1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các điều kiện để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

8 158 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầu: Sự ra đời và phát triển của nền kinh tế tri thức (KTTT) là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lực lượng sản xuất xã hội. Hiện nay, có các nước phát triển có giá trị GDP người đạt mức 20.000 USD chủ yếu vận hành theo kinh tế tri thức. Còn những nước nào chỉ chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và tận dụng lao động giá rẻ để phát triển kinh tế thì đang gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình đó cho thấy, nhận thức đúng và từng bước áp dụng kinh tế tri thức vào các nước đang phát triển là một đòi hỏi khách quan. Đối với Việt Nam, thực hiện đang quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lực lượng sản xuất kém phát triển, bỏ qua chế độ TBCN, vì vậy tất yếu phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Ngay từ Đại hội lần thứ IX (2001), Đảng đã đề ra đường lối gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức. Đường lối đó đã, đang được triển khai thực hiện và tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) xác định: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên môi trường” . Sự đánh giá đúng đắn vị trí vai trò của KTTT còn thể hiện trong việc coi phát triển KTTT là phương hướng số một trong tám phương hướng cơ bản xây dựng nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Có thể coi đây là một trong những chủ trương có tính đột phá để rút ngắn quá trình CNH, HĐH ở nước ta và là nhân tố bảo đảm sự phát triển cân bằng, nhanh và bền vững của nền kinh tế nước nhà trong tương lai. Mặt khác, đây cũng là một chủ trương, đường lối đúng đắn, sáng tạo có cơ sở lý luận và thực tiễn cao, chắc chắn sẽ sớm phát huy vai trò tích cực, là động lực trong phát triển KTXH và tăng cường quốc phòngan ninh bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, phát triển KTTT là một đòi hỏi tất yếu khách quan của Việt Nam, nhưng việc phát triển KTTT trong bối cảnh nước ta hiện nay không phải là điều dễ dàng, đòi hỏi phải có một sự nhận thức đầy đủ về nền KTTT, đặc biệt là các điều kiện để phát triển KTTT phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở Việt Nam. Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn vấn đề “Các điều kiện để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam” làm bài thu hoạch môn học Kinh tế chính trị Mác Lênin của Lớp hoàn chỉnh Chương trình cao cấp lý luận chính trị.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Sự ra đời và phát triển của nền kinh tế tri thức (KTTT) là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lực lượng sản xuất xã hội Hiện nay, có các nước phát triển có giá trị GDP/ người đạt mức 20.000 USD chủ yếu vận hành theo kinh tế tri thức Còn những nước nào chỉ chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và tận dụng lao động giá

rẻ để phát triển kinh tế thì đang gặp rất nhiều khó khăn, thách thức Tình hình đó cho thấy, nhận thức đúng và từng bước áp dụng kinh tế tri thức vào các nước đang phát triển là một đòi hỏi khách quan

Đối với Việt Nam, thực hiện đang quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lực lượng sản xuất kém phát triển, bỏ qua chế độ TBCN, vì vậy tất yếu phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước Ngay từ Đại hội lần thứ IX (2001), Đảng đã đề ra đường lối gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức Đường lối đó đã, đang được triển khai thực hiện và tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) xác định: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên môi trường”1 Sự đánh giá đúng đắn vị trí vai trò của KTTT còn thể hiện trong việc coi phát triển KTTT

là phương hướng số một trong tám phương hướng cơ bản xây dựng nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta Có thể coi đây là một trong những chủ trương có tính đột phá để rút ngắn quá trình CNH, HĐH ở nước ta và là nhân tố bảo đảm sự phát triển cân bằng, nhanh và bền vững của nền kinh tế nước nhà trong tương lai Mặt khác, đây cũng là một chủ trương, đường lối đúng đắn, sáng tạo có cơ sở lý luận và thực tiễn cao, chắc chắn sẽ sớm phát huy vai trò tích cực, là động lực trong phát triển KT-XH và tăng cường quốc phòng-an ninh bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, phát triển KTTT là một đòi hỏi tất yếu khách quan của Việt Nam, nhưng việc phát triển KTTT trong bối cảnh nước ta hiện nay không phải là điều dễ dàng, đòi hỏi phải có một sự nhận thức đầy đủ về nền KTTT, đặc biệt là các điều kiện để phát triển KTTT phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở Việt Nam Xuất

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, tr.75.

Trang 2

phát từ thực tế trên, tôi chọn vấn đề “Các điều kiện để phát triển kinh tế tri thức

ở Việt Nam” làm bài thu hoạch môn học Kinh tế chính trị Mác - Lênin của Lớp

hoàn chỉnh Chương trình cao cấp lý luận chính trị Khóa 4

B NỘI DUNG

1 Khái niệm tri thức và kinh tế tri thức

1.1 Tri thức

Tri thức là những hiểu biết của con người về hiện thực được thu thập thông qua trải nghiệm hoặc giáo dục, tìm hiểu và khám phá Tri thức của nhân loại là toàn bộ những hiểu biết do trí tuệ của con người sáng tạo ra từ trước đến nay Nó bao gồm những dữ kiện, thông ti, sự mô tả, kỹ năng, trong đó tri thức về khoa học, kỹ thuật và quản lý là những bộ phận quan trọng nhất

1.2 Kinh tế tri thức

Từ những năm 1980, trên thế giới có những tên gọi khác nhau để chỉ giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế, như: “kinh tế thông tin”, “kinh tế mạng”,

“kinh tế số”, “kinh tế học hỏi”, “kinh tế dẫn dắt bởi tri thức”… Trong đó, “kinh tế tri thức” là tên gọi được sử dụng phổ biến hơn cả Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), tri thức thể hiện trong con người (như “vốn con người”) và trong công nghệ, tuy đã luôn là trung tâm để phát triển kinh tế, nhưng chỉ trong vài năm gần đây, tầm quan trọng tương đối của nó đã được công nhận và ngày càng tăng lên Theo đó, có thể hiểu:

- KTTT là nền kinh tế sử dụng hiệu quả tri thức cho sự phát triển kinh tế và

xã hội, bao gồm việc thu nhận và khai thác nguồn tri thức toàn cầu cũng như thích ứng và sáng tạo tri thức để dùng cho các nhu cầu riêng (Ngân hàng Thế giới,

World Bank)

- KTTT là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc tạo ra, phân phối và sử dụng tri

thức và thông tin (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, OECD)

Trong nền KTTT, việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống Nếu việc sản xuất của cải của một quốc gia trong nền kinh tế nông nghiệp

Trang 3

dựa chủ yếu vào sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên, còn trong nền kinh tế công nghiệp tuy đã có sự trợ giúp của máy móc nhưng sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên vẫn là chủ yếu, thì trong nền KTTT, tri thức đóng vai trò quyết định hàng đầu KTTT là nền kinh tế được phát triển chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ hiện đại Cơ sở của nền KTTT là tri thức

2 Đặc điểm của nền kinh tế tri thức

- Thứ nhất, tri thức là lực lượng sản xuất trực tiếp Tri thức là nguồn vốn vô

hình to lớn, quan trọng nhất trong đầu tư phát triển nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức Khác với các nền kinh tế đã có trong lịch sử (nền kinh tế nông nghiệp và nền kinh tế công nghiệp), nền KTTT lấy tri thức là nguồn lực có vị trí quyết định nhất của sản xuất, là động lực quan trọng nhất cho sự phát triển

Trong nền kinh tế này, tri thức không chỉ tham gia vào quá trình quản lý, điều hành sản xuất, mà còn trực tiếp là một nguồn lực, yếu tố đầu vào của sản xuất cùng với các nguồn lực khác (vốn, nhân lực, tài nguyên thiên nhiên…) tạo nên quá trình sản xuất Tri thức là nguồn vốn vô hình to lớn Sáng tạo là động lực phát triển

- Thứ hai, nền kinh tế dựa ngày càng nhiều vào các thành tựu của khoa học và công nghệ Nếu trong nền kinh tế công nghiệp, sức cạnh tranh chủ yếu dựa vào

tối ưu hóa và hoàn thiện công nghệ hiện có, thì trong nền KTTT lại dựa chủ yếu vào việc nghiên cứu, sáng tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới Trong nền KTTT,

cơ cấu sản xuất dựa ngày càng nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ chất lượng cao Các quyết sách kinh tế được tri thức hóa

- Thứ ba, cơ cấu lao động được chuyển dịch theo hướng ngày càng coi trọng lao động trí tuệ Trong nền KTTT, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm

số lao động trực tiếp làm ra sản phẩm, tăng số lao động xử lý thông tin, làm dịch vụ, di chuyển sản phẩm và làm văn phòng Lao động trí tuệ chiếm tỷ trọng ngày càng cao Nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập, trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người Học suốt đời, đào tạo liên tục, giáo dục thường xuyên để không ngừng làm chủ tri thức, hoàn thiện các

Trang 4

kỹ năng, thích nghi nhanh với sự phát triển và sáng tạo tri thức, công nghệ mới là một yêu cầu nghiêm ngặt Xã hội học tập là nền tảng của KTTT

- Thứ tư, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng Quyền sở hữu trí

tuệ là sự đảm bảo pháp lý cho tri thức và sự đổi mới sáng tạo sẽ tiếp tục được tạo

ra, duy trì và phát triển Trong nền KTTT, nguồn lực trí tuệ và năng lực đổi mới là hai nhân tố then chốt để đánh giá khả năng cạnh tranh, tiềm năng phát triển và sự thịnh vượng của một quốc gia Các tài sản trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được xem là một nguyên tắc

cơ bản trong sự vận động và phát triển của nền KTTT, là cột sống cho thương mại hàng hóa và dịch vụ

- Thứ năm, nền kinh tế toàn cầu hóa Nền KTTT chỉ được hình thành và phát

triển khi lực lượng sản xuất xã hội đã phát triển ở trình độ rất cao, phân công lao động mang tính quốc tế và theo đó là hệ thống sản xuất mang tính kết nối giữa các doanh nghiệp quốc gia trong một chuỗi giá trị sản phẩm Bởi vậy, nó mang tính

toàn cầu hóa Trong nền KTTT, sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức không

còn nằm trong phạm vi biên giới một quốc gia Bất cứ ngành kinh tế của nước nào cũng có thể dựa vào nguồn cung ứng về công cụ, nguyên liệu, năng lượng… và

tiêu thụ sản phẩm trên thế giới Nền KTTT còn được gọi là nền kinh tế toàn cầu

hóa nối mạng, hay là nền kinh tế toàn cầu dựa vào tri thức Trong nền kinh tế đó,

mạng thông tin trở thành kết cấu hạ tầng quan trọng

Ngoài các đặc điểm trên, nền KTTT còn là một nền kinh tế hướng đến sự phát triển bền vững, thân thiện với môi trường; nền kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội

và thang giá trị xã hội, làm xuất hiện các cộng đồng dân cư kiểu mới, các làng khoa học, các công viên khoa học, vườn ươm khoa học…

3 Các điều kiện để phát triển KTTT ở Việt Nam

Bên cạnh xu hướng có tính quy luật của công nghiệp hóa rút ngắn ở các nước

đi sau, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam là cần thiết Do nước ta là nước đi sau, có cơ hội và cần thiết phải đi tắt, phát triển KTTT ngay trong quá trình CNH, HĐH Cùng một quá trình thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ CNH, HĐH và “tri thức hóa” Nói cách khác đó

Trang 5

là CNH, HĐH rút ngắn dựa trên tri thức Kinh tế tri thức cho ta cơ hội nhắm bắt và vận dụng sáng tạo những tri thức mới, cách thức kinh doanh mới để đổi mới nền kinh tế nước ta

Như vậy, phát triển KTTT là một đòi hỏi tất yếu ở nước ta Vậy điều kiện để phát triển KTTT ở Việt Nam là gì?

Mặc dù còn nhiều tranh cãi về các điều kiện để phát triển KTTT ở Việt Nam Tuy nhiên, theo tôi để phát triển KTTT, nước ta cần tạo dựng được bốn trụ cột mà Ngân hàng Thế giới (WB) đã chỉ ra:

- Một là, về môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho sáng tạo và sử

dụng tri thức: Một môi trường và thể chế theo luật, cho phép dòng chảy tự do của

tri thức, hỗ trợ đầu tư cho công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT), khuyến khích việc làm chủ doanh nghiệp như trọng tâm của kinh tế tri thức Thể chế, chính sách, tổ chức quản lý thực sự dân chủ, phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân, tạo môi trường kinh doanh sôi động, phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi khả năng sáng tạo, mở đường cho KTTT phát triển Đây là yếu tố quyết định nhất, nếu thiếu nó thì các yếu tố sau chỉ mới là tiềm năng của KTTT

- Hai là, giáo dục và đào tạo có chất lượng cao để người dân được giáo dục

và đào tạo năng lực sáng tạo, chia sẻ, và sử dụng tri thức: Nguồn nhân lực chất

lượng cao, năng động sáng tạo, không ngừng nâng cao kiến thức và kỹ năng Có nền giáo dục tiên tiến đào tạo theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế Hình thành chế độ học tập suốt đời, xã hội học tập

- Ba là, hệ thống cách tân: Một mạng lưới các trung tâm nghiên cứu, đại học,

tổ chức chuyên gia cố vấn, doanh nghiệp tư nhân, các nhóm cộng đồng là cần thiết

để thu nhận được kho tri thức toàn cầu luôn không ngừng tăng, truyền bá và thích ứng chúng cho các nhu cầu của đất nước, và sáng tạo ra các tri thức mới cần thiết

- Bốn là, hạ tầng cơ sở thông tin: Một hạ tầng cơ sở thông tin động, vạn vật kết

nối thông qua nền tảng Internet, là cần thiết để cho phép dễ dàng liên lạc, phổ biến, và

xử lý thông tin Ứng dụng và phát triển ICT trong tất cả các lĩnh vực Coi ICT là động lực cho đổi mới và phát triển, nhân lên sức mạnh tinh thần, vật chất, trí tuệ của dân tộc, là mũi nhọn xung kích vào KTTT Xã hội thông tin là tiền đề cho nền KTTT

Trang 6

Đây là gợi ý của WB đến sự phát triển KTTT ở Việt Nam, mặc dù còn những tranh luận và băn khoăn, nhưng giả sử ta tạm thời thừa nhận bốn trụ cột này, để xem ta sẽ gặp những thách thức, hạn chế như thế nào khi phải xây dựng chúng! Về trụ cột thứ nhất, tạo ra được một môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho sáng tạo và sử dụng tri thức (Đây là yếu tố quyết định nhất, nếu thiếu nó thì

ba yếu tố sau chỉ mới là tiềm năng của KTTT) trước hết là việc của chính quyền và bộ máy lập pháp Một thách thức là làm sao để nâng cao được dân trí toàn xã hội Khi dân trí được nâng cao, người dân sẽ có thêm động lực và khả năng tìm kiếm dòng chảy tri thức, hoạt động sáng tạo cũng như tăng xu hướng làm chủ doanh nghiệp Bên cạnh đó cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý để trí thức ít nhất tương đồng Vì những cán bộ của bộ máy chính quyền và địa phương là những công dân có ảnh hưởng nhiều hơn đến môi trường kinh tế và thể chế xã hội Qua đó, cuốn hút nhiều nhân tài cho nền kinh tế, để không phải mỗi một mùa thi Olympia chúng ta không phải bàn tán nhiều về việc “chảy máu chất xám” Mà trong giai đoạn bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay việc “chảy máu chất xám” có thể diễn ra ngay trong các nước, ngay trong các doanh nghiệp Nhà nước ta

Về trụ cột thứ hai, giáo dục và đào tạo là chuyện sống còn của đất nước Đương nhiên nếu giáo dục không làm được sứ mạng đào tạo được những người có tinh thần và khả năng sáng tạo, sẽ không có cách nào tiến đến kinh tế tri thức Và thách thức đặt ra quá lớn cho hệ thống Giáo dục và đào tạo của chúng ta, việc tìm kiếm mô hình phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam đồng thời nắm bắt xu thế thế giới còn là bài toán nan giải Từ việc thử nghiệm đến việc áp dụng là cả chặng đường dài, trong quá trình đó chúng ta lại bỏ lỡ nhiều cơ hội nhưng đáng lo ngại hơn là “phiên bản lỗi” của mô hình thử nghiệm lại tạo ra một thế hệ chất lượng không cao và còn mang lại gánh nặng cho xã hội

Về trụ cột thứ ba, xây dựng được một hệ thống cách tân là một thách thức rất lớn, tức hệ thống các tổ chức đóng vai trò thu nhận và sáng tạo tri thức chủ yếu trong xã hội Việc này liên quan tới những thách thức lâu nay của ta như chất lượng giáo dục đại học và nghiên cứu Một khía cạnh ở đây là thách thức về tính cách tân của các tổ chức trong xã hội Quản trị tri thức (knowledge management)

Trang 7

-lý thuyết và thực tiễn về quá trình sáng tạo, thu nạp và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả của các tổ chức - là một công cụ rất đáng quan tâm cho cuộc cách tân này Trụ cột thứ tư, (công nghệ thông tin và truyền thông) CNTT&TT là hạ tầng

cơ sở để thực hiện hầu hết các hoạt động của kinh tế tri thức, là phương tiện hữu hiệu hỗ trợ cho ba trụ cột nêu ở trên về giáo dục và đào tạo, hệ thống cách tân, môi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho việc sáng tạo và sử dụng tri thức Đây được xem thách thức rất lớn cho Nhà nước ta khi đặt mục tiêu tăng tốc để trở

thành một nước mạnh về CNTT&TT: Thứ nhất, về vốn Tiềm lực kinh tế của

chúng ta chưa mạnh, nên việc đầu tư cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật còn thiếu tính chất đồng bộ, chấp vá mang lại hiệu quả không cao trong quá trình hoạt động

Thứ hai, năng lực quản lý và làm chủ CNTT&TT Vấn đề này là hệ quả của trụ cột

thứ hai, chất lượng nguồn lao động chúng ta chưa thật sự đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công nghệ cao, chấp nhận chúng ta phải thuê chuyên gia nước ngoài, và phải trả một cái giá khá đắt cả về tiền bạc cũng như tính sáng tạo của nhân lực Việt

Nam Thứ ba, Việt Nam là thị trường tiêu thụ sản phẩm CNTT của các nước lớn

trên thế giới Áp lực là rất lớn cho những nước đi sau, luôn chịu tác động rất mạnh của sự phát triển bùng nổ CNTT, biến các nước lạc hậu thành thị trường xuất khẩu, làm chất lượng thị trường trong nước khó có thể cạnh tranh kịp và bị trở thành kho rác nhập khẩu công nghệ lạc hậu cho các nước lớn

Như vậy, cả bốn trụ cột trên là những gợi ý rất sát đáng cho sự phát triển KTTT cho Việt Nam, tuy nhiên nó là cả một câu chuyện dài và thách thức rất lớn cho Việt Nam

Trang 8

C KẾT LUẬN

Tóm lại, KTTT là con đường ta cần đi và đi càng sớm càng tốt Theo đuổi khoa học hiện đại và công nghệ cao là một cách ta cần làm trong kinh tế tri thức, nhưng không phải duy nhất Để một đất nước còn hạn chế về khoa học và công nghệ như ta có được sản phẩm công nghệ cao cạnh tranh với các nước đi trước là

vô cùng khó khăn Tuy nhiên, dân tộc ta không những kiên cường bất khuất mà còn thông minh, giàu tính sáng tạo, nhờ đức tính đó chúng ta đã chống được sự Bắc thuộc và đã đánh thắng các đế quốc xâm lược hùng mạnh nhất Vậy trong cuộc chiến hiện nay, cuộc chiến chống lại nghèo nàn lạc hậu, xây dựng đất nước giàu mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền lãnh thổ, lẽ nào chúng ta dễ bị khuất phục? Sức mạnh của dân tộc ta bắt nguồn từ sự đại đoàn kết toàn dân Phải đổi mới và hoàn thiện thể chế, phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy nguồn lực trí tuệ, tài năng sáng tạo của dân tộc, không có khó khăn nào không vượt qua được

Do đó, Đảng ta phải tiếp tục nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng điểm mạnh, điểm yếu, cái được và chưa được, thấy rõ thời cơ và thách thức của thời đại mới, nhất

là cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, trên tinh thần tôn trọng qui luật khách quan, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và các học thuyết khoa học tiến bộ khác, đẩy mạnh một cuộc đổi mới toàn diện hơn nữa, chuyển nền kinh tế sang phát triển nhanh và bền vững dựa vào tri thức Có như vậy, ta mới tiến kịp thời đại và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trong tương lai./

Ngày đăng: 10/02/2020, 16:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w