1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài giảng TCDN (Tài chính doanh nghiệp) mới nhất

137 536 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 183,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Tài chính doanh nghiệp cập nhật mới nhấtBài giảng giúp bạn có được những cái nhìn tổng quan về vấn đề hình thành, sử dụng và phân phối tài chính doanh nghiệp Tải bài giảng miễn phí tại link bên dưới

Trang 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Tài chính doanh nghiệp là gì và vai trò của nó quan trọng như thế nào?Hoạt động tài chính doanh nghiệp không thể tách rời các hoạt động trao đổi tồn tạigiữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế, do đó, không thể xem xét tài chính củacác doanh nghiệp nếu không đặt chúng trong một môi trường nhất định Đó lànhững vấn đề cần làm rõ trước khi nghiên cứu tài chính doanh nghiệp

1.1 Doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp.

1.1.1 Doanh nghiệp.

1.1.1.1 Khái niệm.

Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của một nhóm đốitượng nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu Trong xã hội, có nhiều hoạt độngkinh tế chỉ có thể được thực hiện bởi một doanh nghiệp chứ không phải các cánhân

Ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ban hành ngày 11-2005, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giaodịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mụcđích thực hiện các hoạt động kinh doanh

29-Các hoạt động kinh doanh có thể được hiểu là việc thực hiện liên tục một,một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sảnphẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế thị trường,mỗi loại có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp với quy mô và trình độ pháttriển nhất định Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với tư cách là các công ty(Corporation) Đây là loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp Tuy nhiên vềnguyên tắc, nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp là thống nhất với mọi loạihình doanh nghiệp

1.1.1.2 Môi trường hoạt động của doanh nghiệp.

Để đạt được mức doanh lợi mong muốn, doanh nghiệp cần phải có nhữngquyết định về tổ chức sản xuất và vận hành quá trình trao đổi Mọi quyết định đềuphải gắn kết với môi trường xung quanh Bao quanh doanh nghiệp là một môi

Trang 2

trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động Có thể kể đến một số yếu tốkhách quan tác động trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp.

Công nghệ là vấn đề doanh nghiệp luôn phải đối đầu Sự phát triển của

công nghệ là một yếu tố góp phần đổi mới phương thức sản xuất, tạo ra nhiều kỹthuật mới dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tài chính doanh nghiệp

Doanh nghiệp là đối tượng quản lý của nhà nước Sự thắt chặt hay nới

lỏng hoạt động của doanh nghiệp được điều chỉnh bằng hệ thống pháp luật và cácchính sách quản lý tài chính của nhà nước

Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phải dự đoán được khả năng xảy

ra rủi ro, đặc biệt là rủi ro về tài chính để có cách ứng phó kịp thời và đúng cách.Doanh nghiệp, với sức ép của thị trường cạnh tranh, phải sản xuất và cung cấpnhững gì thị trường cần Những đòi hỏi về chất lượng, mẫu mã, giá cả hàng hóa,

về chất lượng dịch vụ ngày càng cao hơn của khách hàng buộc doanh nghiệp phảithường xuyên thay đổi chính sách sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệuquả và chất lượng cao

Muốn phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trướcđược sự thay đổi của môi trường để thích nghi với nó Trong môi trường đó, quan

hệ tài chính doanh nghiệp được thể hiện rất phong phú và đa dạng

1.1.2 Tài chính doanh nghiệp.

1.1.2.1 Khái niệm tái chính doanh nghiệp.

Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở của hệ thống tài chính trong nền kinh

tế, một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với dự ra đời và phát triển của nềnkinh tế hàng hóa

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nàocũng cần có lượng vốn tiền tệ tối thiểu nhất định Quá trình hoạt động kinh doanhnhìn từ góc độ tài chính cũng chính là quá trình phân phối để tạo lập và sử dụngcác quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của hoạt động kinhdoanh Trong quá trình đó luôn diễn ra sự vận động và chuyển hóa các nguồn tàichính, tạo ra luồng dịch chuyển giá trị mà biểu hiện của nó là các luồng tiền tệ đivào hoặc đi ra khỏi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp

Bản chất của tài chính doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các mối quan hệtài chính sau:

Trang 3

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước, được thể hiện thông qua việcnhà nước đầu tư vốn, góp vốn để doanh nghiệp hoạt động, và doanh nghiệpthực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp các khoản thuế,phí, lệ phí v.v vào ngân sách nhà nước.

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác như: Quan hệ vayvốn với các tổ chức tín dụng và ngân hàng, quan hệ mua bán tài sản, vật tưhàng hóa và các dịch vụ khác

- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp được thể hiện trong việc doanh nghiệpthanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng, phạt với công nhân viên; quan

hệ trong phân phối lợi nhuận sau thuế như việc hình thành các quỹ củadoanh nghiệp, chia cổ tức cho cổ đông

Từ những vấn đề nêu trên có thể rút ra kết luận cơ bản sau:

- Tài chính doanh nghiệp xét về hình thức, phản ánh sự vận động và chuyểnhóa của các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối của cải dưới hìnhthức giá trị để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Xét vềbản chất, tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ phân phối dưới hìnhthức giá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanhnghiệp trong quá trình kinh doanh

1.1.2.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp.

Tài chính doanh nghiệp có vai trò to lớn trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Vai trò đó được thể hiện ở những nội dung chủ yếu nhưsau:

- Huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

Vốn kinh doanh bao gồm vốn ngắn hạn và vốn dài hạn là điều kiện tiênquyết của bất cứ doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn nhucầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, và tiếp đóphải lựa chọn các phương pháp và thích hợp để huy động vốn đáp ứng kịp thời,đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn rathường xuyên, liên tục Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảysinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh nghiệp có thể đa dạng hóa các kênhhuy động vốn Do vậy vai trò của tài chính doanh nghiệp càng trở nên quan trọng

Trang 4

trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảmbảo cho các doanh nghiệp hoạt động liên tục và có hiệu quả với chi phí huy độngvốn thấp nhất.

- Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả

Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rấtlớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọngtrong việc đánh giá, và lựa chọn dự án đầu tư tối ưu trên cơ sở phân tích khả năngsinh lời và mức độ rủi ro của các dự án Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có

ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể nắm bắt được các cơ hội kinhdoanh Mặt khác, việc huy động số vốn tối đa hiện có vào hoạt động kinh doanh

có thể giảm bớt và tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thờigiảm được nhu cầu vay vốn, từ đó giảm chi phí lãi vay Việc hình thành và sửdụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng,phạt vật chất một cách hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy người lao động gắn

bó với doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật, nângcao hiệu quả kinh doanh nói chung của doanh nghiệp

- Giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

Thông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng ngày và tình hình thực hiện các chỉtiêu tài chính, lãnh đạo doanh nghiệp có thể đánh giá tổng hợp và kiểm soát hoạtđộng của doanh nghiệp; phát hiện được kịp thời những tồn tại hay khó khăn trongkinh doanh, từ đó có thể đưa ra những quyết định để điều chỉnh các hoạt động phùhợp với diễn biến thực tế trong kinh doanh

1.1.2.3 Nội dung của tài chính doanh nghiệp.

- Tham gia đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh.Việc xây dựng và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận trong doanhnghiệp hợp tác thực hiện Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu là phải xem xét hiệuquả tài chính của dự án, tức là cân nhắc giữa chi phí bỏ ra, những rủi ro có thể gặpphải và khả năng thu lợi nhuận khi thực hiện dự án Trên cơ sở tham gia đánh giá,lựa chọn dự án đầu tư, cần tìm ra định hướng phát triển và tăng cường khả năngcạnh tranh cho doanh nghiệp để đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế trước mắt cũng nhưlâu dài

Trang 5

- Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng chohoạt động của doanh nghiệp.

Mọi hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi phải có lượng vốn nhất định Tàichính doanh nghiệp cần xác định nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động củadoanh nghiệp trong kỳ Điều quan trọng là phải tổ chức huy động nguồn vốn đảmbảo đáp ứng kịp thời và đầy đủ cho các hoạt động đó Việc tổ chức huy động cácnguồn vốn ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp Để điđến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp cầnxem xét, cân nhắc trên nhiều mặt như: Kết cấu nguồn vốn, chi phí sử dụng vốn,những điểm lợi và bất lợi của các hình thức huy động vốn

- Tổ chức sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có; quản lý chặt chẽ các khoảnthu, chi; đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp cần tìm ra các biện pháp để huy động tối đa số vốnhiện có vào hoạt động sản xuất kinh doanh, giải phóng các khoản vốn còn bị ứđọng Theo dõi chặt chẽ các khoản chi tiêu phát sinh trong kỳ Tìm các biện pháplập lại sự cân bằng giữa thu, chi bằng tiền để đảm bảo doanh nghiệp luôn có khảnăng thanh toán Mặt khác cũng cần xác định rõ và phân biệt các khoản chi phíphát sinh của doanh nghiệp Những chi phí vượt quá định mức quy định haynhững chi phí đã thuộc về các nguồn kinh phí khác tài trợ thì không được tính vàochi phí hoạt động kinh doanh

- Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ tài chính củadoanh nghiệp

Thực hiện phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp như tríchlập và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc pháttriển doanh nghiệp và cải thiện đời sống người lao động Lợi nhuận là mục tiêukinh doanh mà doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm vì nó liên quan đến sự tồn tại,phát triển và mở rộng doanh nghiệp Doanh nghiệp cần có phương án tối ưu trongviệc phân chia lợi tức, trong việc xác định tỷ lệ và hình thành các quỹ của doanhnghiệp như: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ cấp thấtnghiệp, quỹ khen thưởng phúc lợi

- Đảm bảo kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với hoạt động của doanhnghiệp, thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp

Trang 6

Thông qua tình hình thu, chi và thực hiện các chỉ tiêu tài chính hàng ngày,cho phép thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạt động của doanh nghiệp.Mặt khác, định kỳ cần tiến hành phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhằmđánh giá những điểm mạnh, điểm yếu về tình hình tài chính và hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, qua đó cung cấp thông tin để lãnh đạo doanh nghiệpđánh giá tổng quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp Từ đó đưa ra nhữngquyết định đúng đắn về sản xuất và tài chính Xây dựng kế hoạch tài chính khoahọc, đảm bảo mọi tài sản và nguồn tài chính của doanh nghiệp được sử dụng mộtcách có hiệu quả cao nhất.

- Thực hiện dự báo và kế hoạch hóa tài chính doanh nghiệp

Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến và lên kế hoạch

từ trước thông qua công tác lập kế hoạch tài chính Thực hiện tốt công tác này làcông việc cần thiết giúp cho doanh nghiệp có thể chủ động đưa ra những giải phápkịp thời trước sự biến động của thị trường Quá trình lập kế hoạch tài chính cũng

là quá trình ra các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu củadoanh nghiệp

1.1.3 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp.

1.1.3.1 Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp.

Theo hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp hiện hành, ở nước ta cónhững loại hình doanh nghiệp sau đây:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn

tổ chức huy động vốn; sử dụng vốn và phân phối lợi nhuận

a Công ty trách nhiệm hữu hạn.

Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó:

- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quánăm mươi;

Trang 7

- Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củadoanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;

- Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo các quy định cụthể được nêu trong Luật doanh nghiệp

Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấpGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần

Vốn điều lệ của công ty do các thành viên đóng góp, có thể bằng tiền, tàisản hoặc quyền sở hữu công nghiệp Trong quá trình hoạt động, để tăng thêm vốn,công ty có thể kết nạp thêm thành viên mới (đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn

từ hai thành viên trở lên) Đây cũng là điểm thuận lợi cho công ty khi mở rộng quy

mô sản xuất kinh doanh

Việc phân phối lợi nhuận sau thuế do các thành viên quyết định và việcphân chia lợi nhuận cho các thành viên tùy thuộc vào số vốn đã đóng góp

b Công ty cổ phần.

Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba vàkhông hạn chế số lượng tối đa;

- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củadoanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người kháctheo các quy định được nêu trong Luật doanh nghiệp

Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh

Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy độngvốn

Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có thể phát hành thêm cổ phiếumới để tăng vốn, điều đó tạo điều kiện cho công ty có thể dễ dàng tăng vốn chủ sởhữu trong kinh doanh

c Công ty hợp danh.

Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:

Trang 8

- Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhaukinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoàicác thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;

- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sảncủa mình về các nghĩa vụ của công ty;

- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trongphạm vi số vốn đã góp vào công ty

Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh

Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty, nhân danh công ty để tiếnhành các hoạt động kinh doanh, liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ củacông ty Các thành viên góp vốn không được tham gia quản lý công ty và hoạtđộng kinh doanh nhân danh công ty nhưng được chia lợi nhuận theo tỷ lệ đượcquy định trong Điều lệ công ty

d Doanh nghiệp tư nhân.

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịutrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân

Như vậy, doanh nghiệp tư nhân là người bỏ vốn đầu tư bằng vốn của mình

và cũng có thể huy động thêm từ bên ngoài dưới hình thức đi vay Trong khuônkhổ luật pháp, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tự do kinh doanh và chủ độngtrong mọi hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, nguồn vốn của doanh nghiệp tư nhân

là hạn hẹp nên thường thích hợp với kinh doanh quy mô nhỏ

e Nhóm công ty.

Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài vớinhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây:

- Công ty mẹ - công ty con;

- Tập đoàn kinh tế;

- Các hình thức khác

Trang 9

Tuỳ thuộc vào loại hình pháp lý của công ty con, công ty mẹ thực hiệnquyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đôngtrong quan hệ với công ty con theo quy định tương ứng của Luật doanh nghiệp vàpháp luật có liên quan.

1.1.3.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành.

Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏtới quản trị tài chính doanh nghiệp Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm vềmặt kinh tế kỹ thuật khác nhau, thể hiện ở các nội dung:

- Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh

Ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh củadoanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệthích ứng để hình thành và sử dụng chúng, do đó có ảnh hưởng đến tốc độ luânchuyển vốn, phương pháp đầu tư, phương thức thanh toán

- Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh

Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trước hết đến nhucầu vốn sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp sản xuất cóchu kỳ ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường khôngbiến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đócũng giúp cho doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo sự cân đối giữa thu, chi bằng tiền vàđảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh Những doanh nghiệp sản xuất có chu

kỳ dài phải ứng ra lượng vốn lưu động tương đối lớn; doanh nghiệp sản xuất cótính thời vụ thì nhu cầu vốn lưu động giữa các kỳ trong năm có sự biến động lớn,tiền thu về bán hàng cũng không được đều, tình hình thanh toán, chi trả cũngthường gặp khó khăn Cho nên việc đảm bảo nguồn vốn và đảm bảo sự cân đối thu

- chi cũng khó khăn hơn

1.1.3.3 Môi trường kinh doanh.

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong môi trường kinh doanh nhấtđịnh Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả những điều kiện bên ngoài ảnh hưởngtới mọi hoạt động của doanh nghiệp trong đó có hoạt động tài chính

Dưới đây là những tác động của môi trường kinh doanh đến tài chính doanhnghiệp:

- Môi trường kinh tế

Trang 10

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn diễn ra trong một bối cảnhkinh tế cụ thể như tốc độ tăng trưởng hay suy thoái kinh tế, mức độ ổn định củađồng tiền, tỷ giá hối đoái, các chỉ số của thị trường chứng khoán, lãi suất vay vốn,

tỷ suất đầu tư Mỗi sự thay đổi của các yếu tố trên đều có tác động tích cực haytiêu cực đến hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của doanh nghiệp Vìvậy tài chính doanh nghiệp cần đánh giá và dự đoán xu hướng phát triển của cácyếu tố đó để tổ chức hoạt động tài chính một cách phù hợp

- Môi trường kỹ thuật công nghệ, môi trường thông tin

Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trựctiếp đối với doanh nghiệp Hàm lượng tri thức có khuynh hướng chiếm tỷ trọngcàng lớn trong giá bán của sản phẩm Doanh nghiệp nào nắm bắt kịp thời cácthành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ có điều kiện thuận lợi trong cạnh tranh Đểđầu tư kĩ thuật công nghệ mới đòi hỏi lượng vốn lớn, doanh nghiệp phải có cácphương thức huy động vốn đầu tư phù hợp, cách thức đầu tư cũng phải mạnh dạntheo hướng đi tắt đón đầu mới tránh được nguy cơ tụt hậu về kỹ thuật công nghệ

Về mặt thông tin cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải nhạy bén khi tiếp cận và

xử lý thông tin trong nền kinh tế thị trường Điều này cũng đòi hỏi tổ chức hoạtđộng tài chính của doanh nghiệp phải tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp cóthể tiếp cận, khai thác và xử lý thông tin về thị trường, giá cả sản xuất và khả năngnắm bắt cơ hội trên thị trường

- Môi trường hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế

Xu thế hợp tác, hội nhập kinh tế là xu thế khách quan đối với mọi quốc giatrong điều kiện hiện nay, vì vậy, chủ động hội nhập, hội nhập có hiệu quả là mộtthời cơ và thách thức đối với các doanh nghiệp Xu thế hội nhập cũng làm thay đổi

Trang 11

và đa dạng hóa các mối quan hệ tài chính doanh nghiệp, điều đó đòi hỏi cách thức

tổ chức tài chính doanh nghiệp cần thay đổi cho phù hợp

- Các môi trường đặc thù

Môi trường đặc thù thường bao gồm các yếu tố tác động đến hoạt độngkinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách trực tiếp và rõ rệt.Hơn nữa với các yếu tố này, doanh nghiệp có thể kiểm soát hoặc tác động đếnchúng một cách tương đối chủ động Thuộc về môi trường đặc thù có các yếu tốkhách hàng, nhà cung cấp, các hãng cạnh tranh và sự kiểm tra, giám sát của các cơquan quản lý đối với doanh nghiệp Các nhân tố này tác động tới hoạt động tàichính doanh nghiệp ở các mức độ khác nhau Sự nhận biết đầy đủ các ảnh hưởngtích cực hoặc tiêu cực của các nhân tố đó được coi như điều kiện tiên quyết để tổchức tốt hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp

1.2 Nội dung cơ bản về quản lý tài chính doanh nghiệp.

Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tàichính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tàichính của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá giá trị cho chủ doanh nghiệp hay là tối đahóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp trên thị trường

Quản lý tài chính là một trong các chức năng cơ bản của quản trị doanhnghiệp Chức năng quản trị tài chính có mối liên hệ mật thiết với các chức năngkhác trong doanh nghiệp như: chức năng quản trị sản xuất, chức năng quản trịmarketing, chức năng quản trị nguồn nhân lực

Quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm các hoạt động liên quan đến đầu

tư, tài trợ và quản trị tài sản theo mục tiêu chung của doanh nghiệp Vì vậy, chứcnăng quyết định của quản trị tài chính có thể chia thành ba nhóm: quyết định đầu

tư, tài trợ và quản trị tài sản, trong đó quyết định đầu tư là quyết định quan trọngnhất trong ba quyết định căn bản theo mục tiêu tạo giá trị cho các cổ đông

Như vậy, “Quản lý tài chính doanh nghiệp là các hoạt động nhằm phân phối và sử dụng các dòng tiền tệ trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Quản lý tài chính bao gồm các hoạt động làm cho luồng tiền tệ của công ty phù hợp trực tiếp với các kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp.”

1.3 Mục tiêu của quản lý tài chính doanh nghiệp.

Trang 12

Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản trị đến các hoạt động tàichính trong doanh nghiệp Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề cầnđược nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông vànhà quản lý mà còn cả lợi ích của nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và Chínhphủ Đó là nhóm người có nhu cầu tiềm năng về các dòng tiền của doanh nghiệp.

Do vậy, nhà quản trị tài chính, mặc dù có trách nhiệm nặng nề về hoạt động nội bộcủa doanh nghiệp vẫn phải lưu ý đến sự nhìn nhận, đánh giá của người ngoàidoanh nghiệp như cổ đông, chủ nợ, khách hàng, Nhà nước…

Quản lý tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với các hoạtđộng khác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục những khiếmkhuyết trong các lĩnh vực khác Một quyết định tài chính không được cân nhắc,hoạch định kĩ lưỡng có thể gây nên những tổn thất lớn cho doanh nghiệp và chonền kinh tế Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường nhất địnhnên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế pháttriển Bởi vậy, quản trị tài chính doanh nghiệp tốt có vai trò quan trọng đối vớiviệc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia

1.4 Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp.

Quản lý tài chính luôn giữ một vai trò trọng yếu trong hoạt động quản lýdoanh nghiệp Quản trị tài chính quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanhnghiệp trong quá trình kinh doanh Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, quản trịtài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau:

- Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy

sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thườngxuyên của doanh nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển Vai trò của tàichính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu

về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và tiếp đóphải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động nguồn vốn

từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt độngcủa doanh nghiệp Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảysinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh nghiệp huy động vốn từ bênngoài Do vậy, vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp ngày càng quantrọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy

Trang 13

động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng và liên tục vớichi phí huy động vốn ở mức thấp

- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả: Quản trị tài chính doanh nghiệp

đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên

cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án từ đó gópphần chọn ra dự án đầu tư tối ưu Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Việc huy động kịpthời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể nắmbắt được các cơ hội kinh doanh Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ củadoanh nghiệp, cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng, phạt vật chấthợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy cán bộ công nhân viên gắn liền vớidoanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, góp phần cải tiến sản xuấtkinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn

- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Thông qua các tình hình tài chính và việc thực hiện các chỉ

tiêu tài chính, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát vàkiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịpthời những tồn tại vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra cácquyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinhdoanh

1.5 Nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp.

1.5.1 Nguyên tắc tôn trọng pháp luật.

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu chung của các doanh nghiệp là đềuhướng tới lợi nhuận Vì lợi nhuận tối đa mà các doanh nghiệp có thể kinh doanhvới bất cứ giá nào có thể phương hại tới lợi ích quốc gia, đến lợi ích của các doanhnghiệp khác Do đó, song song với bàn tay vô hình của nền kinh tế thị trường phải

có bàn tay hữu hình của nhà nước để điều chỉnh nền kinh tế Nhà nước đã sử dụnghàng loạt các công cụ như luật pháp, chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả… để quản

lý vĩ mô nền kinh tế Các công cụ đó một mặt tạo điều kiện kích thích mở rộng đầu

tư, tạo môi trường kinh doanh, mặt khác tạo ra khuôn khổ luật pháp kinh doanh rấtchặt chẽ Vì vậy, nguyên tắc hàng đầu của tổ chức tài chính doanh nghiệp là phảitôn trọng luật pháp Doanh nghiệp phải hiểu luật để đầu tư đúng hướng – nơi đượcNhà nước khuyến khích (như giảm thuế, tài trợ tín dụng…)

Trang 14

1.5.2 Nguyên tắc hạch toán kinh doanh.

Hạch toán kinh doanh là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định tới sự sốngcòn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Yêu cầu tối cao của nguyêntắc này là lấy thu bù chi, có doanh lợi Nó hoàn toàn trùng hợp với mục tiêu củacác doanh nghiệp là kinh doanh để đạt được lợi nhuận tối đa Do có sự thống nhất

đó nên hạch toán kinh doanh không chỉ là điều kiện để thực hiện mà còn là yêucầu bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện nếu như không muốn doanh nghiệp

bị phá sản Thế nhưng hạch toán kinh doanh chỉ có thể được phát huy tác dụngtrong môi trường đích thực là nền kinh tế hàng hoá mà đỉnh cao của nó là nền kinh

tế thị trường và doanh nghiệp được tự chủ về mặt tài chính, tự chủ trong kinhdoanh Doanh nhiệp được quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình, chủđộng lựa chọn ngành nghề, địa bàn đầu tư, hình thức đầu tư kinh doanh, góp vốnvào các doanh nghiệp khác; lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn, chủđộng tìm kiếm thị trường khách hàng và ký kết hợp đồng; tuyển thuê và sử dụnglao động theo yêu cầu kinh doanh; chủ động áp dụng phương thức quản lý khoahọc hiện đại để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh Mục tiêu hiệu quả kinh

tế phải được coi là mục tiêu bao trùm chi phối hoạt động tài chính của doanhnghiệp

1.5.3 Nguyên tắc an toàn, phòng ngừa rủi ro.

Đảm bảo an toàn, phòng ngừa rủi ro bất trắc cũng được coi là nguyên tắcquan trọng trong kinh doanh nói chung và tổ chức tài chính doanh nghiệp nóiriêng Đảm bảo an toàn là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu kinh doanh

có hiệu quả Nguyên tắc an toàn cần được quán triệt trong mọi khâu của công tác

tổ chức tài chính doanh nghiệp: an toàn trong việc lựa chọn nguồn vốn, an toàntrong việc lựa chọn đối tác đầu tư liên doanh, an toàn trong việc sử dụng vốn…Antoàn và mạo hiểm trong kinh doanh là hai thái cực đối lập nhau Mạo hiểm trongđầu tư thường phải chấp nhận nhiều rủi ro lớn, nhưng cũng thường thu được lợinhuận cao và ngược lại Điều này đòi hỏi các nhà tài chính phải có những quyếtsách đúng đắn trong các thời cơ thích hợp để lựa chọn phương án đầu tư vừa đảmbảo an toàn, vừa mang lại hiệu quả cao Ngoài các giải pháp lựa chọn phương án

an toàn trong kinh doanh, cần thiết phải tạo lập quỹ dự phòng (quỹ dự trữ tàichính) hoặc tham gia bảo hiểm Mặt khác, việc thành lập công ty, hình thức pháthành cổ phiếu cũng là biện pháp vừa để tập trung vốn, vừa để san sẻ rủi ro cho các

cổ đông nhằm tăng độ an toàn vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 15

1.5.4 Nguyên tắc giữ chữ tín.

Giữ chữ tín không chỉ là một tiêu chuẩn đạo đức trong cuộc sống đờithường mà còn là nguyên tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh nói chung và trong tổchức tài chính doanh nghiệp nói riêng Trong thực tế kinh doanh cho thấy, kẻ làmmất chữ tín, chỉ ham lợi trước mắt sẽ bị bạn hàng xa lánh Đó là nguy cơ dẫn đếnphá sản Do đó trong tổ chức tài chính doanh nghiệp để giữ chữ tín cần tôn trọngnghiêm ngặt các kỉ luật thanh toán, chi trả các hợp đồng kinh tế, các cam kết vềgóp vốn đầu tư, và phân chia lợi nhuận Mặt khác để giữ chữ tín doanh nghiệpcũng cần mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ, cải tiến kĩ thuật để nâng cao chấtlượng sản phẩm để luôn giữ được giá trị của nhãn hiệu hàng hoá của doanhnghiệp

1.6 Bộ máy quản lý tài chính.

Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quátrình phân phối các nguồn tài chính gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹtiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó,

bộ máy tài chính sẽ điều hành toàn bộ hoạt động tài chính của doanh nghiệp.Chính vì thế, vai trò của bộ máy quản lý tài chính rất quan trọng, nó tồn tại và tuântheo các quy luật khách quan, bị chi phối và tuân theo các mục tiêu và phươnghướng kinh doanh của công ty

Bộ máy quản lý tài chính có nhiệm vụ tổng hợp, phân tích, đánh giá thựctrạng về tài chính và đưa ra những quyết định về mặt tài chính ngắn hạn cũng nhưdài hạn cho doanh nghiệp Giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp hoạch định sự đánhgiá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởngquan trọng đến sự tồn tại và phát triển của công ty, bao gồm: Chiến lược tham giavào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, xác định chiến lượctài chính cho các chính sách của công ty trong các quyết định về việc mở rộng haythu hẹp quy mô sản xuất Thông qua đó đánh giá và dự đoán có hiệu quả các dự

án đầu tư, các hoạt động liên doanh liên kết, chia tách, sáp nhập hay giải thể doanhnghiệp

Bộ máy quản lý tài chính tốt phải bao gồm các chuyên gia quản lý tài chính

có năng lực, trình độ chuyên môn, đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sản xuấtkinh doanh Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống thông tin quản lýtài chính có hiệu quả để quản lý được quá trình cạnh tranh ngày một cao trong nềnkinh tế thị trường

Trang 17

Chương 2 VỐN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP2.1 Tài sản cố định và vốn cố định của doanh nghiệp.

2.1.1 Tài sản cố định của doanh nghiệp.

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải có cácyếu tố: Sức lao động, Tư liệu lao động và đối tượng lao động

Khác với các đối tượng lao động (nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang,bán thành tải…) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác độngvào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình

Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động sử dụng trong quá trìnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là các tài sản cố định Đó là những tư liệulao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sảnxuất kinh doanh như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, các côngtrình kiến trúc, các khoản chị phí đầu tư mua sắm các tài sản cố định vô hình…Thông thường một tư liệu lao động được coi là một TSCĐ phải đồng thời thỏamãn hai tiêu chuẩn cơ bản:

• Một là phải có thời gian sử dụng tối thiểu, thường từ một năm trở lên

• Hai là phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định Mức giá trị cụ thể đượcchính phủ quy định phù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ

Đây là hai tiêu chuẩn định lượng, ngoài ra còn tùy theo từng quốc gia còn

có tiêu chuẩn định tính

Những tư liệu lao động không đủ các tiêu chuẩn quy định trên được coi lànhững công cụ lao động nhỏ, được mua sắm bằng nguồn vốn lưu động của doanhnghiệp Tuy nhiên trong thực tế việc xem xét tiêu chuẩn và nhận biết TSCĐ củadoanh nghiệp là phức tạp hơn

Trong điều kiện phát triển nhanh chóng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vàcông nghệ như hiện nay, trong một số trường hợp doanh nghiệp phải đầu tư mộtlượng giá trị lớn, kết quả đầu tư không tạo ra một thực thể vật chất cụ thể, nhưngkhoản đầu tư đó phục vụ cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh như: quyền pháthành, bằng phát minh sáng chế…vv Những khoản đầu tư như vậy đã tạo ra mộtloại tài sản không có hình thái vật chất và nếu thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn quyđịnh là tài sản cố định thì được coi là tài sản cố định vô hình của doanh nghiệp

Trang 18

Như vậy tài sản cố định của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, cóthời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồngthời tất cả các tiêu chuẩn của tài sản cố định

Đặc điểm chung của các TSCĐ trong doanh nghiệp là tham gia vào nhiềuchu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động Trong quá trình đóhình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ là không thay đổi Songgiá trị của nó lại được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra

Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp và được bù đắp mỗi khi sản phẩm được tiêu thụ

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các TSCĐ của doanh nghiệp cũngđược coi như một loại hàng hóa như mọi hàng hóa thông thường khác Nó khôngchỉ có giá trị mà còn có giá trị sử dụng Thông qua mua bán, trao đổi các TSCĐ cóthể được chuyển dịch quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thểkhác trên thị trường

2.1.2 Phân loại TSCĐ của doanh nghiệp.

Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệptheo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.Thông thường có những cách phân loại chủ yếu sau đây:

2.1.2.1 Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện.

Theo phương pháp này TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành hai loại:TSCĐ có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình) và TSCĐ không có hình thái vậtchất (TSCĐ vô hình)

Tài sản cố định hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu

hiện bằng các hình thái vật chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phươngtiện vận tải, các vật kiến trúc…Những TSCĐ này có thể là từng đơn vị tài sản cókết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau

để thực hiện một hay một số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinhdoanh

Tài sản cố định vô hình: Là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ

thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu

ly kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về đất

sử dụng, chi phí mua bằng sáng chế, phát minh hay nhãn hiệu thương mại, giá trịlợi thế thương mại…

Trang 19

Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu đầu tư vào TSCĐhữu hình và vô hình Từ đó lựa chọn các quyết định đầu tư hoặc điều chỉnh cơ cấuđẩu tư sao cho phù hợp và hiệu quả nhất.

2.1.2.2 Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng.

Theo tiêu thức này toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành 3 loại:

Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh: Là những TSCĐ dùng

trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụcủa doanh nghiệp

Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: Đó là những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý và sử dụng cho các hoạt động

phúc lợi, sự nghiệp (như các công trình phúc lợi), các TSCĐ sử dụng cho hoạtđộng đảm bảo an ninh, quốc phòng của doanh nghiệp

Cách phân loại này giúp cho người quản lý doanh nghiệp thấy được kết cấuTSCĐ của mình theo mục đích sử dụng Từ đó có biện pháp quản lý TSCĐ theomục đích sử dụng sao cho có hiệu quả nhất, và đưa ra những biện pháp quản lýphù hợp với mỗi loại tài sản cố định

2.1.2.3 Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng.

Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ người ta chia tài sản cố định củadoanh nghiệp thành các loại:

Tài sản cố định đang sử dụng: Đó là những TSCĐ của doanh nghiệp đang

sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi, sựnghiệp, hay an ninh, quốc phòng của doanh nghiệp

Tài sản cố định chưa cần dùng: Là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động

sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp, song hiện tại chưacần dùng, đang được dự trữ để sử dụng sau này

Tài sản cố định không cần dùng chờ thanh lý: Là những TSCĐ không cần

thiết hay không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cầnđược thanh lý, nhượng bán để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu

Cách phân loại này cho thấy mức độ sử dụng có hiệu quả các TSCĐ củadoanh nghiệp như thế nào, từ đó có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụngchúng

Trang 20

Mỗi cách phân loại trên đây cho phép đánh giá, xem xét kết cấu TSCĐ củadoanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau Kết cấu TSCĐ là tỷ trọng giữa nguyêngiá của một TSCĐ nào đó so với tổng nguyên giá các loại TSCĐ của doanhnghiệp tại một thời điểm nhất định.

Kết cấu TSCĐ giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhauhoặc thậm chí trong cùng một ngành sản xuất cũng không hoàn toàn giống nhau

Sự khác biệt hoặc biến động của kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp trong các thời kỳkhác nhau chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như quy mô sản xuất, khả năng thuhút vốn đầu tư, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, trình độ tiến bộ khoahọc kỹ thuật trong sản xuất….Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp, việc phân loại

và phân tích tình hình kết cấu TSCĐ là một việc làm cần thiết giúp doanh nghiệpchủ động điều chỉnh kết cấu TSCĐ sao cho có lợi nhất cho việc nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp

2.1.3 Vốn cố định và đặc điểm luân chuyển của vốn cố định vốn.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc mua sắm, xây dựng hay lắp đặtcác TSCĐ của doanh nghiệp đều phải thanh toán, chi trả bằng tiền Số vốn đầu tưứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các TSCĐ hữu hình và vô hình đượcgọi là vốn cố định của doanh nghiệp Đó là số vốn đầu tư ứng trước vì số vốn nàynếu được sử dụng có hiệu quả sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi lại đượcsau khi tiêu thụ các sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ của mình

Là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các TSCĐ nên quy môcủa vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của TSCĐ, ảnh hưởng rất lớnđến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Song ngược lại những đặc điểm kinh tế của TSCĐ trong quá trình

sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyểncủa vốn cố định Có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn cốđịnh trong quá trình sản xuất kinh doanh như sau:

Một là: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, điều này

do đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuất quyếtđịnh

Hai là: Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản

xuất

Trang 21

Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định được luân chuyển

và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao) tươngứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ

Ba là: Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân

chuyển

Sau mỗi chu kỳ sản xuất vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm dầndần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại dần giảm xuống cho đếnkhi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển dịch hết vào giá trịsản phẩm đã sản xuất thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển

Những đặc điểm luân chuyển trên đây của vốn cố định đòi hỏi việc quản lývốn cố định phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là cácTSCĐ của doanh nghiệp

Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm về vốn cố định nhưsau:

Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ

mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất

và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, (hoặc khi táisản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị)

2.2 Khấu hao tài sản cố định.

2.2.1 Hao mòn TSCĐ.

Trong quá trình sử dụng, do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khácnhau TSCĐ của doanh nghiệp bị hao mòn dưới hai hình thức: Hao mòn hữu hình

và hao mòn vô hình

2.2.1.1 Hao mòn hữu hình của TSCĐ.

Hao mòn hữu hình của TSCĐ là sự hao mòn về vật chất, về giá trị sử dụng

và giá trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng Về mặt vật chất đó là sự hao mòn cóthể nhận thấy được từ sự thay đổi trạng thái vật lý ban đầu ở các bộ phận, chi tiếtTSCĐ dưới sự tác động của ma sát, tải trọng, nhiệt độ, hóa chất, môi trường… Vềgiá trị sử dụng đó là sự giảm sút về chất lượng, tính năng, kỹ thuật ban đầu trongqua trình sử dụng và cuối cùng không còn sử dụng được nữa Muốn khôi phục lạigiá trị sử dụng của nó phải tiến hành sửa chữa, thay thế Về mặt giá trị đó là sự

Trang 22

giảm dần giá trị của TSCĐ cùng với quá trình chuyển dịch dần từng phần giá trịhao mòn vào giá trị sản phẩm sản xuất

Nguyên nhân và mức độ hao mòn hữu hình trước hết phụ thuộc vào cácnhân tố trong quá trình sử dụng TSCĐ như thời gian và cường độ sử dụng, việcchấp hành các quy phạm kỹ thuật trong sử dụng và bảo dưỡng TSCĐ Tiếp đến làcác nhân tố về tự nhiên và môi trường sử dụng TSCĐ Ví dụ như độ ẩm, nhiệt độmôi trường, tác động của các chất hóa học… Ngoài ra mức độ hao mòn hữu hìnhcũng còn phụ thuộc vào chất lượng chế tạo TSCĐ Ví dụ như chất lượng nguyênvật liệu được sử dụng; trình độ kỹ thuật, công nghiệp chế tạo…

Việc nhận thức rõ các nguyên nhân ảnh hưởng đến mức hao mòn hữu hìnhTSCĐ sẽ giúp các doanh nghiệp có biện pháp cần thiết, hữu hiệu để hạn chế nó

2.2.1.2 Hao mòn vô hình.

Ngoài sự hao mòn hữu hình, trong quá trình sử dụng các TSCĐ còn bị haomòn vô hình Hao mòn vô hình là sự hao mòn thuần túy về mặt giá trị của TSCĐ,biểu hiện sự giảm sút về giá trị trao đổi của TSCĐ do ảnh hưởng của tiến bộ khoahọc kỹ thuật

Tài sản cố định bị giảm giá trị trao đổi do đã có những TSCĐ như cũ songgiá mua lại rẻ hơn Do đó trên thị trường các TSCĐ cũ bị mất đi một phần giá trịcủa mình

Tài sản cố định bị giảm giá trị trao đổi do có những TSCĐ mới tuy mua vớigiá trị như cũ nhưng lại hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật Như vậy do có TSCĐ mớitốt hơn mà TSCĐ cũ bị mất đi một phần giá trị của mình Đó chính là phần giá trịTSCĐ cũ không chuyển dịch được vào giá trị sản phẩm kể từ khi có TSCĐ mớixuất hiện Bởi vì khi TSCĐ mới xuất hiện và được sử dụng phổ biến thì điều kiệnsản xuất sẽ do các TSCĐ mới quyết định Phần giá trị chuyển dịch được tính vàogiá trị sản phẩm sẽ được tính theo mức của TSCĐ mới Do đó nếu doanh nghiệpcòn dùng TSCĐ cũ để sản xuất thì cứ một sản phẩm sản xuất ra, doanh nghiệp sẽmất đi phần giá trị chênh lệch giữa mức giá trị chuyển dịch của TSCĐ cũ vàTSCĐ mới do không được xã hội chấp nhận tính vào giá trị sản phẩm

Tài sản cố định bị mất giá hoàn toàn do chấm dứt chu kỳ sống của sảnphẩm, tất yếu dẫn đến những TSCĐ sử dụng để chế tạo các sản phẩm đó cũng bịlạc hậu, mất tác dụng Hoặc trong các trường hợp các máy móc thiết bị, quy trìnhcông nghệ… còn nằm trên các dự án thiết kế, các bản dự thảo phát minh song đã

Trang 23

trở nên lạc hậu tại thời điểm đó Điều này cho thấy hao mòn vô hình không chỉxảy ra đối với các TSCĐ hữu hình mà còn với cả các TSCĐ vô hình.

Nguyên nhân cơ bản của hao mòn vô hình là sự phát triển của tiến bộ khoahọc kỹ thuật Do đó biện pháp có hiệu quả nhất để khắc phục hao mòn vô hình làdoanh nghiệp phải coi trọng đổi mới kỹ thuật công nghệ sản xuất, ứng dụng kịpthời các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật Điều này có ỹ nghĩa rất quyết địnhtrong việc tạo ra các lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh tranh trên thị trường

2.2.2 Khấu hao TSCĐ và các phương pháp tính khẩu hao TSCĐ.

2.2.2.1 Khái niệm.

Để bù đắp giá trị tài sản cố định bị hao mòn trong quá trình sản xuất kinhdoanh, doanh nghiệp phải chuyển dịch dần dần phần giá trị hao mòn đó vào giá trịsản phẩm sản xuất trong kỳ gọi là khấu hao tài sản cố định Vậy khấu hao tài sản

cố định là việc chuyển dịch phần giá trị hao mòn của TSCĐ trong quá trình sửdụng vào giá trị sản phẩm sản xuất ra theo các phương pháp tính toán thích hợp

Mục đích của khấu hao TSCĐ là nhằm tích lũy vốn để tái sản xuất giản đơnhoặc tái sản xuất mở rộng TSCĐ Bộ phận giá trị hao mòn được chuyển dịch vàogiá trị sản phẩm được coi là một yếu tố chi phí sản xuất sản phẩm được biểu hiệndưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao TSCĐ Sau khi sản phẩm hàng hóađược tiêu thụ, số tiền khấu hao được tích lũy lại hình thành quỹ khấu hao TSCĐcủa doanh nghiệp Quỹ khấu hao TSCĐ là một nguồn tài chính quan trọng để táisản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng TSCĐ trong các doanh nghiệp Trênthực tế khi chưa có nhu cầu đầu tư mua sắm TSCĐ các danh nghiệp cũng có thể sửdụng linh hoạt quỹ này để đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh của mình

Về nguyên tắc, việc tính khấu hao TSCĐ phải phù hợp với mức độ haomòn của TSCĐ và đảm bảo thu hồi đầy đủ giá trị vốn đầu tư ban đầu vào tài sản

Trang 24

- Khấu hao hợp lý tài sản cố định giúp doanh nghiệp có thể tập trung đượcvốn từ tiền khấu hao để có thể kịp thời đổi mới máy móc, thiết bị và côngnghệ.

- Việc khấu hao hợp lý tài sản cố định là nhân tố quan trọng để xác địnhđúng đắn giá thành sản phẩm và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp

2.2.2.2 Các phương pháp khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp.

Việc tính khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp có thể được thực hiệntheo nhiều phương pháp khác nhau Mỗi phương pháp khấu hao có những ưunhược điểm riêng Việc lựa chọn đúng đắn các phương pháp khẩu hao TSCĐ lànội dung quan trọng của công tác quản lý vốn cố định trong các doanh nghiệp.Thông thường có các phương pháp khấu hao cơ bản như sau:

a) Phương pháp khấu hao bình quân (còn gọi là phương pháp khấu hao tuyến tính cố định)

Đây là phương pháp khấu hao đơn giản nhất, được sử dụng khá phổ biến đểtính khấu hao các loại TSCĐ Theo phương pháp này tỷ lệ khấu hao và mức khấuhao hàng năm được xác định theo mức không đổi trong suốt thời gian sử dụngTSCĐ Mức khấu hao hàng năm và tỷ lệ khấu hao hàng năm được xác định theocông thức sau:

* Mức khấu hao tài sản cố định:

Các ký hiệu như sau:

MKH: Mức khấu hao trung bình hàng năm

NG: Nguyên giá của TSCĐ

T: Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ (năm)

Giá trị phải khấu hao TSCĐ = Nguyên giá – Giá trị thanh lý ước tính

Trong đó:

- Nếu doanh nghiệp trích khấu hao hàng tháng thì lấy mức khấu hao hàngnăm chia cho 12 tháng

- Nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các chi phí thực tế của doanh nghiệp đã chi

ra để có được TSCĐ cho tới khi đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sửdụng Thông thường khoản chi phí này bao gồm chi phí theo giá mua thực tế (giá

Trang 25

ghi trên hóa đơn trừ đi các khoản giảm giá, chiết khấu mua hàng ) và các khoảnchi phí kèm theo trước khi đưa tài sản cố định vào sử dụng như các chi phí vậnchuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử, các khoản lãi vay đầu tư cho TSCĐ khi chưabàn giao và đưa vào sử dụng, các khoản thuế không được hoàn và lệ phí trước bạ(nếu có) Đối với tài sản cố định doanh nghiệp tự xây dựng thì nguyên giá là giá trịthực tế đã chi ra để xây dựng tài sản cố định Đối với tài sản cố định vô hình thìnguyên giá là tổng chi phí thực tế đã đầu tư vào tài sản đó.

- Thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định là thời gian doanh nghiệp

dự kiến sử dụng TSCĐ vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện bìnhthường Nó được xác định căn cứ vào tuổi thọ kỹ thuật và tuổi thọ kinh tế củaTSCĐ Tuổi thọ kỹ thuật là khoảng thời gian có thể sử dụng TSCĐ được tính theocác thông số về mặt kỹ thuật khi chế tạo chúng Còn tuổi thọ kinh tế được xác địnhcăn cứ vào thời gian mà TSCĐ còn sử dụng có hiệu quả nhằm loại trừ những ảnhhưởng bất lợi của hao mòn vô hình Thông thường tuổi thọ kinh tế luôn nhỏ hơntuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ

- Giá trị thanh lý ước tính được xác định bằng kết quả thanh lý ước tính trừ

đi chi phí thanh lý ước tính Để đơn giản hóa vấn đề người ta quy định thu thanh lýbằng chi phí thực hiện thanh lý tài sản cố định nên ta có công thức

Ví dụ: Một doanh nghiệp mua một TSCĐ, nguyên giá được xác định là 240

triệu đồng Tài sản cố định có tuổi thọ kỹ thuật là 12 năm, tuổi thọ kinh tế là 10năm, doanh nghiệp dự kiến sử dụng hữu ích của tài sản cố định là 10 năm, giá trithanh lý không đáng kể

Mức khấu hao trung bình hàng năm là:

Mức trích khấu hao hàng tháng là:

* Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định

Tỷ lệ khấu hao năm của tài sản cố định (TKH) là tỷ lệ phần trăm giữa mứckhấu hao (MKH) và nguyên giá của tài sản cố định (NG)

Công thức tính:

Trang 26

Trong công tác quản lý người ta thường sử dụng các loại tỷ lệ khấu hao:

- Tỷ lệ khấu hao của từng tài sản cố định

- Tỷ lệ khấu hao của từng loại tài sản cố định

- Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân tài sản cố định trong doanhnghiệp

Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân tài sản cố định trong doanh nghiệp cóthể xác định bằng cách sau:

Cách 1: Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân theo mức khấu hao của từng

loại tài sản cố định

nguyên giá tài sản cố định bình quân phải tính khấu hao trong năm

Ví dụ: Toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp A căn cứ vào công dụngkinh tế có thể chia thành các nhóm như sau:

Đơn vị : Triệu đồngSTT Loại TSCĐ Nguyên giá Tỷ lệ khấu hao

Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân là:

Cách 2 : Tỷ lệ khấu hao bình quân tổng hợp theo tỷ trọng của các nhóm tài

sản cố định

Trong đó:

: Tỷ lệ khấu hao bình của từng loại tài sản cố định i

: Tỉ trọng giá trị TSCĐ của mỗi nhóm

Trang 27

Tỉ lệ khấu hao cá biệt từng nhóm TSCĐ

Ví dụ: Toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp A được chia thành các nhóm như sau:

Đơn vị: Triệu đồng

STT Nguyên giá TSCĐ

của mỗi nhóm

Tỷ trọng giá trị mỗi nhóm (%)

Tỷ lệ khấu hao (%)

Số gia quyền (%)

b) Phương pháp khấu hao nhanh

Để khắc phục những nhược điểm của phương pháp khấu hao bình quân,người ta thường sử dụng phương pháp khấu hao nhanh Thực chất của phươngpháp này là đẩy nhanh mức khấu hao TSCĐ trong những năm đầu sử dụng vàgiảm dần mức khấu hao theo thời hạn sử dụng

Phương pháp khấu hao giảm dần có 2 cách tính toán tỷ lệ khấu hao và mứckhấu hao hàng năm, đó là phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần hoặc khấuhao theo tổng số thứ tự năm sử dụng :

- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần:

Thực chất của phương pháp này là số tiền khấu hao hàng năm được tínhbằng cách lấy giá trị còn lại của TSCĐ theo thời hạn sử dụng nhân với tỷ lệ khấuhao không đổi Như vậy mức và tỷ lệ khấu hao theo thời hạn sử dụng TSCĐ sẽgiảm dần Có thể tính mức khấu hao hàng năm theo thời hạn sử dụng như sau:

M KHi = G cđi x T KHD

Trong đó:

MKHi: Mức khấu hao ở năm thứ i

Trang 28

Gcđi: Giá trị còn lại của TSCĐ ở đầu năm thứ i

TKHD: Tỷ lệ khấu hao hàng năm (theo phương pháp số dư)

Để xác định tỷ lệ khấu hao hàng năm theo thời hạn sử dụng sao cho đếnnăm cuối cùng doanh nghiệp sẽ thu hồi hết số vốn đầu tư ban đầu mua sắm TSCĐ,doanh nghiệp phải căn cứ vào nhiều nhân tố, trong đó quan trọng nhất là thời hạn

dự kiến sử dụng TSCĐ Theo kinh nghiệm các nước, chu kỳ đổi mới TSCĐthường từ 4 – 5 năm, vì vậy người ta thường dùng các hệ số sau để điều chỉnh tỷ lệkhấu hao bình quân ban đầu của TSCĐ

• Hệ số 1,5 đối với TSCĐ có thời gian sử dụng dưới 4 năm

• Hệ số 2 đối với TSCĐ có thời gian sử dụng từ 5 đến 6 năm

• Hệ số 2,5 đối với TSCĐ có thời gian sử dụng trên 6 năm

Công thức xác định tỷ lệ khấu hao hàng năm theo phương pháp này nhưsau:

TKHD = TKH x Hđc

Trong đó:

TKHD: Tỷ lệ khấu hao hàng năm (theo phương pháp số dư)

TKH: Tỷ lệ khấu hao bình quân ban đầu

Hđc: Hệ số điều chỉnh

Có thể minh họa phương pháp này bằng ví dụ sau:

Ví dụ 1: Doanh nghiệp X mua một thiết bị công tác theo giá hóa đơn là 90 triệu

đồng Chi phí bốc dỡ, vận chuyển, lắp đặt và chạy thử lần đầu tổng cộng là 10 triệu đồng Tuổi thọ kĩ thuật của thiết bị được xác định là 8 năm Tuổi thọ kinh tế của thiết bị được xác định là 5 năm, doanh nghiệp dự kiến chọn thời gian hữu ích của tài sản cố định phải tính khấu hao là 5 năm Thu thanh lý là không đáng kể.

Theo phương pháp số dư giảm dần thì tỉ lệ khấu hao cố định được tính nhưsau:

Tỉ lệ khấu hao tài sản cố định trong điều kiện bình thường

Vậy

Số khấu hao từng năm theo phương pháp này có thể xác định theo biểu đồsau:

Trang 29

Biểu đồ số 1: Số khấu hao tài sản cố định theo phương pháp số dư giảm dần

Đơn vị tính: Triệu đồng

STT Cách tính khấu hao Số khấu hao

theo từng năm

Số khấu hao lũy kế

Giá trị còn lại của TSCĐ

Như ví dụ 1 nếu cứ tiếp tục sẽ thiếu 7,776 triệu đồng so với vốn đầu tư banđầu vào tài sản cố định Vì vậy đến năm thứ tư người ta sẽ chuyển sang phươngpháp khấu hao tuyến tính bằng cách lấy giá trị còn lại chưa được thu hồi chia cho

số năm còn lại của tài sản cố định và mức khấu hao của mỗi năm thú tư và thứnăm là: 21,6 : 2 = 10,8 triệu đồng Như vậy cuối năm thứ năm số khấu hao lũy kế:

100 triệu đồng, doanh nghiệp thu hồi đủ vốn đầu tư vào thiết bị

Phương pháp khấu hao này được áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộccác lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh

- Phương pháp khấu hao theo tổng số:

Theo phương pháp này số tiền khấu hao hàng năm được tính bằng cáchnhân giá trị ban dầu của TSCĐ với tỷ lệ khấu hao giảm dần qua các năm Tỷ lệkhấu hao này được xác định bằng cách lấy số năm sử dụng còn lại chia cho tổng

số thứ tự năm sử dụng Công thức tính toán như sau:

M KHi = NG x T KHi

Trong đó:

MKHi: Mức khấu hao tài sản cố định ở năm thứ i

Trang 30

NG: Nguyên giá của TSCĐ

TKHi: Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định ở năm thứ i

i: Thứ tự năm cần tính tỷ lệ khấu hao

Tỉ lệ khấu hao của mỗi năm sử dụng trong phương pháp này là tỉ lệ giảmdần Nó có thể xác định bằng hai cách:

Cách thứ nhất: Tỉ lệ khấu hao TSCĐ của năm cần tính khấu hao được tính

bằng cách lấy số năm còn lại sử dụng tính từ đầu năm khấu hao cho đến khi TSCĐhết thời hạn sử dụng chia cho tổng số các năm còn sử dụng của TSCĐ theo thứ tựnăm của thời hạn còn sử dụng

Theo ví dụ 1, tỉ lệ khấu hao và số khấu hao của từng năm có thể xác định:Biểu đồ 2: Số khấu hao tài sản cố định theo phương pháp tổng số

Cách thứ hai: Tỉ lệ khấu hao của năm cần tính khấu hao có thể được xác

định bằng công thức sau:

Trong đó:

: Tỉ lệ khấu hao TSCĐ ở năm thứ i

T: Thời hạn sử dụng TSCĐ

i: Thời điểm (năm) cần tính khấu hao

Có thể xác định cho năm thứ 2 theo cách hai như sau:

Thứ tự

năm

Số năm còn sử dụng đến khi hết thời hạn sử dụng

Ưu điểm của phương pháp khấu hao nhanh:

Cả hai phương án khấu hao nhanh trên đều có cùng ưu điểm là:

Trang 31

- Giúp doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh ở những năm đầu Doanh nghiệp vừa cóthể tập trung vốn nhanh từ tiền khấu hao để đổi mới máy móc, thiết bị và côngnghẹ kịp thời vừa giảm bớt được tổn thất do hao mìn vô hình.

- Nhà nước có thể cho phép doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao nhanh

để tính chi phí khấu hao trong việc xác định thuế thu nhập doanh nghiệp tạo điềukiện cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh Điều đó được coi như một biện pháp

“hoãn thuế” cho doanh nghiệp

Bên cạnh những ưu điểm trên, nếu doanh nghiệp thực hiện Phương phápnày có hạn chế: Giá thành sản phẩm ở những năm đầu của thời hạn khấu hao sẽcao do phải chịu chi phí khấu hao lớn, điều đó gây ra bất lợi cho doanh nghiệptrong cạnh tranh; việc tính toán khá phức tạp

c) Phương pháp khấu hao theo sản lượng.

Phương pháp này áp dụng cho những tài sản cố định hoạt động có tính chất mùa vụ và là những tài sản cố định trực tiếp có liên quan đến việc sản xuất ra sản phẩm

Nội dung của phương pháp này:

Số khấu hao từng năm của tài sản cố định được tính bằng cách lấy sản lượng sản phẩm dự kiến sản xuất hoàn thành trong năm nhân với mức khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm

Công thức tính:

Trong đó:

Số khấu hao năm của tài sản cố định theo phương pháp sản lượng

Sản lượng sản phẩm sản xuất hoàn thành trong năm

Mức khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm, được tính bằng cách lấy giá trị phải khấu hao chia cho tổng sản lượng dự tính cả đời hoạt động của tài sản

cố định và có thể được xác định:

Trong đó:

Nguyên giá tài sản cố định

Tổng sản lượng dự tính cả đời hoạt động của tài sản cố định.

Trang 32

Căn cứ vào hồ sơ kinh tế kỹ thuật của tài sản cố định, doanh nghiệp xác định tổng số sản lượng (khối lượng) sản phẩm sản xuất hoàn thành theo công suất thiết

kế của tài sản cố định, gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế

Để tính mức khấu hao tháng của tài sản cố định có thể dùng công thức:

x

Mức khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm

Sau khi tính được số khấu hao từng tháng, có thể tính khấu hao năm bằng cách lấy tổng số khấu hao của 12 tháng trong năm

Ví dụ 2: Công ty X mua một máy ủi đất (mới 100%) với nguyên giá 432 triệu

đồng Công suất thiết kế của máy ủi này là 30/giờ Sản lượng theo công suất thiết

kế của máy ủi này là 2.400.000 Khối lượng sản phẩm dự kiến đạt được ở năm thứ nhất của máy ủi là:

Tháng

Khối lượng sản phẩm hoàn thành

Khối lượng sản phẩm hoàn thành

Số khấu hao của máy ủi ở các tháng được tính ở bảng sau:

Biểu số 3: Số khấu hao các tháng trong năm thứ nhất theo phương pháp sản lượng

Tháng Sản lượng thực tế tháng () Mức khấu hao tháng (đồng)

Trang 33

Ưu điểm của phương pháp: Thích hợp với loại TSCĐ có mức dộ hoạt độngkhông đều giữa các thời kì Số khấu hao phù hợp hơn với mức dộ hao mòn củaTSCĐ.

Hạn chế của phương pháp: Việc khấu hao có thể trở nên phức tạp khi trình

độ quản lý TSCĐ còn yếu và không thực hiện nghiêm túc, chính xác việc ghi chépban đầu

2.3 Bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.

2.3.1 Nội dung quản trị vốn cố định.

Quản trị vốn cố định là một nội dung quan trọng trong quản lý vốn kinhdoanh của các doanh nghiệp Điều đó không chỉ ở chỗ vốn cố định thường chiếmmột tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, có ý nghĩa quyếtđịnh tới năng lực sản xuất của doanh nghiệp mà còn do việc sử dụng vốn cố địnhthường gắn liền với hoạt động đầu tư dài hạn, thu hồi vốn chậm và dễ gặp rủi ro

Trong các doanh nghiệp, quản trị vốn kinh doanh nói chung, vốn cố địnhnói riêng bao gồm nhiều nội dung cụ thể có liên quan mật thiết với nhau Nhưng

có thể khái quát thành ba nội dung cơ bản là: Khai thác tạo lập vốn, bảo toàn vànâng cao hiệu quả sử dụng vốn và phân cấp quản lý, sử dụng vốn cố định trongdoanh nghiệp

Trang 34

2.3.1.1 Khai thác và tạo lập nguồn vốn cố định của doanh nghiệp.

Khai thác tạo lập nguồn vốn cố định đáp ứng nhu cầu đầu tư TSCĐ là khâuđầu tiên trong quản trị vốn cố định của doanh nghiệp Để định hướng cho việckhai thác và tạo lập nguồn vốn cố định đáp ứng yêu cầu đầu tư các doanh nghiệpphải xác định được nhu cầu vốn đầu tư vào TSCĐ trong những năm trước mắt vàlâu dài Căn cứ vào các dự án đầu tư TSCĐ đã được thẩm định để lựa chọn và khaithác các nguồn vốn đầu tư phù hợp

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có thể khai thácnguồn vốn đầu tư vào TSCĐ từ nhiều nguồn khác nhau như từ lợi nhuận để lại táiđầu tư, từ nguốn vốn liên doanh liên kết, từ ngân sách nhà nước tài trợ, từ vốn vaydài hạn ngân hàng, từ thị trường vốn… Mỗi nguồn vốn trên có ưu điểm, nhượcđiểm riêng và điều kiện thực hiện khác nhau, chi phí sử dụng khác nhau Vì thếtrong khai thác, tạo lập các nguồn vốn cố định, các doanh nghiệp vừa phải chú ý

đa dạng hóa các nguồn tài trợ, cân nhắc kỹ các ưu nhược điểm từng nguồn vốn đểlựa chọn cơ cấu các nguồn tài trợ vốn cố định hợp lý và có lợi nhất cho doanhnghiệp Những định hướng cơ bản cho việc khai thác, tạo lập các nguồn vốn cốđịnh cho các doanh nghiệp là phải đảm bảo khả năng tự chủ của doanh nghiệptrong sản xuất kinh doanh, hạn chế và phân tán rủi ro, phát huy tối đa những ưuđiểm của các nguồn vốn được huy động Điều này đòi hỏi không chỉ ở sự năngđộng, nhạy bén của từng doanh nghiệp mà còn ở việc đổi mới các chính sách, cơchế tài chính của Nhà nước ở tầm vĩ mô để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thểkhai thác, huy động được các nguồn vốn cần thiết

Để dự báo các nguồn vốn đầu tư vào TSCĐ các doanh nghiệp có thể dựavào các căn cứ sau đây:

• Quy mô và khả năng sử dụng quỹ đầu tư phát triển hoặc quỹ khấu hao đểđầu tư mua sắm TSCĐ hiện tại và các năm tiếp theo

• Khả năng ký kết các hợp đồng liên doanh với các doanh nghiệp khác đểhuy động nguồn vốn góp liên doanh

• Khả năng huy động vốn vay dài hạn từ các ngân hàng thương mại hoặc pháthành trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường vốn

• Các dự án đầu tư TSCĐ tiền khả thi và khả thi đã được cấp có thẩm quyềnphê duyệt

2.3.1.2 Bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định.

Trang 35

Vốn cố định của doanh nghiệp có thể được sử dụng cho các hoạt động đầu

tư dài hạn (mua sắm, lắp đặt, xây dựng các TSCĐ hữu hình và vô hình) và cáchoạt động kinh doanh thường xuyên (sản xuất các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ)của doanh nghiệp

Để sử dụng có hiệu quả vốn cố định trong các hoạt động đầu tư dài hạn,doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ các quy chế quản lý đầu tư và xây dựng từkhâu chuẩn bị đầu tư, lập dự án đầu tư, thẩm định dự án và quản lý thực hiện dự

án đầu tư Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được các hoạt động đầu tưkém hiệu quả (phần này sẽ được trình bày kỹ hơn trong chương V: Đầu tư dài hạncủa doanh nghiệp)

Để sử dụng có hiệu quả vốn cố định trong hoạt động kinh doanh thườngxuyên, doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp để không chỉ bảo toàn mà cònphát triển được vốn cố định của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh Thựcchất là phải luôn đảm bảo duy trì được giá trị thực của vốn cố định để khi kết thúcmột vòng tuần hoàn bằng số vốn này doanh nghiệp có thể bù đắp hoặc mở rộngđược số vốn cố định mà doanh nghiệp đã bỏ ra ban đầu để đầu tư, mua sắm cácTSCĐ tính theo thời giá hiện tại

Do đặc điểm TSCĐ và vốn cố định là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuấtkinh doanh song vẫn giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu(đối với TSCĐ hữu hình) còn giá trị lại chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm Vìthế nội dung bảo toàn vốn cố định luôn bao gồm hai mặt hiện vật và giá trị Trong

đó bảo toàn về mặt hiện vật là cơ sở, tiền đề để bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị

Bảo toàn vốn cố định về mặt hiện vật không phải chỉ là giữ nguyên hìnhthái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ mà quan trọng hơn là duy trìthường xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó Điều đó có nghĩa là trong quátrình sử dụng doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không làm mất mát TSCĐ, thựchiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng sửa chữa TSCĐ nhằm duy trì và nâng caonăng lực hoạt động của TSCĐ, không để CĐ của doanh nghiệp phải có hồ sơ theodõi quản lý riêng Cuối mỗi năm tài chính doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kêTSCĐ, mọi trường hợp thừa, thiếu TCĐ đều phải lập biên bản, tìm nguyên nhân

và có biện pháp xử lý

Bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị là phải duy trì được giá trị thực (sứcmua) của vốn cố định ở thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu tư ban đầu

Trang 36

bất kể sự biến động của giá cả, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng của tiến

bộ khoa học kỹ thuật Trong trường hợp doanh nghiệp không chỉ duy trì được sứcmua của vốn mà còn mở rộng được quy mô vốn đầu tư ban đầu thì doanh nghiệp

đã phát triển được vốn cố định của mình

Trong các doanh nghiệp, nguyên nhân không bảo toán vốn cố định có thểchia thành 2 loại: Nguyên nhân chủ quan và khách quan Các nguyên nhân chủquan phổ biến là: do các sai lầm trong quyết định đầu tư TSCĐ, do việc quản lý,

sử dụng TSCĐ kém hiệu quả, lãng phí thời gian công suất; do chậm đổi mớiTSCĐ, do khấu hao không đủ… Các nguyên nhân khách quan thường là: do rủi robất ngờ trong kinh doanh (thiên tai, địch họa…); do tiến bộ khoa học – kĩ thuật; dobiến động của giá cả thị trường…

Để bảo toàn và phát triển vốn cố định, các doanh nghiệp cần đánh giá đúng cácnguyên nhân dẫn đến tình trạng không bảo toàn được vốn để có biện pháp xử lýthích hợp Có thể nêu ra một số biện pháp chủ yếu sau đây:

• Phải đánh giá đúng giá trị của TSCĐ tạo điều kiện phản ánh chính xác tìnhhình biến động của vốn cố định, quy mô vốn phải bảo toàn Điều chỉnh kịpthời giá trị của TSCĐ để tạo điều kiện tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao,không để mất vốn cố định

Thông thường có 3 phương pháp đánh giá chủ yếu:

• Đánh giá TSCĐ theo giá nguyên thủy (nguyên giá): Là toàn bộ các chi phíthực tế của doanh nghiệp đã chi ra để có được TSCĐ cho đến khi đưaTSCĐ vào hoạt động bình thường như giá mua thực tế của TSCĐ, các chiphí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử, lãi tiền vay đầu tư TSCĐ khichưa bàn giao và đưa TSCĐ vào sử dụng, thuế và lệ phí trước bạ (nếu có)

… Tùy theo từng loại TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, nguyên giá TSCĐđược xác định với nội dung cụ thể khác nhau

Cách đánh giá này giúp cho doanh nghiệp thấy được số tiền vốn đầu tư muasắm TSCĐ ở thời điểm ban đầu, là căn cứ để xác định số tiền phải khấu hao để táisản xuất giản đơn TSCĐ Tuy nhiên do sự biến động của giá cả nên có thể dẫn tới

sự khác nhau về giá trị ban đầu của cùng một loại TSCĐ nếu được mua sắm ở cácthời kỳ khác nhau Để khắc phục nhược điểm này người ta có thể đánh giá theo giánguyên thủy cố định ở một thời điểm quy ước

Trang 37

• Đánh giá TSCĐ theo giá trị khôi phục (còn gọi là giá đánh lại): Là giá trị đểmua sắm TSCĐ ở tại thời điểm đánh giá Do ảnh hưởng của tiến bộ khoahọc kỹ thuật, giá đánh lại thường thấp hơn giá trị nguyên thủy Tuy nhiêntrong trường hợp có sự biến động của thời giá cả, gia đánh lại có thể caohơn giá trị ban đầu của nó Tùy theo trường hợp cụ thể mà doanh nghiệp cóquyết định xử lý thích hợp như điều chỉnh lại mức khấu hao, hiện đại hóahoặc thanh lý, nhượng bán TSCĐ.

Ưu điểm của cách đánh giá này là thống nhất mức giá cả của TSCĐ đượcmua sắm ở các thời điểm khác nhau về thời điểm đánh giá, loại trừ sự biến độngcủa giá cả Do đó nó là một căn cứ để xem xét, điều chỉnh mức khấu hao, loại trừảnh hưởng của hao mòn vô hình Tuy nhiên việc đánh giá lại TSCĐ là vấn đề phứctạp, vì thế thường sau một số năm nhất định người ta mới tiến hành đánh giá lạimột lần Theo quy định hiện hành, các doanh nghiệp chỉ được đánh giá lại trongcác trường hợp: Kiểm kê đánh giá lại tài sản theo quyết định của Nhà nước; thựchiện cổ phần hóa, đa dạng hóa hình thức sở hữu; dùng tài sản để góp vốn cổ phầnhay liên doanh; điều chỉnh giá để đảm bảo giá trị thực tế của tài sản theo chủtrương của Nhà nước

• Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại: Là phần giá trị còn lại của TSCĐ chưachuyển váo giá trị sản phẩm Giá trị còn lại có thể tính theo giá trị ban đầu(gọi là giá trị nguyên thủy còn lại) hoặc giá đánh lại (gọi là giá trị khôi phụccòn lại) Mỗi cách đánh giá trên có ý nghĩa, tác dụng riêng Cách đánh giágiá trị còn lại tính theo nguyên giá cho phép thấy được mức độ thu hồi vốnđầu tư đến thời điểm đánh giá Từ đó giúp cho việc lựa chọn chính sáchkhấu hao để thu hồi số vốn đầu tư còn lại để bảo toàn vốn sản xuất kinhdoanh của mình

Lựa chọn phương pháp khấu hao và xác định mức khấu hao thích hợp,không để mất vốn và hạn chế tối đa ảnh hưởng bất lợi của hao mòn vô hình

Nguyên tắc chung là mức khấu hao phải phù hợp với hao mòn thực tế củaTSCĐ (cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình) Nếu khấu hao thấp hơn mứchao mòn thực tế sẽ không đảm bảo thu hồi đủ vốn khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng.Ngược lại sẽ làm tăng chi phí một cách giả tạo, làm giảm lợi nhuận của doanhnghiệp Vì vậy doanh nghiệp phải xem xét cụ thể mối quan hệ giữa chi phí sảnxuất đầu vào và giá bán sản phẩm ở đầu ra để có chính sách khấu hao phù hợp với

Trang 38

quan hệ cung cầu trên thị trường, vừa đảm bảo thu hồi đủ vốn, vừa không gây nên

sự đột biến trong giá cả Trong trường hợp TSCĐ có hao mòn vô hình lớn cần ápdụng phương pháp khấu hao giảm dần để hạn chế ảnh hưởng của hao mòn vôhình

• Chú trọng đổi mới trang thiết bị, phương pháp công nghệ sản xuất, đồngthời nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ hiện có của doanh nghiệp cả về thờigian và công suất Kịp thời thanh lý các TSCĐ không cần dùng hoặc đã hưhỏng, không dự trữ quá mức các TSCĐ chưa cần dùng

Để thực hiện được các vấn đề trên đòi hỏi các doanh nghiệp giải quyết hàngloạt những vấn đề trong việc tổ chức quá trình sản xuất, quá trình lao động, cungứng và dự trữ vật tư sản xuất, các biện pháp giao dục và khuyến khích kinh tế đốivới người lao động trong doanh nghiệp

• Thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa dự phòng TSCĐ, không để xảy

ra tình trạng TSCĐ hư hỏng trước thời hạn hoặc hư hỏng bất thường gâythiệt hại ngừng sản xuất

Trong trường hợp TSCĐ phải tiến hành sửa chữa lớn, cần cân nhắc tínhtoán kỹ hiệu quả của nó Tức là xem xét giữ chi phí sửa chữa cần bỏ ra với việcđầu tư mua sắm TSCĐ mới để quyết định cho phù hợp Nếu chi phí sửa chữa lớnhơn mua sắm mới thì nên thay thế TSCĐ cũ

• Doanh nghiệp phải chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi rotrong kinh doanh để hạn chế tổn thất vốn cố định do các nguyên nhân kháchquan như: Mua bảo hiểm tài sản, lập quỹ dự phòng tài chính, trích trước chiphí dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính

Nếu việc tổn thất tài sản cố định do các nguyên nhân chủ quan thì ngườigây ra phải chịu trách nhiệm bồi thường cho doanh nghiệp

• Đối với các doanh nghiệp nhà nước, ngoài các biện pháp nêu trên cần thựchiện tốt quy chế giao vốn và trách nhiệm bảo toàn vốn cố định đối với cácdoanh nghiệp Trong điều kiện chuyển các doanh nghiệp sang kinh doanhtheo cơ chế thị trường, thực hiện quy chế giao vốn và trách nhiệm bảo toànvốn cố định cho các doanh nghiệp nhà nước là một biện pháp cần thiết đểtạo căn cứ pháp lý ràng buộc trách nhiệm quản lý vốn giữa các cơ quan nhànước đại diện cho quyền sở hữu và trách nhiệm của các doanh nghiệp trongviệc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả Đồng thời tạo điều kiện cho

Trang 39

doanh nghiệp có quyền chủ động hơn trong quản lý và sử dụng có hiệu quả

số vốn cố định được giao

2.3.1.3 Phân cấp quản lý vốn cố định.

Đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước, do có sự phânbiệt giữa quyền sở hữu vốn và tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp và quyềnquản lý kinh doanh, do đó cần phải có sự phân cấp quản lý để tạo điều kiện chocác doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh

Theo quy chế tài chính hiện hành các doanh nghiệp nhà nước được quyền:

• Chủ động trong sử dụng vốn, quỹ để phục vụ kinh doanh theo nguyên tắchiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn Nếu sử dụng vốn, quỹ khác với mụcđích sử dụng đã quy định cho các loại vốn, quỹ đó thì phải theo nguyên tắc

có hoàn trả khi có nhu cầu sử dụng

• Chủ động thay đổi cơ cấu tài sản và các loại vốn phục vụ cho việc pháttriển vốn kinh doanh có hiệu quả hơn

• Doanh nghiệp được quyền cho các tổ chức và cá nhân trong nước thuê hoạtđộng các tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để nâng cao hiệusuất sử dụng, tăng thu nhập song phải theo dõi, thu hồi tài sản cho thuê khihết hạn Các tài sản cho thuê hoạt động doanh nghiệp vẫn phải trích khấuhao theo chế độ quy định

• Doanh nghiệp được quyền đem tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng củamình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tín dụngtheo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật Trong thời gian đem cầm cố,thế chấp TSCĐ, doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao các TSCĐ này

• Doanh nghiệp được nhượng bán các tài sản không cần dùng, lạc hậu về kỹthuật để thu hồi vốn sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp có hiệu quả hơn Được quyền thanh lý những TSCĐ đã lạchậu mà không thể nhượng bán được hoặc đã hư hỏng không có khả năngphục hồi

Riêng đối với các TSCĐ là toàn bộ dây chuyền công nghệ chính của doanhnghiệp muốn thanh lý phải được phép của cơ quan ra quyết định thành lập doanhnghiệp

Trang 40

• Doanh nghiệp được sử dụng vốn, tài sản, giá trị quyền sử dụng đất để đầu

tư ra ngoài doanh nghiệp theo các quy định của pháp luật hiện hành Cáchình thức đầu tư ra ngoài doanh nghiệp gồm: mua cổ phiếu, trái phiếu, gópvốn liên doanh và các hình thức đầu tư khác

Đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, do không có

sự phân biệt giữa quyền sở hữu tài sản và quyền quản lý kinh doanh của doanhnghiệp, vì thế các doanh nghiệp được hoàn toàn chủ động trong việc quản lý, sửdụng có hiệu quả vốn cố định của mình theo các quy chế luật pháp quy định

2.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.

Kiểm tra tài chính đối với hiệu quả sử dụng vốn cố định là một nội dungquan trọng của hoạt động tài chính doanh nghiệp Thông qua kiểm tra tìa chínhdoanh nghiệp có được những căn cứ xác đáng để đưa ra các quyết định về mặt tàichính như điều chỉnh quy mô và có cấu vốn đầu tư, đầu tư mới hay hiện đại hóaTSCĐ, về các biện pháp khai thác năng lực sản xuất của TSCĐ hiện có, nhờ đónâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định

Để tiến hành kiểm tra tài chính đối với hiệu quả sử dụng vốn cố định cầnxác định đúng đắn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định vàTSCĐ của doanh nghiệp Thông thường bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và phântích sau đây:

Trong đó số vốn cố định ở đầu kỳ (hoặc cuối kỳ) được tính theo công thức:

Số tiền khấu hao

lũy kế cuối kỳ =

Số tiền khấu hao

Số tiền khấu hao tăng trong

-Số tiền khấu hao giảm trong

kỳ

Ngày đăng: 08/09/2016, 23:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w