Giáo trình kinh tế quốc tế mới nhất Giáo trình gồm 6 chương Chương 1: Thương mại quốc tế Chương 2: Những công cụ của chính sách thương mại quốc tế Chương 3: Ảnh hưởng của chính sách thương mại Chương 4: Bảo hộ mậu dịch Chương 5: Sự hợp nhất kinh tế Chương 6: Tài chính quốc tế
Trang 1CHƯƠNG I : THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1 Khái quát về thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm
Thương mại quốc tê (TMQT) là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên
Nội dung của thương mại quốc tế
Xuất – nhập khẩu hàng hóa hữu hình thông qua xuất nhập khẩu trực tiếp hay xuất nhập khẩu ủy thác
-Xuất nhập khẩu hàng hóa vô hình
-Gia công thuê cho khách hàng nước ngoài (trình độ thấp) hoặc thuê nước ngoài gia công (trình độ cao)
-Tái xuất khẩu và chuyển khẩu: nhập khẩu tạm thời sau đó lại tiến hành xuất
khẩu sang nước thứ 3 mà không trải qua quá trình gia công chế biến Chuyển khẩuchỉ là việc thực hiện các dịch vụ như quá cảnh,lưu kho, lưu bãi… mà không cóhành vi mua và bán
-Xuất khẩu tại chỗ: bán hàng cho các chủ thể nước ngoài nhưng hàng hóa,
dịch vụ không di chuyển qua biên giới lãnh thổ của quốc gia
1.1.2 Chức năng
TMQT làm biến đổi cơ cấu giá trị sử dụng của sản phẩm xã hội và thu nhậpquốc dân trong nước thông qua việc xuất và nhập khẩu nhằm đạt tới cơ cấu kinh tế
có lợi cho nền kinh tế trong nước
TMQT góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, do việc mởrộng trao đổi mà khai thác triệt để lợi thế nền kinh tế trong nước trên cơ sở phâncông lao động quốc tế, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành
Thương mại quốc tế được phân chia thành thương mại bù đắp và thương mạithương mại thay thế
-Thương mại bù đắp: diễn ra do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trang 2-Thương mại thay thế: diễn ra trên cơ sở phân công lao động quốc tế đa đạtđến trình độ cao, tiến hành chuyên môn hóa vào những mặt hàng có ưu thế
1.1.3 Đặc điểm
Thương mại quốc tế những năm gần đây có xu hướng tăng trưởng nhanh hơntốc độ tăng trưởng của nền sản xuất -> tỷ trọng kim ngạch ngoại thương trong tổngsản phẩm quốc dân của mỗi quốc gia ngày càng lớn
Thương mại vô hình tăng trưởng nhanh hơn thương mại hữu hình, được thểhiện sâu sắc trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu xuất – nhập khẩu của mỗi quốc gia
Cơ cấu các mặt hàng trong thương mại quốc tế có sự thay đổi đáng kể
-Giảm đáng kể tỷ trọng các mặt hàng lương thực, thực phẩm và đồ uống
-Giảm mạnh tỷ trọng của nhóm hàng NVL, tăng nhanh tỷ trọng của mặt hàngdầu mỏ, khí đốt
-Giảm tỷ trọng hàng thô, tăng nhanh tỷ trọng của mặt hàng công nghiệp chếtạo, máy móc thiết bị và những mặt hàng tinh chế
- Giảm tỷ trọng mặt hàng chứa đựng nhiều lao động giản đơn
- Tỷ trọng buôn bán nhữngmặt hàng vốn lớn, công nghệ cao tăng nhanh
Sự phát triển của thương mại quốc tế ngày càng mở rộng về phạm vi, phươngthức cạnh tranh thông qua nhiều công cụ: giá cả, chất lượng,mẫu mã, điều kiện giaohàng…các điều kiện khác
Chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng được rút ngắn
Sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế thúc đẩy tự do hóa song giữa cácliên kết kinh tế cũng hình thành các hàng rào mới đòi hỏi bảo hộ mậu dịch ngàycàng tinh vi hơn
Vai trò của WTO ngày càng lớn trong thương mại quốc tế
1.2 Các lý thuyết về thương mại quốc tế
1.2.1 Chủ nghĩa trọng thương
a Khái niệm:
Chủ nghĩa trọng thương là trường phái kinh tế chính trị tư sản đầu tiên thể
hiện chính sách đặc biệt thời kỳ đầu tích lũy tư bản, đề cao vai trò của Nhà nướccầm quyền trong hoạt động kinh tế và quyền lợi của giới doanh thương
Trang 3Chủ nghĩa trọng thương chủ trương chính sách bảo hộ mậu dịch (chế độ thuế quan bảo hộ) ,chỉ chú ý đến xuất khẩu.
Coi trọng giá trị của Vàng Coi dự trữ nhiều vàng thể hiện sức mạnh của quốc gia
Ngoài ra ,quan niệm của phái trọng thương về nhân công và công xá cũng có nhiều lệch lạc,.Theo họ muốn gia tăng xuất khẩu để có nhiều kim quý thì phải có
nhiều nhân công, tiết kiệm chi phí bằng cách giảm tiền lương nhân công…
1.2.2 Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
a Đặc điểm tình hình
Từ đầu thế kỷ 18 nền kinh tế các nước Tây Âu đã có những thay đổi đángkể:
- Xã hội kinh tế phát triển nhiều thành phần kinh tế
- Công nghiệp phát triển, đặc biệt tài Anh
- Mậu dịch từ nộ bộ địa phương mở rộng ra toàn quốc và toàn cầu, các mặthàng xuất khẩu đa dạng hơn: vải dệt, sản phẩm sắt, than,da thuộc…
- Hệ thống ngân hàng phát triển,hệ thống thương phiếu ra đời
- Vai trò của DN được đề cao Họ được quyền từ quyết nhiều vấn đề trongSXKD Họ không còn chịu sự kiểm soát của chính quyền địa phương,giáo hộihay quân đội như trước đây
* Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khimỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm
có mức chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chiphí trung bình của quốc tế thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi
Trang 4b Giả định:
- Thế giới có hai quốc gia và mỗi quốc gia sản xuất hai mặt hàng
- Đồng nhất chi phí sản xuất với tiền lương cá nhân
- Giá cả hoàn toàn do chi phí sản xuất quyết định
c Mô hình đơn giản:
Sản phẩm Hoa Kỳ AnhLúa mì
- Hoa Kỳ có lợi thế tuyệt đối so với Anh về sản xuất lúa mì
- Anh có lợi thế tuyệt đối so với Hoa Kỳ về sản xuất vải
d Kết luận
- Coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị, là đồng nhất và được
sử dụng với tỉ lệ như nhau trong tất cả các loại hàng hoá.
- Đề cao vai trò của các cá nhân và doanh nghiệp, ủng hộ một nền thương mại tự do, không có sự can thiệp của chính phủ
- Thấy được tính ưu việt của chuyên môn hóa
1.2.3 Lợi thế so sánh
Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương
mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng cácnước khác trong việc sản xuất mọi hàng hóa
a Phân tích của Ricardo về lợi thế so sánh
- Không có chi phí vận chuyển
- Chi phí sản xuất đồng nhất với tiền lương
- Những hàng hoá trao đổi giống hệt nhau
Trang 5- Thông tin hoàn hảo dẫn đến cả người bán và người mua đều biết nơi có hànghoá rẻ nhất trên thị trường quốc tế.
* Nội dung quy luật
Ông đã phân tích như sau:
Bảng 1 - Chi phí về lao động để sản xuấtSản phẩm Tại Anh (giờ công) Tại Bồ Đào Nha (giờ công)
Trong ví dụ này Bồ Đào Nha có lợi thế tuyệt đối so với Anh trong sản xuất
cả lúa mỳ lẫn rượu vang: năng suất lao động của Bồ Đào Nha gấp hai lần Anhtrong sản xuất rượu vang và gấp 1,5 lần trong sản xuất lúa mỳ Theo suy nghĩ thôngthường, trong trường hợp này Bồ Đào Nha sẽ không nên nhập khẩu mặt hàng nào
từ Anh cả Thế nhưng phân tích của Ricardo đã dẫn đến kết luận hoàn toàn khác:
1 đơn vị rượu vang tại Anh sản xuất phải tốn chi phí tương đương với chi phí
để sản xuất 2 đơn vị lúa mỳ ; trong khi đó, tại Bồ Đào Nha, để sản xuất 1 đơn vịrượu vang chỉ mất chi phí tương đương với chi phí để sản xuất 1,5 đơn vị lúa mỳ
Vì thế ở Bồ Đào Nha sản suất rượu vang rẻ hơn tương đối so với ở Anh
Tương tự như vậy, ở Anh, sản xuất lúa mỳ rẻ hơn tương đối so với Bồ ĐàoNha Hay nói một cách khác, Bồ Đào Nha có lợi thế so sánh về sản xuất rượu vangcòn Anh có lợi thế so sánh về sản xuất lúa mỳ Để thấy được cả hai nước sẽ cùng
có lợi nếu chỉ tập trung vào sản xuất hàng hoá mà mình có lợi thế so sánh: Bồ ĐàoNha chỉ sản xuất rượu vang còn Anh chỉ sản xuất lúa mỳ rồi trao đổi thương mạivới nhau, Ricardo đã làm như sau:
Một cách tổng quát ta có công thức tính lợi thế So sánh như sau:
Nếu
CPSX X(I) > CPSX X(II)CPSX Y (I) CPSX Y (II)Thì Quốc gia I sẽ có lợi thế so sánh ở mặt hàng Y
Quốc gia X sẽ có lợi thế so sánh ở mặt hàng X
Trang 61.3 Chính sách thương mại quốc tế
1.3.1 Khái niệm, vai trò
Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm,mục tiêu, nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của mỗi quốc gia trong thời kỳ nhất định, nhằm đạt được mục tiêu trong chiến lược phát triển của quốc gia đó
Vai trò của chính sách thương mại quốc tế:
-Phục vụ cho sụ phát triển kinh tế của đất nước, hỗ trợ quá trình tái sản xuất,chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, hình thành quy mô và phương thức thamgia của mỗi nền kinh tế vào phân công lao động quốc tế
-Khai thác triệt để lợi thế so sánh của mỗi nền kinh tế, phát triển các ngànhsản xuất và dịch vụ đến quy mô tối ưu
1.3.2 Các hình thức của chính sách thương mại quốc tế
Thứ nhất: Chính sách thương mại tự do Đây là chính sách ngoại thương mà trong đó nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tiết ngoại thương,
mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa cho hàng hoá và tư bản tự do lưu thông, tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển trên cơ sở quy luật tự do cạnh tranh Thứ hai: Chính sách bảo hộ thương mại Đây là chính sách ngoại thương của các nước nhằm một mặt sử dụng các biện pháp nhằm bảo vệ thị trường nội địa trước sự cạnh tranh dữ dội của hàng hoá ngoại nhập Mặt khác, nhà nước nâng đỡ các nhà kinh doanh trong nước bành trướng ra nước ngoài.
Trang 7CHƯƠNG II : NHỮNG CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH NHẬP KHẨU 2.1 Thuế quan nhập khẩu
2.1.1 Thuế quan được tính theo số lượng hàng hóa
Ðây là một loại thuế nhập khẩu được tính theo giá trị cố định bằng tiền trên một đơn vị hàng hóa nhập khẩu Việc thu thuế này dễ dàng, bởi vì thuế chỉ phụ thuộc vào lượng hàng hóa nhập vào mà không quan tâm đến giá trị tiền tệ của nó
2.1.2 Thuế quan được tính theo giá trị hàng hóa
Loại thuế này được đánh theo một tỷ lệ phần trăm cố định trên giá trị tiền tệ của một đơn vị hàng hóa nhập khẩu Tính thuế này đòi hỏi nhân viên hải quan phải
có chuyên môn cao về đánh giá giá trị hàng hóa nhập khẩu
2.1.3 Các loại thuế quan khác
a Thuế quan nhân nhượng
Là loại thuế được áp dụng cho một loại hàng hóa nhập khẩu được tính theo vị trí địa lý của quốc gia tham gia thương mại; một quốc gia được hưởng loại thuế này thường chi mức thuế quan thấp hơn Một thí dụ là Hệ thống ưu đãi tổng quát,
với loại thuế này nhiều nước phát triển cho phép nhập khẩu không đóng thuế đốivới một danh mục các mặt hàng đã được lựa chọn, nếu như những hàng hóa đóđược nhập khẩu từ một số nước đang phát triển
b.Thuế quan đánh trên những nước được hưởng tối huệ quốc
Một loại thuế quan đang được sử dụng rộng rãi là thuế quan đối với các nướcđược hưởng chế độ tối huệ quốc Loại thuế này dành cho một quốc gia có đượcnhững ưu đãi đặc biệt so với các quốc gia khác Tuy nhiên, loại thuế này cũng cónghĩa ngược lại là : nó là một yếu tố không phân biệt trong chính sách thuế quan
c Thuế quan đối với những hàng hóa lắp ráp tại công ty đặt ở nước ngoài (OAP)
Trang 8Loại thuế này tồn tại trong một vài nước phát triển, với loại thuế này thì mứcthuế quan trên một hàng hóa được lẳpáp tại công ty đặt ở nước ngoài sẽ thấp hơnmức thuế quan được đưa ra trong biểu thuế
2.2 Thuế xuất khẩu và trợ cấp xuất khẩu
Một thuế xuất khẩu chỉ đánh trên những hàng hóa được sản xuất trong nước dành cho xuất khẩu, không dành cho tiêu dùng trong nước Thuế này có thể được
tính dựa trên số lượng hàng hóa xuất khẩu hoặc được tính dựa trên giá trị của hànghóa
Một trợ cấp xuất khẩu, thực tế đây là một khoảng thuế xuất khẩu âm hoặc là một sự chi trả của nhà nước cho doanh nghiệp khi một đơn vị hàng hóa được xuất khẩu, Trợ cấp này, hướng tới việc gia tăng luồng thương mại của quốc gia Tuy
nhiên, nó bóp méo kiểu thương mại dựa trên lợi thế so sánh, và giống như thuế, nó
sẽ can thiệp vào luồng hàng hóa và dịch vụ được thương mại tự do, cũng như nó sẽlàm giảm phúc lợi của thế giới
2.3 Những hàng rào phi thuế quan đối với thương mại tự do
2.3.2 Hạn chế xuất khẩu song phương
Trong những năm gần đây, một hình thức khác của hạn ngạch nhập khẩu đãtrở nên phổ biến là hình thức hạn chế xuất khẩu song phương (VER) hoặc là thỏa
thuận hạn chế song phương (VRA) Một quốc gia lựa chọn hình thức đi đến một
Trang 9thỏa thuận về mặt quản lý đối với nhà cung cấp nước ngoài trong việc hạn chế xuất khẩu một số hàng hóa xuất khẩu sang nước nhập khẩu một cách song phương
Trang 10CHƯƠNG III : ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
3.1 Những hạn chế thương mại trong mô hình từng phần: trường hợp những nước nhỏ
3.1.1 Ảnh hưởng của thuế quan nhập khẩu
Trong đất nước nhỏ, việc đặt ra một tỷ suất thuế quan t =20% sẽ làm cho giá
cả trong nước gia tăng bởi một lượng bằng txP0 = 1, có nghĩa là giá cả mới sẽ bằng
P1 = 6 Sự gia tăng giá cả từ P0 đến P1 sẽ làm cho lượng cầu giảm xuống từ 190 đến
160 và lượng cung trong nước sẽ tăng từ 100 đến 120, đồng thời lượng hàng nhậpkhẩu sẽ giảm xuống từ 90 đến 40
Đồng thời :
Thay đổi trong thặng dư tiêu dùng (-) = SABFG + SFGH
= ($1) (160) + (1/2) ($1) (30) = - $175
5 6
0
B A
Trang 11Thay đổi trong thặng dư sản xuất (+) = SABCK – SJCK
Tương ứng với mức hạn ngạch 60 thì giá cả trong nước là 6
Đồng thời: Thay đổi trong thặng dư tiêu dùng (-) = SABFG + SFGH
5 6
0
B A
int = 5
Qhn = 40
Trang 12= ($1) (160) + (1/2) ($1) (30) = - $175
Thay đổi trong thặng dư sản xuất (+) = SABCK – SJCK
= ($1) (120) - (1/2) ($1) (20) = + $110
Tuy nhiên thu nhập của chính phủ thì lại khác sự khác nhau giữa giá cả quốc
tế và giá cả trong nước của hàng nhập khẩu là một phí hạn ngạch kinh tế đối vớinhững nhà nhập khẩu và bán lẻ trong nước, nhà cung cấp nước ngoài và chính phủ,hoặc là được phân chia trong số ba tác nhân đó Thực tế nếu chính phủ không bánhạn ngạch thì phần tăng thêm do giá cả hàng hóa tăng thuộc về nhà nhập khẩu vàcác nhà cung cấp nước ngoài mà chính phủ không có một khoản thu nào
b Trợ cấp cho ngành sản xuất cạnh tranh nhập khẩu
Mức trợ cấp của chính phủ là $1 cho mỗi đơn vị sản phẩm được sản xuất làm:
- Đường cung S dịch chuyển theo hướng đi xuống song song với đường cung
cũ và trở thành đường cung S’.
5 6
S ’
A B
K C
Trang 13- Những nhà sản xuất bây giờ sẽ sản xuất 120 đơn vị thay vì 100 đơn vị tại mức giá cả thế giới $5.
- Giá thị trường trong nước vẫn là 5$
- Thăng dư tiêu dùng không thay đôi.
- Những nhà sản xuất nhận một sự giao chuyển nguồn lợi bằng với diện tích ABCK từ chính phủ Trong đó, ABJK biểu hiện cho khoảng nguồn lợi đạt được trong thặng dư sản xuất và JCK là khoảng mất mát hiệu quả trong sản xuất Chi phí trợ cấp của những người đóng thuế bằng với lượng chuyển giao trợ cấp bằng với diện tích ABCK
3.1.3 Ảnh hưởng của chính sách xuất khẩu
a Thuế xuất khẩu
Việc đưa ra thuế xuất khẩu - loại thuế đánh trên những hàng hóa được xuấtkhẩu- sẽ dẫn đến một sự gia giảm giá cả trong nước khi những nhà sản xuất mởrộng doanh số trong nước bởi việc hạ giá bán trong nước để tránh đóng thuế trênnhững hàng xuất khẩu Giá cả trong nước (Pd) giảm xuống cho đến khi nó bằng vớigiá cả thế giới (Pint) trừ đi lượng thuế (xem đồ thị) (chú ý là trong tình trạng xuấtkhẩu thì những giá cả thế giới nằm ở trên giao điểm của đường cầu và đường cungtrong nước.)
Thặng dư sản xuất giảm = SABFG
Thặng dư tiêu dùng tăng = SABCH
Chính phủ thu được = SHJEG
SCJH và SEFG biểu hiện những mất mát hiệu quả do số lượng giảm được dẫnđến từ sự bóp méo giá cả Những diện tích này biểu hiện cho những mất mát trongthặng dư sản xuất và sự mất mát này không được chuyển cho bất cứ ai trong nềnkinh tế
Trang 14b Ảnh hưởng của hạn ngạch xuất khẩu
Nếu một hạn ngạch xuất khẩu thay vì một thuế xuất khẩu được đưa ra, thìảnh hưởng của nó cũng giống như ảnh hưởng của thuế xuất khẩu Tuy nhiên, ảnhhưởng phúc lợi của 2 công cụ này thì khác nhau bởi vì giống với hạn ngạch nhậpkhẩu chính phủ sẽ không có thu nhập hoặc chỉ được một phần
c Ảnh hưởng của trợ cấp xuất khẩu
Một trợ cấp xuất khẩu có tác động như là một thuế xuất khẩu âm Kết quả là,những ảnh hưởng của công cụ này có thể được phân tích theo cách giống như đãđược sử dụng khi phân tích thuế xuất khẩu
Pint
Pd
D S
Trang 15Trợ cấp xuất khẩu sẽ dẫn đến một sự gia tăng:
- Giá cả trong nước từ P int đến P d
- Sản lượng tăng từ Q s0 đến Q s1 và lượng hàng hóa xuất khẩu gia tăng từ Q d0 Q s0
đến Q d1 Q s1
- Thặng dư tiêu dùng giảm xuống một lượng bằng với diện tích ABC
- Thặng dư sản xuất tăng bằng với diện tích ABFH
- Mất mát do giảm lượng tiêu dùng cho xã hội bằng với diện tích ECJ và HFG
- Chi phí của chương trình trợ cấp là ECFG
3.2 Những hạn chế thương mại trong mô hình cân bằng từng phần:
Trường hợp những nước lớn
3.2.1 Cơ sở phân tích
a Đường cầu nhập khẩu
Đường cầu nhập khẩu là đồ thị phản ánh mối quan hệ giữa giá cả hàng hóa
và lượng nhập khẩu của một sản phẩm của một nước trong một thờikỳ nhất
định
P
0
P1P
Trang 16Tại các mức giá P 0 , P 1 , P 2 mức nhập khẩu của quốc gia lần lượt là 0, ∆Q 1 ,
∆Q 2 , Trên cơ sở đó ta có đường cấu nhập khẩu D m
a Đường cung xuất khẩu
Cách xác định đường cung xuất khẩu tương tự như đường cầu nhập khẩu
3.2.2 Ảnh hưởng của thuế quan đến nhập khẩu
Đồ thị (a) - ảnh hưởng của thuế quan theo số lượng nhập khẩu
Đồ thị (b) - ảnh hưởng của thuế quan theo giá trị nhập khẩu
Khi chưa có thuế quan thị trường cân bằng tại điểm E(P0,Q0)
2
∆ Q
1
Lượng cầu
Sm S’m
Dm
Sm S’m
o
Q o
F
Trang 17Khi thuế quan được tính theo số lượng hàng nhập khẩu, Ðường cung hànghóa nhập khẩu dịch chuyển từ Sm lên S’m
Điểm cân bằng E sẽ dịch chuyển đến điểm E’(P1,Q1)
Những nhà cung cấp hàng nhập khẩu nước ngoài nhận được một giá cả thấphơn trên mỗi đơn vị hàng hóa nhập khẩu P2 thay vì là P0 Sự khác biệt giữa giá màngười tiêu dùng phải chi (P1) và giá cả được nhận bởi những nhà sản xuất nướcngoài (P2) chính bằng mức thuế quan trên mỗi đơn vị hàng hóa được nhập khẩu Tổng số thu nhập từ thuế nhập khẩu của nhà nước của nước nhập khẩu =
G
Trang 18Ðường Dm biểu hiện cho lượng cầu hàng hóa nhập khẩu như trước đây vàđường cung hàng hóa nhập khẩu dưới điều kiện thương mại tự do là đường RSm.Trong điểm cân bằng thương mại tự do, lượng Q0 được nhập khẩu tại mức giá P0
Chính phủ đưa hạn ngạch là Q1 ->Ðường cung hàng hóa nhập khẩu do vậy sẽ
là đường RFSm, là đường cung hàng hóa nhập khẩu thông thường từ R đến F (vớiđiểm F xuất hiện tại lượng hạn ngạch Q1) nối với đường thẳng đứng chỉ ra rằngkhông có hàng hóa nhập khẩu nào được nhập vào sau lượng Q1
Vị trí cân bằng thị trường với hạn ngạch đưa ra bây giờ là điểm E’ tại mức giácân bằng P1
Vùng P1P2FE’ biểu hiện lợi ích từ hạn ngạch, phần này có thể thuộc về ai đó.Bởi vì chính phủ phải kiểm soát lượng hàng hóa nhập khẩu nên chính phủ sẽphát hành giấy phép nhập khẩu cho doanh nghiệp Chính phủ có thể có được thunhập từ việc bán giấy phép này Nếu chính phủ quyết định không thực hiện việcbán giấy phép này thì những tác nhân khác sẽ là người hưởng lợi Nếu như nhữnggiấy phép nhập khẩu này được phân phối dựa trên cơ sở để tăng cường việc quản lýhàng nhập khẩu hoặc dựa trên thị phần của doanh nghiệp trên thị trường, thì nhữngdoanh nghiệp sẽ là người nhận lấy thu nhập thêm vào từ hạn ngạch Cũng có thểnhững nhân viên của chính phủ là người hưởng lợi từ việc hối lộ Những nhà kinh
tế phê phán chính sách này không có tác dụng làm tăng hiệu quả của việc phân phốinguồn lực Thêm vào đó, việc phân phối hạn ngạch dựa trên thị phần sẽ làm phânbiệt đối xử công bằng với những doanh nghiệp mới Một khả năng khác là, nếu nhưnhững doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài tương đối ít và có khả năng gia tăng nỗlực của họ trước chính sách hạn ngạch này thì chúng có khả năng sử dụng quyềnlực độc quyền của họ để tạo ra giá P1 khi họ bán hàng thay vì là giá P2 Trongtrường hợp này, lúc này toàn bộ nguồn lợi sẽ thuộc về những người cung cấp nướcngoài này
Trang 19Tam giác GEE’ là tổng sự mất mát hiệu quả do lượng hàng trao đổi giảm liênquan đến việc tiêu dùng trong nước giảm và việc gia tăng tính không hiệu quả củasản xuất trong nước Ảnh hưởng của hạn chế xuất khẩu song phương
Hạn chế xuất khẩu song phương (VER) được chỉ ra giống như hạn ngạchnhập khẩu khi đồ thị đó không chỉ ra nguồn gốc của sự hạn chế Ảnh hưởng của giá
cả trong nước và lượng nhập khẩu là như nhau Tuy nhiên, sự khác biệt quan trọng
là vùng thể hiện thu nhập hạn ngạch bây giờ chắc chắn thuộc về nhà cung cấp nướcngoài Với lượng hàng nhập khẩu hạn chế và với sự kiểm soát của nước xuất khẩu,thì đất nước đó có thể tăng giá cả đến mức P1 Ảnh hưởng phúc lợi cho nước chủnhà từ VER do vậy là khoảng bị thiệt bằng với khoảng bị thiệt của hạn ngạch nhậpkhẩu khi nhà xuất khẩu nước ngoài nắm giữ thu nhập hạn ngạch Trong tất cảnhững tình trạng khác, sự mất mát cho nước nhập khẩu từ VER đều lớn hơn so với
sự mất mát từ hạn ngạch nhập khẩu
3.2.4 Ảnh hưởng của thuế xuất khẩu
Vị trí cân bằng thương mại tự do tại điểm E(P0, Q0)
Giá xk
Lượng xk
Giá xk
Lượng xk Dx
Sx S’x
Dx
Sx S’x
o
Q o
Trang 20Với thuế xuất khẩu tính theo giá trị hàng hóa, đường Sx sẽ dịch chuyển đếnđường S’x
những người mua nước ngoài phải chi với giá cao hơn, P1 trên mỗi
đơn vị xuất khẩu so với tại mức giá P0 trong điều kiện thương mại tự
do, và những nhà cung cấp hàng xuất khẩu trong nước nhận đượcmức giá thấp hơn (P2) trên mỗi đơn vị thay vì là P0
Lượng xuất khẩu giảm xuống từ Q0 đến Q1
Thu nhập thuế xuất khẩu là vùng P1P2FE’ Một phần của thu nhập
này đứng về mặt kinh tế được chi bởi những người mua nước ngoài(P0P1E’G), và phần còn lại được chi bởi những nhà sản xuất trongnước (P2P0GF) mặc dù nhận được thu nhập thấp hơn Thuế xuấtkhẩu làm tổn thương đến những nhà sản xuất trong nước, nhưngnhững người tiêu dùng trong nước thì có lợi do giá cả trong nướcgiảm Ðiều này trái ngược với thuế quan nhập khẩu - những nhà sảnxuất có lợi hơn và những người tiêu dùng trong nước bị thiệt do giá
cả trong nước tăng Mức độ mà tại đó thuế xuất khẩu được chi bởinhững người mua nước ngoài liên quan đến những nhà sản xuất trongnước phụ thuộc vào độ dốc của đường cung và đường cầu
Lý do các quốc gia sử dụng thuế xuất khẩu:
- Tạo nguồn thu cho chính phủ
- Khống chế áp lực lạm phát
- Tái phân phối thu nhập trong nươc
- Cải thiện tỷ số thương mại (Pxk/Pnk) -> tăng phúc lợi cho đất nước
3.2.5 Trợ cấp xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu là một thuế xuất khẩu âm, phân tích hai công cụ này giốngnhau về mặt phương pháp
Trang 21Trong đồ thị, điểm cân bằng trong thị trường xuất khẩu ban đầu tại điểmE(P0,Q))
Khi chính phủ của nước chủ nhà đưa ra trợ cấp xuất khẩu, thì đường Sx sẽ dịch chuyển thẳng đứng theo hướng đi xuống (tăng trong cung) đến S’x, đường nàysong song với Sx Điểm cân bằng mới là tại điểm E’(P2,Q1) Bởi vì bây giờ có một động lực tương đối lớn hơn cho nhà sản xuất hàng hóa xuất khẩu, nên lượng hàng hóa được bán ở thị trường trong nước giảm xuống sẽ làm cho giá cả trong nước tăng lên đến P1
-> người tiêu dùng trong nước bị tổn hại khi nhà sản xuất trong nước nhận được khoảng trợ cấp này
Khi sd trợ cấp xuất khẩu thì chính phủ không có nguồn thu và số tiền chi tiêu cho trợ cấp bù đắp bằngviệc tăng thuế hoặc lãi suất…
Giá xk
Lượng xk Dx
S’x Sx
E
’
E P
Trang 22CHƯƠNG VI: BẢO HỘ MẬU DỊCH 4.1 Những tranh luận cổ điển về bảo hộ mậu dịch
4.1.1 Những tranh luận về bảo hộ mậu dịch của ngành công nghiệp non trẻ
Cơ sở: dựa trên sự tồn tại của kinh tế quy mô trong một ngành hoặc 1 xínghiệp
Phân tích:
- Bảo hộ giúp nâng cao sức cạnh tranh cho ngành trong thị trường trong nước,giúp
Nâng cao sản lượng, mở rộng quy mô đạt tới được kinh tế quy mô-> chi phí
sx trong dài hạn giảm xuống -> ngành xuất khẩu
-Nâng cao năng suất lao động của lực lượng sx trong dài hạn, tạo ra lợi thếcủa ngành
-Những người tiêu dùng của nước chủ nhà sẽ được yêu cầu tài trợ cho việc
mở rộng ngành trong dài hạn, nhưng họ sẽ được trả lại nhiều hơn khi kinh tế qui
mô được nhận ra
Điều kiện ad:
-Thường ở những nước đang phát triển ( Chương trình sản xuất thay thế hàngnhập khẩu)
-Bảo hộ những ngành có khả năng tạo ra chi phí thấp trong dài hạn để hướng
về xuất khẩu
-Xác định đúng chính sách bảo hộ liên quan:thuế quan, trợ cấp, chính sách lãisuất hay hỗ trợ những khoản vay dài hạn…
4.1.2 Tranh luận về tỷ số thương mại trong bảo hộ mậu dịch
Cơ sở: Phân tích phúc lợi của các quốc gia thông qua chính sách thương mạihạn chế
Phân tích: phúc lợi của thế giới sẽ sụt giảm khi bảo hộ mậu dịch xảy ra, bởi vìnhững nguồn lợi đạt được của nước bảo hộ sẽ lớn hơn những mất mát phúc lợi ở
Trang 23các nước khác Nói cách khác, chính sách bảo hộ mậu dịch là chính sách làm nghèohàng xóm
- Chính sách thương mại hạn chế có thể làm gia tăng tỷ số Phàngxuấtkhẩu /
kinh tế, việc sử dụng một thuế quan của nước chủ nhà sẽ làm giảm nhu cầu hàngnước ngoài trên thị trường thế giới Cuối cùng, giá cả thế giới của hàng nhập khẩu
sẽ giảm xuống và PX/PM sẽ gia tăng Việc sử dụng thuế quan có tiềm năng làm giatăng phúc lợi quốc gia, mặc dù phúc lợi các nước ngoài sẽ giảm xuống khi tỷ sốthương mại hàng hóa của nước ngoài giảm xuống
Điều kiện ad: Chúng ta nhấn mạnh chỉ có nước lớn mới có thể sử dụng tranhluận về TOT với bất kỳ sự thành công nào bởi vì đất nước đưa ra thuế quan cũng cóthể làm ảnh hưởng đến TOT của nó Trong khi đối với nước nhỏ thì không có khảnăng này
4.1.3 Thuế quan làm giảm thất nghiệp chung
Thuế quan sẽ dẫn đến một sự dịch chuyển trong nhu cầu bởi những ngườitiêu dùng trong nước từ việc tiêu dùng hàng hóa nước ngoài đến tiêu dùng hàng hóatrong nước
-> những ngành sản xuất trong nước sẽ mở rộng qui mô
-> thất nghiệp trong nước xuống
-> tăng thu nhập khả dụng > tăng cầu -> phát triển các ngành khác
Tuy nhiên, nước chủ nhà có thể sẽ đánh mất đi những việc làm trong nhữngngành xuất khẩu trước đây đến mức độ hiệu quả thực của việc tạo thêm việc làmmới mang số âm Sự mất mát việc làm trong những ngành xuất khẩu trong nước cóthể xuất hiện với một số lý do sau:
1 Những đất nước đối tác có thể đưa ra những thuế quan trả đũa để làm giảm
Trang 242.Thuế nk ảnh hưởng đến ngành xuất khẩu nước đối tác -> giảm thu nhập khảdụng của dân cư nước đó -> giảm tiêu dùng hàng hóa xk của nước chủ nhà -> giảmviệc làm
3 Nếu nước chủ nhà có một tỷ giá hối đoái tự do thay đổi, lúc đó đồng tiềnnước ngoài sẽ giảm giá trị khi nước chủ nhà đưa ra thuế quan và mua ít hơn hànghóa nước ngoài Việc mua ít hơn những hàng hóa nước ngoài chỉ ra có một sự giagiảm trong nhu cầu đối với ngoại tệ Việc đồng tiền nước ngoài bị giảm giá tươngứng với sự tăng giá đồng tiền trong nước sẽ làm giảm lượng hàng hóa xuất khẩutrong nước (bởi vì nó phải bỏ ra nhiều ngoại tệ hơn để mua hàng hóa trong nước)
và sẽ làm tăng hàng hóa nhập khẩu trong nước chủ nhà (những hàng hóa này bâygiờ tương đối rẻ hơn đối với những người tiêu dùng trong nước) Ảnh hưởng thựccủa việc giá trị đồng tiền trong nước gia tăng là sẽ làm giảm việc làm trong nhữngngành xuất khẩu và những ngành thay thế nhập khẩu trong nước
4.1.4 Thuế quan làm gia tăng việc làm trong một ngành
Thuế quan làm gia tăng việc làm trong một ngành dựa trên quan điểm vi môcủa vấn đề việc làm Tranh luận được đưa ra ở đây là, nếu việc bảo hộ mậu dịchđược ban cho một ngành nào đó, thì nhu cầu sẽ dịch chuyển từ việc sử dụng hàngnhập khẩu đến việc sử dụng hàng trong nước bởi vì giá cả của hàng hóa nhập khẩu
sẽ gia tăng tương đối với giá cả của hàng hóa nội địa Sự dịch chuyển này sẽ đẩygiá cả của hàng nội địa lên làm cho những nhà sản xuất trong nước gia tăng lượngcung lên Sự gia tăng sản xuất này sẽ dẫn đến việc thuê mướn thêm lao động trongnước, do vậy làm gia tăng việc làm trong ngành này Tuy nhiên, những việc làmmới trong những ngành được bảo hộ có thể bị bù trừ do phí tổn cao cho việc làmtrong những ngành khác Do vậy, việc thêm vào việc làm trong đất nước có thểkhông xảy ra, nhưng đây không phải là mục tiêu của thuế quan Thay vào đó, mụctiêu ở đây chỉ là làm tăng việc làm trong một ngành cụ thể nào đó thôi và chínhsách này đã được mục tiêu của nó trong thảo luận này
Những nhà kinh tế không bàn cãi là thuế quan có thể làm gia tăng việc làmtrong một ngành nào đó Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra cho họ là liệu chính sách
Trang 25thuế quan có phải là phương pháp tốt nhất để làm tăng việc làm hay không Nếumục tiêu làm tăng việc làm trong một ngành nào đó được chấp nhận - thậm chí việclàm bị giảm xuống trong những ngành khác- lúc đó việc trợ cấp sản xuất hoặc việclàm lại là cách tốt nhất để đạt mục tiêu này Do vậy, trong khi tranh luận này vềviệc bảo hộ có thể là có giá trị về mặt lý thuyết từ quan điểm của nó, nhưng nókhông có nghĩa là việc bảo hộ bằng thuế quan nên được áp dụng Một công cụ cóthể lựa chọn khác là trợ cấp của chính phủ cho ngành có thể sẽ đỡ tốn kém nhấtđứng về mặt phúc lợi.
4.1.5 Thuế quan sẽ bù đắp lại việc bán phá giá của nước ngoài
Ðối với nhà kinh tế, bán phá giá xảy ra khi một xí nghiệp bán hàng hóa của
nó tại một giá thấp hơn giá trong thị trường xuất khẩu Ðịnh nghĩa này không nói gì
về bán hàng hóa dưới chi phí- ý nghĩa của việc bán phá giá Ở đây, những nhà kinh
tế đơn giản chỉ muốn nói tới hình thức phân biệt giá cả Như chúng ta còn nhớ, sựphân biệt xảy ra khi một xí nghiệp bán cùng một sản phẩm trong những thị trườngkhác nhau tại những giá cả khác nhau
Tranh luận về việc bảo hộ ở đây là việc bán phá giá bởi những xí nghiệpnước ngoài đối với nước chủ nhà là một hành vi không công bằng và tạo ra mối đedọa cho những nhà sản xuất trong nước bởi giá cả hàng nhập khẩu thấp; do vậy mộtthuế quan có thể bù đắp lại việc bán phá giá của những xí nghiệp nước ngoài Mộtđịnh nghĩa khác về bán phá giá là một tình trạng mà ở đó xí nghiệp nước ngoài bánhàng hóa dưới chi phí và để chống lại hành vi này, nước chủ nhà đã đưa ra một loại
thuế chống lại việc bán phá giá
4.1.6 Thuế quan chống lại trợ cấp nước ngoài
Ðiểm cơ bản của tranh luận này là một trợ cấp của chính phủ được ban chomột nhà cung cấp nước ngoài sẽ tạo ra một thương mại không công bằng với nướcchủ nhà và lượng trợ cấp của nước ngoài có thể bị đối chọi lại bởi thuế quan củanước chủ nhà
Trang 26Nếu việc trợ cấp cho phép xí nghiệp nước ngoài trở thành nhà xuất khẩu sảnphẩm trong điều kiện không có lợi thế so sánh trong sản phẩm đó, lúc đó trợ cấpnày sẽ tạo ra một sự bóp méo trong việc phân phối nguồn lực trong thương mại tự
do, và phúc lợi của thế giới sẽ giảm xuống do sự bóp méo này, mặc dù phúc lợi củanước nhập khẩu có thể gia tăng do giá cả tiêu dùng thấp hơn Việc đưa ra thuế quannày sẽ làm tăng cường việc duy trì một kiểu thương mại có hiệu quả hơn Chú ýrằng, việc áp dụng nguyên tắc chung thì khó khăn Không dễ dàng để xác định làviệc trợ cấp nước ngoài có xảy ra hay không và có thể những ngành cạnh tranhnhập khẩu nhanh chóng xác nhận rằng việc trợ cấp sẽ tồn tại bởi vì họ đang bán vớimột giá thấp
4.1.7 Thuế quan làm cải tiến cán cân thương mại
Tranh luận này cho rằng, việc đưa ra thuế quan sẽ làm giảm nhập khẩu Giảđịnh những hàng hóa xuất khẩu không bị ảnh hưởng, thì kết quả hiển nhiên là cáncân thương mại sẽ được cải thiện bởi vì cán cân thương mại trở nên ít âm hơn (cónghĩa là sự thâm thủng mậu dịch sẽ giảm xuống) hoặc trở nên thặng dư
Những nhà kinh tế cho là tranh luận này thiếu nhận ra rằng những tác động trởlại về mặt kinh tế chính trị của hoạt động vụ lợi này và kết quả cuối cùng nếu nhưnhững tác động này được tính đến sẽ dẫn đến cán cân thương mại không được cảitiến và một sự sụt giảm trong phúc lợi Những thí dụ của những tác động trở lại nàybao gồm:
(1) Sự trả đũa bởi những thành viên tham gia thương mại
(2) Một sự gia giảm trong thu nhập quốc dân ở nước ngoài và sự sụt giảmtrong khả năng mua hàng của nước ngoài đối với hàng hóa của nước chủ nhà
(3) Một sự sụt giảm hàng hóa xuất khẩu của nước chủ nhà nếu như nhữnghàng hóa nhập khẩu bây giờ bị loại ra đã được đưa vào quá trình sản xuất nhữngmặt hàng xuất khẩu ở nước chủ nhà
Trang 27(4) Một sự gia giảm trong những hàng hóa xuất khẩu và một sự gia tănghàng hóa nhập khẩu của nước chủ nhà bởi sự gia tăng giá trị đồng tiền của nướcchủ nhà
(5) Một sự gia giảm trong những hàng hóa xuất khẩu và một sự gia tănghàng hóa nhập khẩu của nước chủ nhà bởi áp lực lạm phát ở nước chủ nhà Bởi
vì việc đưa ra thuế quan có ảnh hưởng làm cho nhu cầu tiêu dùng hướng vàonhững sản phẩm của nước chủ nhà, nên nh cầu mới này có thể tạo ra áp lực giá
cả gia tăng nếu như nước chủ nhà hầu như không có thất nghiệp Nếu như xuhướng lạm phát xuất hiện, lúc đó những xí nghiệp của nước chủ nhà trở nên ítcạnh tranh hơn trên thị trường thế giới và thị trường trong nước đối với nhữnghàng hóa của các quốc gia khác
Do vậy, việc sử dụng thuế quan không bảo đảm là cán cân thương mại sẽđược cải thiện
Thêm vào đó, thảo luận sôi nổi trong những năm gần đây đã tập trung vàoviệc thâm thủng mậu dịch mang tính chất vĩ mô và trên việc thuế quan cuối cùngkhông có ảnh hưởng đến cán cân thương mại bởi vì nó không giải thích được đứng
về mặt vĩ mô của vấn đề được đưa ra Giải thích quan tâm đến việc giải thích trên
cơ sở vĩ mô của sự thâm thủng mậu dịch có thể đơn giản được đưa ra Trong điểmcân bằng vĩ mô trong mô hình thu nhập quốc dân đơn giản
Y = C + I + G + (X - M) Trong đó, Y : Thu nhập quốc dân
C : Tổng tiêu dùng
I : Tổng đầu tư
G : Chi tiêu của chính phủ cho những hàng hóa và dịch vụ
X : Xuất khẩu
Trang 28mô thì thuế quan không có hiệu quả cao, đặc biệt khi nền kinh tế hầu như không cóthất nghiệp và thu nhập vì thế không thể được gia tăng
Thậm chí nếu bỏ qua vấn đề giải thích sự thâm thủng mang tính chất vĩ mô,thì chính sách khác ngoài thuế quan ra có thể loại trừ hoặc làm giảm sự thâm thủngmậu dịch Sự mất mát phúc lợi ít hơn có thể xảy ra nếu như đất nước áp dụng mộtchính sách khác hiệu quả hơn đó là phá giá đồng tiền
4.2 Những tiếp cận đối với sự can thiệp chính sách thương mại của những nhà bảo hộ mậu dịch mới
4.2.1 Thuế quan để lấy lại độc quyền nước ngoài
Giả thuyết hạn chế được tạo ra là xí nghiệp nước ngoài là nhà cung cấp duynhất sản phẩm này trong thị trường thế giới và như vậy là không có sản xuất trongnước- nước chủ nhà phụ thuộc hoàn toàn vào xí nghiệp độc quyền nước ngoài đốivới sản phẩm này