1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo Tiến hóa và đa dạng sinh học

42 598 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 5,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự đa dạng về sinh học hay sự đa dạng sinh học nói một cách ngắn gọn chính là sự đa dạng của sự sống trên Trái đất. Khái niệm bao gồm các loài thực vật, động vật và vi sinh vật trên cạn, ở sông hồ và biển. Đa dạng sinh học gồm 3 mức độ: loài, hệ sinh thái và thông tin di truyềnnguồn gen.

Trang 1

I Mở đầu.

I.1 Đa dạng sinh học là gì?

Sự đa dạng về sinh học hay sự đa dạng sinh học nói một cách ngắn gọn chính là

sự đa dạng của sự sống trên Trái đất Khái niệm bao gồm các loài thực vật, động vật

và vi sinh vật trên cạn, ở sông hồ và biển Đa dạng sinh học gồm 3 mức độ: loài, hệsinh thái và thông tin di truyền/nguồn gen

Đa dạng sinh học đề cập đến tất cả các dạng tồn tại của loài, hệ sinh thái của loài

và mối quan hệ giữa chúng Ví dụ như trong đại dương sự đa dạng sinh học bắt đầu từnhững loài sinh vật rất nhỏ gọi là sinh vật phù du mà chúng có thể sử dụng nănglượng mặt trời Loài phù du là thức ăn của những loài động vật nhỏ, sau đó loài độngvật nhỏ là thức ăn của động vật lớn hơn như cá, bò sát hay động vật có vú Cá, tôm,cua , bò sát là thức ăn của hàng tỷ con người trên trái đất Vì vậy đa dạng sinh học là

cơ sở cho nền kinh tế và các lợi ích khác của con người

Đa dạng sinh học và bảo tồn sinh học luôn là vấn đề được các nhà sinh học quantâm, nghiên cứu Vì nó không chỉ mang lại các nguồn lợi cho nền kinh tế mà còn duytrì sự cân bằng trong các quần thể tự nhiên, giúp điều hòa các chu trình trong tự nhiên.Bất kỳ sự biến mất của một loài nào cũng ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng đến cácloài sống xung quanh và sống trong cùng khu vực

Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinhthái trong tự nhiên Đa dạng sinh học được xem xét ở 3 mức độ:

- Đa dạng sinh học ở cấp độ loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất,

từ vi khuẩn đến các loài thực vật, động vật và các loài nấm

- Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khácbiệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các

cá thể cùng chung sồng trong một quần thể

- Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó cácloài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồntại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau

Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tựnhiên và cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loàingười và bền vững thiên nhiên trên trái đất Nhưng hiện nay, do nhiều nguyên nhânkhác nhau làm cho nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của Việt Nam đã và đang bịsuy giảm Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều taxonloài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt trủng trong một tương lai gần.Trong các hệ thống khai thác ngư nghiệp đang dần kéo theo các hệ sinh vật cũng mấtdần đi sự phong phú Các hệ sinh thái dưới nước mất đị sự cân bằng tự nhiên, đứngtrước nguy cơ chỉ phát triển được trong một thời gian ngắn, không bền vững

Trang 2

Để bảo tồn các hệ sinh thái biển chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp,cũng các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên đa dạng sinh học biển.

Đa dạng sinh học biển là cơ sở giúp cho việc cải thiện kinh tế của người dân vùngbiển Bảo vệ đa dạng sinh học còn giúp cho các hệ sinh thái được cân bằng,…

1.2 Giá trị của đa dạng sinh học.

Đa dạng sinh học có giá trị riêng của nó Hầu hết các nền văn hóa trên thế giớiđều tôn thờ giá trị tự nhiên, đất đai và cuộc sống trong truyền thống, tín ngưỡng vàtâm linh, trong giáo dục, sức khỏe và các hoạt động mang tính giải trí của chúng.Nhưng nhân loại cũng phụ thuộc vào đa dạng sinh học, những hàng hóa và dịch vụ

mà nó cung cấp

Hàng hóa

Các loài động vật, thực vật khác nhau hình thành nên chức năng của hệ sinh tháinhư rừng, nước ngọt, đất hay đại dương Hệ sinh thái có đa dạng sinh học cao khôngchỉ cung cấp hàng hóa như thực phẩm, gỗ và nhiên liệu sinh học mà còn y tế và nướcsạch cho con người Sự đa dạng sinh học cũng là nguồn cho trồng giống mới và nuôigiống con mới vì hầu hết các giống cây trồng và động vật nuôi có nguồn gốc từ cuộcsống hoang dã Tổng hợp/ Chiết xuất từ các loại động thực vật và vi sinh vật thiênnhiên là cơ sở sản xuất ra thuốc/ dược liệu chữa bệnh cho con người

Dịch vụ

Dịch vụ cung cấp sự đa dạng sinh học (có thể gọi là dịch vụ hệ sinh thái) được cho

là miễn phí và không thể thiếu được Chẳng hạn như: vi sinh vật cung cấp dinh dưỡngcho sự phát triển tươi tốt của cây cối tạo ra oxy; mưa và gió hình thành đất từ tảng đá;thực vật và các loài sinh vật khác giúp thực thể dày hơn theo thời gian Đại dươngchiếm ¾ diện tích của hành tinh Nó không chỉ chứa lượng nước lớn mà gồm hệ độngthực vật hình thành nên trái đất Đại dương vận chuyển mọi sinh vật sống ở đó quakhoảng không gian rộng lớn, chúng kiểm soát khí hậu toàn cầu và cung cấp thựcphẩm Loài tảo biển nhỏ ngoài biển tạo ra lượng lớn oxy cần thiết cho các loài độngvật trên cạn để thở Đồng thời, cácbon từ nhiên liệu bị đốt cháy trong không khí và bịgiữ lại Hàng nghìn năm nay, bờ biển là địa điểm thu hút con người Động vật và thựcvật xung quanh sinh ra chất dinh dưỡng có sẵn, là nơi lọc bụi bẩn từ các dòng sông vàsuối; giúp bảo vệ bờ biển khỏi cơn bão Cá, tôm, cua, sò, hến và rong ở biển là nguồnthức ăn cho con người và động vật Chúng cung cấp phân bón, thuốc, mỹ phẩm, sảnphẩm gia dụng và vật liệu xây dựng Những rạn san hô là ‘khu rừng nhiệt đới của đạidương”, nơi đó cung cấp nguồn cá, bảo vệ những mối nguy ngại của tự nhiên và điềuhòa khí hậu Khoảng nửa tỷ người phụ thuộc vào các rạn san hô Nhiều quốc gia phát

Trang 3

triển và 6 quốc gia đang phát triển và những quốc đảo sống dựa rất nhiều vào nhữngrạn san hô vì đó là nguồn thực phẩm và cũng là sinh kế chính của họ.

1.3 Bảo tồn đa dạng sinh học.

Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người

với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệhiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng củacác thế hệ tương lai Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn đa dạngsinh học, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các nguy cơ mà loàihiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp quản lý phú hợp nhằm giảm đicác tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và hệ sinhthái trong tương lai

Hiện nay có các phương thức là bảo tồn tại chỗ và bảo tồn chuyển vị Trong khiphương pháp bảo tồn tại chỗ là nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các sinh cảnh tựnhiên để duy trì và khôi phục quần thể các loài trong môi trường tự nhiên của chúng,phương thức bảo tồn chuyển vị bao gồm các hoạt động nhằm bảo tồn các loài mụctiêu bên ngoài nơi phân bố hay môi trường tự nhiên của chúng

Hai phương thức bảo tồn này có tính chất bổ sung cho nhau Những cá thể từ cácquần thể được bảo tồn chuyển vị có thể được đưa vào thiên nhiên nơi có phân bố tựnhiên của chúng để tăng cường cho các quần thể đang được bảo tồn tại chỗ và việcnghiên cứu các quân thể được bảo tồn chuyển vị có thể cung cấp cho chúng ta nhữnghiểu biết về các đặc tính sinh học của loài và từ đó hỗ trợ cho việc hình thành cácchiến lược bảo tồn hiệu quả hơn cho các quần thể được bảo tồn tại chỗ

Tuy nhiên, dưới áp lực ngày càng tăng của sự thay đổi khá nhanh các điều kiệnmôi trường, đặc biệt do sự nóng lên toàn cầu, mục tiêu của một chiến lược bảo tồnnguồn gen thực vật là không chỉ bảo tồn các khác biệt di truyền hiện có mà còn tạo racác điều kiện phù hợp cho việc tăng sự thích nghi và sự tiến hóa tương lai của loài Vìvậy, các nhà khoa học bảo tồn đã đề xuất khái niệm bảo tồn nguồn gen động cho thựcvật Điều cốt lõi của khái niệm này là khuyến khích tính thích nghi của loài bằng cáchđặt các quần thể bảo tồn trong quá trình chọn lọc tự nhiên và rồi trong quá trình tiếnhóa theo các hướng khác biệt để đa dạng hóa nguồn gen của loài, chuẩn bị cho việcthích nghi rộng hơn của loài đối với các điều kiện môi trường khác nhau Theo cáchthức bảo tồn này, nguồn gen của các loài thực vật sẽ được bảo tồn trong một quá trìnhđộng thay vì chỉ được duy trì như đúng tình trạng di truyền mà chúng vốn có

1.4 Biển Nha trang

Trang 4

Vịnh Nha Trang có diện tích khoảng 507 km2 với 19 hòn đảo lớn nhỏ, là một trongnhững hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi có hầu hếtcác hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vũng biển nhiệt đới.

a Vị trí địa lý

Khánh Hoà là tỉnh ven biển, cực đông của Việt Nam, với 200 km bờ biển ở phíaĐông, liền kề với Tây Nguyên ở phía Tây, phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Namgiáp tỉnh Ninh Thuận Phần lãnh hải có hệ thống đảo, đặc biệt là huyện đảo Trường

Sa, có vị trí rất quan trọng về kinh tế, quốc phòng của cả nước Khánh Hoà nằm giữahai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, là các trọng điểm phát triểnkinh tế của cả nước, trung tâm tỉnh lỵ Nha Trang cách thành phố Hồ Chí Minh 400

km Với vị trí địa lý như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho Khánh Hoà phát triển sảnxuất hàng hoá và mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong cả nước và quốctế

b Đặc điểm địa hình

Địa hình của tỉnh Khánh Hoà tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông vớinhững dạng địa hình núi, đồi, đồng bằng, ven biển và biển khơi Phần phía Tây làsườn đông dãy Trường Sơn, chủ yếu là núi thấp và đồi, độ dốc lớn và địa hình bị chiacắt mạnh Tiếp đến là dạng địa hình núi thấp, đồi thấp xen kẽ bình nguyên và thunglũng, thỉnh thoảng có núi đá chạy ra sát biển chia cắt dải đồng bằng ven biển thànhnhững vùng đồng bằng nhỏ hẹp, với chiều dài 200 km bờ biển khúc khuỷu có điềukiện thuận lợi để hình thành các cảng nước sâu, nhiều vùng đất rộng thuận lợi để lậpkhu chế xuất và khu công nghiệp tập trung Có 8 cửa lạch, 10 đầm, vịnh, 2 bán đảo vàtrên 200 hòn đảo lớn, nhỏ với nhiều hình thù khác nhau Đặc điểm địa hình KhánhHoà đã tạo ra những cảnh quan phong phú và đa dạng vừa mang tính đặc thù của mỗitiểu vùng, vừa mang tình đan xen và hoà nhập Việc khai thác tài nguyên phải phùhợp với các dạng hình cảnh quan nhằm bảo đảm tính bền vững và có hiệu quả

Những đặc điểm khí hậu, thời tiết của Khánh Hoà rất thuận lợi cho tham quan du lịchbiển, nhất là từ tháng 1 đến tháng 8 Ánh sáng nhiều là điều kiện tốt cho sinh trưởngcây cối nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung Song cũng cần chú ý đến các

Trang 5

hiện tượng bất lợi như lũ lụt về mùa mưa, khô hạn về mùa khô, gió tây nóng và gió tubông ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, đặc biệt vào mùa trổ bông, ra hoa của câytrồng.

d Tài nguyên biển

Tổng trữ lượng hải sản thuộc vùng biển Khánh Hoà khoảng 150 nghìn tấn, trong đóchủ yếu là cá nổi (70%), cho phép khai thác hàng năm khoảng 70 nghìn tấn Nguồnlợi biển phân bố không đều, tập trung phần lớn ở ngư trường ngoài khơi và ngưtrường ngoài tỉnh từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến vịnh Thái Lan Mặt khác, khai thácngư trường quanh quẩn đảo Trường Sa vừa góp phần phát triển kinh tế, vừa đảm bảo

an ninh - quốc phòng

Nước biển có nồng độ muối tương đối cao, thuận lợi cho việc sản xuất muối tập trung

và các sản phẩm sau muối, nhất là muối công nghiệp Biển Khánh Hoà còn là nơi cưtrú của loài chim yến, hàng năm cho phép khai thác khoảng 2.000 kg yến sào Đây làmột đặc sản quý hiếm ít tỉnh trong cả nước có, không chỉ đóng góp trực tiếp cho xuấtkhẩu, mà còn là nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến dược liệu bổ dưỡngcao cấp

Dọc bờ biển Khánh Hoà có rất nhiều bãi tắm đẹp như bãi biển Nha Trang nằm ngaytrung tâm thành phố, có chiều dài 5 km; bãi Tiên nằm về phía Bắc thành phố; Dốc Lếtthuộc huyện Ninh Hoà có chiều dài 4 km; Đại Lãnh (Vạn Ninh) có chiều dài 2 km.Ngoài ra, dọc bờ biển còn tập trung nhiều đảo lớn, nhỏ có khả năng tổ chức du lịch,săn bắn dưới nước, vui chơi giải trí trên các đảo Đặc biệt, đảo Hòn Tre là đảo lớn,quanh đảo có nhiều bãi tắm san hô rất đẹp như bãi Trũ, bãi Tre, Bích Đầm… Vớicảnh quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, khí hậu lý tưởng chomùa du lịch kéo dài gắn với nhiều di tích lịch sử và công trình văn hoá như Tháp Bà,thành Diên Khánh, biệt thự Bảo Đại, chùa Long Sơn, mộ Yersin… Khánh Hoà đã trởthành một trong mười trung tâm du lịch lớn của cả nước, rất hấp dẫn lôi cuốn khách

du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt là với hình thức du lịch biển

Trang 6

Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập nặm, thảm cỏ biển, hệ sinhthái cứa sông, biển đảo và bãi cát ven bờ Đặc biệt, vịnh Nha Trang có hệ sinh tháibiển rất đa dạng, là nơi sinh sống của nhiều sinh vật biển nhất là các loài cá Hiện nay

đã phát hiện ra trên 222 loài cá và trên 350 loài san hô tạo rạn ( chiếm 40% san hô tạorạn trên thế giới) Với đặc tính đa dạng sinh học cao, môi trường ổn định và tiềm năngphát triển kinh tế, vinh Nha Trang đa được chon làm mô hình mẫu cho công tác bảotồn đa dạng sinh học biện đầu tiên ở Việt Nam

Với các điều kiện khí hậu ôn hòa, nhiệt độ ấm quanh năm, cửa vịnh rộng, tiếp giápvới đại dương, vịnh Nha Trang phù hợp cho việc phát triển, nuôi trông thủy thủy sảnbiển Đối tượng nuôi chính là tôm hùm, cá biển cũng góp phần vào bảo vệ các loài cábiển

Một số nguyên nhân gây suy giảm, cạn kiệt các nguồn thủy sản là:

- Đánh bắt không có quy hoạch

Cá là động vật có dây sống, hầu hết là biến nhiệt (máu lạnh) có mang, một số

có phổi và sống dưới nước Hiện người ta biết khoảng trên 31.900 loài cá, điều nàylàm cho chúng trở thành nhóm đa dạng nhất trong số các động vật có dây sống Vềmặt phân loại học, cá là một nhóm cận ngành mà quan hệ chính xác của nó còn gâytranh cãi nhiều; sự phân chia phổ biến là chia chúng thành cá không hàm, với lớp cònlại là cá xương Trong tiếng Việt, nhiều loài động vật sống dưới nước khác cũng gọi là

"cá", chẳng hạn (cá) mực hay cá voi, cá heo, cá nhà táng, cá sấu nhưng thực ra,

chúng không phải là cá thực thụ Mực thuộc phân lớp Chân đầu (Cephalopoda) còn các loại cá sau lại là các động vật có vú(Mammalia), riêng cá sấu là một nhóm bò sát

Cá là động vật biến nhiệt vì vậy chỉ những thay đổi nhiệt độ nhỏ trong môi trườngnước cũng làm cho các loài cá chết hàng loạt hoặc ngừng sinh sản trong một thời giandài Cá có kích thước rất khác nhau thay đổi

Trang 7

1.5 Giá trị của các loài cá

a Đối với con người

- Các loài cá có giá trị dinh dưỡng vô cùng quan trọng trong đời sống của con người

Cá cung cấp nhiều protein và có đủ các acid amin, muối khoáng với các vi lượng quan trọng Mỡ

cá có nhiều vitaminA và D, rất tốt cho sức khỏe Lượng protein trong cá tương đối ổn định dao động

từ 16% đến 17%, số lượng protein và lipid gần như ổn định cho mỗi loại cá Cá càng béo thì lượngnước càng ít, và ngược lại Lượng glucid trong cá không đáng kể, dưới 1% dưới dạng glucogen Các phân tích dinh dưỡng cho thấy: Trong 100g cá chép có 16g protein, 3.6g lipid, 17mg canxi,184mg phốt phi, 0.9 mg sắt và các vitaminA, B1, B2 và vitamin PP Trong 100g cá thu 18.2gprotein, 10.3 g lipid, 50mg canxi, 90mg phốt pho, 1.3mg sắt và các vitaminA, B1, B2 Các proteintrong các quan trọng nhất là albumin, globulinvà nucleoprotein So với các loại thịt khác, lượnglysin, tyrosin, tryptophan, cystin và methionin trong cá cao hơn, còn lượng histidin, arginin lại kémhơn

Trong các loại cá, đặc biệt ở đầu cá chứa nhiều acid béo chưa no omega 3 có hoạt tính sinh họccao Cá nghiên cứu gần đây cho thấy, các acid béo omega 3 không những có tác dụng hạ thấpcholesterol mà còn làm giảm triglycerid ở những người có triglycerid cao, từ đó có tác dụng ngănngừa mỡ máu và làm hạ huyết áp Hầu hết các loại cá đều có chứa acid béo omega 3, nhiều nhất phải

kể đến cá hồi, cá thu và cá trích…Do có nhiều acid béo chưa no nên mỡ cá không bền vững, dễ bịôxy hóa và dễ biến đổi tính chất cảm quan

Cá là nguồn cung cấp vitamin quan trọng Mỡ cá, nhất là mỡ gan cá có nhiều vitamin A vàD.Lượng vitamin nhóm B ở cá tương tự như ở thịt nhưng lượng vitamin B ở cá thấp hơn thịt Trong

cá cũng có acid folic, vitamin B12, tocopherol, biotin và cholin

Ngoài ra cá còn cung cấp chất khoáng cho sự phát triển của cơ thể, đặc biệt đối với trẻ em Cásống ở biển chứa nhiều khoáng chất hơn cá sống ở nước ngọt Chất khoáng trong cá chứa nhiều vilượng quan trọng như Cu, Co, Zn, Iod… trong đó, lượng iod của một số loại cá biển khá cao

- Các loài cá còn được dùng làm cảnh phục vụ cho đời sống tinh thần của con người

- Dùng làm dược phẩm cung cấp một lượng lớn nguyên liệu trong y tế

- Các loài cá góp phần vào đa dạng sinh học

- Là một mắt xích trong chuỗi thức ăn

- Góp phần vào bảo vệ môi trường nước

- Đảm bảo duy trì các chu trình sinh địa hóa

- Giúp cân bằng hệ sinh thái

II Đa dạng các loài cá

1 Cá Bò hỏa tiễn (Rhinecanthus aculeatus)

Trang 8

Lớp da cá rất dày, miệng nhỏ nhưng có những chiếc răng rất khỏe Lớp da dưới

ngực có khả năng dãn ra làm cho kích thước cá tăng đáng kể để hăm dọa kẻ thù Thânhình tam giác ngược, lườn bụng phẳng, trán lài, miệng ngang, mõm tù, mắt cao phíalưng, cuống đuôi to vừa.Thân màu cà phê sữa nhạt ở đầu và đuôi, màu xám nhạt ởlưng và trắng ở bụng; mí mắt màu vàng nghệ; một sọc vàng chạy từ mõm đến dướigốc vây ngực, nối với 1 sọc đen và nâu viền xanh vắt qua mắt; một vòng cung nâuviền vàng ở nửa thân trên; các vòng cung trắng và xanh ở nửa thân dưới; cuống đuôi

có mảng đen viền trắng; vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn trắng đục

- Môi trường sống: Sống ở biển, vùng rạn san hô, độ sâu từ 0 – 50m.

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, cá phân bố ở Đông Đại Tây

Dương, Nam Phi, Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương, Đông Phi, phía bắc đến phía namNhật Bản, phía Nam đến Đảo Lord Howe và New Caledonia Phân bố ở Việt Nam:biển Đông

- Giá trị đặc biệt: Ít (có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Không có trong danh mục sách đỏ của IUCN và

Việt Nam

- Tập tính sống: Thường tìm thấy ở các rìa đá phẳng và các đầm phá yên tĩnh có

bóng mát; thuộc nhóm sống đáy; con non ẩn trốn trong các hốc đá, con trưởng thànhbơi lượn ở bên ngoài nhưng cũng hay chạy trốn khi có động; có tập tính bảo vệ lãnhthổ

- Thức ăn: sinh vật có vỏ cứng như cua, cầu gai, sò, vẹm

- Hình thức sinh sản: Một con đực có thể thụ tinh cùng lúc cho nhiều con cái,

con cái có tập tính bảo vệ trứng cho đến lúc nở

Trang 9

- Hình thái: Thân hình tam giác ngược, màu socola lườn bụng phẳng, trán hõm,

miệng dưới, mõm nhọn trung bình, mắt cao phía lưng, cuống đuôi to, mặt lưng từ saumắt đến trước vây lưng màu vàng đất với các chấm nâu; mặt bụng có nhiều đốm totròn màu trắng trải đều từ bụng lên đến giữa thân; quanh mõm màu vàng nghệ có viềnnâu và trắng; một vệt vàng kem vắt trước mũi; vây lưng và vây hậu môn trắng đục, cóvằn vàng ở gốc vây; vây đuôi màu nâu có 1 sọc trắng lớn ở giữa Cá có hai hàm răngrất khỏe, có thể ăn được cả cầu gai và những loài trai sò có vỏ cứng Cá rất hung hăng,luôn sẵn sàng tấn công những sinh vật khác sống cùng

- Môi trường sống: Sống ở biển hoặc vùng nước lợ, hệ sinh thái rạn san hô, độ

sâu từ 1 – 75m; vùng biển nhiệt đới

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, cá phân bố ở Ấn Độ - Tây

Thái Bình Dương, Đông Phi, Nam Phi, phía bắc đến phía nam Nhật Bản, phía Namđến New Caledonia Phân bố ở Việt Nam: biển Đông

- Giá trị đặc biệt: Trung bình (có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Không có trong danh mục sách đỏ của IUCN và

Việt Nam

- Tập tính sống: Sống ở vùng bãi biển sạch, phía ngoài các dãy đá ngầm; là loài

sống đơn độc; con đực thường xuất hiện ở các dốc đá dựng đứng trong vùng nướcsâu, bơi rút lui vào các hang động khi bị tiếp cận; con non ẩn náu trong các hang độnggiàu động vật không xương sống phát triển

- Thức ăn: Nhím biển, cua và các loại giáp xác.

- Hình thức sinh sản: Có tập tính xây tổ và con đực bảo vệ trứng sau thụ tinh 2.Cá Sơn đá đỏ (Sargocentron rubrum)

Trang 10

- Hình thái: Thân màu đỏ đậm, bên thân có 8 - 9 sọc màu trắng bạc, các vây màu

hồng nhạt Gai vây lưng màu đỏ đậm có nhiều sọc đứng màu trắng Thân bầu dục, dẹpbên Môi phát triển, hàm trên có thể kéo dài ra phía trước Trên xương nắp mang có 2gai dẹp, góc dưới của xương nắp mang trước có 1 gai dài Vảy lược to, rất cứng, viềnrất sắc, ở má có 5 hàng vảy và xương nắp mang có vảy Gai của xương nắp mangtrước có độc tố

- Môi trường sống: Hệ sinh thái rạn san hô, sống ở độ sâu 1 – 84 m vùng nhiệt

đới

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, có phân bố rộng ở Ấn Độ,

Thái Bình Dương: Indonesia, Nhật Bản, Trung Quốc, Nam Phi, Hồng Hải, Ấn ĐộDương Phân bố ở Việt Nam: Vịnh Bắc Bộ, biển Đông

- Giá trị đặc biệt: Rất ít (là loài có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: là loài không có trong danh mục sách đỏ của

IUCN và Việt Nam

- Tập tính sống: Là loài cá lớn, ưa hoạt động và thuộc nhóm sống về đêm.

- Thức ăn: Chủ yếu là tôm, cua, sinh vật đáy và cá nhỏ.

- Hình thức sinh sản: Cá trưởng thành sống theo cặp, thụ tinh ngoài, đẻ trứng gần

mặt nước, không có tập tính bảo vệ con, trứng và ấu trùng được chăm sóc cho đến khicon non quay về sống dưới mặt đáy

Trang 11

2 Cá Khoang cổ (Amphiprion ocellaris)

- Hình thái: Cơ thể màu đỏ cam, với 3 sọc đứng lớn màu trắng viền đen trên cơ

thể: sọc 1 từ gáy qua sau mắt tới ức; sọc 2 từ các gai lưng cuối xuống trước vây hậumôn; sọc 3 phủ rộng hơn cuống đuôi Tất cả các vây màu đỏ cam, với viền đen lớn rõnét, riêng vây đuôi, vây hậu môn và vây lưng mềm có rìa ngoài trong suốt Thân bầudục, vảy lược nhỏ, miệng xiên, đường bên đứt quãng

- Môi trường sống: Hệ sinh thái rạn hô, không di cư, độ sâu 1-15 m, thường

3-15m; vùng biển nhiệt đới

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, cá phân bố ở vùng biển Ấn

Độ - Tây Thái Bình Dương, từ phía đông Ấn Độ Dương bao gồm cả quần đảoAndaman và Nicobar, Thái Lan, Malaysia, và Tây Bắc Úc đến Singapore, Indonesia,

và Philippines; phía bắc Đài Loan và quần đảo Ryukyu Phân bố ở Việt Nam: vùngbiển trung bộ

- Giá trị đặc biệt: Nhiều (có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Không có trong danh mục sách đỏ của IUCN và

Việt Nam

- Tập tính sống: con trưởng thành sống trong những xúc tu có nọc độc của cỏ

chân ngỗng lớn; sống chung thủy thành cặp; sống chung với Hải quỳ như những đôibạn thân thiết

- Thức ăn: Ăn tạp, chủ yếu là tảo, động vật phù du…

- Hình thức sinh sản: Là loài đẻ trứng, con đực ấp trứng.

Trang 12

2. Cá Mao tiên chỉ (Pterois antennata)

- Hình thái: Màu nâu đỏ đến vàng nâu, với nhiều sọc trắng dọc thân Đỉnh đầu

ngay phía trên mắt có hai xúc tu dài Vây ngực rất dài có màng ở phía trong, phíangoài là các tia vây rời mảnh tựa chỉ Các tia gai vây lưng cũng dài và mảnh Cá xòe

ra những tua vây lả lướt rất đẹp khi bơi nên được mệnh danh là “công chúa biển” Cónhững vũ khí tự vệ rất lợi hại là những chiếc vây lưng, trong các tia vây này có chứachất độc, khi chích, sẽ làm cho vết thương bị sưng tấy, đau nhức, thậm chí có thể gâysốt cao, bất tỉnh

- Môi trường sống: Hệ sinh thái rạn san hô, mức độ sâu 2 – 50 m, vùng biển nhiệt

đới, đầm phá

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, cá phân bố rộng khắp Ấn Độ

- Thái Bình Dương: hải đảo Mangaréva, phía bắc đến phía nam Nhật Bản, phía nambang Queensland, Úc và Kermadec, hải đảo Austral Phân bố ở Việt Nam: biển Đông

- Giá trị đặc biệt: Ít (là loài có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Không có trong danh mục sách đỏ của IUCN và

của Việt Nam

- Tập tính sống: Ần mình trong khe và san hô vào ban ngày và săn mồi vào ban

đêm, sống đơn độc hoặc theo nhóm

- Thức ăn: Chủ yếu là tôm, cua, động vật phù du.

- Hình thức sinh sản: Là loài đẻ trứng, sinh sản khi trời tối.

Trang 13

3. Cá Nóc chó đen (Arothoron immaculatus)

- Hình thái: Hình thoi, bụng tròn, mõm nhọn dạng tù, mắt hướng trên, cuống đuôi

lớn, vây đuôi dài quá chiều dài đầu Thân cá màu nâu nhạt đến xám trắng, bụngtrắng; môi và vùng quanh miệng màu vàng; một đốm nâu sậm tròn quanh gốc vâyngực; gốc vây ngực màu vàng,vây ngực trong suốt; vây đuôi màu vàng nhạt viền đen;vây lưng và vây hậu môn màu trắng trong pha các sọc vàng

- Môi trường sống: vùng cửa sông, hệ sinh thái rạn san hô, có độ sâu 3 - 30m, các

khu rừng ngập mặn trong khoảng 1 – 1,5m, vùng nhiệt đới

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, cá phân bố ở Ấn Độ-Tây Thái

Bình Dương, Biển Đỏ, Đông Phi, đến Indonesia, phía nam Nhật Bản Phân bố ở ViệtNam: biển Đông

- Giá trị đặc biệt: Rất ít (có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Không có trong danh mục sách đỏ của IUCN và

Việt Nam

- Tập tính sống: Thường sống đơn độc.

- Thức ăn: Chủ yếu là tôm, cua, hàu, sò, tôm càng…

- Hình thức sinh sản: Đẻ trứng, thụ tinh ngoài.

Trang 14

- Hình thái: Cá có màu vàng nâu và có nhiều các vệt màu nâu đen khắp cơ thể.

Có một đốm đen gần mắt Thân hình thoi xù xì, đầu to Miệng rất lớn và hướng lêntrên Mắt nhỏ Vây ngưc phát triển có thể bò được Quanh miệng có các mấu gai chìa

ra ngoài Phía trên đầu có một gai cao

- Môi trường sống: Hệ sinh thái rạn san hô, vùng biển nhiệt đới.

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, cá phân bố rộng rãi ở các

vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới của Ấn Độ - Thái Bình Dương, phổ biến ở cácvùng biển Úc, bắc Tây Úc tới miền bắc New South Wales Phân bố ở Việt Nam: vùngbiển miền trung

- Giá trị đặc biệt: Ít (là loài có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Không có trong danh mục sách đỏ của IUCN và

của Việt Nam

- Tập tính sống: Ngụy trang trong đá và rạn san hô Rình săn con mồi.

- Thức ăn: Chủ yếu là tôm, cua, mực, bạch tuộc và cá.

- Hình thức sinh sản: Là loài có tập tính di cư sinh sản, đẻ trứng, sinh sản khi trời

tối

Trang 15

5. Cá Ngựa gai (Hippocampus spinosissimus)

- Hình thái: Có màu vàng trắng hoặc nâu, đôi khi có những đốm trên thân với

những màu khác nhau Mào đầu cao, có 4-5 gai nhọn Các gai thứ 1, 4, 7 và 11 củavòng xương thân và thứ 4, 8 và 11 của vòng xương đuôi dài hơn các gai khác

- Môi trường sống: Hệ sinh thái rạn san hô, độ sâu đến 70 m, vùng biển nhiệt đới,

thềm lục địa, trên đáy bùn hoặc cát

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, cá phân bố rộng phần lớn

miền Đông Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương, phạm vi lan rộng từ bờ biển phíaĐông của Ấn Độ, Sri Lanka, Đài Loan và Đông Nam Á đến Bắc Australia Phân bố ởViệt Nam: biển Đông

- Giá trị đặc biệt: Trung bình (là loài có giá trị về y học và nuôi cảnh)

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Là loài Vulnerable (Sắp nguy cấp) trong danh

mục sách đỏ của IUCN và Việt Nam

- Tập tính sống: Chúng sử dụng đuôi để neo mình vào nhánh san hô.

- Thức ăn: Cá ngựa ăn động vật giáp xác nhỏ trôi nổi trong nước hoặc bò ở phía

dưới Thức ăn là phiêu sinh động (cá nhỏ), giáp xác nhỏ (cá lớn)

- Hình thức sinh sản: Cá cái đẻ trứng vào túi gần đuôi cá đực, trứng được thụ

tinh và ấp trong túi vài tuần đến khi nở Sau khi nở, cá con có thể ăn thực vật phù du

và không được chăm sóc nữa

Trang 16

6 Cá Chình thiên long (Rhinomunaena

- Hình thái: Con đực trưởng thành có thân màu xanh da trời, vây lưng màu vàng

viền trắng, vây hậu môn màu đen viền trắng Con cái có màu vàng Cá con toàn thânmàu đen Thân rất dài dạng rắn, hơi dẹp bên Chiều dài đầu cộng với phần thân bằngnửa chiều dài phần đuôi Da trần không có vảy Đầu to vừa, mõm nhọn, lỗ mũi trướcdạng ống ở mút trước mõm, rìa mép thành dạng lá rộng Miệng rất rộng, mép kéo ra

xa sau mắt Mút trước hàm trên và hàm dưới có râu Khởi điểm vây lưng ở ngangtrước lỗ mang, giữa lỗ mang và mút mõm

- Môi trường sống: Hệ sinh thái rạn san hô, độ sâu 1 - 67 m, trên nền cát hay sỏi

của vùng rạn san hô

- Tính đặc hữu và phân bố: không là loài đặc hữu, có phân bố rộng ở vùng nhiệt

đới Phân bố từ Đông Phi đến Polynesia thuộc Pháp, phía bắc đến phía nam Nhật Bản.Vùng biển đánh bắt gồm phía đông và phía tây Ấn Độ Dương; phía đông, phía tây bắc

và phía tây Thái Bình Dương Phân bố ở Việt Nam: vùng biển tỉnh Khánh Hòa

- Giá trị đặc biệt: Trung bình (là loài có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Là loài ở mức độ ít quan tâm, thuộc bậc ít nguy

cấp trong danh mục sách đỏ của IUCN và Việt Nam

- Tập tính sống: Sống ẩn nấp trong đá hoặc sỏi của vùng rạn, đôi khi chỉ thò đầu

ra

- Thức ăn: chủ yếu là cá con, tôm, mực.

- Hình thức sinh sản: Đẻ trứng Đây là loài có sự chuyển đổi giới tính từ đực

sang cái trong đời sống

Trang 17

7. Cá Nàng đào (Chelmon rostratus)

- Hình thái: Cơ thể có màu trắng sữa, với 5 sọc lớn thẳng đứng màu cam Sọc

cam thứ 1 vắt qua ổ mắt và rộng bằng đường kính mắt, sọc cam thứ 2 đến thứ 4 phân

bố ở giữa thân, sọc cam thứ 5 vắt qua cuống đuôi và kéo tới cuối vây lưng và vây hậumôn Có một đốm đen đường kính gấp đôi ổ mắt nằm dưới vây lưng Mõm nhọnthành dạng que

- Môi trường sống: Hệ sinh thái rạn san hô, độ sâu 1-25m; vùng biển nhiệt đới

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, cá phân bố rộng khắp vùng

biển nhiệt đới của Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương đến bờ biển trung tâm của NewSouth Wales Phân bố ở Việt Nam: vùng biển miền trung

- Giá trị đặc biệt: Ít (có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Là loài ở mức độ ít quan tâm , thuộc bậc ít nguy

cấp trong danh mục sách đỏ của IUCN và Việt Nam

- Tập tính sống: Sống đơn lẻ từng cặp dọc theo bờ đá và rạn san hô; chiếm lãnh

thổ riêng; sống chung thủy thành cặp

- Thức ăn: Ăn tạp, thiên về động vật.

- Hình thức sinh sản: Đẻ trứng.

Trang 18

8. Cá Mặt quỷ (Antennatus nummifer)

- Hình thái: Thân màu nâu pha hồng, mặt bụng màu nhạt, bên thân có nhiều vệt

màu nâu vằn vện, cuối gốc vây lưng có 1 chấm đen to tròn Thân dẹp bên, hơi cao,không có vảy nhưng có nhiều gai rất nhỏ dạng lông nhung Chiều dài thân gấp 1,6 -1,8 chiều dài đầu Đầu to, trán lõm xuống, mõm ngắn Đầu dài gấp 6 - 7 lần mõm.Mắt nhỏ, miệng rộng Khe mang hẹp, tia mang phát triển Lưng có 3 gai, gai thứ hailàm thành xúc thủ mọc trước trán, 2 gai sau thành 2 sừng ở đỉnh đầu Vây ngực dạngbàn tay, có da bao bọc Vây bụng nhỏ, vây đuôi dạng tròn

- Môi trường sống: Hệ sinh thái rạn san hô, rạn đá, độ sâu 0 – 293 m, thường ở 19

– 20m

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, có phân bố rộng ở vùng nhiệt

đới gồm Ấn Độ - Thái Bình Dương: Biển Đỏ và Đông Phi đến Polynesia thuộc Pháp,phía bắc đến các đảo Ryukyu và Ogasawara, phía nam bang Queensland, Australia.Phân bố ở Việt Nam: biển Đông

- Giá trị đặc biệt: Trung bình (là loài có giá trị về nuôi cảnh và chế biến)

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Là loài không có trong danh mục sách đỏ của

IUCN và Việt Nam

- Tập tính sống: Sống ẩn nấp trong vết nứt của các rạn đá, rạn san hô.

- Thức ăn: Chủ yếu là cá nhỏ, động vật giáp xác, và sâu

- Hình thức sinh sản: Không có sự khác biệt về hình thức giữa cá đực và cá cái,

cá cái đẻ trứng vài lần trong vài tuần, mỗi lần đẻ từ 40.000 – 180.000 trứng

Trang 19

9. Cá Chim sâu mõm dài (Forcipiger

- Hình thái: Toàn bộ cơ thể có màu vàng đến vàng ánh, với một mảng màu đen

đậm hình tam giác phủ trên đỉnh đầu với 3 góc ở khởi điểm vây lưng, khởi điểm vâyngực và đầu mút mõm Vây hậu môn có 1 đốm tròn màu đen, sát gần vây đuôi Mõmnhọn thành dạng que Tỷ lệ chiều cao thân so với chiều dài mõm (tính từ đầu mútmỏm đến trước ổ mắt) bằng 1,6 - 2,1

- Môi trường sống: Hệ sinh thái rạn san hô, độ sâu 3 - 70m, vùng biển nhiệt đới.

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, phân bố rộng khắp trên Ấn

Độ - Tây và Trung Thái Bình Dương, tây bắc Tây Úc và bắc Great Barrier Reef Phân

bố ở Việt Nam: vùng biển miền trung

- Giá trị đặc biệt: Ít (có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Là loài ở mức độ ít quan tâm , thuộc bậc ít nguy

cấp trong danh mục sách đỏ của IUCN và Việt Nam

- Tập tính sống: sống chung thủy thành cặp, hình thức bắt cặp khi sinh sản.

- Thức ăn: Chủ yếu ăn động vật như giáp xác nhỏ.

- Hình thức sinh sản: Đẻ trứng.

Trang 20

10 Cá Đào bốn sọc (Coradion chrysozonus)

- Hình thái: Cơ thể màu trắng sữa, với các chấm nhỏ màu vàng cam Có 4 sọc

đứng lớn màu vàng cam vắt qua thân Sọc thứ 1 vắt qua mắt có chiều rộng bằngđường kính mắt Sọc thứ 2 và 3 bắt đầu từ các tia cứng vây lưng kéo xuống và chụmlại ở phần bụng Sọc thứ 4 bắt đầu từ các tia mềm vây lưng kéo xuống giữa vây hậumôn Có 1 đốm đen lớn ở cuống đuôi và đốm đen nhỏ ở gốc các tia mềm vây lưng.Thân cao dạng gần tròn, mỏm nhọn nhưng ngắn, không thành dạng que

- Môi trường sống: Hệ sinh thái rạn, độ sâu 3 - 60m, vùng biển nhiệt đới.

- Tính đặc hữu và phân bố: Không là loài đặc hữu, phân bố rộng khắp từ biển

Andaman miền nam Thái Lan đến quần đảo Solomon, từ miền nam Nhật Bản và ĐàiLoan, tới bờ biển phía tây của Úc Phân bố ở Việt Nam: vùng biển miền trung

- Giá trị đặc biệt: Ít (có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Là loài ở mức độ ít quan tâm ,thuộc bậc ít nguy

cấp trong danh mục sách đỏ của IUCN và Việt Nam

- Tập tính sống: Bắt cặp khi sinh sản

- Thức ăn: Tảo, động vật không xương sống, bọt biển

- Hình thức sinh sản: Đẻ trứng

Trang 21

- Hình thái: Thân màu trắng phía đầu và vàng đậm phần còn lại; vây lưng, vây

đuôi và vây hậu môn màu vàng đậm; có một vệt đen lớn từ mõm qua mắt lên gốctrước vây lưng; một mảng màu đen giới hạn bởi nắp mang, vây ngực và trước vâybụng; vây ngực trắng trong có vệt đen Thân hình oval, cao thân trung bình, mõmnhọn, bụng tròn, trán ngắn, cuống đuôi nhỏ

- Môi trường sống: Sống ở biển, rạn san hô, độ sâu lên tới 30m.

- Tính đặc hữu và phân bố: Xuất hiện ở vùng đầm phá giàu san hô, dãy đá ngầm

hướng ra biển, thường ở trong các rạn san hô dạng sừng tấm Phân bố ở Việt Nam:biển Đông

- Giá trị đặc biệt: Ít (có giá trị về nuôi cảnh).

- Mức độ quý hiếm và nguy cấp: Không có trong danh mục sách đỏ của IUCN và

Việt Nam

- Tập tính sống: Thỉnh thoảng có tập tính bảo vệ lãnh thổ, xuất hiện đơn lẻ hoặc

theo cặp, con non và con chưa trưởng thành thường tụ tập thành đàn trong môi trườnghoạt động rộng lớn, chúng ăn tảo sinh trưởng trên các nhánh san hô chết

- Thức ăn: Là loài ăn cỏ, ăn tảo là chủ yếu.

- Hình thức sinh sản: Là loài đẻ trứng Chúng bắt cặp sinh sản khi cơ thể đạt kích

cỡ khoảng 10cm, cặp tồn tại kéo dài cho đến khi 1 trong 2 con chết đi

Ngày đăng: 26/09/2016, 22:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tam giác phủ trên đỉnh đầu với 3 góc ở khởi điểm vây lưng, khởi điểm vây ngực và đầu mút mõm - Báo cáo Tiến hóa và đa dạng sinh học
Hình tam giác phủ trên đỉnh đầu với 3 góc ở khởi điểm vây lưng, khởi điểm vây ngực và đầu mút mõm (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w