkok Hai bên cũng đã thành lập Công tyLiên hợp Lào-Thái nhằm mục đích phát triển nền công nghiệp và thương mại của Lào.Công ty được giao xây dựng một số nhà máy làm đường, xà phòng, chế biến gỗ…
Riêng Hoa Kì đứng ra bảo trợ cho một dự án lớn lao khai thác nguồn thủy điện trênsông Mekong, gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Nam Việt Nam Nhưng phong trào đấutranh bùng nổ trở lại ở Đông Dương đã làm cho kế hoạch này không được thực hiện
*
* *
Vị thế suy yếu của các cường quốc Tây Âu ở Đông Nam Á sau chiến tranh Thái BìnhDương tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh thu hồi độc lập của các dân tộc trongvùng Tuy nhiên, giữ vai trò có ý nghĩa quyết định trong tiến trình vừa nêu lại không phảilà công sức riêng của người dân Đông Nam Á Quá trình thu hồi độc lập ở Miến Điện vàMalaya thực ra là quá trình chuyển giao quyền lực từ tay chính quyền thực dân Anh sangtay các chính quyền bản xứ Thực chất này càng được nhìn thấy rõ hơn trong trường hợpcủa Philippines: Hoa Kỳ đã đề ra kế hoạch dự kiến trao trả độc lập cho Philippines sau mộtthời kì chuyển tiếp kéo dài 10 năm (1934 – 1944)
110
Trang 32Nếu có phải bỏ ra công sức riêng , thì đó là trường hợp của Indonesia Tuy nhiên,Hiệp ước The Hague – kết quả chung cuộc của cuộc chiến Indonesia-Hà Lan – không phải
ra đời từ những diễn biến trên mặt trận quân sự, mà chủ yếu được quyết định bởi sức épngoại giao mà Hoa Kỳ không ngần ngại tác động lên Hà Lan
Thái Lan – trường hợp ngoại lệ trong suốt thời kì Đông Nam Á sống dưới sự thống trịcủa thực dân Aâu - Mỹ và Nhật Bản- giờ cũng không còn là ngoại lệ Sau chiến tranh, TháiLan chỉ có thể giữ vẹn vị thế độc lập nhờ sự trợ lực của một nhân tố ngoài vùng : đó là HoaKỳ
Tóm lại, các thuộc địa Philippines , Miến Điện, Malaya và Indonesia đều không thểtự thân thu hồi độc lập , Thái Lan cũng không thể tự mình giữ vẹn nền độc lập Trongchuyện này, các xứ Đông Nam Á còn lại trên bán đảo Đông Dương cũng không phải làtrường hợp ngoại lệ , như diễn biến của Cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất (1945 –1954) sẽ cho thấ
CHƯƠNG II: PHÁP TÌM CÁCH LẬP LẠI CHẾ ĐỘ THỰC DÂN Ở
Đi ngược lại khát khao độc lập của các dân tộc Đông Dương, chính sách tái lập chếđộ thực dân của Pháp đã làm bùng phát cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945 –1954) Diễn ra lúc đầu như một cuộc chiến giữa các dân tộc Đông Dương bị xâm lăng vàthực dân Pháp – kẻ xâm lược, cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất dần dần trở thành mộtcuộc đọ sức bằng quân sự giữa hai phe XHCN và TBCN kể từ đầu năm 1950, khi nhữngnhà lãnh đạo Mặt trận Việt minh và đảng Cộng sản Đông Dương quyết định dựa hẳn vàocác nước XHCN, mà trước hết là Liên Xô và CHND Trung Hoa vừa được thành lập vàitháng trước đó (1.10.1949), còn giới cầm quyền Pháp một mặt cho ra đời các quốc gia liên
Trang 33kết Việt Nam, Lào và Campuchia, mặt khác ngày càng trông cậy vào sự chi viện từ Hoa Kìhầu có thể tiếp tục cuộc chiến quá đỗi tốn kém đối với nước họ
Giải pháp chia cắt Việt Nam thành hai miền – kết quả chung cuộc của cuộc chiến –không làm hài lòng cả người Việt Nam lẫn người Mĩ
II.1 PHÁP TÌM CÁCH LẬP LẠI CHẾ ĐỘ THỰC DÂN Ở ĐÔNG DƯƠNG (1945 – 1946)
II.1.1 Hiệp định Sơ bộ (6.3.1946)
Chính sách của Pháp đối với Đông Dương thời hậu chiến đã được chính phủ lâm thời deGaulle xác định trong Tuyên bố được công bố ngày 24.3.1945, tức không lâu sau cuộc đảo chính
của Nhật xóa bỏ quyền lực của Pháp trên bán đảo Đông Dương Tuyên bố nêu rõ: “Liên bang
Đông Dương hợp với nước Pháp và các bộ phận khác của cộng đồng thành một Liên hiệp Pháp mà quyền lợi bên ngoài sẽ do Pháp đại diện Trong Liên hiệp đó, Đông Dương sẽ được hưởng nền tự do riêng
Người dân Liên bang Đông Dương sẽ là công dân Đông Dương và công dân Liên hiệp Pháp
Liên bang Đông Dương sẽ có một chính phủ liên bang riêng do toàn quyền làm chủ tịch và gồm có những bộ trưởng chịu trách nhiệm trước toàn quyền, lựa chọn trong số người Đông Dương và những người Pháp cư trú ở Đông Dương Một nghị viện bầu theo kiểu đầu phiếu thích hợp nhất với mỗi nước của Liên bang và trong đó quyền lợi của Pháp sẽ được đại diện, sẽ thông qua các khoản thuế mọi loại, ngân sách liên bang và sẽ thảo luận các dự thảo luật
Quyền tự do báo chí, tự do lập hội, hội họp, tự do tư tưởng và tín ngưỡng và nói chung các quyền tự do dân chủ sẽ là cơ sở của các luật của Đông Dương
Năm nước thành viên của Liên bang Đông Dương khác nhau về văn hóa, nòi giống và tập quán sẽ giữ bản sắc riêng của mình ở bên trong Liên bang
Toàn quyền, trong sự tôn trọng lợi ích của mỗi người, sẽ là trọng tài của mọi người Các chính phủ địa phương sẽ được cải tổ, các cương vị và chức vụ trong mỗi nước sẽ đặc biệt rộng mở đón những người mỗi nước
Liên bang Đông Dương sẽ được hưởng một sự tự trị kinh tế có thể tiến đến một sự phát triển đầy đủ về nông nghiệp, công nghiệp và thương mại
Quy chế Đông Dương, như vừa được xem xét, sẽ được hoàn chỉnh sau khi tham khảo ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền của Đông Dương sau giải phóng ” [67, tr.60-61]
Nội dung trên cho thấy chính phủ Pháp (dù là lâm thời) đã sớm xác định chủ trương quaylại Đông Dương Để thực hiện được ý đồ này, Paris phải vượt qua ba trở ngại Thứ nhất là chínhphủ VNDCCH được thành lập ngày 2.9.1945 tại Hà Nội với người cầm đầu là Hồ Chí Minh Thứhai là chính phủ Tưởng Giới Thạch của Trung Quốc đã được Hội nghị thượng đỉnh Potsdam phâncông tiếp quản sự đầu hàng của quân Nhật trên phần phía bắc bán đảo Đông Dương từ vĩ tuyến 16trở lên Và cuối cùng là chính phủ Anh được giao tiếp quản phần phía nam bán đảo Đông Dương
Ngày 2.9.1945, tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, người lãnh đạo Mặt trận Việt Minh quy tụ
112
Trang 34các tổ chức yêu nước, đã tuyên bố xoá bỏ ách thống trị của thực dân Pháp trên lãnh thổViệt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH)
Ngày 11.9, tướng Douglas Gracey, tư lệnh đạo quân Anh - Ấn gồm 26.000 người, cómặt tại Sài Gòn với nhiệm vụ giải giáp quân Nhật bại trận trên bán đảo Đông Dương ởphía nam vĩ tuyến 16(33) Dù đã được Lord Louis Mountbatten, Tư lệnh quân Đồng minh ởvùng Đông Nam Á, giao mệnh lệnh rõ ràng là tránh can dự vào chuyện nội bộ của ViệtNam và chỉ xử lí việc giải giáp quân Nhật, Gracey vẫn công khai bày tỏ ý kiến trước khi
rời Ấn Độ đi Sài Gòn rằng “quyền kiểm soát dân sự và quân sự của người Pháp chỉ là vấn đề của vài tuần lễ” [58, tr.148]
Ngày 21.9, Gracey đã vượt quá chỉ thị được giao khi tuyên bố thiết quân luật trongtoàn thành phố Sài Gòn Ngày hôm sau, ông ta còn thả và trang bị vũ khí cho 1400 línhPháp từng bị quân Nhật giam giữ Số lính này đã tiến hành các hoạt động khủng bố nhằmvào các trụ sở công quyền và nhà riêng của người Việt ở Sài Gòn Ngày 23, các nhà lãnhđạo chính quyền cách mạng đã đáp trả bằng lệnh bãi công Cuộc xung đột giữa Việt Namvà Pháp khởi phát từ ngày này và mau chóng lan ra khắp miền Nam Việt Nam Ngày 9.10,
Anh kí với Pháp bản ghi nhớ, theo đó Anh công nhận “Cao ủy Cộng hòa Pháp, Toàn quyền Đông Dương hay, trong trường hợp ông này vắng mặt, tư lệnh lực lượng quân sự Pháp ở Viễn Đông được phép thay mặt Cao ủy, sẽ thực hiện quyền lực dân sự trên toàn lãnh thổ Đông Dương” [8, tr.53]
Cũng trong ngày 9.10, Cao ủy Pháp ở Đông Dương là đô đốc d'Argenlieu đã tuyên bố bằng
những lời lẽ mạnh mẽ: “Chúng ta sẽ tái lập các quyền của Pháp ở Đông Dương theo đúng như
1.1.1946, Anh chính thức chuyển giao cho Pháp quyền giải giáp quân đội Nhật ở nam vĩ tuyến 16.Tuyên bố của viên cao ủy hoàn toàn trùng hợp với tuyên bố mà tướng Jean Leclerc, đại diện cánhân ở Đông Dương của de Gaulle, người đứng đầu chính phủ lâm thời Pháp, đã đưa ra ngày
30.9.1945: "Tôi quay lại Đông Dương không phải để trao nó lại cho người Đông Dương” [Dẫn lại
theo 37, tr.34]
Ngay trong tháng 10.1945 tại Trùng Khánh, Pháp khởi sự thương lượng với TrungQuốc vốn đang có gần 20 vạn quân đóng trên phần bắc bán đảo Đông Dương với danhnghĩa chính thức giải gíap quân đội Nhật Ngày 28.2.1946, hai bên kí Hiệp ước gồm cácthỏa thuận sau: Pháp sẽ đưa quân vào miền Bắc Đông Dương thay thế quân Trung Hoa dânquốc; bù lại, Trung Quốc sẽ nhận lại các quyền lợi mà Pháp đang nắm giữ trên lãnh thổTrung Quốc, như các tô giới ở Thượng Hải, Thiên Tân, Hán Khẩu, Quảng Đông, đất QuảngChâu Loan Pháp cũng sẽ bán lại cho Trung Quốc đường sắt Côn Minh – Lào Cai, hànghóa Trung Quốc được phép vận chuyển miễn thuế ra vào cảng Hải Phòng Kiều dân TrungQuốc sẽ được hưởng một quy chế mới Việc quân Pháp thay quân Trung Quốc sẽ diễn ra từ
33 () Theo thoả thuận đạt được ở Hội nghị thượng đỉnh Potsdam (8.1945), quân đội Anh và Trung Quốc có
nhiệm vụ "thu gom và giải giáp quân Nhật, thả các tù binh và tù nhân Đồng minh" ở phía nam và phía bắc
vĩ tuyến 16.
Trang 35ngày 1 đến ngày 15.3.1946 và phải hoàn thành muộn nhất vào ngày 31.3.1946 (34)
Một cuộc chiến tương tự như ở miền Nam sẽ bùng phát ở miền Bắc, nếu quân Phápvào đây thay quân Trung Hoa trong lúc chính phủ VNDCCH và đại diện chính phủ Pháp ởĐông Dương chưa đạt được một thỏa thuận nào về chuyện này Vì những lí do khác nhau,cả hai bên đều muốn tránh một viễn cảnh như vậy
Việt Nam và Pháp đã khởi sự thương lượng sau khi Hiệp ước Trùng Khánh được kíkết Cuộc đàm phán đã diễn ra rất gay go và vấp phải hai khó khăn lớn: đó là từ “độc lập”và quy chế của Nam Kỳ Đoàn Việt Nam kiên quyết đòi Pháp công nhận Việt Nam là mộtnước độc lập, trong lúc đại diện Pháp muốn tránh né một cam kết rõ ràng như vậy bằngcác công thức quanh co, như: độc lập trong Liên bang Đông Dương, độc lập trong khối Liênhiệp Pháp, độc lập cùng với sự duy trì Liên bang Đông Dương một bên, khối Liên hiệpPháp một bên, tự trị trong Liên bang Đông Dương Về vấn đề Nam Kì, phía Pháp đòi đểNam Kì tự quyết định vị thế của mình trong quan hệ với Việt Nam, trong lúc Hồ Chí Minhkhông từ bỏ lập trường Việt Nam phải là một nước thống nhất bao gồm cả ba kì Phải đến16.00 giờ ngày 6.3, giữa lúc tàu chiến Pháp đến sát cảng Hải Phòng và đã bắn nhau vớiquân Trung Quốc từ 8.30 giờ đến gần 11 giờ, các đại diện của VNDCCH là Hồ Chí Minhvà Vũ Hồng Khanh, còn của Cộng hòa Pháp là Jean Sainteny mới kí vào Hiệp định Sơ Bộ
Hiệp định Sơ Bộ ghi nhận những thỏa thuận sau:
- Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do có chính phủ, nghị viện, quân độivà tài chính riêng và là một thành phần trong Liên bang Đông Dương ởø trong khối Liênhiệp Pháp Về việc thống nhất ba kì, Pháp cam kết thừa nhận những quyết định mà nhândân Việt Nam sẽ trực tiếp phán quyết;
- Chính phủ Việt Nam đồng ý để quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoatheo cách thức được nêu trong bản phụ khoản;
- Hai bên quyết định ngay mọi phương sách cần thiết để đình chỉ xung đột, giữnguyên quân đội tại chỗ nhằm tạo không khí thuận lợi cho việc mở ngay các cuộc điềuđình về quan hệ giữa Việt Nam và các nước khác, chế độ tương lai của Đông Dương vàquyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp tại Việt Nam
Phụ khoản đính kèm mang chữ kí của đại diện Việt Nam là Võ Nguyên Giáp, củacác đại diện Pháp là Jean Sainteny và Raoul Salan Phụ khoản có các nội dung sau:
- 10 ngàn quân Việt Nam và 15.000 quân Pháp thay thế quân Trung Hoa và được đặtdưới quyền của Tư lệnh Pháp có các đại diện Việt Nam hợp tác Một hội nghị tham mưuViệt – Pháp sẽ quy định cách sử dụng các đội quân Pháp và Việt Nam Các ủy ban binh vụPháp – Việt ở tất cả các cấp sẽ duy trì sự liên lạc giữa quân đội Pháp và quân đội ViệtNam;
- Các đơn vị Pháp canh giữ quân Nhật sẽ hồi hương tối đa trong 10 tháng, các độiquân Pháp hợp tác với quân Việt Nam để giữ gìn trật tự và phòng vệ đất nước Việt Nam sẽđược quân Việt Nam thay thế theo tỉ lệ 1/5 mỗi năm, nghĩa là sự thay thế đó sẽ hoàn tấttrong thời hạn 5 năm Thời hạn phục vụ của các đơn vị bảo vệ các căn cứ không quân, hảiquân sẽ được quy định sau;
34 () Quân Anh rút khỏi miền Nam Đông Dương cũng trong tháng 3.1946
114
Trang 36- Ở các nơi đồn trú có quân đội Pháp và Việt Nam đóng giữ, sẽ có khu vực riêng chohọ;
- Pháp cam kết không dùng tù binh Nhật vào những việc có mục đích quân sự Như vậy, Việt Nam đã từ bỏ từ “độc lập” để đổi lấy cam kết của Pháp về việc rúthết quân khỏi Bắc Kì trong thời hạn 5 năm Còn về Nam Kì, hai bên đạt được một thỏathuận mang tính tương nhượng
II.1.2 Tạm ước (14.9.1946)
Tuy Hiệp định Sơ bộ được chính phủ Pháp sớm phê duyệt trong ngày 9.3, nhưngphải đến ngày 12.3, Paris mới biết nội dung của Phụ khoản Văn kiện này lập tức gây ramột phản ứng hoàn toàn trái ngược, như đã được phản ánh trong công hàm đề ngày 13.3 do
bộ Ngoại giao Pháp soạn thảo: “Việc gạt bỏ quân ta dần dần như vậy đã đặt ra một thời hạn chưa bao giờ chúng ta nghĩ tới cho mọi sự hiện diện của nước Pháp tại Bắc Kỳ, Trung Kỳ và có thể cả ở Nam Kỳ nữa Cùng một lúc, mọi hệ thống xây dựng trên nguyên tắc “một nước Việt Nam được coi như một bộ phận hữu cơ của Liên bang Đông Dương” có nguy cơ đổ vỡ Vị trí của chúng ta tại Campuchia và tại Lào cũng vì đó mà sẽ bị giảm sút một cách nghiêm trọng Hơn nữa, dưới áp lực của mọi thứ chủ nghĩa quốc gia bản địa được cả người Việt Nam lẫn người Thái Lan khuyến khích, chúng ta cũng có thể nhanh chóng rơi vào nguy
cơ mất hết ảnh hưởng chính trị tại hai nước này” Công hàm viết tiếp: “Quả thật không những địa vị của chúng ta tại Đông Dương bị lung lay một cách nghiêm trọng vì sự kiện đó [quân Pháp ở Bắc Kỳ sẽ được quân Việt Nam thay hết trong vòng 5 năm], mà những hiệp định vừa mới kí kết với Trung Quốc cũng như sự hi sinh lớn lao mà những hiệp định này biểu hiện về phía nước Pháp cũng tỏ ra là vô hiệu
Trước khi phát biểu quan điểm của mình về vấn đề nghiêm trọng này, chính phủ có trách nhiệm phải nghiên cứu những phương tiện chúng ta còn nắm trong tay nhằm duy trì ảnh hưởng của chúng ta và bảo vệ quyền lợi của chúng ta tại Đông Dương trong giả thiết mà chúng ta tự coi mình như bị ràng buộc bởi chữ kí của ông Sainteny”[21, tr.234-235]
Đó là những phương tiện nào ? Ngay trong ngày 13.3, bộ trưởng bộ Pháp quốc hải
ngoại Marius Moutet đánh điện cho d'Argenlieu: “ chúng ta có thể tổ chức một chiến dịch tuyên truyền nhằm cản trở không cho nó sáp nhập với Bắc Kì, dưới khẩu hiệu “Nam Kì của người Nam Kì” Viên cao ủy Đông Dương đồng thời bị cảnh báo rằng “từ rày về sau đừng
kí một hiệp định nào với bất cứ tính chất nào khi văn bản của nó chưa được trình lên cho Chính phủ duyệt Hãy dè dặt cân nhắc trong vấn đề thay quân [21, tr.236] Vài ngày sau, viên cao ủy Đông Dương còn được cấp trên trực tiếp là Moutet báo cho biết rằng“chính ông bộ trưởng Ngoại giao đã kịch liệt phản đối bản hiệp định quân sự” [21, tr.237]
Chính là trong bối cảnh trên, d'Argenlieu đã thực hiện một số động thái vi phạmHiệp định Sơ bộ theo hướng xây dựng một Liên bang Đông Dương phù hợp với nội dungbản tuyên bố ngày 24.3.1945 của Chính phủ lâm thời Pháp Nghiêm trọng nhất trong sốnày là hai sự kiện sau Ngày 3.6.1946, ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam Kì là Jean Cédile kíHiệp ước công nhận Cộng hòa Nam Kì là một quốc gia tự trị, có chính phủ, nghị viện, tàichính, quân đội riêng nằm trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp, nghĩa là có
Trang 37quy chế ngang hàng với VNDCCH Ngày 1.8.1946, d'Argenlieu khai mạc một hội nghị
“liên bang” tại Đà Lạt nhằm xác định vị trí trong Liên bang Đông Dương của không nhữngVương quốc Lào, Vương quốc Campuchia, mà của cả Nam Kì
Cả hai sự kiện trên đều diễn ra giữa lúc Hồ Chí Minh đang có mặt ở Paris và cuộchọp Pháp - Việt đang diễn ra ở Fontainebleau, một thành phố nhỏ cách Paris khoảng 60km
Diễn ra từ ngày 6.7.1946, Hội nghị đã bàn thảo các vấn đề sau:
- Vị trí của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp và quan hệ ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài;
- Xây dựng Liên bang Đông Dương;
- Hợp nhất ba kì và trưng cầu dân ý ở Nam Kì;
- Kinh tế;
- Soạn dự thảo hiệp ước
Ngày 11.7, đoàn Pháp đã trao cho đoàn Việt Nam công hàm chính đề cập đến quan
điểm của Pháp về vị trí của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp Công hàm nêu rõ: “ Liên hiệp Pháp chỉ tồn tại thật sự trong chừng mực mà tất cả các thành viên quán triệt hòng mong muốn phục vụ một lí tưởng chung, lí tưởng dân chủ và xã hội là tài sản chung của hai dân tộc chúng ta Chính việc góp chung tiềm năng quân sự và kinh tế của chúng ta sẽ đảm bảo sự vững chắc của toàn bộ hệ thống Cho nên sự phòng thủ bên ngoài của nước Việt Nam chỉ có thể tổ chức cùng với và đồng thời lực lượng Việt Nam và Liên hiệp Pháp Các quan hệ ngoại giao của mỗi thành viên của Liên hiệp Pháp với các quốc gia khác chỉ có thể được thực hiện thông qua các cơ quan có thẩm quyền của Liên hiệp Pháp, mỗi thành viên đều có khả năng nói lên tiếng nói của mình trong nội bộ cộng đồng này Điều lô gích là mỗi thành viên của Liên hiệp Pháp yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền của cộng đồng này cung cấp cố vấn, chuyên gia, kĩ thuật viên về mọi lĩnh vực mà họ cần”
Ngày 17.7, trưởng đoàn Pháp là Max André giải thích thêm: “Quan niệm của chúng tôi về Liên hiệp Pháp không phải là quan niệm về một đồng minh, mà là quan niệm về các quốc gia được gắn bó chặt chẽ với nhau bằng những cơ quan chung” Nói cách khác, quan
hệ của Việt Nam với Pháp là một thứ quan hệ được xây dựng dựa theo luật quốc nội
Ngày 12.7, đoàn Việt Nam trao cho Pháp công hàm phản ánh quan điểm của Việt
Nam: “Các quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp là những quan hệ hợp đồng được xác định qua con đường hiệp ước Những quan hệ đó được xác lập trên những nền tảng sau đây: a/ tự nguyện gia nhập; b/ bình đẳng về quy chế; c/ đoàn kết để bảo vệ lợi ích chung Việt Nam sẵn sàng tham gia một nghị viện của Liên hiệp Pháp với điều kiện được đại diện tương xứng với dân số nước mình và nghị viện đó chỉ là tư vấn thôi, có vai trò gửi các kiến nghị cho các quốc gia thành viên Ngoài nghị viện ra, cần có các cuộc hội kiến hàng năm giữa các thủ tướng hay đại diện của họ Mỗi chính phủ thành viên Liên hiệp Pháp được đại diện bên cạnh các thành viên khác bằng một đại biểu có quy chế ngoại giao và trực thuộc bộ trưởng ngoại giao nước mình”
Trong cuộc họp báo diễn ra cùng ngày, Hồ Chí Minh bổ sung vào công hàm trên:
116
Trang 38“Về phương diện chính trị, các quan hệ giữa Pháp và Việt Nam phải xuất phát từ một hiệp ước Hiệp ước đó phải dựa trên nguyên tắc cơ bản: quyền của các dân tộc tự quyết định số phận của mình Về phương diện kinh tế và văn hóa, chúng tôi chủ trương liên kết với nước Pháp trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp Sẽ đoàn kết mỗi khi có vấn đề lợi ích chung
Sự tồn tại của Liên bang Đông Dương là do sự cần thiết phối hợp các hoạt động của Việt Nam, Lào và Campuchia Căn bản nó phải mang nội dung kinh tế Về phần mình, Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi hơn hai nước láng giềng, sẵn sàng giúp đỡ họ nếu họ yêu cầu Nhưng Việt Nam kiên quyết ngăn chặn Liên bang trở thành một thứ chế độ toàn quyền trá hình” [21, tr.276-277]
Như vậy, Việt Nam muốn xây dựng quan hệ với Pháp như quan hệ giữa hai nướcđộc lập với nhau
Một trở ngại quan trọng khác là vấn đề Nam Kì Trưởng đoàn Việt Nam là PhạmVăn Đồng quyết liệt phản đối sự ra đời của Cộng hòa Nam Kì và tuyên bố chỉ Hội nghịFontainebleau mới có thẩm quyền thảo luận vấn đề này
Ngày 12.9.1946, Hội nghị Fontainebleau đã đổ vỡ vì hai bất đồng trên
Tuy không thể đạt đến một thỏa thuận chung cuộc, nhưng cũng không muốn nhìnthấy Hội nghị kết thúc mà không đạt được một kết quả gì, thủ tướng Pháp Georges Bidaultvà chủ tịch VNDCCH đồng ý sẽ cố kí một hiệp định hạn chế về vài vấn đề cấp bách Nửađêm ngày 14.9, Hồ Chí Minh đã đến nhà Marius Moutet Tại đây, hai người đã kí Tạm ướccó nội dung chính như sau:
“A/ Hai chính phủ khẳng định lại chính sách kí các hiệp định và hợp tác của Hiệp định sơ bộ ngày 6.3.1946 và nói mục đích của bản Tạm ước là thông qua các hiệp định hạn chế đạt những giải pháp cho những vấn đề chính đang đặt ra giữa Việt Nam và Pháp, góp phần tạo nên một không khí yên tĩnh và tin cậy trong tương lai gần để tiếp tục các cuộc thương lượng về một hiệp ước tổng quát chính thức Các cuộc thương lượng đó sẽ được nối lại càng sớm càng tốt và không được chậm quá tháng 1.1947;
B/ Việt Nam chấp nhận nguyên tắc một liên minh thuế quan và tiền tệ Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng franc Sẽ thành lập một viện phát hành giấy bạc Sẽ có một ủy ban liên hợp nghiên cứu việc khôi phục giao thông giữa Việt Nam và các nước khác thuộc Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp
Trong khi chờ đợi kí một hiệp định chính thức về quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước khác, một ủy ban liên hợp sẽ sắp xếp những biện pháp để đảm bảo có đại diện lãnh sự của Việt Nam ở các nước láng giềng
C/ Việt Nam dành ưu tiên dùng các chuyên viên Pháp
Việt Nam trên nguyên tắc có đi có lại cam kết không đặt tài sản và các doanh nghiệp Pháp ở Việt Nam dưới một chế độ chặt chẽ hơn tài sản và doanh nghiệp Việt Nam Quy chế các tài sản và doanh nghiệp Pháp chỉ được sửa đổi do sự thỏa thuận giữa hai chính phủ, các
Trang 39tài sản mà chính phủ Việt Nam đã trưng thu sẽ trả lại cho chủ Viện Pasteur sẽ được khôi phục về quyền và tài sản
D/ Kiều dân Pháp ở Việt Nam được hưởng quyền tự do định cư và các quyền tự do dân chủ như người bản quốc Kiều dân Việt Nam ở Pháp cũng được hưởng những quyền như thế Về vấn đề nghiên cứu khoa học và việc mở trường ở Việt Nam và Pháp cũng theo nguyên tắc có đi có lại như thế
E/ Hai chính phủ quyết định chấm dứt các hoạt động thù địch và bạo lực ở Nam Kì và Nam Trung Bộ Các tù chính trị và tù binh sẽ được thả Sẽ chấm dứt tuyên truyền thù địch từ cả hai phía
F/ Hai chính phủ sẽ quy định ngày và thể thức trưng cầu dân ý nói trong Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3
G/ Một nhân vật do chính phủ Việt Nam chỉ định và được chính phủ Pháp chấp thuận sẽ được ủy nhiệm bên cạnh cao ủy để giữ sự hợp tác không thể thiếu được nhằm thực hiện các sự thỏa thuận này Cuộc Hội nghị Fontainebleau sẽ tiếp tục vào tháng 1 năm 1947
Tạm ước sẽ có hiệu lực từ ngày 30 tháng 10 năm 1946.”
II.1.3 Quan hệ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Pháp sau Tạm ước
Nội dung của Tạm ước cho thấy VNDCCH đã đáp ứng những yêu cầu chính củaPháp: Liên bang Đông Dương, thống nhất quan thuế, tiền tệ, phối hợp giao thông, dành ưutiên cho Pháp liên quan đến cố vấn và chuyên gia, trả lại tài sản cho người Pháp và dànhcho họ sự dễ dàng trong sinh hoạt kinh tế Về phần mình, Pháp tái khẳng định cam kết tổchức trưng cầu dân ý ở Nam Kì và chấm dứt chiến sự vào ngày 30.10.1946
Một tuần sau khi Tạm ước được kí, Marius Moutet đã gửi cho d'Argenlieu Chỉ thị
chính trị nêu rõ: “Nếu Tạm ước phải được phía chúng ta thi hành nghiêm chỉnh thì trước hết chính là để khơi động một sự giảm bớt căng thẳng, để nhờ vào đó chúng ta cần xem xét lại toàn bộ chính sách của mình Chúng ta cần cố gắng khơi dòng cho sự hòa dịu đó ngay từ bây giờ và tránh mọi động thái có thể đầu độc quan hệ Pháp – Việt trước ngày Tạm ước có hiệu lực, tức 30.10.1946 Thực tế, chúng ta không được phéùp tính đến một chính sách bạo lực với hi vọng thành công vì khả năng quân sự hiện nay và sau này của ta có hạn
Chính phủ đã quyết định thi hành tại Nam Kì một chính sách có tính chất dân chủ thực sự vì đó là chính sách duy nhất có thể cải thiện tình hình địa phương ở Nam Kì, nhưng cũng cần thiết để giải quyết toàn bộ vấn đề Việt Nam nói chung
Nhiệm vụ của Ngài là cho thi hành càng nhanh càng hay Điều 9 của Tạm ước, là điều khoản nhằm thiết lập những quyền tự do dân chủ ở Nam Kì ( ) Chính phủ Pháp không sợ sự phát triển của một nền dân chủ thực tình tại Nam Kì, ngay cả khi một chế độ tự do như
118
Trang 40vậy sớm muộn sẽ dẫn đến sự thống nhất ba kì, dưới hình thức này hay hình thức nọ”[21,
tr.316-319]
Ngày 1.10, bộ Quốc phòng đã gửi đến d'Argenlieu chỉ thị kí những hiệp định thammưu với phía Việt Nam để bổ sung Tạm ước Như vậy, Paris đã chỉ thị cho viên cao ủyPháp ở Đông Dương nghiêm túc thực hiện Tạm ước, nhất là ở nội dung đình chỉ chiến sự ởNam Kì và Nam Trung Kì, nhằm tạo bầu không khí thuận lợi tiến đến kí bản hiệp địnhchung cuộc, lôi kéo Việt Nam vào Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp
Tuy nhiên, cơ hội để hai bên tiếp tục đàm phán ngày càng bị thu hẹp do những cuộcđụng độ quân sự diễn ra ngày càng nhiều, nghiêm trọng nhất là vụ Pháp bắn phá Lạng Sơnngày 27.10.1946, Hải Phòng ngày 23.11.1946 Những cuộc xung đột vừa nêu đã đẩy quanhệ giữa chính quyền Việt Nam và các giới chức Pháp có mặt ở Việt Nam đến bờ vực củachiến tranh Tại cuộc họp của Ủy ban liên bộ Đông Dương diễn ra ngày 23.11, d'Argenlieu
đang có mặt ở Paris đã đề nghị “ngừng thi hành Tạm ước” và lên tiếng trách Chính phủ đã
không kiên quyết trong vấn đề Nam Kì
Vài ngày sau, Valluy, Tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, ngườiđang tạm quyền thay d'Argenlieu trong thời gian ông này về Pháp, đã gửi điện về Paris xinthêm viện binh Ngày 6.12, Valluy gửi điện về Paris xin được dùng vũ lực mở đường HàNội – Hải Phòng Tuy nhiên, các giới chức có thẩm quyền ở Paris đã không đồng ý Ngày11.12, Moutet báo cho Valluy biết chính phủ không thể tăng viện cho Đông Dương và giaocho Sainteny – ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc bộ – nhiệm vụ thuyết phục Hồ Chí Minh cảithiện tình hình Sau đó, Chính phủ mới xem xét có nên bổ sung quân viện không
Về phần mình, Chính phủ Việt Nam cũng cố tìm cách vãn hồi tình hình và liên tiếpđưa ra nhiều đề nghị nhằm giải tỏa tình trạng căng thẳng trong quan hệ với giới chức Pháp
ở Việt Nam Ngày 15.12, Hồ Chí Minh nhờ Sainteny chuyển một bức điện cho Chính phủPháp, trong đó ông đưa ra những đề nghị sau: phía Việt Nam sẽ yêu cầu dân chúng hồi cưvà vãn hồi đời sống kinh tế bình thường, lập lại giao thông bình thường trên các trục chính,dân chúng sẽ hủy bỏ các biện pháp tự vệ; phía Pháp trở lại các vị trí trước ngày 20.11,chấm dứt càn quét và khủng bố ở Nam Bộ và Nam Trung bộ; hai bên thỏa thuận đưa vàohoạt động các ủy ban thi hành Tạm ước ở Hà Nội và Sài Gòn Tuy nhiên, mãi đến 20.12bức điện mới được chuyển đến Paris
Từ ngày 17.12, các đơn vị quân Pháp tiến hành nhiều hoạt động càn quét, gây hấnvà khiêu khích ở Hà Nội Ngày 19.12.1946, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc khángchiến chống Pháp
II.1.4 Chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ.
Trách nhiệm để cho chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ trước hết thuộc về giới thựcdân ở Đông Dương, mà đại diện là cao ủy d’Argenlieu, nhưng lại là diễn biến nằm ngoài ý