Nghị quyết trung ương 2 khoá VIII tiếp tục khẳng định : “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều , rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo, khắc phục lố
Trang 1Nghị quyết trung ương khoá IV khoá VII đã đề ra nhiệm vụ “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học.” Nghị quyết trung ương
2 khoá VIII tiếp tục khẳng định : “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều , rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học…… ” Định huớng trên đây đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục, điều 24.2” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng môn học, lớp học; Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Để thực hiện tốt chủ trương, chính sách của nhà nước hiện nay nghành giáo dục đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy và học, phương pháp dạy học “Lấy giáo viên làm trung tâm” (GVTT) được thay thế bằng phương pháp “Lấy học sinh làm trung tâm” (HSTT) Tuy nhiên, qua tình hình giảng dạy bộ môn sinh học của giáo viên ở các trường phổ thông ta thấy phần lớn giáo viên vẫn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống (GVTT) do một số nguyên nhân trong đó có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan Điều này không phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại nói chung và đặc thù môn sinh học nói riêng
Trang 2Xuất phát từ đặc thù của môn sinh học là khoa học thực nghiệm thông qua việc quan sát thí nghiệm, mô hình, tranh vẽ,….các em nắm được bài giảng lĩnh hội kiến thức Đồng thời cũng là ngành khoa học có nhiều kiến thức trừu tượng, giao thoa với nhiều ngành khoa học khác: Vật lí, Hoá học,
….Vậy làm thế nào để các em có thể hình dung, hiểu và nắm bắt được những kiến thức trừu tượng đó? Có thể nhận thấy hiệu quả của việc sử dụng hình ảnh
mô phỏng các kiến thức đó thực sự mang lại hiệu quả và hứng thú học tập cho các em đồng thời nâng cao chất luợng giảng dạy cho người giáo viên
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc sử dụng hình ảnh, với mục tiêu xây dựng những bài giảng theo hướng lấy học sinh làm trung tâm góp phần nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy sinh học, phát huy tính tích cực của học sinh, tôi đã mạnh dạn làm đề tài: Phân tích nội dung, xây dựng tư liệu dạy học chương II: “Sự phát sinh và phát triển sự sống trên Trái đất - Phần 6: Tiến hoá – Sinh học 12 cơ bản”
2 Mục đích nghiên cứu:
- Phân tích nội dung, xây dựng tư liệu dạy học dạng kênh chữ, kênh hình phục vụ cho việc giảng dạy một số bài thuộc chương II - phần 6: Tiến hoá – SGK 12 cơ bản
- Thiết kế một số giáo án có sử dụng tư liệu dạy học
3 Giả thiết khoa học:
Nếu xây dựng được nguồn tư liệu dạng kênh chữ, kênh hình hợp lý sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Chương II - Phần 6 – SGK 12 cơ bản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng:
- Tư liệu dạng kênh chữ làm tài liệu tham khảo, bổ sung kiến thức cho công tác giảng dạy
Trang 3- Tư liệu hình ảnh dạng kênh hình làm phương tiện dạy học phục vụ cho việc nâng cao chất lượng dạy và học
4.2 Phạm vi:
Chương II - phần 6 - SGK 12 cơ bản
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1 Phân tích nội dung các bài thuộc chương II - phần 6 – SGK 12 cơ bản để giúp giáo viên hiểu được nội dung chính của các bài từ đó đưa ra phương pháp dạy học phù hợp
- Phân tích mục tiêu của bài
- Nêu kiến thức trọng tâm của bài
- Trình bày nội dung và kiến thức của bài
5.2 Xác định nguồn tư liệu dạng kênh chữ, kênh hình để bổ sung kiến thức các bài trong chương nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
5.3 Thiết kế giáo án các bài trong chương có sử dụng nguồn tư liệu
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Nghiên cứu lý thuyết
Chúng tôi nghiên cứu các tài liệu về: Lí luận dạy học sinh học, Dạy học sinh học ở trường phổ thông, nghiên cứu SGK, Sách giáo viên, các tài liệu về chuyên môn và tiến hoá, ……để làm sáng tỏ cơ sở lí luận của việc phân tích nội dung, xây dựng hình ảnh phục vụ cho giảng dạy
6.2 Phương pháp điều tra:
Dự giờ, trao đổi với giáo viên phổ thông, sơ bộ đánh giá thực tế việc dạy
và học sinh học 12 đăc biệt là việc sử dụng hiệu quả hệ thống hình ảnh
7 Những đóng góp mới của đề tài
+ Góp phần hệ thống hoá lý luận của việc xây dựng và sử dụng các nguồn tư liệu dạy học
+ Phân tích nội dung, xây dựng tư liệu
Trang 4+ Làm phong phú thêm hệ thống phương tiện dạy học Chương II - Phần
6 - Sinh học 12, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Sinh học 12, THPT + Thiết kế được một số giáo án có sử dụng nguồn tư liệu giúp nâng cao chất lượng dạy và học Chương II - Phần 6 – SGK 12 cơ bản
8 Giới hạn của đề tài
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi tập trung phân tích nội dung, nghiên cứu nguồn tư liệu dạng kênh chữ và kênh hình để hỗ trợ dạy học Chương II - Phần 6 - Sinh học 12, THPT
Trang 5PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phân tích nội
dung, xây dựng tư liệu
1 Cơ sở lý luận:
1.1 Tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì tính tích cực trong hoạt động xã hội là bản chất vốn có của con người Con người không chỉ sử dụng các sản phẩm của tự nhiên mà còn tác động vào tự nhiên cải biến môi trường tự nhiên, môi trường xã hội để tạo ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển Năm 1995 Khaclanov đã đưa ra định nghĩa tính tích cực : Tính tích cực
là trạng thái hoạt động của chủ thể nghĩa là của con người hành động, tính tích cực thể hiện trong hoạt động của con người, nó vừa là điều kiện đồng thời
là kết quả của quá trình hình thành và phát triển nhân cách
Trong giáo dục để đạt hiệu quả cao trong việc đổi mới phương pháp dạy học lấy HSTT thì nhiệm vụ trước hết là phải hình thành và phát huy tính tích cực học tập của học sinh.Vậy tính tích cực học tập của học sinh là gì?
Theo giáo sư Trần Bá Hoành: Tính tích cực học tập của học sinh cũng có tính tương đồng với tính tích cực nhận thức, cho nên nói tính tích cực học tập thực chất là nói đến tính tích cực của nhận thức Giáo sư đưa ra định nghĩa: Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh đặc trưng ở khát vọng học tập và sự cố gắng trí tuệ, nghị lực cao trong quá trình nắm vững tri thức
* Biểu hiện tính tích cực học tập của học sinh:
- Biểu hiện bằng hành động:
+ Học sinh khao khát tự nguyện trả lời các câu hỏi của giáo viên hoặc bổ sung các câu trả lời của bạn Học sinh tích cực giơ tay phát biểu ý kiến, chú ý nghe câu trả lời của bạn, lời giải thích của thầy
Trang 6+ Học sinh hay nêu các thắc mắc và đòi được giải thích
+ Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt các kiến thức và kĩ năng đã có
để nhận thức vấn đề mới
+ Học sinh mong muốn đóng góp với thầy với bạn những thông tin mới ngoài nội dung bài học
- Biểu hiện về mặt cảm xúc:
+ HS hào hứng phấn khởi trong giờ học
+ HS biểu hiện tâm trạng ngạc nhiên trước những hiện tượng hoặc thông tin mới
+ HS băn khoăn, day dứt trước những vấn đề phức tạp, những bài tập khó
- Biểu hiện về mặt ý chí:
+ Sự tập trung chú ý vào bài học, chăm chú quan sát đối tượng nghiên cứu + Không nản chí trước những khó khăn như là phải làm bằng được các bài tập, giải thích bằng được các hiện tượng, làm bằng được các thí nghiệm
** Tính tích cực học tập của học sinh biểu hiện ở các mức độ:
+ Mức độ sao chép bắt chước
+ Mức độ tìm tòi thực hiện
* Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm:
Khác với phương pháp dạy học truyền thống, phương pháp dạy học lấy HSTT đề cao vai trò của người học, toàn bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng và hứng thú của học sinh Mục đích là nhằm phát triển ở học sinh năng lực độc lập và giải quyết vấn đề HS và GV cùng nhau khảo sát các vấn đề, các khía cạnh của từng vấn đề Người giáo viên chỉ đóng vai trò tổ chức,
tạo ra tình huống có vấn đề, giúp học sinh nhận biết vấn đề, lập giả thuyết và rút ra kết luận
Cho nên trong giờ học cần phải tập trung vào vai trò và hoạt động của học sinh chứ không phải hoạt động của giáo viên, học sinh phải là trung tâm
Trang 7của quá trình dạy học Đây cũng là đặc điểm thể hiện tính ưu việt của phương pháp dạy học tích cực
Có nhiều quan điểm về phương pháp dạy học tích cực theo nhiều hướng: Theo R.Csharma (1998) viết: Trong phương pháp dạy học lấy HSTT, toàn bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, lợi ích của học sinh Mục đích là phát triển ở học sinh kĩ năng và năng lực độc lập giải quyết các vấn đề Vai trò của người giáo viên là tạo ra những tình huống có vấn đề, để học sinh nhận biết vấn đề và giải quyết vấn đề”
Theo giáo sư Trần Bá Hoành: “Không nên xem xét việc dạy học lấy HSTT cũng như một phương pháp dạy học lấy HSTT như một phương pháp dạy học đặt ngang tầm với các phương pháp dạy học đã có, mà nên quan niệm
nó như một tư tưởng, một quan điểm chi phối cả mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và đánh giá hiệu quả dạy học”
Từ cơ sở trên ta thấy đổi mới phương pháp dạy học là một tất yếu khách quan và phải đổi mới theo hướng lấy HSTT Mọi nỗ lực giảng dạy của giáo dục đều nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các em thể hiện chính mình Để có thể thực hiện được phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải nắm vững tri thức khoa học, phải thấu đáo nội dung của bài học, phải có trình độ sư phạm cao
để tổ chức các hoạt động giúp các em lĩnh hội tri thức
1.2 Khái quát về phương tiện dạy học:
1.2.1 Khái niệm phương tiện dạy học:
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về PTDH
Trong các tài liệu về lí luận dạy học, coi PTDH có cùng nghĩa với PTTQ, đó là những vật thật, vật tượng hình và các vật tạo hình được sử dụng
để dạy học
Các vật thật bao gồm: động vật, thực vật sống ở môi trường tự nhiên, các khoáng vật
Trang 8Các vật tượng trưng như : sơ đồ, lược đồ,…
Các vật tượng hình như: tranh ảnh, mô hình, hình vẽ, băng hình
Cũng có những tác giả coi PTTQ như những đồ dùng dạy học được khái quát bằng những mô hình vật chất, được dựng lên một cách nhân tạo, giúp ta nghiên cứu đối tượng gốc khi không có điều kiện tri giác trực tiếp đối tượng này
1.2.2 Phân loại
Hiện nay, các phương tiện và thiết bị dạy học rất đa dạng và hiện đại Vì vậy, phân loại các phương tiện và thiết bị dạy học có nhiều cách, song để đi sâu vào PTDH cụ thể có thể phân loại dựa theo tính chất, cấu tạo, cách sử dụng,…
Dưới đây là một số cách phân loại PTDH:
a Phân loại phương tiện dạy học dựa theo tính chất
- Nhóm truyền tin: máy chiếu, máy chiếu phim, máy ghi âm, máy thu thanh, máy thu hình, máy vi tính,…
- Nhóm mang tin: các tài liệu in (SGK, SBT,…), các phương tiện nghe, nhìn, PT nghe nhìn
b Phân loại theo cấu tạo phương tiện dạy học
- Mẫu vật thật: các mẫu vật sống, tiêu bản tuơi, khô, ngâm ép,…
- Mô hình: mô hình tĩnh, mô hình động,…
- Tranh, ảnh, bản trong, băng hình, VCD, DVD
c.Phân loại theo cách sử dụng
- Phương tiện dùng trực tiếp để DH
- Phương tiện dùng để chuẩn bị và điều khiển lớp học
d.Phân loại theo mức độ chế tạo phức tạp
- Loại chế tạo không phức tạp
- Loại chế tạo phức tạp
Trang 91.2.3 Vai trò của phương tiện dạy học:
Lí luận dạy học và thực tiễn dạy học đã khẳng định rằng: Các phương tiện và thiết bị dạy học là một yếu tố trong chỉnh thể của quá trình dạy học PTDH có một vị trí rất quan trọng trong lí luận dạy học
Để đạt được mục đích dạy học cần đưa ra những mục tiêu đúng đắn Mục tiêu dạy học là mục đích mà HS cần phải đạt được, là những nội dung học tập mà HS phải lĩnh hội được cả về tri thức, kĩ năng, thái độ, hành vi Để thực hiện được mục tiêu đề ra, GV phải căn cứ vào nội dung bài dạy, đối tượng truyền thụ mà dự kiến PPDH và PTDH cho phù hợp PTDH vừa là nguồn tri thức, vừa là công cụ dể HS lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng môn học Sự thay đổi PTDH sẽ thay đổi PPDH
Có thể thấy rõ vị trí của PTDH trong mối quan hệ với các yếu tố cấu trúc quá trình dạy học trong sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa các yếu tố trong quá trình dạy học:
Như vậy, PTDH là một yếu tố quan trọng trong quá trình dạy học, giúp gắn kết các yếu tố cấu trúc quá trình dạy học thành một chỉnh thể toàn vẹn Sự có mặt của PTDH giúp vận hành, thúc đẩy quá trình dạy học đạt kết quả cao
Mục tiêu, kế hoạch dạy học
Nội dung dạy
học Phương tiện dạy học Phương pháp dạy học
Trang 10Trong những năm gần đây, ngành GD luôn quan tâm đến vấn đề đổi mới PPDH PPDH hiện nay phải lấy HS làm trung tâm, HS phải tích cực, chủ động tìm tòi kiến thức mới Muốn nâng cao chất lượng dạy học và đổi mới PPDH thì nhất thiết phải có PTDH PTDH giúp cho GV có thể phát huy được tất cả các giác quan của HS trong quá trình dạy học
Có thể tóm tắt vai trò của PTDH như sau:
+ PTDH giúp cho việc dạy học cụ thể hơn vì vậy tăng khả năng tiếp thu kiến thức về những sự vật, hiện tượng, các quá trình phức tạp mà bình thường
+ PTDH giúp GV có nhiều thời gian và cơ hội thuận lợi để tổ chức, hướng dẫn HS tự chiếm lĩnh tri thức mới
Như vậy, có thể khẳng định PTDH có vai trò, ý nghĩa rất lớn trong quá trình dạy học, giúp HS chủ động tự chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện các thao tác tư duy tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng các kĩ năng cho HS trong học tập
Từ những cơ sở lý luận trên tôi nhận thấy được rất rõ vai trò của việc phân tích nội dung đó là giúp GV lĩnh hội, hiểu sâu sắc kiến thức mà mình sẽ giảng dạy Việc bổ sung các nguồn tư liệu tham khảo dạng kênh chữ giúp GV
có kiến thức chuyên môn sâu rộng hơn và nguồn tư liệu tham khảo dạng kênh hình giúp minh hoạ rõ hơn nội dung kiến thức GV đưa ra, tạo hứng thú học tập cho HS chính vì vậy tôi đã phân tích nội dung, xây dựng tư liệu dạy học dưới dạng kênh chữ và dạng kênh hình phục vụ việc dạy học Chương II - Phần 6 – SGK 12
Trang 112 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng nguồn tư liệu:
2.1 Đặc điểm nội dung Chương II - Phần 6 – SGK 12 cơ bản:
2.1.1 Về cấu trúc chương:
Chươg này cho thấy sự phát sinh và phát triển của sự sống trên Trái đất Bài 32: Trình bày quá trình tiến hoá hoá học đó là quá trình hình thành nên các hợp chất hữu cơ từ những chất vô cơ, quá trình tiến hoá tiền sinh học
là giai đoạn hình thành nên các tế bào sơ khai và hình thành nên những tế bào sống đầu tiên, tiến hoá tiền sinh học là giai đoạn tiến hoá từ những tế bào đầu tiên hình thành nên các loài sinh vật như ngày nay dưới tác động của các nhân
2.1.2 Về cấu trúc từng bài trong SGK:
*Kênh chữ: bao gồm những nội dung:
+ Tên bài học
+ Nội dung bài học
+ Các yêu cầu của bài được trình bày trong khung giúp HS ghi nhớ + Phần củng cố và vận dụng kiến thức được trình bày dưới dạng các câu hỏi và bài tập cuối bài
+ Riêng bài 34 có phần tư liệu bổ sung ngắn gọn qua mục “Em có biết” giúp HS mở rộng kiến thức
*Kênh hình:
Trong SGK kênh hình vừa là công cụ minh hoạ cho kiến thức của bài, vừa là nguồn tư liệu quan trọng giúp HS hoàn thiện kiến thức Các hình trong
Trang 12Chương II - Phần 6 – SGK 12 còn ít và có bài kênh hình chưa đáp ứng đầy đủ nội dung kiến thức, do đó hạn chế phần nào khả năng lĩnh hội kiến thức của
HS và không gây được nhiều hứng thú học tập Hơn nữa kênh hình trong SGK đôi khi khó cho GV trong việc tổ chức, điều khiển hoạt động của HS theo những ý đồ khác nhau
2.2 Thực trạng dạy học sinh học 12:
Trong dạy học sinh học 12 sau những năm đổi mới SGK và theo phương pháp dạy học tích cực lấy HS làm trung tâm cho thấy GV vẫn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống phổ biến, thầy đọc – trò chép, HS thụ động Do lượng kiến thức nhiều hơn và có sự hạn chế của số trang mà những nhà viết sách đã không bổ sung nhiều kênh hình vào minh hoạ cho phần kiến thức đưa ra GV là những người thực hiện bị hạn chế thời gian 1 tiết chỉ có 45 phút nên với một lượng kiến thức khá nhiều việc dạy làm sao cho đủ thời gian
đã là điều đáng nói Ngoài ra, GV cũng ít có điều kiện đầu tư cho kiến thức chuyên môn thêm sâu rộng, sưu tầm hình ảnh minh hoạ phục vụ cho bài giảng
vì vậy chất lượng dạy học chưa cao Chính vì vậy, đa số HS không có hứng thú học môn học này
- Về việc dùng nguồn tư liệu: Do nhiều yếu tố, nguyên nhân cả khách quan và chủ quan mà rất nhiều GV không có nhiều thời gian đầu tư tìm thêm nguồn tài liệu bố sung Vì đây là một nội dung kiến thức khá trừu tượng rất khó giảng giải cho các em hiểu và các GV không có sự đầu tư cho việc tìm
Trang 13hiểu nguồn tư liệu nên việc hiểu được sâu rộng vấn đề là rất ít cho nên bài học phần này các em chỉ hiểu mang máng nội dung kiến thức và ngoài nội dung kiến thức SGK các em cũng không mở rộng được nhiều hơn về kiến thức
- Về việc tìm nguồn hình ảnh làm phương tiện dạy học: Ngày nay, dưới
sự phát triển như vũ bão của CNTT việc tìm hình ảnh từ internet rất đơn giản
và phong phú Tuy nhiên, đa phần chỉ những GV trẻ mới ra trường mới áp dụng được CNTT vào trong giảng dạy bằng cách chiếu các hình ảnh minh hoạ hoặc sử dụng Power point còn lại phần đông các GV đã nhiều tuổi rất ít khi tìm kiếm nguồn hình ảnh phục vụ cho bài, hình ảnh được sử dụng trong bài là hình SGK Ngoài ra, còn một nguyên nhân khác đó chính là sự thiếu đầu tư trang thiết bị dạy học: máy chiếu, máy vi tính,…….cũng làm hạn chế khả năng của các GV
→ Chính vì những thực trạng nói trên mà tôi đã mạnh dạn làm đề tài: Phân tích nội dung, xây dựng tư liệu dạy học Chương II - Phần 6 – Sinh học12 để phần nào đó giúp GV bổ sung thêm nguồn tư liệu về mặt kiến thức
và hình ảnh phục vụ cho việc nâng cao chất lượng dạy và học chương này
Trang 14Chương 2: Phân tích nội dung, xây dựng tư liệu dạy học
Bài 33: Sự phát triển của sinh giới qua các đại địa chất
Bài 34: Sự phát sinh loài người
2.1.3 Nhiệm vụ của chương:
Đề cập đến nguồn gốc sự sống, sự phát sinh, phát triển của sinh vật trên Trái đất, thông qua các bằng chứng hóa thạch để thấy rằng sự hình thành các loài, các đặc điểm thích nghi là kết quả của quá trình CLTN diễn ra lâu dài chứ không do một thế lực nào đó sáng tạo ra.Đồng thời giải thích được nguồn gốc, quá trình tiến hoá của loài người, các nhân tố chi phối sự phát triển của loài người
2.2 Phân tích nội dung từng bài:
Bài 32 NGUỒN GỐC SỰ SỐNG
I Mục tiêu bài học:
1.1.Kiến thức: Sau khi học xong, HS có thể:
- Trình bày được thí nghiệm của Milơ chứng minh các hợp chất hữu cơ đơn giản đã có thể hình thành như thế nào khi Trái đất mới được hình thành
- Giải thích được các thí nghiệm chứng minh quá trình trùng phân tạo ra các đại hữu cơ từ các đơn phân
Trang 15- Giải thích được sự hình thành các tế bào nguyên thuỷ đầu tiên
1.2 Kĩ năng: Rèn một số kĩ năng:
- Phân tích thông tin, tư duy logic
- Khái quát kiến thức
- Liên hệ, vận dụng kiến thức giải thích hiện tượng thực tế
1.3 Thái độ:
HS có tầm nhìn mở rộng về thế giới và chiều hướng tiến hóa HS tăng thêm lòng yêu khoa học và say mê nghiên cứu khoa học thông qua tìm hiểu các giai đoạn phát sinh sự sống, đặc biệt qua các thí nghiệm chứng minh cho quá trình này, nhen nhóm trong HS ý tưởng nghiên cứu chứng minh các giả thuyết khoa học
2 Kiến thức trọng tâm:
- Quá trình tiến hoá hoá học
3 Thành phần kiến thức cơ bản:
I Tiến hoá hoá học:
1 Quá trình hình thành các chất hữu cơ đơn giản từ các chất vô cơ:
- Theo Oparin (1992): Hợp chất hữu cơ đơn giản đầu tiên xuất hiện bằng con đường tổng hợp hoá học từ các chất vô cơ nhờ nguồn năng lượng mặt trời, sấm sét, hoạt động của núi lửa
- Thí nghiệm của Milơ và Urây (1953):
+ Tạo môi trường có các thành phần hoá học giống khí quyển Trái đất thời nguyên thuỷ
+ Phóng điện liên tục vào hỗn hợp khí (CH4, NH3, H2) và hơi nước + Kết quả thu được hợp chất bữu cơ đơn giản có các aa
Trang 162.Quá trình trùng phân tạo nên các đại phân tủ hữu cơ:
* Hình thành các đại phân tử hữu cơ (vật chất di truyền):
+ Năm 1950: Fox và các cộng sự đã tiến hành thí nghiệm đun nóng các axit amin ở nhiệt độ 150-180 OC và đã tạo ra được các chuỗi peptit ngắn được gọi là Protein nhiệt
+ Trong điều kiện bầu khí quyển nguyên thuỷ không có oxi (hoặc có rất ít) với nguồn năng lượng là các tia chớp, núi lửa, tia tử ngoại….một số chất
vô cơ kết hợp với nhau tạo nên các chất hữu cơ đơn giản như axit amin, nucleic, đường đơn, các axit béo
+ Vật chất di truyền đầu tiên có lẽ là ARN
* Hình thành cơ chế di truyền:
+ Hình thành cơ chế nhân đôi:
- Các nuclêtit kết hợp với nhau tạo ARN ngắn
- ARN có khả năng bắt đôi bổ sung tổng hợp ARN mới không cần enzim
* Hình thành cơ chế phiên mã:
- ARN kết hợp với một số enzim để tổng hợp ADN
- ADN có cấu trúc bền vững có khả năng phiên mã
- ADN thay thế ARN để lưu trữ bảo quản thông tin di truyền trong tế bào còn ARN làm nhiệm vụ trong quá trình dịch mã
* Cơ chế dịch mã:
- Các aa liên kết yếu với các nuclêôtit trên ADN, ARN giống như một khuôn mẫu để các aa “ bám vào”
- Liên kết peptit được hình thành tạo chuỗi polipeptit
- CLTN chọn các phức chất hữu cơ phối hợp với nhau tạo cơ chế nhân đôi và dịch mã
II Tiến hoá tiền sinh học:
*Hình thành tế bào sơ khai bằng con đường tự nhiên:
Trang 17- Các đại phân tử hữu cơ như: protein, lipit, axit nucleic tập trung lại với nhau
- Phân tử lipit có tính kị nước sẽ hình thành lớp màng bao bọc tập hợp đại phân tử hữu cơ tạo nên các giọt nhỏ li ti khác nhau
- Dưới tác động của CLTN giọt nhỏ nào có khả năng trao đổi chất với môi trường bên ngoài, phân chia, duy trì thành phần hoá học được giữ lại tạo thành tế bào sơ khai
* Hình thành sự sống bằng thực nghiệm:
- Tạo giọt lipôxôm:
+ Cho lipit vào trong nước cùng với một số các chất hữu cơ khác nhau
+ Lipit tạo màng bọc lấy các hợp chất hữu cơ …….có khả năng phân đôi, trao đổi chất
- Tạo giọt côaxecva và các hạt keo:
Các giọt côaxecva cũng có biểu hiện những đặc tính sơ khai của sự sống như có khả năng tăng kích thước, duy trì cấu trúc tương đối ổn định
Bài 33
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINH GIỚI QUA CÁC ĐẠI ĐỊA CHẤT
1.Mục tiêu bài học:
1.1 Kiến thức : Sau khi học xong, HS cần:
- Nêu được định nghĩa hoá thạch và vai trò hoá thạch trong nghiên cứu
sự tiến hoá của sinh giới
- Giải thích được những biến đổi về địa chất luôn gắn chặt với sự phát sinh và phát triển của sinh giới trên Trái đất
- Trình bày được những biến đổi về địa chất luôn gắn với sự phát sinh và phát triển của sinh giới trên Trái đất như thế nào
- Trình bày được đặc điểm địa lý, khí hậu của Trái đất và những đặc điểm của các loài sinh vật điển hình của các kỉ và đại địa chất
Trang 18- Nêu được các nạn đại tuyệt chủng xảy ra trên Trái đất và ảnh hưởng của chúng đối với sự tiến hoá của sinh giới
Nhận thấy rõ về hoá thạch và sự phân chia đại địa chất Giáo dục HS
có ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường, tránh sự tuyệt chủng của các loài sinh vật
1 Khái niệm hoá thạch ?
- Là di tích của các sinh vật sống trong các thời đại trước để lại trong các lớp đất đá của vỏ Trái đất
* Các loại hoá thạch:
- Hoá thạch trên đất, đá: một phần hay toàn bộ cơ thể, hình dáng của sinh vật
- Hoá thạch trong băng: xác sinh vật còn nguyên vẹn
- Hổ phách: xác sinh vật được bảo vệ trong các lớp hổ phách
2 Vai trò của các hoá thạch trong nghiên cứu lịch sử phát triển của sinh giới:
- Hoá thạch cung cấp cho chúng ta những bằng chứng trực tiếp về lịch sử phát triển của sinh giới
Trang 19- Xác định được tuổi của các hoá thạch và qua đó cho chúng ta biết loài nào xuất hiện trước, loài nào xuất hiện sau và quan hệ họ hàng giữa các loài
- Tuổi của hoá thạch có thể được xác định nhờ phân tích các đồng vị phóng xạ có trong hoá thạch hoặc đồng vị phóng xạ có trong các lớp đất đá chứa hoá thạch
Ví dụ: Cacbon 14 (14C) có thời gian bán rã khoảng 5730 năm, phân tích hàm lượng 14C trong hoá thạch người ta có thể xác định được tuổi của hoá thạch lên tới 75000 năm
+ Urani 238 (238U) với thời gian bán rã khoảng 4,5 tỉ năm vì vậy
có thể xác định được tuổi các lớp đất đá cùng hoá thạch có độ tuổi hàng trăm triệu năm thậm chí hàng tỉ năm
II Lịch sử phát triển của sinh giới qua các đại địa chất:
1 Hiện tượng trôi dạt lục địa:
* Hiện tượng trôi dạt lục địa:
- Phiến kiến tạo là các vùng riêng biệt của lớp vỏ Trái đất
- Phiến kiến tạo liên tục di chuyển do các lớp dung nham nóng chảy bên dưới chuyển động
- Hiện tượng di chuyển của các lục địa gọi là hiện tượng trôi dạt lục địa
* Hình thành lục địa:
Các lục địa liên tiếp tách ra rồi lại nhập vào và cuối cùng tiếp tục phân tách thành các lục địa Âu, Á, Mỹ… như ngày nay
* Biến đổi khí hậu:
- Khí hậu thay đổi liên tục: nóng ẩm → khô lạnh → hạn hán……
→ Có thể dẫn đến những đợt đại tuyệt chủng hàng loạt các loài và sau đó là thời điểm bùng nổ sự phát sinh các loài mới
1 Sinh vật trong các đại địa chất:
* Tiêu chí để phân chia lịch sử Trái đất:
Trang 20- Biến cố lớn về địa chất khí hậu
- Biến đổi của sinh vật của sinh vật thông qua các hoá thạch điển hình
* Phân chia lịch sử Trái đất:
- Lịch sử Trái đất được chia thành nhiều giai đoạn gọi là các đại địa chất bao gồm đại Thái cổ, đại Nguyên sinh, đại Cổ sinh, đại Trung sinh, đại Tân sinh
- Các đại lục được chia thành các kỉ
Bảng 33: Các đại địa chất và sinh vật tương ứng:
(triệu năm cách đây)
Đặc điểm địa chất , khí hậu Sinh vật điển hình Tân
sinh Đệ tứ 1,8 Băng hà Khí hậu lạnh, khô Xuất hiện loài người
Đệ tam 65 Các lục địa gần giống
hiện nay Khí hậu đầu
kỉ ấm áp, cuối kỉ lạnh
Phát sinh các nhóm Linh trưởng Cây có hoa ngự trị Phân hoá các lớp Thú, Chim, Côn trùng
Khí hậu khô
Xuất hiện thực vật có hoa Tiến hoá động vật có vú
Cuối kỉ tuyệt diệt nhiều sinh vật, kể cả
Triat
(Tam
điệp) 250 Lục địa chiếm ưu thế Khí hậu khô
Cây hạt trần ngự trị Phân hoá côn trùng Tuyệt diệt nhiều động vật biển
Pecmi 300 Các lục địa liên kết với
nhau Băng hà Khí hậu khô, lạnh
Phân hoá bò sát Phân hoá côn trùng Tuyệt diệt nhiều động vật biển
Trang 21sau trở nên lạnh và khô Dương xỉ phát triển mạnh Thực vật có hạt
xuất hiện Lưỡng cư ngự trị Phát sinh bò sát
Đêvôn 416 Khí hậu lục địa khô
hanh, ven biển ẩm ướt
Hình thành sa mạc
Phân hoá cá xương Phát sinh lưỡng cư, côn trùng
Ocđôvic 488 Di chuyển lục địa
Băng hà Mực nước biển giảm Khí hậu khô
Phát sinh thực vật Tảo biển ngự trị Tuyệt diệt nhiều sinh vật
Cambri 542 Phân bố lục địa và đại
dương khác xa hiện nay Khí quyển nhiều CO2
Phát sinh các ngành động vật Phân hoá tảo
xương sống thấp ở biển Tảo
Hoá thạch động vật cổ nhất
Hoá thạch sinh vật nhân thực cổ nhất Tích luỹ ôxi trong khí quyển
Nguyên
sinh 3500 Hoá thạch sinh vật nhân sơ cổ nhất
Trang 22Bài 34
SỰ PHÁT SINH LOÀI NGƯỜI
1 Mục tiêu bài học:
1.1 Kiến thức: Sau khi học xong, HS cần:
- Nêu được các đặc điểm giống nhau giữa người hiện đại với các loài linh trưởng hiện đang sinh sống
- Giải thích được những đặc điểm thích nghi đặc trưng của loài người
- Giải thích được quá trình hình thành loài người Homo sapiens qua các loài trung gian chuyển tiếp
- Giải thích được thế nào là tiến hoá văn hoá và vai trò của tiến hoá văn hoá đối với sự phát sinh, phát triển của loài người
1.2 Kĩ năng: Rèn một số kĩ năng:
- Phân tích tranh hình phát hiện kiến thức
- Liên hệ giải thích các hiện tượng thực tế
I Quá trình phát sinh loài người hiện đại:
1 Bằng chứng về nguồn gốc động vật của loài người:
a Sự giống nhau giữa người và động vật có vú:
* Giải phẫu so sánh: Người và thú giống nhau về thể thức cấu tạo:
- Bộ xương gồm các phần tương tự (xương đầu, xương cột sống, xương chi, nội quan… có lông mao, răng phân hoá (răng cửa, nanh, hàm), có tuyến sữa, đẻ con và nuôi con bằng sữa
Trang 23- Cơ quan thoái hoá: ruột thừa, nếp thịt ở khoé mắt, mấu lồi ở mép vành tai phía trên
* Bằng chứng phôi sinh học:
Phát triển phôi người lặp lại các giai đoạn phát triển của động vật Hiện tượng lại tổ……
→ Chứng tỏ người và thú có chung một nguồn gốc
b Các đặc điểm giống nhau giữa người và vượn người ngày nay:
- Vượn người ngày nay bao gồm : Vượn, đười ươi, tinh tinh, Gorila
- Vượn người có hình dạng và kích thước cơ thể gần giống với người ( cao 1,7 – 2m; nặng 70 - 200 kg), không có đuôi, đứng bằng 2 chân sau, có 12
- 13 đôi xương sườn, 5 - 6 đốt cùng, bộ răng gồm 32 chiếc
- Đều có 4 nhóm máu (A, B, C, D)
- Đặc tính sinh sản giống nhau: kích thước, hình dạng tinh trùng, cấu tạo nhau thai, chu kì kinh 28 - 30 ngày, thời gian mang thai 270 - 275 ngày, mẹ cho con bú đến 1năm
- Bộ gen của người giống tinh tinh đến 98%
Bảng 34:
Mức độ giống nhau về ADN và protein giữa người với các loài thuộc bộ Khỉ
Các loài % giống
nhau so với ADN người Tinh tinh 97,6
Trang 24c Điểm khác nhau giữa người và vượn người: Do thích nghi với 2 hướng tiến hoá khác nhau nên người và vượn người có nhiều điểm khác nhau
Cột sống cong hình chữ C, tay dài hơn chân, lồng ngực hẹp chiều ngang, chậu hông hẹp, ngón chân dài, ngón chân cái đối diện các ngón khác
Dáng đi thẳng, tay tự do cầm nắm, hoàn thiện khả năng lao động, trọng tâm cơ thể nằm trong mặt phẳng tạo bởi 2 chân Cột sống cong hình chữ S, tay ngắn hơn chân, lồng ngực hẹp theo chiều trước sau, chậu hông rộng, ngón chân ngắn, ngón chân cái không úp vào các ngón khác, bàn chân dạng vòm
Nguồn thức
ăn Ăn thực vật: Bộ răng thô, răng nanh phát triển, xương hàm to,
góc quai hàm lớn
Ăn thực vật lẫn động vật, biết dùng lửa làm chín thức ăn: Bộ răng bớt thô, răng nanh thoái hoá, xương hàm nhỏ, góc quai hàm hẹp
Sự phát triển
của bộ não Não nhỏ 450-550 cm
3, ít khúc cuộn và nếp nhăn, thuỳ trán kém phát triển nên xương mặt
> hộp sọ, lỗ chẩm nằm phía sau
Não rất phát triển 1300-1400
cm3, có nhiều khúc cuộn và nếp nhăn, thuỳ trán phát triển nên hộp sọ > xương mặt, trán rộng
và không còn gờ trên hốc mắt lỗ chẩm dịch về phía trước
Tiếng nói phát triển và hình thành hệ thống tín hiệu thứ hai,
có khả năng tư duy trừu tượng
Vỏ não có vùng điều khiển cử động nói và trung khu hiểu tiếng nói, trung khu hiểu chữ viết, có lồi cằm
Trang 25→ Chứng tỏ người có quan hệ họ hàng rất gần với vượn người và gần gũi nhất với tinh tinh Mặt khác người và vượn có nhiều điểm khác nhau → tiến hoá theo 2 hướng khác nhau (vượn ngày nay không phải là tổ tiên trực tiếp)
- Dựa trên mức độ tương đồng về nhiều đặc điểm, các nhà khoa học đã thiết lập được mối quan hệ họ hàng giữa người với một số loài vượn và vẽ được cây chủng loại phát sinh của bộ Linh trưởng
2 Các dạng vượn người hoá thạch và quá trình hình thành loài người:
- Các bằng chứng hoá thạch và ADN đã giúp các nhà khoa học xác định được người và các loại vượn người hiện nay (tinh tinh) chỉ mới tách nhau ra
từ một tổ tiên chung cách đây 5-7 triệu năm
- Sau khi tách ra từ tổ tiên chung, nhánh vượn người cổ đại đã phân hoá thành nhiều loài khác nhau, trong đó có 1 nhánh hình thành nên chi Homo
- Homo (H) hình thành loài người qua các giai đoạn:
H.habilis (người khéo léo) → H.erectus (người đứng thẳng) → H.sapiens (người thông minh)
* Đặc điểm phát sinh loài người: có 2 giả thuyết:
- Thuyết “ra đi từ Châu Phi’’: H.sapiens được hình thành từ loài H erectus ở Châu Phi, sau đó phát tán sang châu lục khác
- Giả thuyết khác: Loài H erectus di cư từ Châu Phi sang các châu lục khác, rồi từ nhiều nơi khác nhau, loài H.erectus tiến hoá thành H.sapiens Đông Nam Á cũng được xem là cái nôi phát sinh ra loài người
II Người hiện đại và sự tiến hoá văn hoá:
Người hiện đại có những đặc điểm thích nghi nổi bật : Bộ não lớn, cấu trúc thanh quản cho phép phát triển tiếng nói, bàn tay có các ngón tay linh hoạt giúp chế tạo và sử dụng công cụ,… → Con người đã có được khả năng tiến hoá văn hoá: thông qua tiếng nói và chữ viết, con người có thể dạy nhau
Trang 26cách sáng tạo ra các công cụ để tồn tại và không ngừng phát triển.→ Xã hội ngày càng phát triển (từ công cụ bằng đá) → sử dụng lửa → tạo quần áo → chăn nuôi, trồng trọt → Khoa học công nghệ
- Nhờ có tiến hoá văn hoá mà con người đã nhanh chóng trở thành loài thống trị trong tự nhiên, có ảnh hưởng nhiều đến sự tiến hoá của các loài khác
và có khả năng tự điều chỉnh chiều hướng tiến hoá của chính mình
2.3 Xây dựng tư liệu phục vụ dạy học:
2.3.1 Tư liệu dạng kênh chữ:
+ Tư liệu bổ sung
+ Tư liệu tham khảo
Bài 32 NGUỒN GỐC SỰ SỐNG
*Tư liệu bổ sung:
1 Quan niệm của Oparin và Haldane:
Thập niên 1920, Oparin và Haldane trong những nghiên cứu độc lập đều đưa ra kết luận vật chất hữu cơ hình thành trên bề mặt Trái đất là kết quả
sự tiến hoá hoá học của nguyên tố cacbon nhờ nguồn năng lượng của núi lửa, sấm sét, tia tử ngoại
Quan niệm của Oparin Quan niệm của Haldane
Khí quyển nguyên
thuỷ CH4, NHnước 3, H2 và hơi CO2, NH3, hơi nước
Nơi hình thành cơ
thể sống đầu tiên Khí quyển, đại dương Khí quyển, đại dương
Cơ chế Sự xuất hiện tự nhiên của giọt coaxecva thông qua
tiến hoá hình thành tế
bào
Sự tổng hợp của các hợp chất hữu cơ ngày càng phức tạp dưới tác dụng của tia tử ngoại ( Trang 167, sách Tài liệu giáo khoa chuyên sinh THPT, Phạm Văn Lập)
Trang 272 Quan niệm hiện nay về nguồn gốc sự sống được nhiều người chấp nhận: + Thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ cho rằng vũ trụ bắt đầu từ một điểm kì dị có mật độ vật chất và một nhiệt độ vô hạn tại một thời điểm cách nay khoảng 13,7 tỉ năm Từ đó, không gian đã mở rộng cùng với thời gian làm cho các thiên hà di chuyển xa nhau hơn, tạo ra một vũ trụ giãn nở như chúng ta thấy ngày nay Ý tưởng trung tâm của lý thuyết này được minh chứng bằng các thí nghiệm về dịch chuyển của các thiên hà (định luật Hubble) giải thích nguồn gốc và sự phát triển của vũ trụ Các nhà thiên văn học vừa đạt được một bước tiến mới trong việc trả lời câu hỏi trong việc trả lời chúng ta sinh ra từ đâu Các hành tinh và những gì tồn tại trên chúng, bao gồm cả loài người trên Trái đất, đều bắt nguồn từ bụi vũ trụ mà hầu hết được sinh ra từ những vì sao chết
+ Về nguồn gốc sự sống trên bề mặt Trái đất hay sự hình thành và phát triển của sinh quyển trải qua 3 giai đoạn có tính kế thừa: Giai đoạn tiến hoá hoá học, giai đoạn tiến hoá tiền sinh học và giai đoạn tiến hoá sinh học hình thành sinh quyển Sinh quyển là quyển mới nhất của Trái đất, bao gồm lớp trên cùng của thạch quyển, toàn bộ thuỷ quyển, tầng đối lưu, tầng bình lưu của khí quyển, nơi các điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sống phát triển Sinh quyển của Trái đất
bao gồm các loài động vật, thực vật, vi khuẩn, nấm từ sinh vật đơn bào nguyên thuỷ đến các dạng đa bào tiến hoá phức tạp
(Trang 173, sách Tài liệu giáo khoa chuyên sinh học THPT, Phạm Văn Lập)
*Tư liệu tham khảo:
1 Sự tiến hoá của quang hợp:
Oxy trong khí quyển lần đầu tiên được tạo nên bởi tác động của ánh sáng cực tím lên hơi nước Sau đó nhiều phân tử hữu cơ bị oxy hoá và sự cung cấp chất hữu cơ tự nhiên bị giảm dần Oxy của khí quyển cũng có hại vì nó tác
Trang 28dụng với nước để tạo thành hyđro peroxit ( H2O2) Chất này tác động lên ARN và ADN và có khả năng phá huỷ cấu trúc di truyền của tế bào Kết quả
là sự tích luỹ oxy trong khí quyển tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật
có khả năng tạo được enzim catalaz Enzim này bảo vệ chống lại hiệu ứng của hydro peroxit bằng cách biến đổi nó trở lại thành oxy và nước
Cũng khoảng thời gian đó, một nhóm chất hoá học được gọi là porphyrin trở nên quan trọng Các phân tử của chất này chứa phân tử sắt hoặc magnesium có thể oxy hoá một cách vô hại và tác động như một chất đệm bảo
vệ chống oxy Khâu đột kích chủ yếu trong sự tiến hoá phát sinh khi một số sinh vật bắt đầu sử dụng phân tử porphyrin đặc biệt, chất diệp lục a, để hấp thụ năng lượng ánh sáng và sử dụng năng lượng đó để tổng hợp ATP Bằng cách này mà quang hợp bắt đầu Nhiều sinh vật quang hợp đòi hỏi chỉ những chất vô cơ đơn giản và năng lượng mặt trời để tạo nên mọi chất cho cơ thể chúng, vì vậy chúng là tự nuôi sống mình hay là “tự dưỡng” Những thành tựu của chúng bảo đảm cho sự sống còn của sinh vật dị dưỡng khác giờ đây có thể
sử dụng nguồn dinh dưỡng mới vô cùng tận
(Trang 90, Sinh học-tập 2, W.D.Philip – T.J Chilton)
2 Quan niệm cổ đại về nguồn gốc sự sống:
- Aristole: từ thế kỉ IV trước công nguyên, Aristole cho rằng những vật thể sống phát sinh từ những vật thể không sống Ví dụ như: bọ chét phát sinh
từ rác cũ, chuột phát sinh từ bánh mì,…Sự sống bắt nguồn từ sự phát triển tự nhiên của những vật thể không sống Đây là một quan điểm duy vật tiến bộ (Trang 166, sách Tài liệu giáo khoa chuyên sinh học THPT, Phạm Văn Lập)
3 Quan niệm của Darwin:
- Darwin cho rằng sự sống bắt nguồn từ “một cái hồ nước ấm áp có chứa đầy các loại muối amôn và photphat, ánh sáng, nhiệt độ, điện, để các hợp
Trang 29chất protein có thể hình thành và trải qua những biến đổi phức tạp” Tiếp theo
đó, Darwin tìm cách lý giải luận điểm của mình: “Hiện nay, những điều kiện như thế nếu tồn tại sẽ bị biến mất ngay lập tức, ngoại trừ trước khi tất cả các sinh vật sống đều được sinh ra” Nói một cách khác, sự hình thành các dạng sống phức tạp hiện nay đã ngăn cản sự tạo thành những hợp chất hữu cơ cơ bản trên Trái đất
(Trang 167, sách Tài liệu giáo khoa chuyên sinh học THPT, Phạm Văn Lập)
4 Quan niệm của F.Ăngghen(1878):
- Sự sống không tồn tại vĩnh cửu, cũng không tự sinh bất ngờ mà nó xuất hiện trong quá trình tiến hoá của vật chất ở khắp nơi và bất cứ lúc nào có những điều kiện cần thiết Ănghghen đã dựa vào các thành tựu khoa học đương thời đề ra lời tiên đoán nổi tiếng: “Sự sống nhất định đã hình thành theo phương thức “hoá học” Trong thiên nhiên các chất hữu cơ đó chỉ được tổng hợp trong các cơ thể sống (tổng hợp sinh học)
(Trang 116, sách Học thuyết tiến hoá, Trần Bá Hoành)
Bài 33
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINH GIỚI QUA CÁC ĐẠI ĐỊA CHẤT
*Tư liệu bổ sung:
1 Đại nguyên sinh và Đại Thái cổ: Thời kì này Trái đất vẫn trong giai đoạn kiến tạo mạnh mẽ, có sự phân bố lại lục địa và đại dương Trên cạn núi lửa hoạt động, tia tử ngoại tác động trực tiếp lên bề mặt Trái đất dẫn đến chỉ xuất hiện sinh vật bậc thấp và vẫn sống tập trung dưới nước
2 Đại Cổ sinh (Paleozoic): Từ Paleozoic có nguồn gốc từ tiếng Hi lạp Palaico (cổ, cũ) và zôin (động vật) có nghĩa là “sự sống cổ”
+ Đặc trưng của Đại cổ sinh là sự phát triển cực thịnh của Tôm ba lá (Trilobita) trong môi trường biển, sự xâm chiếm môi trường cạn của động, thực
Trang 30vật, sự xuất hiện của giới Nấm trên cạn trong kỉ Silua, sự phát triển cực thịnh của Quyết và côn trùng khổng lồ, sự ra đời của bò sát chịu được khô hạn Đại này kéo dài trong khoảng 300 triệu năm và kết thúc bởi sự tuyệt chủng Pecmi (Trang 177, sách Tài liệu giáo khoa chuyên sinh học THPT, Phạm Văn Lập) 2.1 Kỉ Cambri:
- Kéo dài khoảng 70 triệu năm Cambri là tên gọi lấy theo tên cũ của xứ Wales miền Bắc nước Anh do Adam Sedgwick xác định
2.2 Kỉ Silua:
- Kéo dài khoảng 30 triệu năm Tên gọi của kỉ được đặt theo tên gọi một
bộ tộc sống ở xứ Walles là người Silurea
(Trang 128, sách Học thuyết tiến hóa, Trần Bá Hoành) 2.3 Kỉ Ocđôvic:
- Được đặt theo tên gọi của một bộ lạc người Ocđôvic đã từng sinh sống tại vùng đất thuộc miền Bắc xứ Walles ngày nay do Charles Lapworth đưa ra năm 1879
(Trang178, sách Tài liệu giáo khoa chuyên sinh học THPT, Phạm Văn Lập) 2.4 Kỉ Đêvôn:
- Kỉ này được đặt tên theo tên gọi của một quận của Anh là Devonshire
(Trang 129, sách Học thuyết tiến hoá, Trần Bá Hoành) 2.5 Kỉ Cacbon (Than đá):
- Kéo dài khoảng 60 triệu năm Kỉ Cacbon được đặt tên theo các tầng than đá rộng lớn có niên đại vào thời kì này là được tìm thấy tại Tây Âu và Đông Bắc Mĩ
(Trang 181, sách Tài liệu giáo khoa chuyên sinh học THPT, Phạm Văn Lập) 2.5 Kỉ Pecmi:
- Kéo dài khoảng 50 triệu năm là kỉ cuối cùng của đại Cổ sinh Kỉ Pecmi được Roderick Murchison đặt tên trong thập niên 1840, theo khu vực được khai quật ở thành phố Pecmi của Nga
Trang 31(Trang 182, sách Tài liệu giáo khoa chuyên sinh học THPT, Phạm Văn Lập)
→ Sự kiện quan trọng nhất trong đại Cổ sinh là sự chinh phục đất liền của thực vật, động vật đã được vi khuẩn, tảo xanh và địa y chuẩn bị trước Điều kiện sống trên cạn phức tạp hơn dưới nước nên chọn lọc tự nhiên đã làm cho cơ thể thực vật động vật phức tạp hơn về tổ chức, hoàn thiện hơn về cách sinh sản
(Trang 132, sách Học thuyết tiến hoá, Trần Bá Hoành)
3 Đại Trung sinh (Mesozoic) có nghĩa là “các động vật giai đoạn giữa” Trong tiếng Hi Lạp: Meso là giữa và zoion là động vật Đại Trung sinh có các biến động lớn về kiến tạo địa chất, biến đổi về khí hậu, tiến hoá trong sinh giới Các lục địa dần dần di chuyển ra xa nhau đến vị trí như ngày nay
3.1 Kỉ Triat (Tam điệp):
Tên gọi Triat do Fiendrich Von Alberti xác định từ năm 1834 do kết cấu địa chất thời kì này có 3 tầng rõ rệt trên cùng là tầng đá đỏ, giữa là lớp đá phấn màu
trắng và dưới cùng là đá phiến đất sét màu đen được tìm thấy nhiều nơi tại Đức và Bắc Âu
3.2 Kỉ Jura:
Tên gọi kỉ Jura do Alexandre Brogniart xác định dựa trên đặc trưng lớp
đá vôi rộng lớn thuộc kỉ này tìm thấy ở dãy núi Jura trong vùng giáp ranh giữa Đức, Pháp và Thuỵ Sĩ
3.3 Kỉ Krêta (Phấn trắng):
Có nguồn gốc từ tiếng Latinh Krêta nghĩa là phấn trắng do Jeand’Omalius d’Halloy định nghĩa năm 1822, dựa theo cấu trúc các địa tầng trong lòng chảo Paris chứa tầng đá phấn canxi cacbonnat có nguồn gốc từ vỏ ngoài trùng lỗ Foraminifera
đã phát triển từ kỉ Jura
(Trang 184, sách Tài liệu giáo khoa chuyên sinh học THPT, Phạm Văn Lập)
Trang 32→ Nhìn chung, đại Trung sinh là thời đại của bò sát – Bò sát đã phát triển ưu thế tuyệt đối và bắt đầu bị tiêu diệt cũng ở giai đoạn này Chỉ ở xích đạo còn lại những bò sát lớn như cá sấu Phần lớn bò sát còn sống sót (thằn lằn, rắn) đều có kích thước nhỏ bé Sự diệt vong nhanh chóng của phần lớn bò sát đã tạo điều kiện cho nhóm động vật máu nóng phát triển
(Trang 136, sách Học thuyết tiến hoá, Trần Bá Hoành)
*Tư liệu tham khảo:
1 Sự kiện tuyệt chủng kỉ Pecmi – Triat:
- Kỉ Pecmi kết thúc với sự tuyệt chủng lớn nhất trong lịch sử sự sống, có 90% đến 95% số loài sinh vật biển và khoảng 70% các loài động vật có xương sống trên cạn đã tuyệt chủng
- Hiện nay vẫn tồn tại nhiều giả thuyết về nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng này:
- Sự phun trào mácma gây nên sự nóng chảy của lớp đá bazan, sự khô hạn trong lục địa và sự suy giảm môi trường sống ven biển
- Sự phun trào khí sulfua hiđrô từ lòng nước biển trước tiên do sự suy giảm hàm lượng ôxi hoà tan trong nước theo chu kì đã tạo điều kiện cho vi khuẩn yếm khí phát triển mạnh và nồng độ sulfua hiđrô trong khí quyển tăng lên trong vài trăm năm đủ để tiêu diệt hầu hết các loài sinh vật
- Khí sulfua hiđrô trong khí quyển phân huỷ tầng ôzôn làm cho tia UV tác dụng lên bề mặt Trái đất tiêu diệt thêm một số loài còn sống sót
- Năm 2006, một nhóm các nhà khoa học ở Đại học Ohio Hoa Kì cho rằng bằng chứng cho thấy tồn tại một hố do thiên thạch gây ra với đường kính khoảng 500 km tại châu Nam cực Hố này nằm ở độ sâu 1,6 km phía dưới lớp băng của khu vực vung Wilkes ở miền đông châu Nam cực và chính sự va chạm với thiên thạch này đã gây ra sự kiện tuyệt chủng kỉ Pecmi - kỉ Triat (Trang 182, sách Tài liệu giáo khoa chuyên sinh học THPT, Phạm Văn Lập)
Trang 332 Những nhân tố làm thay đổi điều kiện sống trên Trái đất:
- Mặt đất có thể bị nâng lên hoặc hạ xuống một cách chậm chạp, hoặc mặt đất cũng có thể di chuyển theo chiều ngang Những chuyển động như vậy diễn ra qua thời gian lâu dài sẽ tạo nên những nếp uốn của vỏ Trái đất gọi là chuyển động tạo núi Do chuyển động này, nhiều miền được nhô cao thành núi Có những miền khác lại sụt xuống thành biển Sự xuất hiện những dãy núi lớn ảnh hưởng nhiều tới khí hậu, phân hoá khí hậu duyên hải ẩm và khí hậu lục địa khô
- Chuyển động tạo núi thường kèm theo các hiện tượng động đất và phun lửa làm cho sinh vật bị tiêu diệt hàng loạt
- Sự phát triển của băng hà cũng là một nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ tới khí hậu Băng hà phát triển có thể liên quan với những thời kì mặt trời hoạt động yếu hơn do sự thay đổi độ nghiêng của trục Trái đất Trong lịch sử Trái đất có nhiều thời kì nóng, lạnh xen kẽ Thời kì khí hậu lạnh tương ứng với sự phát triển mạnh của băng hà
- Ngoài ra, bản thân sự tồn tại và phát triển của sinh vật cũng là nhân tố làm thay đổi điều kiện sống trên quả đất
(Trang 124, sách Học thuyết tiến hoá, Trần Bá Hoành)
Bài 34
SỰ PHÁT SINH LOÀI NGƯỜI
*Tư liệu bổ sung:
1 Có thể nói Linnê là người đầu tiên xếp con người vào hệ thống phân loại sinh giới
Vào năm 1758, trong lần xuất bản 2 cuốn Systema Nature (Hệ thống tự nhiên) Linnê đã xếp người vào bộ Primates (bộ Linh trưởng) chung với Khỉ, vượn, các con vượn cáo, dơi và các con dơi Chính Linnê đã đặt tên Homo cho 2 giống người gồm 2 loài : Homo sapien và Homo troglodytes Homo
Trang 34troglodytes là loài người được mô tả bởi các nhà du lịch: chỉ hoạt động ban đêm và có đặc tính trung gian giữa đười ươi và hắc tinh tinh (Khỉ giả nhân) Đối với Linnê chỉ có 1 loài Homo sapiens là chủ yếu, gồm 4 chủng người khác nhau:
+ Người Âu da trắng + Người Mĩ da đỏ
+ Người Á da vàng
+ Người Phi da đen
(Trang 5, sách Nguồn gốc loài người, Phạm Thành Hổ)
- Vị trí phân loại con người hiện nay:
Trước tiên, con người cũng có thể xếp vào các nhóm phân loại như những sinh vật khác:
Loài: Homo sapiens
(Trang 15, sách Nguồn gốc loài người, Phạm Thành Hổ)
Trang 35ngày thứ 18, lúc đầu chỉ có một tâm thất, một tâm nhĩ như ở cá, sau đó tâm nhĩ chia làm hai và cuối cùng mới thành tim 4 ngăn
- Lúc 1 tháng, não trong phôi người gồm 5 phần riêng rẽ nối tiếp nhau giống não cá; dần dần bán cầu đại não phát triển mạnh, phủ lên các phần khác của bộ não Tới tháng thứ 2, phôi người còn có một cái đuôi khá dài, đuôi cùng phân đốt như ở cột sống và tuỷ cũng đi tới tận mút đuôi Về sau đốt sống cụt thứ 5 tiêu biến và đuôi ngừng sinh trưởng biến thành xương cụt, khuất dưới xương chậu mà không thò ra ngoài Ở giai đoạn 5 – 6 tháng, phôi người còn có một lớp lông rậm và mịn phủ khắp mình trừ môi, lòng bàn tay, gam bàn chân Đến 7 tháng các chi trong phôi người vẫn còn giống khỉ nhiều hơn
(Trang 143, sách Học thuyết tiến hoá, Trần Bá Hoành)
3 Phương pháp lai phân tử (lai giữa ADN với ADN hoặc ADN với ARN) để xác định mối quan hệ họ hàng giữa loài người với các loài linh trưởng công việc này có thể tiến hành theo nguyên tắc sau: tách ADN của người và ADN của loài linh trưởng cần so sánh Sau đó làm biến tính các loại ADN này để tách chúng thành các sợi đơn Trộn các sợi ADN đơn của người với ADN của loài linh trưởng để cho chúng bắt đôi với nhau tạo nên phân tử ADN lai Tiếp đến, xử lí nhiệt để xác định nhiệt độ tại đó phân tử ADN lai bị biến tính thanh hai mạch Về nguyên tắc, nếu trình tự nuclêôtit của 2 loài càng giống nhau thì càng có nhiều đoạn bắt đôi bổ sung giữa hai mạch của hai loài,
do vậy nhiệt độ làm biến tính phân tử lai càng lớn Do vậy, so sánh nhiệt độ làm biến tính của các phân tử lai giữa từng cặp loài một, chúng ta có thể xác định được mối quan hệ họ hàng giữa các loài
(Trang 139, sách Giáo viên sinh học 12)
*Tư liệu tham khảo:
* Lao động - đặc điểm cơ bản phân biệt người với động vật:
Trang 36Biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động theo những mục đích nhất định
là điểm cở bản phân biệt người với động vật Vượn người ngày nay chỉ biết
sử dụng những công cụ có sẵn trong tự nhiên (hòn đá, cành cây, ….) một cách ngẫu nhiên, nhất thời và khi cần chúng cũng biết cải biến đôi chút công cụ đó nhưng bằng các cơ quan, bộ phận trên cơ thể chúng (dùng tay bẻ gãy cành cây cho ngắn, dùng răng để tước một cành cây cho nhọn) Trong khi đó, con người tối cổ đã biết chế tạo công cụ bằng một vật trung gian, ví dụ dùng một hòn đá lớn đập vỡ hòn đá nhỏ để làm ra những mảnh tước có cạnh sắc Công
cụ cuội ghè của người tối cổ đã phản ánh hoạt động chế tạo công cụ có hệ thống, có mục đích Bằng công cụ lao động con người đã tác động vào tự nhiên, cải tạo hoàn cảnh Lao động, hiểu như một hoạt động chế tạo công cụ,
đã làm cho con người thoát khỏi trình độ động vật
* Các sự kiện quan trọng trong quá trình phát sinh loài người:
- Bàn tay trở thành cơ quan chế tạo công cụ lao động:
Tổ tiên xa xưa của loài người là những dạng vượn người sống thành đàn trên cây, ăn quả, lá cây, sâu bọ, trứng chim,…Cuộc sống leo trèo đã phân hoá chức năng các chi Chân trước để nắm cành cây, hái quả, đưa thức ăn vào miệng Chân sau đỡ lấy toàn thân; khi di chuyển trên cây, thân gần như đứng thẳng
Vào nửa sau của kỉ thứ ba (Đại Tân sinh) băng hà tràn xuống phía Nam, khí hậu khô lạnh, rừng thu hẹp Vượn người phương Nam buộc phải chuyển xuống mặt đất Dáng đứng thẳng, vốn có mầm mống từ lối sống trên cây, khi chuyển xuống mặt đất nhiều thú dữ, đã có tác dụng phát hiện được kẻ thù từ
xa Vượn người càng tiến ra nơi trống trải thì CLTN càng củng cố đặc điểm
có lợi ngày nay
Dáng đi thẳng người đã kéo theo hàng loạt biến đổi hình thái, cấu tạo trên cơ thể vượn người (cột sống, lồng ngực, xương chậu,…) nhưng hệ quả
Trang 37quan trọng nhất là giải phóng hai chi trước khỏi chức năng di chuyển Qua hàng vạn năm, dưới tác dụng của lao động, bàn tay được hoàn thiện dần thực hiện được những động tác ngày càng phức tạp
- Sự phát triển tiếng nói có âm tiết:
Khi vượn người buộc chuyển xuống mặt đất nhiều thú dữ thì bản năng sống thành đàn được củng cố Sự yếu ớt của từng cá thể được bù lại bởi sức mạnh của số đông, dựa vào nhau để tự vệ, kiếm ăn Việc chế tạo công cụ bằng
đá phải có nhiều cá thể tham gia Muốn đấu tranh có hiệu quả với thiên nhiên phải truyền đạt kinh nghiệm cho người khác
Lao động trong tập thể đã thúc đẩy nhu cầu trao đổi ý kiến giữa các thành viên bộ máy phát âm, có thuận lợi từ sự biến đổi tư thế đầu và cổ do đi thẳng người, đã được hoàn thiện dần Từ những tiếng hú kéo dài có nội dung thông tin nghèo nàn của vượn người đã dần dần hình thành tiếng nói có âm thanh tách bạch từng tiếng, nội dung thông tin ngày càng phong phú Cằm là nơi bám các cơ lưỡi nên tiếng nói càng phát triển thì lồi cằm càng dô ra
Sự phát triển của tiếng nói, và sau này là chữ viết, đã tạo điều kiện cho các thế hệ loài người truyền đạt kinh nghiệm đấu tranh thiên nhiên và xã hội, tiết kiệm công sức mò mẫm tự phát Sự truyền đạt kinh nghiệm qua các thế hệ bằng tiếng nói và chữ viết được gọi là sự di truyền tín hiệu độc đáo của xã hội loài người, và phân biệt với sự di truyền sinh học được thực hiện qua ADN
- Sự phát triển bộ não và hình thành ý thức:
Sự phát triển của lao động và tiếng nói đã kích thích sự phát triển của não bộ
và các cơ quan cảm giác Tương ứng với tính thuận tay phải trong lao động, bán cầu não trái của người to hơn bán cầu não phải Tiếng nói ảnh hưởng đến một số vùng vỏ não như thuỳ trán, thuỳ thái dương, hình thành một số trung khu mà động vật chưa có như vùng cử động tiếng nói và vùng hiểu tiếng nói Do có hệ thống tín hiệu thứ 2 (tiếng nói, chữ viết là tín hiệu của tín hiệu – theo I.P.Pavlop) mà số
Trang 38lượng phản xạ có điều kiện ở người phong phú hơn ở động vật rất nhiều, đặc biệt nào người có khả năng phản ánh thực tại khách quan, dưới dạng trừu tượng khái quát, trên cơ sở đó hình thành ý thức Nhờ có trí khôn, tổ tiên loài người đã phát triển vượt lên tất cả các động vật khác
- Sự hình thành đời sống văn hoá:
Nhờ sự phát triển công cụ lao động, nguồn thức ăn thay đổi về số lượng
và chất lượng Ở một giai đoạn nhất định, tổ tiên loài người đã chuyển từ thức
ăn thuần túy thực vật sang việc dùng thịt săn bắn làm thức ăn, giúp cho việc tăng cường thể lực, thúc đẩy sự phát triển của não bộ Con người đã biết lợi dụng lửa lấy được trong các vụ cháy rừng rồi biết giữ lửa, làm ra lửa để nấu chín thức ăn Thức ăn chín đã làm tăng hiệu suất của quá trình tiêu hoá, làm cho xương hàm và bộ răng bớt thô, răng nanh thu nhỏ
Từ thế hệ này sang thế hệ khác, công cụ và hình thức lao động càng hoàn thiện Ngoài việc săn bắn và chăn nuôi, con người đã biết trồng trọt, dệt vải, làm đồ gốm chế tạo kim loại Công nghệ và thương mại, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học đã ra đời
Từ các bộ lạc đã hình thành các dân tộc, quốc gia với chính trị, luật pháp
Bảng tư liệu bổ sung kênh chữ:
Bài 32 I.1
4
- Quan niệm của Oparin – Halden
- Quan niệm hiện nay được nhiều người chấp nhận
- Kiến thức mở rộng trong giảng bài mới
- Củng cố bài học
Bài 33 II.2 Tên gọi và đặc điểm của một số
Đại, kỉ - Kiến thức mở rộng trong giảng bài mới Bài 34 I.1