Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tếChiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia đều nhằm huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để tạo nên sự tiến bộ toàn
Trang 1Câu 1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia đều nhằm huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để tạo nên sự tiến bộ toàn diện cả nền kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó tăng trưởng kinh tế là điều kiện cơ bản cần thiết cho sự phát triển
- Khái niệm tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm tổng giá trị gia tăng của tất cả các hàng hóa và dịch vụ trong một năm
Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế của thời kỳ này so với thời kỳ khác, người ta thường dùng các thước đo sự gia tăng thực tế về quy mô và tốc độ giá trị tổng sản phẩm trong nước (GDP) và tổng thu nhập quốc gia (GNI) tính trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân và tính theo bình quân đầu người
Khái niệm Tổng sản phẩm trong nước: GDP là tổng giá trị gia tăng của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trên 1 phạm vi lãnh thổ, 1 quốc gia trong một thời kỳ nhất định, thường
là một năm Trong đó giá trị gia tăng bằng giá trị sản xuất trừ đi chi phí trung gian (VA = GO – IC)
Khái niệm tổng thu nhập quốc gia: GNI là tổng giá trị gia tăng của tất cả các hàng hóa và dịch vụ do công dân của một nước tạo ra trong 1 thời kỳ nhất định thường là một năm
GNI = GDP + Thu nhập từ các yếu tố sản xuất thuộc sở hữu trong nước ở nước ngoài - Thu nhập từ các yếu tố sản xuất thuộc sản xuất nước ngoài ở trong nước
Như vậy, bản chất của tăng trưởng kinh tế: Phản ánh sự biến đổi về lượng của nền kinh tế, không phản ánh gì về chất lượng nguồn nhân lực của nền kinh tế, củng không phản ánh gì về trình độ công nghệ của nền kinh tế, củng như không phản ánh gì về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của nền kinh tế Như vậy, nó không bàn tới vấn đề biến đổi môi trường hay xã hội
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng: Gia tăng quy mô GDP và GDP/người của quốc gia; Gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế; Rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước; Tạo điều kiện vật chất cho phát triển xã hội
- Khái niệm phát triển kinh tế: PTKT là tăng trưởng kinh tế gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư
Nội hàm khái niệm:
+ PTKT là tăng trưởng kinh tế nhưng tăng trưởng kinh tế chưa chắc chắn phát triển kinh
tế Vì sao có điều này,
Do tăng trưởng kinh tế chủ yếu do dựa vào bán tài nguyên thiên nhiên là chủ yếu mà tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, cạn kiệt không thể tính đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Ví dụ: APEC chủ yếu bán dầu thô, có thu nhập bình quân đầu người cao nhưng lại không được xếp vào nền kinh tế phát triển
Trang 2Tăng trưởng kinh tế do không chủ yếu dựa vào năng lực nội sinh mà làm gia tăng năng lực nội sinh
Năng lực nội sinh đó là nguồn nhân lực chất lượng cao; khả năng sang tạo KH-CN; dự trữ ngoại hối, dự trữ quốc gia; kết cấu hạ tầng
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ Tiến bộ ở đây được hiểu là tỷ trọng đóng góp trong 3 ngành cho GDP: NN giảm, CN&DV tăng; Tỷ lệ xuất khẩu so với GDP tăng lên (Ví dụ: Nếu tỷ trọng bằng 0, nền kinh tế không có hoạt động xuất khẩu, tỷ trọng nhỏ thì lạc hậu); Tỷ trọng lao động theo ngành: NN giảm, CN&DV tăng; Tỷ trọng dân cư nông thôn giảm, thành thị tăng lên
+ Nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá, tuy nhiên theo chỉ tiêu HDI do WHO đưa ra đó là: Thu nhập bình quân đầu người, số năm đi học trung bình, tuổi thọ bình quân đều tăng lên
- Khái niệm phát triển bền vững: là sự kết hợp chặc chẽ hài hòa, hợp lý 3 mặt:
KT-MT-XH
+ PTKT: đạt tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, dài hạn dựa trên những nền tảng vững chắc + XH: Gắn tăng trưởng, phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ
và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc
+ Môi trường: cần khai thác TNTN hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và tính đa dạng sinh học
Mối quan hệ giữa TTKT – PTKT:
TTKT và PTKT luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trong một thwoif gian dài là cơ sở để nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế, mở ra cơ hội cho việc thu hút cấc nguồn lực vào hoạt động kinh tế Nhờ
đó tạo điều kiện cho mọi người có sức lao động đều có cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế
để tăng thu nhập, đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống
Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở vật chất cho quá trình tái sản xuất và thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ
TTKT tạo điều kiện để tăng thu cho ngân sách nhà nước Nhờ đó, Nhà nước có điều kiện tăng đầu tư công và chi tiêu công để vừa trực tiếp thúc đẩy PTKT, vừa đầu tư vào các lĩnh vực nhằm đảm bảo thực hiện công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, tạo động lực thúc đẩy kinh tế
PTKT được thực hiện tạo nên nhiều điều kiện thuận lợi cho việc huy động, thu hút các nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tốc độ cao và ổn định
Trang 3Ở những nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp, nếu không đạt được tăng trưởng cao và lien tục trong nhiều năm, thì khó có điều kiện để nâng cao trình độ PTKT – XH của đất nươc và cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ để phát triển kinh tế TTKT chỉ mới là sự gia tăng về lượng và thuần túy về KT, chứ chưa phải là sự biến đổi về chất của nền
KT và chưa gắn với các vấn đề XH Hơn nữa, TTKT có thể được thực hiện bởi những phương thúc khác nhau Nếu phương thức TTKT không gắn với thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, không làm gia tăng năng lực nội sinh mà trái lại còn làm xói mòn năng lực nội sinh của nền kinh tế thì TTKT như vậy không dẫn tới phát triển kinh tế Nếu phương thức TTKT chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho nhóm dân cư này , vùng này, mà không đem lại lợi ích hoặc đem lại lợi ích không đáng kể cho nhóm dân cư khác, vùng khác thì TTKT như vậy sẽ khoét sâu thêm bất bình đẳng xã hội Những phương thức như vậy cần phải khắc phục
Trang 4Câu 2 Vai trò của nhà nước trong đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế theo yêu cầu phát triển bền vững.
Nền kinh tế thị trường tuy có tính ưu việt của nó nhưng cũng chứa đựng nhiều khuyết tật, những rũi ro thị trường, gây tác động không tốt đến tăng trưởng và PTKT trên cả hai phương diện nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội Chẳng hạn như: Vấn đề độc quyền thị trường làm tổn hại đến lợi ích người tiêu dùng; hay trong nhiều trường hợp tín hiệu thị trường phản ánh không đầy đủ, thậm chí phản ánh sai lệch quan hệ cung – cầu thực tế; hay gây nên thiếu hụt hàng hóa công cộng so với nhu cầu cần thiết; hay làm nảy sinh tình trạng thông tin không đối xứng; thường gây nên sự bất ổn định kinh tế và bất công bằng xã hội Như vậy, để đạt được sự tăng trưởng, PTKT nhanh và bền vững, vừa phải sử dụng cơ chế thị trường, vừa phải có
sự quản lý, điều tiết của Nhà nước nhằm mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế theo yêu cầu phát triển bền vững, ngoài chức năng xây dựng và bảo vệ các khung khổ PL
Trước tiên, cần hiểu một số khái niệm liên quan
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm tổng giá trị gia tăng của tất cả các hàng hóa và dịch
vụ trong một năm
Phát triển kinh tế là tăng trưởng kinh tế gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư
Phát triển bền vững là là sự kết hợp chặc chẽ hài hòa, hợp lý 3 mặt: KT-MT-XH
Vai trò tứ nhất, NN định hướng sự phát triển.
Một là, thông qua chiến lược phát triển KT-XH Định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, vùng,…Nếu định hướng phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn, khoa học thì là điều kiện tốt
để đẩy nhanh sự phát triển KT-XH Còn định hướng mà duy ý chí là tác nhân gây kiềm hãm sự phát triển
Hai là, thông qua kế hoạch hóa vĩ mô Các mục tiêu định hướng của kinh tế vĩ mô như: sản lượng, việc làm, thu nhập, ổn định giá, kiểm soát lạm phát, kinh tế đối ngoại,
Ba là, thông qua hệ thống pháp luật Nhà nước nào cũng dùng hệ thống pháp luật kinh tế
để định hướng phát triển kinh tế như luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật thương mại cạnh tranh,…Ví dụ: Luật đầu tư: Được phép hay không cho phép đầu tư? Hay được phép đầu tư vào đâu? Chẳng hạn, 12/1987 Việt Nam mới ban hành Luật để đầu tư nước ngoài vào, 1988 luật mới được thực hiện)
Bốn là, định hướng thông qua hệ thống chính sách kinh tế Hệ thống chính sách như tài chính, tiền tệ, thu nhập, kinh tế đối ngoại,…; Thông qua chính sách thuế; Thông qua chính sách chi tiêu của chính phủ
Trang 5Năm là, định hướng thông qua thực lực kinh tế của Nhà nước Thực lực kinh tế bao gồm: Ngân sách NN, Ngân hàng NN, Dữ trữ quốc gia, Doanh nghiệp NN Nhà nước sử dụng thực lực kinh tế Nhà nước để điều tiết nền kinh tế Chẳng hạn, khi nền kinh tế quá nóng thì giảm phát hành tiền tệ, hút bớt tiền trong lưu thông bằng lãi suất tiền gửi cao, phát hành công trái; Khi nền kinh tế quá lạnh thì thực hiện chính sách tài chính lỏng, giảm lãi suất cho vay, kích thích đầu tư, kích thích tiêu dùng qua tăng lương, mở rộng chi tiêu chính phủ, tạo việc làm Từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Vai trò thứ 2, NN tạo môi trường kinh doanh
Một là, tạo môi trường pháp lý Môi trường pháp lý chính là luật, văn bản thi hành luật trên lĩnh vực kinh tế thật sự đồng bộ, đầy đủ, hợp lý vừa giúp NN điều tiết tốt hơn vừa đảm bảo
an toàn, ổn định để doanh nghiệp tập trung phát triển kinh tế
Hai là, tạo môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô do 3 yếu tố cấu thành: Thị trường (Đầu vào- bán các yếu tố đàu vào cho sản xuất; đầu ra – bán sản phẩm tiêu dùng sinh hoạt) và các yếu tố của thị trường (cung – cầu; giá cả, sự thỏa thuận giữa cung – cầu, tiền tệ); Chính sách tài chính, tiền tệ, thuế; Kết cấu
hạ tầng
Môi trường kinh tế vĩ mô có tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế Nếu 3 yếu tố cấu thành tốt: Thị trường đầy đủ, các yếu tố của thị trường ổn định, lạm phát được kiểm soát, tài chính minh bạch, công khai; Chính sách tiền tệ linh hoạt (lúc cần thì nới – lãi suất, thắc – theo nhịp độ thị trường); Thuế (vừa kích thích phát triển, vừa có nguồn thu cao) phải linh hoạt; Kết cấu hạ tầng phải hiện đại, đáp ứng được yêu cầu sản xuất
Ba là, tạo môi trường chính trị - xã hội ổn định từ đó tạo niềm tin, thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Vai trò thứ ba, đảm bảo an sinh xã hội.
Phát triển kinh tế suy cho cùng là để nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho mọi thành viên trong xã hội Tuy nhiên trong quá trình phát triển kinh tế có thể nảy sinh bất bình đẳng trong phân phối, nảy sinh những mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề
xã hội, nảy sinh mâu thuẫn trong sự phát triển giữ các ngành, các vùng Vì vậy, vai trò của nhà nước trong lĩnh vực này là thực hiện sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, ban hành và thực thi các chính sách nhằm tạo ra một xã hội lành mạnh, đáp ứng được những mục tiêu xã hội của phát triển
Mặc dù nguyên tắc chung là như vậy, nhưng phạm vi và mức độ can thiệp của Nhà nước
ta trong giai đoạn hiện nay không hoàn toàn giống với các nước khác Nền KT Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi, do đó sự can thiệp của Nhà nước không chỉ là khắc phục các
Trang 6khuyết tật của cơ chế thị trường đang trong quá trình chuyển đổi, xác lập, mà còn là quá trình tạo dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; không chỉ trong khuôn khổ quốc gia, mà còn phải đáp ứng yêu cẩu của hội nhập quốc tế; không chỉ khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, mà còn khắc phục dấu ấn của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hành chính quan lieu bao cấp; phải xây dựng, thiết lập một môi trường thông thoáng và một thể chế đồng bộ, đảm bảo cho nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, theo định hướng XHCN
Trang 7Câu 3 Công bằng xã hội và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội Liên hệ Việt Nam hiện nay?
Với quan niệm công bằng xã hội, nó mang tính không phổ quát trên toàn thế giới, ở mỗi
giai cấp, nhà nước, chế độ khác nhau thì có quan niệm khác nhau
Như từ điển Bách khoa triết học của Liên Xô (cũ): Cbxh là phạm trù đạo đức- pháp quyền, đồng thời cũng là khái niệm chính trị - xã hội Khái niệm công bằng xã hội bao hàm trong
đó nhiều yêu cầu về sự phù hợp giữa vai trò thực tiễn của cá nhân, nhóm xã hội với địa vị của
họ trong đời sống xã hội, giữa quyền và nghĩa vụ của họ, giữa làm và hưởng, giữ lao động và sự trả công, giữa tội phạm và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội Sự không phù hợp trong những quan hệ đó được đánh giá là sự bất công
Đại từ điển của Trung Quốc: CBXH là một giá trị định hướng mà con người hướng tới nhằm thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về đời sống VC- TT trong mối quan hệ tương đối hợp lý giữa các cá nhân và các nhóm xã hội; phù hợp với sự cống hiến của mỗi cá nhân và với khả năng hiện thực của những điều kiện nhất định CBXH là sự công bằng trong cơ hội lựa chọn và tham gia vào các quá trình hoạt động KT-XH, nhờ đó mà đạt được sự công bằng trong việc hưởng thụ các lợi ích kinh tế, trước hết là thu nhập từ quá trình đó mang lại
Kinh tế học (nhìn theo hai chiều): Công bằng theo chiều ngang tức là đối xử ngang nhau với những người có đóng góp như nhau Công bằng theo chiều dọc, tức là đối xử khác nhau với những người có điều kiện khác nhau (do có khác biệt bẩm sinh hoặc điều kiện xã hội khác nhau)
Như vậy, có thể hiểu khái quát CBXH là:
CBXH phạm trù có tính lịch sử và giai cấp;
CBXH có nội dung rộng trên mọi mặt của đời sống xã hội, nhưng trong đó CBXH trên lĩnh vực kinh tế là quan trọng nhất;
CBXH đòi hỏi phải thực hiện các nguyên tắc: Đảm bảo sự tương xứng/phù hợp giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa làm và hưởng, giữa lao động và sự trả công, giữa tội phạm và bị trừng phạt, giữa công lao đóng góp và sự thừa nhận của XH Nguyên tắc này được thực hiện bởi cơ chế thị trường; Đảm bảo xóa bỏ sự nghèo khổ cùng cực, nghèo khổ tuyệt đối Nguyên tắc này được thực hiện bởi sự điều tiết của nhà nước và sự tham gia của cộng đồng
Xã hội tồn tại những người yếu thế (người già, trẻ em dưới tuổi lao động, rũi ro tai nạn,…)
họ vẫn là những con người, họ cần hưởng những nhu cầu cơ bản nhất của con người Vì vậy, Nhà nước bảo đảm quyền đó của họ, như thế mới là CBXH Bởi, sự tồn tại của những người yếu thế trong xã hội là tất yếu khách quan
CBXH trong lĩnh vực kinh tế, ở điều kiện nước ta hiện nay được thể hiện CB về cơ hội lựa chọ và tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh; CB về cơ hội tiếp cận với các nguồn
Trang 8lực của sản xuất như vốn, lao động, đất đai, tri thức,…; CB trong phân phối thu nhập (theo lao động, phúc lợi xã hội hay vốn góp và tài sản Phân phối theo lao động là quan trọng nhất)
Còn tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm tổng giá trị gia tăng của tất cả các hàng hóa và
dịch vụ trong một năm
Mối quan hệ giữa TTKT với CBXH
Giữa TTKT và CBXH có mối quan hệ biện chứng, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn nhau
Sự thống nhất thể hiện ở:
Một là, TTKT là cơ sở, là điều kiện để nâng cao phúc lợi xã hội, thực hiện CBXH Thống
nhất là đi cùng chiều có TTKT thì có CBXH Bởi có TTKT thì:
Làm cho quỹ tái sx mở rộng nhiều lên từ đó nhiều việc làm mới được tạo ra, thu nhập tăng lên đó là nền tảng vật chất để nâng cao phúc lợi xã hội VD: trước đổi mới, TTKT không có (không đủ ăn) nên không đủ điều kiện để mở rộng sản xuất Sau đổi mới, đời sống xã hội ngày càng được nâng lên
Gia tăng quỹ dự trữ quốc gia, ngoại hối từ đó kịp thời, hiệu quả giải quyết những biến động lớn như thiên tai, dịch bệnh,… thoát khỏi nghèo khổ cùng cực VD: Thảm họa kép ở Nhật Bản, làm ảnh hưởng cuộc sống của hơn 60 vạn dân, chính nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính Phủ
đã giúp đời sống của nhân dân họ vượt qua được khó khăn
TTKT gia tăng ngân sách NN giúp cho việc xóa đói giảm nghèo nhanh hơn, hiệu quả hơn TTKT giúp phát triển kết cấu hạ tầng ở vùng sâu, xa, miền núi, hải đảo từ đó giúp người dân ở đây vươn lên làm giàu chính đáng, thực hiện đầy đủ hơn CBXH
Như vậy, nếu không có TTKT hoặc không có TTKT thì: Không có cơ sở vật chất, không
có điều kiện tài chính để thực hiện những vấn đề trên, tức là không thể thực hiện CBXH
Hai là, CBXH thúc đẩy TTKT Bởi vì:
CBXH sẽ khuyến khích người lao động học tập, nâng cao trình độ,… từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện hơn nữa năng suất lao động thúc đẩy TTKT đất nước
CBXH sẽ khuyến khích người lao động phát huy sang kiến, cải tiến kỹ thuật, làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy kinh tế phát triển
CBXH làm cho phân bổ nguồn lực sản xuất hợp lý hơn, có hiệu quả hơn từ đó thúc đẩy TTKT Vd: Phân bổ nguồn vốn trong các doanh nghiệp, đối với những doanh nghiệp sản xuất thì tăng vốn, còn doanh nghiệp nào kém hiệu quả thì kéo nguồn vốn lại ít hơn Vừa tránh được thất thoát vừa thu được lợi nhuận cao Kích thích được quá trình sản xuất, thúc đẩy TTKT
CBXH tạo ra xã hội đồng thuận, đoàn kết, loại bỏ được tham nhũng, thúc đẩy TTKT Vd:
Sự đoàn kết của người dân trước những vấn nạn, yếu kém của chính quyền địa phương, từ đó họ
Trang 9thay đổi thái độ, chọn lọc người có tài, tâm hơn nữa phục vụ cho sự phát triển chung của địa phương, đất nước
Ngoài ra, CBXH còn giải phóng mọi năng lực sản xuất của xã hội, thúc đẩy TTKT
Sự mâu thuẩn giữa TTKT với CBXH được thể hiện ở:
Một là, TTKT là cơ sở, là điều kiện để thực hiện CBXH, nhưng không phải cứ có TTKT
là có CBXH Vì sao có điều này?
Phương thức để đạt được TTKT và CBXH không giống nhau, do đó có thể đạt được TTKT mà lại không đạt được CBXH Vd: Các nguồn lực của TTKT (Lao động, vốn, TNTN,…) khác với nguồn lực của CBXH (sự điều tiết của nhà nước)
Trong nền kinh tế thị trường, ngoại trừ các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu công ích, còn lại các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Khi doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận họ sẽ tìm mọi cách để làm sao tối đa được lợi nhuận, họ sẽ đầu tư vào đâu để lợi nhuận nhất chứ không đặt ra ở đâu để đạt mục tiêu công bằng
Trong điều kiện nguồn lực có hạn, nếu tăng đầu tư cho mục tiêu TTKT thì phải giảm đầu
tư cho mục tiêu phúc lợi xã hội
Trong thực tế, có những biện pháp nhằm nâng cao phúc lợi xã hội nhưng lại triệt tiêu động lực thúc đẩy TTKT
Nói tóm lại: TTKT mới chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ để thực hiện CBXH; để thực hiện CBXH, ngoài điều kiện cần là TTKT, phải có điều kiện đủ, đó là cần có sự điều tiết của nhà nước và sự tham gia của cộng đồng
Hai là, CBXH nếu quá chú trọng vào phúc lợi xã hội, xem nhẹ lợi ích của người lao động,
thì có thể làm xuất hiện những yếu tố cản trở TTKT CBXH kiểu đó trở thành cào bằng, bình quân chủ nghĩa; làm tăng sự ỷ lại làm mất động lực TTKT Ví dụ như một số nước ở Châu Âu (Thụy Điển, Thụy Sĩ), TTKT họ khá cao, nên nền phúc lợi xã hội của họ lấy ý kiến thông qua dự luật “đài thọ” công dân nước họ khá cao nên dự luật của họ chưa được thông qua vì nhiều ý kiến cho rằng làm như vậy sẽ mất động lực TTKT
Liên hệ thực tế ở Việt Nam hiện nay
Trong suốt quá trình đổi mới kinh tế, Đảng CSVN không chỉ quan tâm đến thúc đảy TTKT, mà luôn quan tâm đến nâng cao đời sống của mọi tầng lớp nhân dân và thực hiện công bằng xã hội Qua các kỳ Đại hội Đảng, cho thấy được sự quyết tâm thực hiện mô hình gắn TTKT với CBXH, chẳng hạn:
Đại hội VI: Đưa ra quan điểm: Phân phối mang tính bình quân cào bằng; Giữa chúng có mối quan hệ biện chứng nhưng chưa chỉ rõ các nội dung của mối quan hệ và biện pháp, giải quyết mối quan hệ này
Trang 10Đại hội VII: Lần đầu tiên đưa đưa ra quan điểm chỉ đạo: Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển VH-XH, TTKT với tiến bộ xã hội Coi phát triển kinh tế là cơ sở là tiền đề
để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện tốt các chính sách xã hội là động lực thúc đẩy TTKT
Đại hội VIII: Tiếp tục bổ sung quan điểm ĐH VII
Đại hội IX: Tiếp tục đề ra quan điểm, phát triển nhanh bền vững, hiệu quả, bền vững, TTKT đi đôi với thực hiện tiến bộ và CBXH và bảo vệ môi trường
Đại hội XI: Nhấn mạnh: Thực hiện tốt CBXH trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể
Đại hội XII: Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống…
Như vậy, có thể nhận thấy những nội dung cơ bản của quan điểm kết hợp TTKT với CBXH của Đảng ta trên các vấn đề sau:
Trong nền kinh tế TT định hướng XHCN, TTKT với CBXH có mối quan hệ biện chứng, chúng làm tiền đề và tạo điều kiện cho nhau;
Nền KT thị trường đòi hỏi TTKT đến đâu phải thực hiện CBXH đến đó;
Thực hiện CBXH trong nền KT đa thành phần, đa sở hữu phải triệt để khắc phục những tàn dư của chế độ phân phối bình quân cào bằng như sai lầm của thời kỳ trước đổi mới;
Vai trò điều tiết và quản lý vĩ mô của NN là rất quan trọng để gắn TTKT với CBXH
Các giải pháp gắn TTKT với CBXH ở nước ta:
Thứ nhất, tạo môi trường đảm bảo cho tăng trưởng nhanh, bền vững và thực hiện công bằng xã hội
- Tạo môi trường pháp lý để kinh doanh bình đẳng, có tính cạnh tranh;
- Tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định;
- Tạo môi trường xã hội để thực hiện CBXH, thực thi dân chủ cơ sở và trợ giúp pháp lý cho người nghèo;
- Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng rộng khắp đến mọi vùng miền đáp ứng yêu cầu TTKT và xóa đói giảm nghèo
Thứ hai, thực hiện các chính sách và giải pháp phát triển các ngành, lĩnh vực đảm bảo tăng trưởng bền vững và xóa đói giảm nghèo
- Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn tiếp tục là hướng được quan tâm để có thể thực hiện xóa đói, giảm nghèo trên diện rộng.
Bởi, Việt Nam với khoảng 70% dân số là nông dân, người nghèo đặc biệt là nghèo về lương thực thực phẩm chủ yếu vẫn tập trung ở nông thôn và việc tạo thu nhập của họ gắn với