Từ năm 1901 người ta đã chứng minh không thể truyền máu của vật cho người và đôi khi truyền máu giữa người này với người khác cũng xảy ra hiện tượng đông máu. Nguyên nhân là do trong hồng cầu có các yếu tố gọi là ngưng kết nguyên và trong huyết tương có các yếu tố gọi là ngưng kết tố. Các chất này khi gặp nhau nếu phù hợp sẽ tạo ra hiện tượng ngưng kết hồng cầu.Theo Landsteiner nhóm máu ABO của người có 4 nhóm cơ bản. Trong hồng cầu có 2 loại ngưng kết nguyên (A, B) và trong huyết tương có 2 loại ngưng kết tố a và p, chúng tồn tại trong máu và tạo ra các nhóm máu A, B, AB và O.
Trang 1Câu 1: Trình bày cấu tạo và chức năng của hồng cầu ?
- Hồng cầu có có hình cầu, oval, đĩa, lõm 2 mặt
- Ở người, hồng cầu là tế bào được biệt hóa cao: hình đĩa lõm hai mặt, có khả năng chun giãn dẻo dai, đường kính 7,5μm, thể tích 105μm3
- Hồng cầu người có thể sống 100 – 130 ngày
- Cơ quan sinh hồng cầu ở người lớn là tủy, trẻ em là tỳ
Thành phần hồng cầu
Gồm 63,3% nước; 36,7% chất khô, trong đó 95% là Hb (mỗi hồng cầu có 265 triệu Hb), ngoài ra còn
có một số enzim phân giải Gluxit, Catalase, một số muối vô cơ, hữu cơ và một vài chất khác
Huyết sắc tô: (Hemoglobin - Hb)
Hemoglobin là hợp chất protit dễ tan trong nước và có thể bị thuỷ phân thành hai phần là sắc tố Hem và Globin, trong đó Globin chiếm 96%
Mỗi dãy, một đầu có nhóm chức amin tự do (- NH2), đầu kia là cacbocyl (- COOH) Cấu trúc Hb
có ý nghĩa sinh học lớn phụ thuộc vào thành phần Globin
Khi có biến loạn lớn trong cấu trúc Globin thì hồng cầu sẽ biến đổi (Bệnh thiếu máu hồng cầu liềm
do 1 chuỗi Globin ở vị trí 7 có Glutamin bị đột biến thay bằng Valin)
Người ta thấy rằng: cứ 1g Hb có khả năng kết hợp được với 1,39 ml O2 , nên nếu lượng Hb có trong
100 ml máu là 15g, thì khả năng kết hợp với O2 của Hb trong 100 ml máu sẽ là gần 21 ml O2 (15 g Hb x 1,39 ml O2 = 20,85 ml O2) Lượng O2 trên được gọi là dung tích oxy của máu
- Đệm nhờ Hb:
Hệmôglôbin ở trong hồng cầu có các nhóm chức như NH2, COOH, giúp cho nó vừa có tính axít vừa có tính bazơ, nên nó trung hoà được cả axit lẫn bazơ khi chúng xuất hiện trong máu
- Duy trì nồng độ ion của máu.
- Giúp trao đổi nước và muối.
Câu 2 Phân loại và chức năng của bạch cầu?
- Bào tương có nhiều hạt có kích thước và tính chất bắt màu khác nhau
Những hạt này bản chất là lysosom nhưng chứa những loại enzym khác nhau, có khả năng tiêu hoá những cơ chất khác nhau
Có những hạt nhỏ đều nhau, kích thước 0,2 - 0,5 μm, bắt màu trung tính, chứa đựng những enzym tiêu
hoá proteaza, photphataza Ngoài ra bạch cầu hạt trung tính còn có 4 đặc tính sinh học là: Chuyển đổi bằng
giả túc, Xuyên mạch, Hướng động, Thực bào.
Nhờ các đặc điểm đó, chức năng của bạch cầu trung tính là tiêu diêt những kháng nguyên có kích thước nhỏ như vi khuẩn, mảnh tế bào bằng cách thực bào nên còn có tên là vi thực bào.
Trang 2• Bạch cầu ưa axit
Có các hạt chứa photphataza, perôxydaza, đặc biêt là histaminaza, do đó có chức năng liên quan với phản ứng miễn dịch của cơ thể
Phản ứng với các kháng nguyên bằng những kháng thể gắn trên màng, khi bị tan vỡ sẽ giải phóng ra histamin hoạt động
Bạch cầu không hạt (Bạch cầu đơn nhân)
Là tên chung của nhiều loại bạch cầu có một số tính chất chung như: nhân không chia múi, bào tương không có những hạt lớn
Có hai loại bạch cầu không hạt: Bạch cầu đơn nhân (monocyte) và bạch huyết bào hay bạch cầu limphô (lymphocyte)
Tế bào này to nhất trong các loại huyết cầu, đường kính từ 10-15 µm, chiếm tỷ lệ 57% tổng số bạch cầu Nhân tế bào hình bầu dục, có eo thắt nhẹ ở giữa, bào tương có nhiều hạt nhỏ bắt màu lam azur Bạch cầu đơn nhân chuyển vận mạnh và có nhiều khả năng thực bào
• Bạch huyết bào lớn
Hình dạng giống bạch huyết bào nhỏ nhưng kích thước to hơn - đường kính 12µm Nhân hình bầu dục
và bào tương rộng hơn bạch huyết bào nhỏ Tế bào này tập trung trong các tổ chức limphô, trong máu người lớn, số lượng này không đáng kể, máu trẻ nhỏ có nhiều tế bào này Có người xem tế bào này là một dạng bạch huyết bào non
Chức năng của bạch cầu
- Thực bào và phân huỷ vi khuẩn lạ khi chúng xâm nhập vào cơ thể
- Thực hiện sự đáp ứng miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào
Câu 3 Cơ sở sinh lý của hệ nhóm máu ABO? Ứng dụng trong truyền máu?
Từ năm 1901 người ta đã chứng minh không thể truyền máu của vật cho người và đôi khi truyền máu giữa người này với người khác cũng xảy ra hiện tượng đông máu Nguyên nhân là do trong hồng cầu
có các yếu tố gọi là ngưng kết nguyên và trong huyết tương có các yếu tố gọi là ngưng kết tố Các chất này khi gặp nhau nếu phù hợp sẽ tạo ra hiện tượng ngưng kết hồng cầu
Theo Landsteiner nhóm máu ABO của người có 4 nhóm cơ bản Trong hồng cầu có 2 loại ngưng kết nguyên (A, B) và trong huyết tương có 2 loại ngưng kết tố a và p, chúng tồn tại trong máu và tạo ra các nhóm máu A, B, AB và O
Người ta nhận thấy rằng khi ngưng kết nguyên A gặp ngưng kết tố a và ngưng kết nguyên B gặp ngưng kết tố p thì máu sẽ đông
Nguyên nhân cơ bản của những tai biến do truyền máu là hồng cầu bị ngưng kết thành từng đám nhỏ,
Bảng 2.3 Ngưng kết nguyên và ngưng kết tố của các nhóm máu ABO ở người
Nhóm máu Ngưng kết nguyên trên hồng
Trang 3làm tắc các mạch máu nhỏ trong cơ thể người nhận, gây hoại tử tế bào Vì vậy, quy tắc cơ bản trong truyền máu là “Không để các kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau”.
Theo quy tắc này, chỉ có thể truyền máu của những người cùng nhóm cho nhau
Khi chỉ truyền một lượng máu nhỏ (dưới 200 ml) thì kháng thể của máu người cho, một phần bị pha loãng nhiều lần, một phần bị trung hoà bởi những kháng nguyên nằm trên màng những tế bào nội mô của người nhận nên không còn khả năng ngưng kết hồng cầu của người nhận nữa
Hình 2.2 Sơ đồ truyền máu ở người
Vì vậy, khi truyền một lượng máu nhỏ thì chỉ cần chú ý sao cho “kháng nguyên trên màng hồng cầu người cho không gặp kháng thể tương ứng trong huyết tương của người nhận” Đó là quy tắc tối thiểu trong truyền máu
Qua sơ đồ ta nhận thấy nhóm máu O có thể cho mọi nhóm máu khác và chỉ nhận của chính nó Nhóm máu AB không cho nhóm khác mà chỉ nhận của các nhóm máu khác và chỉ có thể cho chính nó Nhóm A và B có thể nhận của nhóm O và nhận của chính nó
Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một nhóm máu mới là nhóm Rh Người có nhân tố đó gọi là người có Rh+(Rh dương); người không có gọi là Rh- (Rh âm) Rh tồn tại song song cùng với các nhóm máu trên
Câu 4 Trình bày đặc tính sinh lý của cơ tim và điện tim
3.1.3 Đặc tính sinh lý của cơ tim
3.1.3.1 Tính tự động
Đó là khả năng của cơ quan, tổ chức hay tế bào hưng phấn dưới ảnh hưởng của những xung động xuất hiện ngay trong chính cơ quan, tổ chức hay tế bào đó không có sự tác dụng của các nhân tố bên ngoài
Tim hoạt động nhịp nhàng, đều đặn do có tính tự động Các hạch là các trung tâm tự động của tim
- Hạch xoang nhĩ có khả năng tự động cao nhất (120-130 xung/phút)
- Hạch nhĩ thất kém hơn (40-50 xung/phút)
- Bó His ít khả năng tự động hơn (25-35xung/phút)
- Hạch Keith-Flack là hạch dẫn nhịp là điểm phát sinh xung động Nếu hạch này mất tác dụng, các hạch khác sẽ phát sinh tác dụng riêng
Xung động từ hạch Keith-Flack (xoang nhĩ) toả ra theo cơ nhĩ mất 1% đến 2% giây Xung động chạy
theo khắp các hướng với tốc độ ngang nhau vì thế cơ nhĩ bên phải co trước cơ nhĩ trái độ 2% đến 3% giây
Xung động từ hạch Keith-Fack toả ra theo cơ nhĩ mà đến hạch Tawara(nhĩ thất) mất 1,3% giây Tuy xung
động chạy khá nhanh như vậy, nhưng cơ thất co sau cơ nhĩ 1/10 giây
Kích thích dưới ngưỡng, tim không co bóp Kích thích ngưỡng, tất cả sợi cơ tim co bóp Kích thích trên ngưỡng, cường độ co bóp không tăng
Tính không chịu kích thích có chu kỳ
Chu kì tim k tỉ lệ với cường độ kích thích mà nó chịu theo một nhịp nhất định
Tính hưng phấn của cơ tim có tính chất giai đoạn, kích thích ngưỡng vào đúng thời kỳ tâm thu, tim hoàn toàn không đáp ứng Giai đoạn cơ tim co là giai đoạn trơ của nó Nhờ giai đoạn trơ đó mà cơ tim không co cứng như cơ vân
3.1.4 Điện tim
Tất cả mọi tổ chức của tim đều phát ra điện hoạt động, nhưng tổ chức hạch và thần kinh phát ra những dòng điện hoạt động yếu, chỉ có cơ tim có số điện thế đáng kể Điện thế hoạt động của tim không lớn, chỉ vào khoảng vài phần trăm vôn Tuy vậy có thể dùng máy đặc biệt để ghi được điện thế đó của tim trên giấy
Trang 4và đó chính là điện tâm đồ.
Ở người, người ta sử dụng ba đạo trình chuẩn gián tiếp, song cực để thăm dò đó là: đạo trình (D1) giữa tay trái và tay phải, đạo trình 2 (D2) giữa tay phải và chân trái, đạo trình 3 (D3) giữa tay trái và chân trái.Điên tâm đồ có dạng hình thể hai pha: pha đầu nhanh và pha sau chậm hơn Hình thể hai pha này rất rõ rệt đối với tâm thất và nó thể hiện bằng những dao động Q, R, S thuộc về quá trình nhanh, còn quá trình chậm thì có đường dao động T Hình thể hai pha này đối với tâm nhĩ không rõ rệt lắm, phương pháp ghi điện tim thông thường chỉ ghi được sóng P mà thôi
Hình 3.1 Diễn biến sơ đồ điện tim
Phân tích điện tâm đồ bình thường cho thấy: sóng P, thể hiện điện hoạt động của tâm nhĩ Nó xuất hiện mỗi khi tâm nhĩ co bóp và mất đi mỗi khi tâm nhĩ hết co Đó là sóng mất phân cực của cơ nhĩ Sóng này tương đối nhỏ vì lớp cơ tâm nhĩ mỏng, lực điện động chỉ 0,2 milivôn và thời gian 9% -10% giây Phức hợp QRST thể hiện điện hoạt động của tâm thất Sóng QRS là sóng mất phân cực của cơ thất; nó nhanh (độ 9% giây) và biên độ cao khoảng 1 milivôn Sóng T là sóng tái phân cực của cơ thất, nó tương đối chậm (độ 20% giây) và biên độ không cao lắm, khoảng 0,3 milivôn
Giữa các sóng có các quãng đẳng điện
Câu 5 Trình bày tuần hoàn máu trong động mạch
3.2.1 Tuần hoàn trong đông mạch
Động mạch là những mạch máu đem máu từ tim đến các mô, là những ống chun giãn được cho nên nó
có khả năng điều hoà lưu lượng máu tuỳ theo nhu cầu
3.2.1.1 Cấu trúc của động mạch
Từ động mạch chủ, các động mạch chia thành những nhánh bé dần đi Các tiểu động mạch sau cùng được tiếp nối bằng mao mạch và mao mạch là khởi đầu của hệ tĩnh mạch Từ động mạch chủ, tổng thiết diện của các động mạch càng lúc càng hẹp lại [Cho nên người ta xem toàn bộ hệ động mạch như một cơ cấu hình nón mà chóp là động mạch chủ và đáy là tiểu động mạch khắp cơ thể.]
Thành động mạch có 3 lớp tế bào : lớp ngoài, lớp giữa và lớp trong
3.2.1.2 Động lực máu trong động mạch
Máu chảy trong động mạch từ nơi có áp suất cao đến nơi có áp suất thấp Áp suất cao đầu tiên hay năng lượng cung cấp cho sự chuyển động của máu là do cơ tim co bóp tạo nên Khi tim co, máu được tống vào động mạch làm cho động mạch giãn ra Khi tim giãn các động mạch chun về trạng thái cũ Chính nhờ sự co lại của động mạch mà máu được lưu thông trong động mạch trong thời gian tâm trương, lưu lượng máu được điều hoà, đồng thời tiết kiệm được năng lượng tống máu của tim Tuần hoàn máu có thể xem như là kết quả một quá trình chống nhau giữa hai lực: lực đẩy máu của tim và lực cản máu của các mạch máu
- Huyết áp: Huyết áp động mạch là áp lực máu của động mạch
Trong một chu kỳ hoạt động của tim, áp lực máu luôn luôn thay đổi một cách nhịp nhàng, có mức tối
đa và tối thiểu Các yếu tố huyết áp:
+ Huyết áp tối đa là huyết áp tâm thu, do lực thu tâm thất tạo nên.Nó là huyết áp cao nhất
+ Huyết áp tối thiểu là huyết áp tâm trương, còn gọi là yếu tố bền vững của huyết áp, biểu hiện sức cản của các động mạch
+ Huyết áp hiệu số là sự chệnh lệch giữa huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu Thông số này phản
ảnh hiệu lực của một lần tống máu của tim Bình thường hiệu số huyết áp khoảng 40 mmHg Nếu thấp hơn hiệu số này => huyết áp thấp, cao hơn => huyết áp cao
Trang 5- Có 3 nhóm nhân tố chính gây ra huyết áp, đó là các nhân tố thuộc về tim, các nhân tố thuộc mạch và các nhân tố thuộc máu.
• Nhân tố thuộc tim: Lực tâm thu mạnh, huyết áp tăng, lực tâm thu yếu, huyết áp giảm Nhịp tim nhanh, huyết áp tăng, đập chậm huyết áp giảm
• Nhân tố thuộc động mạch là sức cản của động mạch Sức cản của động mạch tăng sẽ làm huyết áp tăng, sức cản của động mạch giảm, huyết áp giảm Sự co giãn của động mạch cũng ảnh hưởng đến huyết áp Động mạch dễ co giãn, huyết áp thấp Động mạch cứng rắn, ít co giãn làm cho huyết áp tăng
• Nhân tố thuộc máu: Có hai loại: độ nhớt và khối lượng máu Máu càng quánh, huyết áp càng cao; máu càng loãng, huyết áp càng thấp Khối lượng máu tăng làm cho huyết áp tăng; mất máu nhiều, huyết áp giảm
Câu 6 Bạch huyết là gì? Chức năng và tuần hoàn bạch huyết
Bạch huyết là chất dịch lưu thông trong các mạch bạch huyết Đó là một chất dịch trong suốt, không màu,
có phản ứng kiềm, tỷ trọng 1,023-1,026, độ quánh 1,3-1,4 so với nước Protein trong bạch huyết ít hơn trong máu 3-4 lần
Bạch huyết được tạo nên nhờ quá trình lọc xảy ra trên màng bán thấm của mạch máu
Chức năng của hệ bạch huyết
Hệ bạch huyết có 4 chức năng chính:
- Chuyển protein từ tổ chức về máu
- Phân phối nước và các chất hoà tan trong đó cho đồng đều trong cơ thể
- Thu vét những vật lạ, vi trùng trong các tổ chức đưa vào các hạch bạch huyết, làm nhiệm vụ gạn lọc cho máu
- Bảo đảm cho các tổ chức được sống và hoạt động tốt
3.2.2 Tuần hoàn bạch huyết
Bạch huyết lưu thông trong các mạch bạch huyết theo một chiều về tim, không có vòng tuần hoàn Hệ bạch huyết bắt đầu từ các mao mạch bạch huyết thọc sâu vào các tế bào Dịch kẽ tế bào thấm vào các mao mạch bạch huyết sẽ chuyển vận theo các tĩnh mạch bạch huyết mà về tim Trên đường đi của mạch có nhiều hạch bạch huyết, đó là các trạm trao đổi chất và nhận lymphocyt do các hạch sản xuất
Bạch huyết từ các bạch huyết nhỏ tập trung vào 2 mạch bạch huyết lớn Các mạch bạch huyết của nửa
cơ thể phía phải bên trên cơ hoành, tập trung vào tĩnh mạch bạch huyết lớn bên phải và tĩnh mạch này đổ vào tĩnh mạch dưới đòn bên phải Tất cả các mạch bạch huyết của hai chi dưới, của bụng, của các tạng phủ bên dưới cơ hoành đều đổ vào ống ngực, từ ống ngực bạch huyết đổ vào tĩnh mạch dưới đòn bên trái Hai mạch bạch huyết lớn này đều đổ vào các tĩnh mạch chủ để đưa bạch huyết về tim Bạch huyết lưu thông được trong hệ thống mạch bạch huyết là nhờ sự co bóp có chu kỳ 10-20 lần/phút của các mạch bạch huyết lớn và sự có mặt của các van trong các mạch đó chỉ cho bạch huyết đi theo một chiều về tim, nhờ sức hút của lồng ngực, sức ép của cơ hoành, các hoạt động của cơ bắp Ở các mạch bạch huyết lớn có các sợi thần kinh giao cảm, kích thích chúng sẽ gây co các mạch bạch huyết lớn đó Tuần hoàn bạch huyết có thể bị thay đổi bằng phản xạ dưới ảnh hưởng của các kích thích gây đau đớn, cũng như khi kích thích các thụ quan của xoang cảnh hoặc của các nội quan
Câu 7 Trình bày đặc điểm bề mặt trao đổi khí và các dạng hô hấp chính ở động vật
Để thực hiện tốt quá trình trao đổi khí thì bề mặt trao đổi khí có một ý nghĩa hết sức to lớn, vì không khí trong cơ thể động vật chỉ có thể trao đổi với bên ngoài bằng con đường khuếch tán
Một trong những đặc điểm của cơ quan chuyên hoá hô hấp là sự có mặt của bề mặt trao đổi khí với các đặc điểm sau:
*Có hệ thống mao mạch phong phú bao quanh
Hệ thống mao mạch bao quanh nhiều sẽ thuận lợi cho sự trao đổi các chất khí giữa các môi trường Hơn nữa mạch luôn lưu thông nên đổi mới thành phần các chất khí luôn được thực hiện, nhờ đó sự khuếch tán hiệu quả cao hơn, liên tục hơn
Ngoài ra, một vài yếu tố khác cũng có vài trò quan trọng, ảnh hưởng tới sự trao đổi khí, đó là sự lưu thông khí và sự có mặt của các sắc tố hô hấp Sự lưu thông khí sẽ làm cho các chất khí không bị bảo hoà, thuận lợi cho sự khuếch tán của chúng từ môi trường này qua môi trường khác Các sắc tố hô hấp
Trang 6sẽ chủ động kết hợp với các chất khí, giúp vận chuyển chúng tới những nơi cơ thể cần, thông qua đường tuần hoàn máu.
Đây là kiểu hô hấp đặc trưng cho động vật sống trong nước như Cá, Tôm Mang cá là một tấm mỏng
và rộng, trên đó có một hệ thống mạch máu dày đặc Mang được đính vào các cung mang bằng xương hay bằng sụn Mang nằm ở vùng hầu hoặc đoạn trước của ống tiêu hoá, bên ngoài mang được đậy bởi nắp mang Các lá mang sắp xếp theo hình răng lược, giữa chúng là các khe hở để nước có thể qua lại
Kiểu hô hấp bằng mang có ở nhiều bọn sống trong nước như tôm, nòng nọc của lưỡng cư,
4.1.3 Hô hấp bằng ống hay túi khí
Sâu bọ và một số thuộc ngành Chân đốt khác, sự hô hấp được thực hiện thông qua hệ thống ống khí
Hệ thống này bắt đầu bằng các lỗ thở phân bố dọc theo thân, chúng có nhiệm vụ dẫn khí từ ngoài đi vào và thải khí ra ngoài Từ đây hình thành một hệ thống ống khí phân nhánh nhỏ dần và đi tới từng tổ chức, tế bào, nhằm thực hiện sự trao đổi khí với tổ chức Các ống khí lớn được lót bởi lớp cuticun và có các vòng kitin để nâng đỡ Các ống nhỏ tiếp giáp với tổ chức, thành ống không lót cuticun, có thể giúp chúng khuếch tán khí qua lại dễ dàng và ít nhất có một phần chứa dịch
Nhiều sâu bọ như ong còn có những chỗ phình thành túi chứa khí rộng, có tác dụng lấy và chứa được nhiều khí hơn Một số như ốc Sên, Nhện có hệ thống ống khí do da lõm vào phân nhánh tạo thành ống dài gần giống phổi Túi khí còn thấy ở chim bay có tác dụng tăng thể tích khí dự trữ, làm nhẹ khối lượng chim, ngoài ra còn giúp trao đổi khí khi chim bay.]
Câu 8: Trình bày quá trình hô hấp ngoài
Thông khí phổi hay sự hô hấp ngoài thực chất là quá trình đưa một lượng không khí từ ngoài vào phổi
và từ phổi đi ra ngoài, nhờ sự chênh lệch áp suất của khối chất khí giữa môi trường ngoài với trong phổi, áp suất có được bởi sự co rút của các cơ hô hấp ở vùng ngực và bụng Nhiệm vụ của giai đoạn này là bảo đảm lưu thông khối không khí, làm cho không khí khi vào phổi luôn được đổi mới về thành phần, giúp cho sự trao đổi khí được thực hiện thuận lợi giữa phế nang với máu tĩnh mạch, do động mạch phổi đưa tới
Sự thông khí bao gồm 2 động tác đó là động tác hít vào và động tác thở ra
4.1.4.1 Sự thông khí phổi
*Động tác hít vào
Hít vào là một động tác chủ động, do các cơ hít vào thực hiện Trước khi bắt đầu động tác hít vào, các cơ hô hấp ở trạng thái giãn, dòng không khí không lưu chuyển, lúc này áp suất khoang màng phổi (ở người) khoảng - 4 mmHg so với áp suất trong phế nang, áp suất trong phế nang bằng áp suất không khí ngoài trời
Bắt đầu ở thì hít vào, cơ hoành co làm vòm cơ hạ xuống đẩy các tạng ở bụng xuống dưới, làm cho lồng ngực tăng thể tích theo chiều thẳng đứng Các cơ liên sườn ngoài co làm lồng ngực được nâng lên, tăng thể tích lồng ngực theo chiều trước sau và phải trái Lồng ngực tăng lên về dung tích theo các chiều không gian làm cho sự chênh lệch áp lực giữa phổi với khoang màng phổi càng lớn (dung tích lồng ngực tăng trong khi phổi chưa thay đổi dung tích thì dung tích khoang màng phổi sẽ tăng lên, làm áp lực trong khoang màng phổi giảm xuống), áp lực của khoang màng phổi so với phổi đã âm lại càng âm hơn khi hít vào Do áp lực khoang màng phổi âm so với phổi sẽ kéo phổi giãn ra, dung tích phổi tăng lên, áp lực phổi sẽ hạ xuống và
Trang 7nhỏ hơn áp lực không khí ngoài trời, làm cho không khí ngoài trời sẽ tràn vào phổi gây nên động tác hít vào.
*Động tác thở ra
Thở ra là động tác thụ động, thường ít tốn năng lượng Khi không khí đã căng đầy phổi, các cơ hít vào giãn ra, cơ gian sườn trong co lại, ngực thu nhỏ lại làm dung tích lồng ngực thu nhỏ, áp lực âm khoang màng phổi giảm xuống thấp nhất, phổi bị thu nhỏ lại làm áp lực trong phổi tăng lên và cao hơn áp lực không khí ngoài trời, do đó khối khí từ trong phổi sẽ bị đẩy ra ngoài tạo nên động tác thở ra
4.1.4.2 Tần số hô hấp - dung lượng hô hấp
*Tần số hô hấp (hay nhịp thở)
Tần số hô hấp (hay nhịp thở) là số lần thở được trong một đơn vị thời gian (thường tính bằng phút) Tần số hô hấp đặc trưng cho từng loài, trong mỗi loài có sự thay đổi tùy theo lứa tuổi, giới tính, điều kiện lao động, mức độ hoạt động, môi trường sống của đối tượng
*Dung lượng hô hấp
Lượng khí tham gia vào quá trình hô hấp được phân thành các loại:
+ Khí lưu thông: là lượng khí hít vào, thở ra trong một lần thở bình thường Đây là lượng khí cần thiết tối thiểu của cơ thể dùng cho hoạt động ở mức độ bình thường Ở người mỗi lần hít vào thở ra chừng 500 ml khí
+ Khí dự trữ hít vào: là lượng khí hít vào thêm tối đa (không thể hít vào thêm được nữa) so với lượng khí hít vào bình thường Lượng khí hít vào gắng sức ở người khoảng 1500 ml, lượng khí này còn
gọi là khí bổ sung hay khí bổ túc.
+ Khí dự trữ thở ra: là lượng khí thở ra thêm gắng sức (không thể thở ra hơn được nữa), sau khi thở ra bình thường Lượng khí thải ra thêm do thở ra gắng sức ở người khoảng 1500 ml khí, lượng khí
này còn được gọi là khí dự trữ.
Dung tích sống của phổi = V Khí lưu thông + V khí bổ sung + V khí dự trữ
Đây là một chỉ tiêu sinh lý quan trọng của phổi phản ánh khá trung thành về sức khoẻ của con người Nếu dung tích sống cao và ổn định thì người đó có sức khoẻ tốt và ổn định Dung tích sống của người Việt Nam từ 18 - 35 tuổi ở nam là: 3,4 - 3,5 lít; nữ 2,4 - 2,6 lít Dung tích sống đạt cao nhất ở lứa tuổi từ 18 - 35 sau đó giảm dần
+ Khoảng chết:
Khoảng không gian trên đường hô hấp có không khí ra, vào nhưng không có trao đổi khí hô hấp, vì
ở đó không khí không tiếp xúc với mao mạch phổi được, khoảng không gian đó được gọi là khoảng chết
Ví dụ: Khoảng chết trong điều kiện hô hấp ở môi trường hẹp như trong hầm lò, hay phòng kín
mà chứa quá nhiều người dường như được kéo dài ra
+ Sự thông khí phổi
Sự thông khí phổi là lượng khí lưu thông từ ngoài vào trong phổi và từ trong phổi ra ngoài trời trong một khoảng thời gian nhất định, thường tính bằng phút Lượng khí lưu thông của người bình thường khi ở trạng thái yên tĩnh là 8 - 12,5 lít/phút
Câu 9: Trình bày sự trao đổi khí ở phổi và mô
tỷ lệ % của chất khí A trong hỗn hợp khí
4.1.4.4 Sự trao đổi khí ở phổi
Sự trao đổi khí ở phổi thực chất là sự trao đổi khí xảy ra giữa không khí ở phế nang được lấy từ bên ngoài vào với không khí trong máu tĩnh mạch do động mạch phổi đưa tới
Lượng khí khuếch tán lệ thuộc P riêng phần (phân áp) của khí đó trong tổng số áp suất của không khí Nếu P không khí bằng 760mgHg, trong không khí thở ra có hơi nước với P bằng 47mmHg thì áp suất không khí trong phế nang sẽ là: 760 - 47 = 713mmHg
Nếu tỷ lệ ôxy trong phế nang là 14% thì :
Trang 8P của O2 = (713 X 14) / 100 ≈ 100 mmHgNếu tỷ lệ CO2 trong khí phế nang là 5,5 % thì :
4.1.4.5. Sự trao đổi khí ở mô
Sự trao đổi khí ở mô thực chất là sự trao đổi khí xẩy ra giữa không khí ở máu động mạch, do động mạch đem tới với không khí trong tế bào và mô
PO của máu động mạch là 100mmHg
PO ở tế bào, mô là 20mmHg Sự chênh lêch PO giữa máu động mạch và tế bào, mô là
80mmHg, ôxy khuếch tán từ máu động mạch sang mô
PCO2 ở mô là 60mmHg, còn ở máu động mạch là 40mmHg, CO 2 khuếch tán từ mô sang máu động mạch
O2được máu vận chuyển từ phổi đến tế bào, mô; còn CO2 từ mô đến phổi thải ra ngoài Ở trạng thái tự
do, các khí hô hấp đó được vận chuyển một lượng rất ít, chúng được vận chuyển chủ yếu dưới dạng liên kết với hemoglobin của hồng cầu
Câu 10: Trình bày quá trình tiêu hóa cơ học và hóa học của thức ăn trong dạ dày
Dạ dày là nơi phình ra lớn nhất của đường tiêu hoá chính thức, đây là nơi chứa đựng, tiêu hoá cơ học
và tiêu hoá hoá học một phần thức ăn, chuẩn bị cho giai đoạn tiêu hoá chính ở ruột non
5.1.1.1 Tiêu hoá cơ học ở dạ dày
Sự tiêu hoá cơ học ở dạ dày bao gồm các cử động co bóp dạ dày và cử động tống thức ăn khỏi dạ dày
• Cử động co bóp dạ dày gồm
- Cử động nhồi, nghiền: có tác dụng khuấy và nhào trộn làm thức ăn ngấm đều dịch vị
- Cử động nhu động: là những sóng nhu động lớn bắt đầu từ đáy dạ dày có tác dụng tống thức ăn xuống tá tràng
Cử động dạ dày được phát động nhờ sức căng và tính chất của thức ăn, những thức ăn có tính axit thì kích thích cơ dạ dày co mạnh Khi cơ thể ở trạng thái bồn chồn lo lắng làm tăng nhu động dạ dày Các trạng thái đau đớn, phiền muộn, đói ăn, khó thở đều làm giảm nhu động
Thời gian thức ăn lưu lại ở dạ dày đối với gluxit là 2 - 3 giờ; protit là 4 - 5 giờ; lipid là trên 6 giờ.Bên cạnh những co bóp nhu động xẩy ra khi có thức ăn trong dạ dày, còn có dạng co bóp khác gọi là
“co bóp đói” xẩy ra khi dạ dày không chứa thức ăn sau một thời gian dài Co bóp đói có ý nghĩa thích nghi,
là tín hiệu giúp thông báo cơ thể ở trạng thái cần năng lượng (thường là thiếu đường)
• Sự đóng mở môn vị, tâm vị
+ Đóng mở tâm vị: tâm vị mở khi thức ăn có áp lực lớn hơn 15 cm nước
+ Đóng mở môn vị: khi không có thức ăn môn vị không đóng chặt Khi thức ăn chạm vào niêm mạc đường tiêu hoá môn vị đóng chặt và chỉ được mở ra khi phía dạ dày thức ăn sệt, hoặc nhão, pH axit
và sức co dạ dày mạnh, phía tá tràng phải ở môi trường kiềm và thức ăn không còn nhiều ở đó Như vậy
sự đóng mở môn vị theo từng đợt, phụ thuộc sức co dạ dày và môi trường 2 phía của môn vị Ngoài ra khi ở trạng thái buồn bực, lo âu, thức ăn nóng hay lạnh quá đều làm môn vị mở chậm hơn
5.1.1.2 Tiêu hoá hoá học ở dạ dày
Niêm mạc dạ dày có rất nhiều tuyến: Tuyến ở vùng tâm vị và môn vị tiết nhầy Tuyến vùng thân vị
và hạ vị tiết ra enzim (do tế bào chính), HCl và yếu tố nội (do tế bào viền), chất nhầy (do tế bào cổ tuyến)
Thành phần và tính chất của dịch vị
Dịch vị có 99,3% nước, 0,35% khoáng, 0,35% chất hữu cơ trong đó có enzim
Dịch vị là chất lỏng, không màu, không mùi, có vị chua
Trang 9Tác dụng của dịch vị
- Tác dụng của axit clohydric (HCl):
HCl là do tế bào viền bài tiết ra Về cấu trúc tế bào viền, chúng có các kênh nhỏ thông với lòng ống tuyến dạ dày
+ HCl có tác dụng hoạt hoá enzim, biến enzim pepsinogen ở dạng chưa hoạt động thành dạng hoạt động pepsin
+ HCl làm trương nở prôtit giúp cho pepsin phân hủy chúng nhanh hơn
+ HCl làm tan colagen trong mô liên kết bao quanh cơ, tạo điều kiện cho sự tiêu hoá protit cơ diễn ra nhanh hơn
+ HCl giúp ổn định độ pH ở dạ dày
+ HCl làm hoà tan nucleoprotit, giúp pepsin tiêu hoá prôtit của nó
+ Xúc tác cho quá trình biến Progastrin thành gastrin, làm cho quá trình tiết dịch vị về sau càng tăng
+ HCl còn có tác dụng trong cơ chế đóng mở môn vị và diệt khuẩn
+ Thủy phân cellulose của cây non
- Tác dụng của enzim pepsin:
Tác dụng chính của pepsin là cắt các liên kết peptit phía NH2 nối giữa các axit amin có nhân thơm với một axit amin khác, kết quả là tạo ra các chuỗi pôlipeptit có kích thước khác nhau
Pepsin còn có tác dụng tiêu hoá các sợi colagen, giúp cho enzim tiêu hoá thấm vào và tiêu hoá prôtit của cơ
Pepsin chỉ đảm nhiệm tiêu hoá khoảng 10 - 20% prôtit của thức ăn Khi môi trường có pH cao hơn
5 thì nó không còn hoạt động được nữa
Pepsin không có khả năng tiêu hoá prôtit sợi (như kêratin, rêlactin) và muxin
- Tác dụng của enzim Chimozin (prezua):
Đây là enzim làm đông kết sữa, theo sơ đồ sau:
Caseinat canxi ở dạng không tan (đặc) sẽ được lưu lại lâu hơn trong dạ dày, giúp cho enzim phân huỷ protein có thể tác dụng được triệt để hơn, đồng thời làm tốc độ lưu thông của sữa chậm lại không gây tiêu chảy
Loại enzim này chỉ có ở trẻ em và động vật non đang uống sữa, với người lớn và những động vật không còn uống sữa nữa thì hàm lượng enzim này rất ít hay bằng không
- Tác dụng của enzim lipase:
Enzim này hoạt động yếu trong dạ dày, tác dụng của nó là cắt liên kết ester giữa glycerol và axit béo của những lipid đã được nhũ tương hoá (như lipid của sữa, trứng) biến chúng thành glycerin và axit béo
- Tác dụng của enzim Gelatinase:
Gelatinase tác dụng tiêu hoá proteit gân và tổ chức liên kết trong bắp cơ, biến chúng thành các peptit
và axit amin
- Yếu tố nội tại.
Yếu tố nội hay yếu tố nội tại do tế bào viền tiết ra, yếu tố này cần cho sự hấp thu vitamin B12 là thành phần tham gia vào quá trình tạo hồng cầu
- Tác dụng của chất nhầy:
Chất nhầy tạo thành màng một màng dai và có phản ứng kiềm, bao phủ toàn bộ niêm mạc dạ dày nhằm bảo vệ niêm mạc và thành của dạ dày khỏi bị tác dụng của enzim và HCl Chất nhầy còn có vai trò giúp thức ăn được vận chuyển dễ dàng
-Tác dụng của NaHCO 3 : NaHCO 3 có vai trò trung hoà HCl, nhằm điều hoà độ pH của dịch vị, bảo đảm cho enzim ở dạ dày hoạt động được tốt.
Trang 10Câu 11: Trình bày quá trình tiêu hóa thức ăn trong ruột non
Ruột non là nơi diễn ra quá trình tiêu hoá và hấp thu thức ăn chính của đường tiêu hoá Đây là đoạn dài nhất của ống tiêu hoá chính thức, là nơi có những cấu tạo đặc biệt để thích nghi với chức năng của nó,
đó là sự lồi lên tạo van tràng và trên đó được phủ bởi các lông ruột (nhung mao)
Sự tiêu hoá ở ruột non thực hiện bởi hai hình thức là cơ học và hoá học
5.1.1.3 Tiêu hoá cơ học ở ruột non
Cử động của ruột non bao gồm các dạng chính là cử động lắc lư, cử động co vòng từng đoạn, cử động nhu động và cử động của lông ruột
- Cử động lắc lư: do cơ dọc co rút, có tác dụng trộn thức ăn, làm thức ăn không bị ứ đọng.
- Cử động co vòng từng đoạn: do cơ vòng co từng đoạn tại chỗ, nhào trộn thức ăn với dịch tiêu hoá.
- Cử động nhu động: là sự kết hợp của cả hai cử động trên, làm cho thức ăn qua ruột nhanh hơn
- Vận động của lông ruột: Sự vận động của lông ruột bị chi phối bởi các sợi cơ trơn của lớp dưới
niêm mạc, khi các cơ co làm cho lông ruột rút ngắn lại sau đó lại trở về trạng thái cũ, cứ thế theo nhịp
ổn định Tác dụng của nó là giúp dịch bạch huyết chảy từ ống trung tâm về hệ mạch bạch huyết
5.1.1.4 Tiêu hoá hoá học ở ruột non
Diễn ra nhờ có sự tham gia của hệ enzim của dịch tụy, dịch ruột và sự tham gia của dịch mật, ta sẽ lần lượt xét vai trò tiêu hoá hoá học của từng dịch có ở đây
Dịch tụy
Dịch tụy là chất lỏng trong suốt, không màu, pH kiềm, chúng được đổ vào tá tràng bởi ống wirsung.Trong dịch tụy có 1,52 - 6,6% chất khô, còn lại là nước Trong chất khô có các chất hữu cơ quan trọng như enzim, protein, các chất vô cơ như các muối bicacbonat, muối clorua, muối phốt phát của Na và K
Tác dụng tiêu hoá của dịch tụy:
- Tiêu hoá Protit: tiết Insulin (ngoại tiết), tiết Glucagon (nội tiết).
- Tiêu hóa Gluxit : Enzim Amilase, E Matase
- Tiêu hóa Lipid: E lipase, E photpholipase và E Cholesterol-esterase
Điều hoà bài tiết dịch tụy: theo 2 cơ chế thần kinh và thể dịch.
- Cơ chế điều hoà thần kinh: Khi kích thích dây thần kinh số X hay thần kinh phó giao cảm, các
cúc tận cùng của nơron sẽ giải phóng ra axetylcholin, axetylcholin tác dụng lên tế bào nang gây tiết dịch tụy, trong cơ chế tiết kiểu này dịch tụy có nhiều nước và ít enzim
- Cơ chế điều hoà thể dịch: do các hormon như gastrin, secretin, pancreozimin.
Dịch mật
Đây là sản phẩm bài tiết của gan Sau khi được tiết ra dịch mật được đưa vào dự trữ trong túi mật, từ đây có ống đổ vào tá tràng, mật được đổ vào tá tràng khi có kích thích thức ăn tới đường tiêu hoá Một số gia súc như ngựa không có túi mật
+ Thành phần dịch mật:
Trong túi mật có màu vàng hay lục, có vị đắng, hơi kiềm Thành phần gồm 90 % nước, còn lại là chất khô, trong đó quan trọng nhất là muối mật và sắc tố mật
+ Tác dụng của dịch mật: gồm tác dụng của muối mật, sắc tố mật và một số chất bài tiết khác
- Tác dụng của muối mật: có vai trò quan trọng trong tiêu hoá và hấp thu như:
•Nhũ tương hoá mỡ giúp cho enzim lipase tăng cường diện tích tiếp xúc với mỡ và phân giải chúng nhanh hơn
•Giúp cho sự hấp thu các axit béo, monoglixerit, cholesterol và các lipid
•Trung hoà độ axit ở thức ăn do dạ dày đưa xuống
•Tăng cường nhu động ruột, giúp diệt khuẩn
•Kích thích tế bào gan sản xuất và bài tiết mật
Dịch ruột
Dịch ruột là sản phẩm tiết của tuyến Brunner (ở tá tràng) và tuyến Liberkun ở ruột non
+Thành phần và tính chất:
Dịch ruột chứa khoảng 97 - 98,5 % nước, còn lại là chất khô
Dịch ruột là chất không màu, có pH từ 7 - 8,5
+ Tác dụng của dịch ruột.
•Nhóm enzim phân giải protit:
Trang 11Các enzim của dịch ruột phân giải cho ra các axit amin là sản phẩm cuối cùng và giúp hoàn tất quá trình tiêu hoá protit thức ăn, tuy nhiên dịch ruột không tác dụng trực tiếp thức ăn được đưa từ ngoài vào,
mà chúng chỉ tác dụng với những sản phẩm sau khi đã bị enzim của dịch vị và dịch tụy công phá
•Nhóm enzim phân giải lipid:
Là những enzim tương tự như ở dịch tụy, tác dụng tương tự như của dịch tụy
•Nhóm enzim phân giải gluxit:
Gồm amilase, mantase, sacarase và lactase Amilase và mantase tương tự như enzim ở dịch tụy
- Enzim sacarase phân giải sacarose thành glucose và fructose
- Enzim lactase phân giải lactose thành glucose và galactose
•Nhóm enzim phân giải axit nucleic:
Gồm có nuclease, nucleotidase và nucleosidase, các enzim này phân giải axit nucleic thành nucleotit và sau đó là các sản phẩm nhỏ hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các enzim khác phân giải sản phẩm của axit nucleic thành các chất có thể hấp thu được cho cơ thể động vật
Sự điều hoà bài tiết dịch ruột thông qua 2 cơ chế thần kinh và thể dịch
- Cơ chế thể dịch: được thực hiện khi có mặt của thức ăn ở dạng vị trấp từ ruột đưa xuống, hay sự
có mặt của các hormon duocrinin, enterocrinin, secretin, đây là những sản phẩm được hình thành khi có kích thích cơ học hay hoá học của thức ăn vào niêm mạc ruột, các chất này có tác dụng làm tăng quá trình tiết dịch của tuyến ruột
- Cơ chế thần kinh: do kích thích của thức ăn ( hoặc cơ học hoặc hoá học ) vào các đầu tận cùng của nơron cảm giác ở vách ruột, sẽ làm cho phản xạ tiết dịch được thực hiện, tại những nơi thức ăn đi tới thì sự tiết dịch ở đó tăng lên
Câu 12: Nêu tác dụng tiêu hóa thức ăn của dịch mật, dịch tụy và dịch ruột trong tiêu hóa thức ăn?
Ruột non là nơi tiêu hoá hấp thu chính, sự tiêu hoá hoá học ở đây diễn ra nhờ có sự tham gia của hệ enzim của dịch tụy, dịch ruột và sự tham gia của dịch mật, ta sẽ lần lượt xét vai trò tiêu hoá hoá học của từng dịch có ở đây
Dịch tụy
Tác dụng tiêu hoá của dịch tụy:
*Nhóm enzim tiêu hoá protit
- Enzim tripsin:
Tripsin là enzim khi bắt đầu được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt động tripsinogen, nhờ có enterokinase có trong dịch ruột mà chúng được biến thành dạng hoạt động, sau đó chính nó lại tự xúc tác cho phản ứng trên, theo sơ đồ sau:
Tripsin là nhóm endopeptidase, nên nó chỉ phân cắt protít ở các liên kết peptít ở giữa và chủ yếu
do lyzin hay acginin tham gia, kết quả tạo nên các peptit và axit amin:
- Enzim Chimotripsin:
Chimotripsin khi mới được tiết ra ở dạng chưa hoạt động - Chimotripsinogen, nhờ có enzim Tripsin
nó được biến thành dạng hoạt động Chimotripsin cũng là enzim nhóm endopeptidase, nhưng lại cắt các liên kết do tyrozin, phenynalanin, triptophan, mêtionin hay lơxin tham gia Kết quả tiêu hoá tương tự pepsin là tạo ra peptit và axit amin, tuy nhiên nó còn có vai trò gây đông kết sữa
- Enzim Cacboxypolypeptidase:
Cacboxypolypeptidase được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt động là procacboxypolypeptidase, nhờ enzim triptsin hoạt hoá nó được chuyển thành dạng hoạt động Đây là enzim thuộc nhóm exopetidase, tác dụng cắt rời các axit amin đứng cuối phía có nhóm cacboxyl của chuỗi polypeptit, tạo ra sản phẩm cuối cùng
là axit amin
Nhìn chung nhóm enzim tiêu hoá protit của dịch tụy chủ yếu chỉ tiêu hoá những protit là sản phẩm
đã được phân giải một phần bởi enzim của dạ dày, sản phẩm do dịch tụy phân giải protêin chỉ có một
Trang 12lượng nhỏ là axit amin còn lại là các dipeptit, tripeptit và ít polypeptit.
* Nhóm enzim tiêu hoá Gluxit
Nhóm này có 2 enzim chính là amilase và mantase
- Enzim amilase:
Amilase là a-amilase, cấu trúc tương tự enzim ptyalin ở nước bọt, nhưng tác dụng mạnh hơn rất nhiều lần, nó có khả năng phân giải cả tinh bột sống lẫn tinh bột chín, sản phẩm tạo thành sau khi phân giải tinh bột là mantose và một ít destrin, mantotriose
- Enzim Mantase:
Mantose tác dụng phân cắt mantose thành glucose
Nhóm này có 3 enzim chính là lipase, photpholipase và Cholesterol-esterase
- Enzim Lipase của dịch tụy: tác dụng cắt đứt các liên kết este giữa glyxerin với axit béo Các
triglyxerit, là sản phẩm của những lipít sau khi bị nhũ tương hoá tại ruột, chúng bị lipase phân giải cho glyxerin và axit béo cùng với ít monoglixerit Như vậy nhờ có tác dụng nhũ tương hoá của muối mật mà hầu như toàn bộ lipid thức ăn khi tới ruột đã bị biến thành dạng triglyxerit và bị phân giải cho sản phẩm cuối cùng có khả năng hấp thu
- Enzim photpholipase: tác dụng của enzim này là cắt liên kết este giữa glyxerin với axit
photphoric, biến photpholipid thành photphát và diglixerit Diglixerit sau khi tạo thành lại tiếp tục bị phân giải bởi lipase để cho sản phẩm cuối cùng là glyxerin và axit béo
- Enzim Cholesterol-esterase: tác dụng phân giải các este của Cholesterol và các sterol khác của
thức ăn khi chúng tới ruột, giải phóng các axit béo
+ Enzim Nuclease: tác dụng phân giải các axit nucleic thành mononucleotit
+ Vai trò của NaHCO3: tác dụng trung hoà độ axit của thức ăn do dạ dày đưa xuống, giúp duy trì
độ pH thích hợp cho các enzim ở ruột hoạt động
Dịch mật
+ Tác dụng của dịch mật: gồm tác dụng của muối mật, sắc tố mật và một số chất bài tiết khác
- Tác dụng của muối mật: có vai trò quan trọng trong tiêu hoá và hấp thu như:
+ Nhũ tương hoá mỡ giúp cho enzim lipase tăng cường diện tích tiếp xúc với mỡ và phân giải chúng nhanh hơn
+ Giúp cho sự hấp thu các axit béo, monoglixerit, cholesterol và các lipít và tạo ra những phức chất hoà tan trong nước, dễ hấp thu
+ Trung hoà độ axit ở thức ăn do dạ dày đưa xuống, làm mất tác dụng của enzim pepsin của dạ dày làm chúng không có khả năng phân giải các enzim ở ruột, đồng thời làm tăng hoạt tính của enzim trong ruột
+ Tăng cường nhu động ruột, giúp diệt khuẩn
+ Kích thích tế bào gan sản xuất và bài tiết mật, khi chúng được hấp thu vào máu và tới gan
Cơ chế tiết dịch mật cơ bản giống như cơ chế tiết của dịch tụy
Dịch ruột
+ Tác dụng của dịch ruột.
Nhóm enzim phân giải protit:
- Enzim aminopeptidase: là enzim thuộc nhóm exopeptidase, nó có tác dụng cắt rời axit amin phía có gốc amin và giải phóng axit amin
- Các enzim Tripeptidase và Dipeptidase: phân giải những tripeptit và dipeptit cho các axit amin
- Enim Iminopeptidase (prolinase): có tác dụng cắt rời axit amin, thường là prolin, ra khỏi chuỗi polypeptit
- Enzim enterokinase: tác dụng chính của enzim này là hoạt hoá tripsinozen biến nó thành dạng hoạt động tripsin Sự hoạt hoá này được thực hiện nhờ việc cắt bỏ một đoạn peptit của phân tử polypeptit hình thành nên tripsinozen, nên có thể gọi enterokinase là enzim của nhóm phân giải protit.Các enzim của dịch ruột phân giải cho ra các axit amin là sản phẩm cuối cùng và giúp hoàn tất quá trình tiêu hoá protit thức ăn, tuy nhiên dịch ruột không tác dụng trực tiếp thức ăn được đưa từ ngoài vào,
mà chúng chỉ tác dụng với những sản phẩm sau khi đã bị enzim của dịch vị và dịch tụy công phá
Nhóm enzim phân giải lipid:
Trang 13Là những enzim tương tự như ở dịch tụy gồm lipase, photpholipase và cholesterol-esterase, tác dụng tương tự như của dịch tụy.
Nhóm enzim phân giải gluxit:
Gồm amilase, mantase, sacarase và lactase Amilase và mantase tương tự như enzim ở dịch tụy
- Enzim sacarase phân giải sacarose thành glucose và fructose
- Enzim lactase phân giải lactose thành glucose và galactose
Nhóm enzim phân giải axit nucleic:
Gồm có nuclease, nucleotidase và nucleosidase, các enzim này phân giải axit nucleic thành nucleotit và sau đó là các sản phẩm nhỏ hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các enzim khác phân giải sản phẩm của axit nucleic thành các chất có thể hấp thu được cho cơ thể động vật
Câu 13: Trình bày sự tiêu hóa sinh học của thức ăn trong dạ dày của động vật nhai lại.
Dạ dày động vật nhai lại như trâu, bò là thuộc loại dạ dày kép, nó bao gồm 4 túi: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ
lá sách và dạ múi khế
Sự tiêu hoá trong dạ cỏ
Đây là nơi diễn ra hình thức tiêu hoá đặc thù của bọn động vật nhai lại
Môi trường dạ cỏ: Dạ cỏ có môi trường yếm khí, độ pH 6,5 - 7,4, nhiệt độ 39 - 41o C, độ ẩm 80 - 90% Với môi trường như trên rất thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và hoạt động
- Hệ vi sinh vật dạ cỏ: có hai hệ lớn là microflora và microfauna, nấm fungi (nấm sợi)
Tiêu hoá trong dạ tổ ong:
Khi thức ăn xuống dạ tổ ong, dạ tổ ong co bóp làm cho thức ăn lỏng chảy vào dạ lá sách, phần còn lại
ở dạng thô trả lại dạ cỏ
Tiêu hoá trong dạ lá sách:
Dạ lá sách khi co, ép lọc các thức ăn lỏng xuống dạ múi khế, phần thô còn lại được giữ lại và ở đây chúng được tiếp tục quá trình tiêu hoá như ở dạ cỏ
Tiêu hoá trong dạ múi khế: giống như ở bọn dạ dày đơn.
Sự điều hoà bài tiết dịch vị được thực hiện bởi hai cơ chế là cơ chế thần kinh và cơ chế thể dịch
- Điều hoà bằng cơ chế thần kinh:
Được thực hiện bằng phản xạ có và không có điều kiện Đối với phản xạ không điều kiện được thực hiện khi có sự tác động của kích thích là thức ăn vào đường tiêu hoá, kích thích sẽ làm hưng phấn thụ quan nơi bị tác động, từ đây hưng phấn sẽ đi theo dây thần kinh lưỡi hay lưỡi hầu (nếu là kích thích ở khoang miệng), hay theo dây X (nếu là ở vùng dưới), từ đây đi về hành tủy, từ hành tủy sẽ phát lệnh tới tuyến vị, gây tiết dịch vị Đối với phản xạ có điều kiện thì kích thích là những kích thích có điều kiện như hình dạng, màu sắc, ngôn ngữ, liên quan đến thức ăn và sự ăn uống
- Điều hoà bằng cơ chế thể dịch:
Cơ chế điều hoà bằng thể dịch thường do kết quả sự kích thích của thức ăn khi chúng tới dạ dày hay ruột non Như vậy cơ chế thể dịch qua hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là khi thức ăn tới hạ vị sẽ kích thích hạ vị tiết hormon Progastrin (ở dạng chưa hoạt động) Do tác dụng của HCl nó biến đổi thành hormon gastrin (dạng hoạt động), gastrin đi vào máu và sau đó trở lại tuyến vị kích thích tuyến vị tiết dịch Giai đoạn thứ hai là khi thức ăn xuống tới tá tràng, nó kích thích làm tá tràng tiết ra một loại hormon giống như ở dạ dày được gọi là gastrin-like (hay là enterogastrin), hormon này vào máu và sau
đó cũng đi tới tuyến vị gây tiết dịch vị
Câu 14: Sự hấp thụ các chất dinh dưỡng sau khi đã được tiêu hóa trong ống tiêu hóa diễn ra như thế nào?
Toàn bộ bề mặt ống tiêu hoá đều có khả năng hấp thu, tuy nhiên sự hấp thu còn phụ thuộc vào khối lượng các chất có khả năng hấp thu và đặc trưng cấu tạo của từng phần của ống tiêu hoá
Sự hấp thu ở miệng, thực quản, dạ dày và ruột già
- Sự hấp thu ở miệng và thực quản: quá trình hấp thu yếu ớt, thời gian dừng lại của các chất ngắn,
Trang 14nên sự hấp thu ở đây ít quan trọng.
- Dạ dày khả năng hấp thu cũng yếu vì niêm mạc dạ dày cũng không có nhung mao, khe hở giữa các
tế bào biểu mô rất hẹp Dạ dày chỉ có thể hấp thu một ít chất có độ hoà tan cao trong lipid như rượu, ngoài
ra chúng còn có thể hấp thu nước, một ít muối dơn giản, đường glucose
- Ruột già chỉ có thể hấp thu một số chất hoà tan trong nước như glucose, muối vô cơ, một số vitamin, một số thuốc như thuốc ngủ, kháng sinh, sự hấp thu chủ yếu ở phần đầu của đại tràng
Sự hấp thu ở ruột non
Ruột non là nơi chủ yếu thực hiện sự hấp thu các chất nhờ có một số đặc điểm sau:
- Có một diện tích tiếp xúc rất lớn với các chất
- Lông ruột là đơn vị hấp thu, trên lông ruột có tế bào tiết nhầy, tế bào ưa bạc và tế bào hấp thu
- Ruột non là nơi có đủ các enzim cần cho phân giải thức ăn
Cơ chế hấp thu theo 3 cơ chế: cơ chế lọc, cơ chế khuếch tán, cơ chế vẫn chuyển tích cực
Sự hấp thu các chất
Hấp thu gluxit:
Gluxit sau khi được ăn vào, qua đường tiêu hoá dưới tác dụng của enzim phân giải chúng được biến thành các dạng đường đơn và một vài đisaccarit
• Sự hấp thu monosaccarit theo cơ chế vận chuyển tích cực, trong đó vai trò của ion Na+ rất lớn
• Đối với fructose, chúng được vận chuyển bằng khuếch tán vào tế bào hấp thu, trong tế bào hấp thu fructose được chuyển thành glucose, sau đó mới được chuyển sang mao mạch ở dạng glucose
Hấp thu protit.
Thức ăn là protit sau khi vào ruột được tiêu hoá đến sản phẩm là axit amin, một ít dipeptit hay tripeptit, các sản phẩm này được đi vào tế bào hấp thu theo cơ chế chủ động có sự tham gia của chất mang
và Na+, theo cơ chế tương tự như hấp thu glucose
Sự hấp thu xẩy ra nhanh ở tá tràng, hỗng tràng và chậm hơn ở hồi tràngKhi cơ thể hấp thu galactose
và glucose thì ức chế hấp thu một số axit amin, có lẽ có sự chung nhau chất vận chuyển đặc hiệu giữa chúng
Hấp thu lipid.
Lipid có sản phẩm tiêu hoá cuối cùng là axit béo, glyxerin, cholesterol,
• Glyxerin là chất hoà tan trong nước nên chúng nhanh chóng được hấp thu vào tế bào hấp thu có thể bằng cơ chế chủ động hay thụ động
• Các axit béo và monoglyxerit do khó hoà tan nên chúng phải kết hợp với muối mật để tạo thành các phức chất hòa tan dễ hấp thu gọi là các hạt mixen
Tất cả các vitamin đều được hấp thu ở dạng tự do, sự hấp thu theo cơ chế hấp thu tích cực Những vitamin tan trong nước thường được hấp thu nhanh, còn những vitamin tan trong mỡ sẽ bị giảm hấp thu khi sự hấp thu mỡ ở ruột bị giảm, hay thiếu mật trong ruột non Nơi hấp thu vitamin nhiều nhất là tá tràng và hỗng tràng
Hấp thu khoáng và nước:
Các chất khoáng được hấp thu dưới dạng ion, bằng cơ chế vận chuyển tích cực Các cation hoá trị 2 (++) hấp thu chậm hơn cation hoá trị 1 (+) Khi các cation được vận chuyển, nhờ lực hút tĩnh điện mà các anion cũng được vận chuyển thụ động vào theo
Nước vận chuyển theo cơ chế thẩm thấu, có nghĩa là phụ thuộc vào nồng độ của các chất hoà tan ở hai phía Dịch ở ruột non luôn đẳng trương so với máu, nếu phía nào ưu trương thì nước sẽ thẩm thấu qua đó tạo cân bằng cho hai phía
Câu 15 Trình bày vai trò của các chất đối với cơ thể người và động vật?
Người và động vật là những sinh vật luôn cần phải có nguồn thức ăn cung cấp một cách đầy đủ để làm nguyên liệu sử dụng cho ba hoạt động chính:
Lớn lên (kiến tạo)
Cơ thể ban đầu chỉ là một hợp tử được kết hợp từ hai giao tử mà thành Hợp tử phân chia thành nhiều
tế bào, về sau có sự phân hoá thành các mô và cơ quan, hệ cơ quan và hình thành nên cơ thể trưởng thành có kích thước và số lượng tế bào vô cùng lớn
Như vậy, với sự tăng nhanh khối lượng cơ thể trong một thời gian nhất định của các loài có được là
Trang 15nhờ sự sử dụng thức ăn lấy từ môi trường, biến chúng thành các chất đặc thù (nguyên liệu) và sau đó là sự tạo thành tổ chức và sự lớn lên nhờ các nguyên liệu chúng lấy từ thức ăn.
Đổi mới cơ thể (tu sửa, phục hồi)
Cùng với sự lớn lên, cơ thể cũng luôn xẩy ra sự thay thế những tổ chức, tế bào cũ đã già và khả năng hoàn thành chức năng kém Hơn nữa trong quá trình sống luôn xảy ra những biến đổi làm cho các tổ chức
cơ thể tổn thương, cần phải phục hồi lại khả năng hoạt động như ban đầu những tổ chức đó
Tạo sản phẩm mới
Một trong những hoạt động rất cần có nguyên liệu cung cấp từ thức ăn là tạo sản phẩm mới, đó là trứng, sữa hay là tạo cá thể mới từ cơ thể ban đầu
Như vậy, cả ba dạng hoạt động cơ bản của người và động vật đều cần có sự cung cấp nguyên liệu lấy
từ thức ăn qua quá trình tiêu hoá, hấp thu và biến đổi, nếu sự cung cấp không thường xuyên các quá trình trên sẽ bị ảnh hưởng Mức độ ảnh hưởng tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cơ thể người
và động vật, ngoài ra còn phụ thuộc vào mức độ thiếu hụt từng loại vật chất cụ thể
Ví dụ: Giai đoạn mang thai người mẹ cần lượng sắt nhiều hơn khi bình thường rất nhiều Trẻ em mới sinh và động vật non cũng cần lượng sắt cao hơn ở các thời kỳ khác nhiều lần
Câu 16 Trình bày quá trình trao đổi protein ở động vật
• Giá trị sinh học của protit
Protit là thành phần không thể thiếu được của mọi sinh vật
- Vai trò cấu trúc của protit: Protit là nguyên liệu chính để tạo nên bộ khung của tế bào, tổ chức cơ thể như thành phần chính cấu tạo nên màng, nguyên sinh chất, nhân và các thể vùi, là nguyên liệu cho
sự tu sửa và phục hồi các tổ chức của người và động vật.
- Vai trò điều tiết của protit:
+Vai trò xúc tác:
+Vai trò là chất vận chuyển
+Vai trò chuyển động
+Vai trò bảo vệ
+Vai trò trong hoạt động thần kinh
+Vai trò với điều hoà các chức năng
+Vai trò chống đỡ, dự trữ dinh dưỡng và tạo nhiệt
Protit còn là nguồn dự trữ dinh dưỡng và khi ôxy hoá chúng thì tạo ra nhiệt giúp cho việc điều hòa nhiệt độ cơ thể
• Nguồn thu nhập
Nguồn thu nhập protit chủ yếu là qua thức ăn động vật và thực vật Ngoài ra còn có nguồn thu nhận
từ vi sinh vật
• Sự chuyển hoá protit trong cơ thể
Từ thức ăn có nguồn gốc khác nhau khi vào đường tiêu hoá chúng bị phân giải thành sản phẩm cuối cùng là axit amin và một vài đipeptit, sau khi được hấp thu vào máu chúng được đưa tới gan Từ gan, các axit amin được vận chuyển tới tổ chức hoặc trực tiếp được tổng hợp lại thành các loại protit khác nhau tùy theo nhu cầu của từng tổ chức, sự tổng hợp protit mạnh nhất ở gan, sau khi được tổng hợp chúng được đưa vào máu
Tại gan nếu lượng axit amin không tham gia vào sinh tổng hợp protit do được cung cấp nhiều quá hay không đủ tỷ lệ, số lượng cần cho sự sinh tổng hợp protit, đều bị khử amin tạo thành những chất không có nitơ Những chất này sẽ được biến đổi thành Glucose và sau đó là glycozen ở gan, hay sau khi tạo thành glucose chúng được đi tới tổ chức tạo thành dự trữ glycozen ở tổ chức hoặc bị phân giải để giải phóng năng lượng cung cấp cho các hoạt động sống NH3 sau khi tách khỏi axit amin sẽ được biến đổi thành axit uric hay urê và thải ra ngoài qua thận
Khi cơ thể thiếu năng lượng, như trong các hoạt động cơ mạnh và kéo dài, mà không được cung cấp
đủ lượng đường để ôxi hoá cho năng lượng thì cơ thể sẽ huy động lipid và sau đó là protit Protit được huy động sẽ bị đưa tới gan và phân hủy thành axit amin sau đó là các hợp chất không có N sau đó là glucose.Sau khi cơ thể ngừng vận động, các nguồn dự trữ được phục hồi dần, protít cũng được tăng cường tổng hợp để bù lại cho số đã tiêu hao và phát triển các cấu trúc giúp cho việc nâng cao khả năng vận động
Sự phục hồi trở lại bình thường với protit trong máu xẩy ra sau hoạt động cơ bắp cao nhanh hơn so với hoạt động công suất thấp nhưng kéo dài thời gian
• Thăng bằng thu chi protit
Trong cơ thể bình thường đã trưởng thành thường không có sự tích lũy protit, nhưng luôn có sự đổi