LỜI TỰACuốn sách này bao gồm những công trình khoa học tôi đã thực hiện trong 40 năm qua (19622002), từ ngày về công tác tại Tổ Tâm lý Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội, sau khi tốt nghiệp Phân khoa Tâm lý học thuộc Khoa Triết học TrườngĐại học Quốc gia Mátxcơva mang tên Lômônôxốp. Lúc đó, tuy mới là bước đầu, nhưng tôi đã ấp ủ ý tưởng phải góp phần xây dựng nền tâm lý học nước nhà, coi đó là nhiệm vụ thiêng liêng của đời mình, cùng với ý thức, tuy chưa sâu sắc rằng giảng dạy ở đại học muốn tốt, phải nghiên cứu khoa học. Vì vậy ngay từ năm dạy học đầu tiên của tôi, tôi đã cùng với các bạn đồng nghiệp trong Tổ tiến hành một công trình thực nghiệm tâm lý học trí nhớ ở học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học Yên Hoà, Từ Liêm, Hà Nội. Đây là công trình nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm đầu tiên ở nước ta. Bên cạnh công trình này, tôi đã tiến hành nghiên cứu lý luận, thể hiện qua việc phân tích một cuốn sách giáo khoa xuất bản ở Sài Gòn.Sau đó vài năm, với tư cách là tổ trưởng Tổ Tâm lý học của Khoa Tâm lý giáo dục, tôi đã cùng với anh chị em trong tổ xây dựng một giáo trình tâm lý học. Vừa soạn vừa dạy thử và rút kinh nghiệm, mặc dù trong những điều kiện sơ tán cực kỳ khó khăn, khi ở trên rừng Đại Từ, Thái Nguyên, khi ở Phủ Cừ, Hưng Yên. Chúng tôi đã lao động không mệt mỏi, say sưa lên lớp, thảo luận sửa giáo trình rất sôi nổi, cẩn thận, lao động miệt mài... Năm 1969, trước khi được Tổ cửđi học nghiên cứu sinh, bộ giáo trình đã được hoàn thành và được Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản vào năm 1970. Cuốn sách này đến nay vẫn được nhiều giảng viên, sinh viên sử dụng.
Trang 1Học Đại học Văn khoa Hà Nội (1954-1955), tốt nghiệp Đại học Tâm lý học (1962), Tiến sĩ Tâm lý học (1971), Tiến sĩ Khoa học Tâm lý học (1977) tại trường Đại học tổng hợpp Lômônôxôp, Nga, được phong Giáo sư (1984), phong Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học chính trị Nga (1999).
Uỷ viên Trung ương Đảng khoá VI, VII, VIII (1986 - 2001), Đại biểu Quốc hội khoá VII, VIII (1981 - 1991), Viện phó rồi Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục (1980-1987), Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Giáo
Trang 2dục (1985-1990), Thứ trưởng thứ nhất Bộ Giáo dục và Đào tạo (1990-1996), Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Bảo vệ
và chăm sóc trẻ em Việt Nam (1989-1996), phó Chủ tịch rồi ủy viên Uỷ ban UNESCO Việt Nam (1990 - đến nay), Uỷ viên Uỷ ban dân số và kế hoạch hoá gia đình (1990-1996), Chủ tịch Uỷ ban quốc gia chống mù chữ (1989 - 2001), Phó trưởng ban thứ nhất Ban Khoa giáo Trung ương (1996 - đến nay), Phó Chủ tịch Thường trực rồi uỷ viên Hội đồng lý luận Trung ương (1996 - đến nay), Chủ tịch Hội tâm lý - giáo dục học Việt Nam (1990 - đến nay) Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo
sư nhà nước (từ 2001) Viện trưởng Viện Nghiên cứu con người (2000 - đến nay), Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu giáo dục (1983 - 1988), Tạp chí Thông tin khoa học giáo dục (1983-1987), báo Dân trí (1997
2001 ), Tạp chí Nghiên cứu con người (từ 5 - 2002).
LỜI TỰA
Cuốn sách này bao gồm những công trình khoa học tôi đã thực hiện trong 40 năm qua (1962 2002), từ ngày về công tác tại Tổ Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội, sau khi tốt nghiệp Phân khoa Tâm lý học thuộc Khoa Triết học Trường
Trang 3Đại học Quốc gia Mátxcơva mang tên Lômônôxốp Lúc
đó, tuy mới là bước đầu, nhưng tôi đã ấp ủ ý tưởng phải góp phần xây dựng nền tâm lý học nước nhà, coi
đó là nhiệm vụ thiêng liêng của đời mình, cùng với ý thức, tuy chưa sâu sắc rằng giảng dạy ở đại học muốn tốt, phải nghiên cứu khoa học Vì vậy ngay từ năm dạy học đầu tiên của tôi, tôi đã cùng với các bạn đồng nghiệp trong Tổ tiến hành một công trình thực nghiệm tâm lý học trí nhớ ở học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học Yên Hoà, Từ Liêm, Hà Nội Đây là công trình nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm đầu tiên
ở nước ta Bên cạnh công trình này, tôi đã tiến hành nghiên cứu lý luận, thể hiện qua việc phân tích một cuốn sách giáo khoa xuất bản ở Sài Gòn.
Sau đó vài năm, với tư cách là tổ trưởng Tổ Tâm lý học của Khoa Tâm lý - giáo dục, tôi đã cùng với anh chị em trong tổ xây dựng một giáo trình tâm lý học Vừa soạn vừa dạy thử và rút kinh nghiệm, mặc dù trong những điều kiện sơ tán cực kỳ khó khăn, khi ở trên rừng Đại Từ, Thái Nguyên, khi ở Phủ Cừ, Hưng Yên Chúng tôi đã lao động không mệt mỏi, say sưa lên lớp, thảo luận sửa giáo trình rất sôi nổi, cẩn thận, lao động miệt mài Năm 1969, trước khi được Tổ cử
Trang 4đi học nghiên cứu sinh, bộ giáo trình đã được hoàn thành và được Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản vào năm 1970 Cuốn sách này đến nay vẫn được nhiều giảng viên, sinh viên sử dụng.
Về nước sau khi bảo vệ xong luận án phó tiến
sĩ tại Hội đồng khoa học Khoa Tâm lý học Trường Đại học quốc gia Lômônôxốp, Mátxcơva, với tư cách là Phó trưởng ban Tâm lý học Viện Khoa học giáo dục, tôi đã
đi sâu vào tâm lý học sư phạm Công trình nghiên cứu tâm lý học đáng kể trong thời kỳ này do tôi chỉ đạo là nghiên cứu nhiều mặt của hoạt động tâm lý của học sinh Bắc Lý, Hà Nam Toàn thể các cán bộ Ban Tâm lý học đã tập trung gần hai tháng sống tại Bắc Lý, hàng ngày tiến hành thực nghiệm nghiên cứu trí nhớ, tư duy chú ý, nhân cách học sinh cấp II (nay gọi là trung học
cơ sở) Bắc Lý, chiều tối thăm và tìm hiểu hoàn cảnh gia đình, cuộc sống thực của các em Số liệu thu thập được đã được tính toán rất cẩn thận, phân tích lý luận khá chu đáo trong mấy tháng tại Phùng Thượng, Sơn Tây (nay thuộc Hà Tây), địa điểm sơ tán của Vện Rất tiếc, nay mới chỉ tìm thấy một bài do tôi viết và được đưa vào tập sách này Đây là một công trình thực nghiệm đầu tiên về tâm lý lứa tuổi và sư phạm ở nước
Trang 5đề tài nghiên cứu tâm lý học thần kinh về trí nhớ để làm luận án tiến sĩ khoa học, nhưng các đồng chí lãnh đạo giáo dục nước nhà lúc đó lại giao nhiệm vụ cho tôi khi làm luận án tiến sĩ khoa học, phải làm "một đề tài nào đó rộng hơn một phòng thí nghiệm" Tới Mátxcơva, sau ba tháng đọc sách, trao đổi với các giáo sư, nhất
là với Giáo sư, Viện sĩ N Lêônchiép, tôi đã hoàn thành
đề cương nghiên cứu theo hướng tìm tòi con đường xây dựng và phát triển khoa học tâm lý Được Hội đồng khoa học Khoa Tâm lý học thông qua đề cương nghiên cứu, tôi bắt tay vào triển khai đề tài với sự tư vấn của GS.VS Lêônchiép, cuối cùng đặt tên cho luận
án là Hành vi và hoạt động và bảo vệ thành công vào mùa hè năm 1977.
Lần này (7-1977) về nước, tôi được phân công làm Trưởng ban Ban Tâm lý học Viện Khoa học
Trang 6giáo dục Bên cạnh công tác quản lý và giảng dạy trong mấy năm này (1977-1980) tôi chủ trì đề tài nghiên cứu học sinh trường phổ thông - công nông nghiệp của Bộ Công an đặt tại Thủy Nguyên, Hải Phòng Tôi đã trực tiếp tiến hành thực nghiệm và tổng kết tập trung vào vấn đề nhân cách Có thể coi đây là một trong các công trình mở đầu những thực nghiệm tâm lý học nhân cách ở nước ta Sản phẩm giảng dạy trong thời kỳ này - tác phẩm Nhập môn tâm lý học được Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1980, nay các bạn có thể đọc trong Tuyển tập này.
Những năm tiếp theo (1981-1987), mặc dù tuy quá bận rộn với công tác quản lý tôi vẫn kiên trì dành một số thời gian nhất định vào công tác nghiên cứu khoa học Theo sự đề xuất của tôi, được lãnh đạo Viện thông qua, tôi tập trung chỉ đạo triển khai một đề tài lớn: "Nghiên cứu hoạt động dạy - học từ cấp độ nhân cách đến cấp độ toàn xã hội" - đề tài của toàn Viện, trong đó tôi trực tiếp cùng với anh chị em Ban Tâm lý học tiến hành thực nghiệm ở Trường phổ thông cơ sở Ngô Sĩ Liên, Hà Nội, thực hiện đề tài cụ thể "Nghiên cứu hoạt động chủ đạo của học sinh cấp II (nay là THCS)" Rất tiếc vì tôi phải thuyên chuyển công
Trang 7tác nên đề tài của Vện không tổng kết được Còn sản phẩm của đề tài của Ban Tâm lý học mãi đến năm
2001 mới tập hợp lại được thành một tập kỷ yếu và được Vện Khoa học giáo dục cho xuất bản vào dịp kỷ niệm 40 năm thành lập Vện Khoa học giáo dục Bài của tôi trong tập kỷ yếu đó cũng được tuyển vào tập sách này Đây là một trong những vận dụng những điều tôi học tập được và đã phản ánh trong tập sách Hành vi và hoạt động trong việc xây dựng nền tâm lý học nước nhà.
Cũng từ hai đề tài kể ở đây, đồng thời với cương vị công tác quản lý mới, tôi đã dành một phần thời gian và trí tuệ vào việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn giáo dục nước nhà Kết quả nghiên cứu theo hướng này bắt đầu từ 1981, tức là từ khi tôi được cử làm Vện trưởng Vện Khoa học giáo dục và một phần kết quả nghiên cứu đã được phản ánh trong tác phẩm Giáo dục Vệt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, tái bản 2002) Sau
đó, từ 1991, các kết quả nghiên cứu tâm lý học mà tôi
đã thu được theo hướng nhân học văn hóa - xã hội, được đúc kết trong tác phẩm Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện
Trang 8đại hóa (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001) Các công trình trong Tuyển tập này đã cung cấp cơ sở lý luận cho hai tác phẩm trên cùng với hai hướng nghiên cứu tương ứng, sau đó tôi đã tiếp tục nghiên cứu phương pháp luận, lý luận tâm lý học và phổ biến khoa học tâm lý trên một số các bài báo và chúng được tập hợp để đưa vào phần cuối của Tuyển tập.
Viết mấy dòng tựa đề tập sách, trước hết tôi
xn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Đảng, Nhà nước
đã đào tạo tôi thành một cán bộ khoa học và sự cảm
ơn to lớn đối với các bạn đồng nghiệp, các tập thể khoa học mà tôi đã có dịp cùng công tác về sự hợp tác hết sức quý báu, vì không có sự hợp tác đó của các bạn chắc chắn không thể có được tập sách này, cũng như các công trình khác của tôi Đặc biệt, tôi muốn được gửi lời cảm ơn trân trọng tới Nhà xuất bản Giáo dục, nơi đỡ đầu cho các tác phẩm của tôi ra đời phục
vụ bạn đọc trong suốt mấy chục năm qua.
Tập sách chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Mong được sự chỉ giáo của bạn đọc gần xa.
Ngọc Hà, Tết Nhâm Ngọ 2002
TÁC GIẢ
Trang 9XÂY DỰNG TÂM LÝ HỌC VjË T NAM
Quyển I CÁC CÔNG TRlNH n g h iê n c ứ u
Quyển II HÀNH VI VÀ HOẠT ĐÔNG
Quyển III NHÃP MÔN TÂM LÝ HỌC
Quyển IV TÂM LÝ HỌC VƯ GỐTXKI
SÁCH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
Created by AM Word2CHM
Trang 10Nhập đề TÂM LÝ HỌC V À CUỘC SỐNG BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG TÂM LÝ HỌC VIỆT NAM
Nền khoa học của nước ta là một trong những thành tựu tốt đẹp nhất của Cách mạng tháng Tám Trong nền khoa học ấy tâm lý học là một trong những ngành khoa học mới ra đời trong kháng chiến chống thực dân Pháp và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rồi tiếp tục phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ngay từ lúc còn trứng nước và trong suốt quá trình phát triển, Tâm lý học của chúng ta luôn luôn gắn
bó với cuộc sống Bài giảng tâm lý học ở đại học đã mau chóng chuyển thành bài nói chuyện phổ thông cho nông dân, công nhân, bộ đội và bà con công thương Từ chỗ mới nghiên cứu tâm lý học đại cương, chúng ta đã sớm đi vào nghiên cứu tâm lý học
sư phạm và lứa tuổi, tiếp đó đã mở ra các hướng nghiên cứu tâm lý học quân sự, tâm lý học tư pháp, tâm lý học y học, tâm lý học thể thao, tâm lý học dân tộc, tâm lý học quản lý, tâm lý học nghệ thuật, và gần đây là tâm lý học điện ảnh, tâm lý học phụ nữ, tâm lý
Trang 11học công dân, tâm lý học thương nghiệp, v.v
Như vậy tâm lý học cũng như các ngành khoa học khác, đã từ cuộc sống mà ra và gắn bó với cuộc sống, phục vụ yêu cầu của cách mạng, của đất nước Nhờ vậy đội ngũ những người nghiên cứu tâm
lý học ngày càng phát triển.
Tâm lý học gắn liền với cuộc sống là phương châm và nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ hoạt động của từng cơ sở nghiên cứu và giảng dạy tâm lý học Đó cũng là lẽ tồn tại của khoa học nói chung và của tâm lý học nói riêng Bởi vì, cuộc sống của con người và xã hội loài người có một chất lượng đặc trưng, một thành
tố không thể thiếu - đó là tâm lý.
Từ thế kỷ IV trước Công nguyên, Arixtốt đã có ý nói tới ba loại tâm hồn tương ứng với ba cuộc sống: cuộc sống thực vật, cuộc sống động vật và cuộc sống của con người Con người đã được nuôi dưỡng và sinh nở; con người không thể thiếu cảm thụ, ước mong và vận động; con người bao giờ cũng là con người có biểu tượng, thích tưởng tượng, biết lập luận
và lý giải Tất cả các chức năng đó ở con người (nuôi dưỡng và sinh nở, cảm thụ và vận động, ước mong và
Trang 12biểu tượng, tưởng tượng và lý giải ) hợp thành cuộc sống tâm lý Có thể phân biệt cuộc sống tâm lý với cuộc sống sinh vật, tựa như cuộc sống tinh thần với cuộc sống cơ thể Có người còn nói tới cái chết tâm lý khác với cái chết cơ thể của họ.
Trình bày những điều trên đây là nhằm khẳng định lại một lần nữa chân lý đơn giản về vai trò của tâm lý trong đời sống cũng như xác định lại vị trí của tâm lý học trong cuộc sống V trí ấy chỉ có thể có được với điều kiện những người nghiên cứu tâm lý học thực thi được vai trò ấy.
Chính vì vậy, nếu có một bảng phân loại các khoa học ở Việt Nam hiện nay thì đương nhiên trong
đó có tâm lý học Có thể coi đây là một thành tựu quý báu của đội ngũ cán bộ tâm lý học Vệt Nam Ở bảng phân loại này, tâm lý học là khoa học hạt nhân trong nhóm khoa học đào tạo con người; nhóm khoa học này giữ vị trí chủ chốt trong cả nhóm các khoa học về con người.
Cuộc sống của con người là một dòng hoạt động bao gồm dòng tính tích cực, dòng ý thức, dòng tư duy Dòng hoạt động ấy nhằm vào một đối tượng cụ
Trang 13thể để thay đổi đối tượng hoặc lĩnh hội nội dung phản ánh nhận thức về đối tượng đó Đấy là việc khách thể hóa hoạt động ra bên ngoài đối tượng, hoặc tách vật thể biến thành hoạt động bên trong.
Nghiên cứu mối liên quan giữa hoạt động và thực tiễn là mối quan tâm thường xuyên của các nhà triết học, các nhà tâm lý học Thực tiễn của loài người
là thực tiễn do các thế hệ nối tiếp nhau tạo ra; do đó, hoạt động của loài người được gọi là thực tiễn xã hội - lịch sử Trong triết học cũng như trong tâm lý học, từ hoạt động đi liền với từ thực tiễn, cũng như với từ đối tượng Phạm trù hoạt động với tính cách là một phương pháp tiếp cận, bao hàm nội dung của cả thuật ngữ hoạt động thực tiễn hay hoạt động đối tượng.
Tâm lý học vận dụng phương pháp tiếp cận hoạt động đã đem lại những kết quả to lớn mở ra triển vọng tốt đẹp đưa tâm lý học vào cuộc sống Đồng thời, nền tâm lý học này ngày càng có tác dụng tích cực và thiết thực cho cuộc sống: một mặt, nghiên cứu cơ chế khách thể hóa hoạt động, tức cơ chế tạo ra sản phẩm; mặt khác, đi vào nghiên cứu cơ chế tách khỏi vật thể biến thành lực lượng bản chất của chủ thể, tức là cơ chế hình thành và phát triển nhân cách Đó là lô gích
Trang 14của đối tượng khoa học Còn trong cuộc sống, quá trình cải tạo biến đổi, sáng tạo thế giới bên ngoài cũng
là quá trình cải biến, sáng tạo thế giới bên trong của chủ thể quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Thực tiễn đổi mới của đất nước đòi hỏi phân
bố lại cho đúng sức lao động, tức là làm cho mọi người tích cực hoạt động trong lĩnh vực được phân công, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm có ích (sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần, sản phẩm tự tiêu dùng, sản phẩm hàng hóa) Tâm lý học có thể và phải đóng góp vào việc đẩy mạnh hoạt động của xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng con người Đồng thời rất cần chú ý tới động cơ vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì lợi ích của người lao động và lợi ích của mọi người Đó chính là động cơ của hoạt động Đó cũng là yêu cầu đối với nạn giáo dục đang đổi mới trong việc giáo dục thế hệ trẻ nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Như vậy, nói hoạt động là nói tới hoạt động thực tiễn, hoạt động đối tượng Đó là hoạt động của chủ thể Trong quá trình hoạt động, chủ thể trở thành nhân cách và hoặc hoàn thiện, hoặc ngược lại, suy
Trang 15thoái nhân cách Nói đến nhân cách là nói đến một hệ thống thái độ: chủ thể - khách thể, chủ thể - chủ thể, chủ thể - bản thân Do đó, phạm trù hoạt động đòi hỏi phải đi liền với phạm trù nhân cách; tương tự như vậy phương pháp tiếp cận hoạt động nhân cách không thể tách rời phạm trù giao lưu (giao tiếp).
Trong cuộc sống cũng như trong khoa học, với tư cách là sự phản ánh một cách khái quát, một cách trừu tượng lô gích của cuộc sống, giao lưu là điều kiện của hoạt động, là một trong những con đường cực kỳ quan trọng đối với sự hình thành, phát triển và hoàn thiện (hoặc suy thoái) nhân cách Trong những điều kiện nhất định, giao lưu có sự thể hiện và vận hành đặc thù, và lúc đó, giao lưu xuất hiện như một dạng hoạt động thực tiễn của con người.
Những năm qua, nhất là trong năm 1985, giới tâm lý học ở nhiều nước đã sôi nổi tranh luận vấn đề này Có ý kiến cho rằng, về lý luận, cần có sự gắn bó hoạt động với giao lưu Được như vậy thì có thể giải quyết được một số khó khăn mà lý luận tâm lý học đại cương về hoạt động đang gặp phải và mở ra triển vọng cho lý luận này Năm 1982, tại Hội nghị tâm lý học toàn quốc lần thứ VI, chúng ta đã đề xuất phương
Trang 16hướng lý luận giải quyết thỏa đáng vấn đề này Trong thời gian qua, có một số công trình nghiên cứu của Ban Tâm lý học Viện Khoa học giáo dục và một số đơn
vị khác đã thu được kết quả bước đầu và đã góp phần khẳng định phương hướng lý luận đó thông qua tác động nâng cao hiệu quả giảng dạy và giáo dục.
Sự ra đời và phát triển của tâm lý học ở Việt Nam gắn bó hữu cơ với thời đại quang vinh nhất trong lịch sử dân tộc, mở đầu từ Cách mạng tháng Tám.
Lúc đầu, tâm lý học xuất hiện với tính cách là một môn học ở trường cao đẳng sư phạm và các trường lítxê (PTTH thời Pháp thuộc) Giáo trình và sách giáo khoa dùng trong các trường đó viết phỏng theo tâm lý học của Phunquiê (Pháp), giới thiệu cho học sinh, sinh viên Việt Nam nền tâm lý học nhị nguyên duy tâm nội quan Tinh thần ấy tiếp tục trong chương trình và sách giáo khoa tâm lý học xuất bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1960) Có một điều khác biệt là
họ bổ sung tâm lý học nhân vị.
Nhưng bên cạnh đó, có những tư tưởng, quan niệm về thế giới, đạo lý, con người, bắt nguồn
từ cuộc sống chân chính của người lao động, từ sức
Trang 17mạnh của dân tộc có nền văn hóa lâu đời, phát triển trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước Những tư tưởng quan niệm ấy nói riêng, nền văn minh của dân tộc ta nói chung đã ghi lại trong thơ ca dân gian, sử sách, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thành tinh thần Vệt Nam bất diệt Nghiên cứu thơ ca, một số tác giả (Nguyễn Hồng Phong, v.v ) đã đi đến một số nhận xét khái quát về tâm lý dân tộc: cần cù, dũng cảm, yêu độc lập tự do, giàu tính sáng tạo, v.v
Những phẩm chất tiến bộ ấy mang thêm một chất lượng mới nhờ ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin do Chủ tịch Hồ Chí Minh - người cộng sản Vệt Nam đầu tiên đem lại.
Đề cương văn hóa của Đảng Cộng sản Vệt Nam đề ra năm 1943 được thực hiện và thu được kết quả ngay trong những năm kháng chiến cực kỳ gian khổ, cũng như trong những năm khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Cũng như các khoa học khác, tâm lý học được Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan tâm và tạo mọi điều kiện để xây dựng từ nền tảng Cùng với
Trang 18việc thành lập Trường ĐHSP Hà Nội (1958), Tổ Tâm lý học và Giáo dục học ra đời, một số người được phân công tìm hiểu học tập và giảng dạy tâm lý học Để xây dựng chương trình giáo trình bộ môn này, họ đã tập trung sức vào nghiên cứu sách giáo khoa tâm lý học Xô-viết Kết quả đầu tiên của công việc này là Nguyễn Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân cùng với dịch giả Chu Quý đã biên soạn được một cuốn sách giáo khoa tâm lý học Lần đầu tiên một số thành tựu của tâm lý học mác-xít, mà đại biểu là tâm lý học Xô-viết, được giới thiệu có hệ thống với sinh viên và bạn đọc Việt Nam.
Những người làm công tác tâm lý học ở Việt Nam lúc đó đề ra cho mình nhiệm vụ hàng đầu là học tập các cơ sở của tâm lý học mác-xít Nhờ những công trình của các nhà tâm lý học xô-viết, những người đầu tiên phát hiện ra chủ nghĩa Mác cho tâm lý học, đã biết được rằng, có một nền tâm lý học dựa trên cơ sở phương pháp luận mác-xít Theo đường lối phát triển khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam, những người làm công tác tâm lý học ngay từ đầu đã khẳng định cho mình rằng, nền tâm lý học mà họ bắt tay vào xây dựng là nền tâm lý học mác-xít.
Trang 19Năm 1955, lần đầu tiên trong số sinh viên được Chính phủ gửi đi học ở nước ngoài, có sinh viên
đi Liên Xô học Tâm lý học và Giáo dục học.
Một lớp học được tổ chức kéo dài hai năm (1959-1961) cho cán bộ giảng dạy tâm lý học và giáo dục học Trường ĐHSP Hà Nội Hai chuyên gia Liên Xô
là P.A Praxétxki và P.I Xamaucốp được mời giảng bài
về tâm lý học và giáo dục học, vận dụng vào nhiều mặt công tác thực tiễn của trường sư phạm và tập dượt phương pháp nghiên cứu của các khoa học này Có thể nói, đây là một trong những viên gạch đầu tiên của nền tâm lý học và giáo dục học mới ở nước ta.
Đội ngũ những người làm công tác tâm lý học ngày một đông đảo, các tổ chức nghiên cứu tâm lý học xuất hiện trong Viện Khoa học giáo dục (1961), Viện Triết học (1966), v.v Cùng với các tổ chức ấy các tổ
bộ môn Tâm lý - Giáo dục học trong các trường sư phạm lần lượt được thành lập Đồng thời, nhiều ngành (quân đội, công an, thể dục thể thao và các tổ chức quần chúng) cũng có những bộ phận nghiên cứu, giảng dạy bộ môn khoa học này.
Một trong những vấn đề đặt ra cho các nhà
Trang 20tâm lý học ngay từ năm 1962 và cũng là sự quan tâm hàng đầu của các cơ quan phụ trách bộ môn này là đồng thời với việc học tập lý luận chung, phương pháp luận mác-xít, phải làm sao cho ngày càng có đông đảo cán bộ công tác trong lĩnh vực này nắm được các phương pháp cụ thể, nghiên cứu các hiện tượng tâm
lý ở con người Việt Nam Đó là cách đúng nhất để chuyển tâm lý học, với tư cách là một bộ môn trong các trường chuyên nghiệp, thành khoa tâm lý học, với tư cách là một bộ phận của nền khoa học dân tộc.
Trong năm 1964, lần đầu tiên trên báo chí xuất hiện bài giới thiệu một công trình thực nghiệm về trí nhớ của học sinh Việt Nam Đó là kết quả nghiên cứu của tất cả cán bộ giảng dạy Tổ Tâm lý học Trường ĐHSP Hà Nội, tiến hành trong năm 1962-1963 Ngoài việc luyện phương pháp nghiên cứu cho các cán bộ
ấy, công trình này còn có mục đích xác định các chỉ số tâm lý người Việt Nam Các số liệu đó cho thấy, các chỉ số phát hiện ở đây không khác các chỉ số về trí nhớ
đã có trong công trình nghiên cứu của tác giả các nước: cũng thấy được con số thần kỳ 7 +/- 2, cũng thấy
sơ đồ biểu diễn sự quên, v.v Những khác biệt giữa học sinh Việt Nam và học sinh cùng lứa tuổi ở các
Trang 21nước trong lĩnh vực trí nhớ ngôn ngữ là những khác biệt được quy định bởi đặc điểm của hệ thống ngôn ngữ và đặc điểm xã hội lịch sử.
Các công trình nghiên cứu về chú ý theo các phương pháp đơn giản được phổ biến trong tâm lý học và sinh lý học thần kinh cũng đi đến kết luận rằng, các chỉ số của các quá trình tâm lý trực tiếp ở học sinh Việt Nam không có gì khác so với học sinh các nước.
Còn những quá trình tâm lý cấp cao, như trí nhớ gián tiếp, trí nhớ ngôn ngữ, tư duy, v.v cho thấy rõ tính chất quyết định luận lịch sử xã hội của các quá trình ấy Một biểu hiện của quyết định luận này là ảnh hưởng của phương pháp giảng dạy đối với sự vận hành của quá trình tâm lý ấy ở học sinh Ví dụ, nếu để trẻ học một bài khóa lớp 4 theo cách thường gặp ở nhà trường, một bài chừng 200 từ, học sinh ở lớp đó trung bình phải học từ 30 - 60 phút và đến khi kiểm tra, quá nửa học sinh trong lớp nói đủ được các ý cơ bản
và các từ "then chốt' Nhưng nếu huấn luyện cho các
em phương pháp "điểm tựa" của A A Xmiếcnốp thì giảm được thời gian học, tăng số học sinh đạt kết quả mong muốn: được giáo viên dạy cho phương pháp học mới, học sinh biết cách tổ chức lại trí nhớ của
Trang 22Một loạt công trình nghiên cứu khác cũng được tiến hành nhằm tiếp tục tìm chỉ số tâm lý học của học sinh Việt Nam, đồng thời phát hiện tình hình học tập và giảng dạy ở trường phổ thông để góp phần chuẩn bị cho cải cách giáo dục cũng khẳng định thêm kết luận vừa nêu về các chức năng tâm lý cấp cao Ví
dụ, các công trình nghiên cứu về tư duy Cho thấy phương pháp giảng dạy cổ truyền (thuyết giáo) làm cho học sinh cấp II và cấp III bị hạn chế trong khi sử dụng các thao tác khái quát hóa, nắm bản chất khái niệm, v.v
Đã đi đến giả định rằng, chỉ cần có phương pháp và điều kiện giảng dạy tốt, tổ chức cho học sinh
có hoạt động tương ứng thì học sinh ở tất cả các trường đều có thể nắm được tri thức của khoa học hiện đại với trình độ tương đương các nước tiên tiến Thực vậy, chỉ cần cho trẻ mẫu giáo tập phân loại bằng
đồ vật, lời nói, v.v trẻ em tham gia thực nghiệm cho ta kết quả giống hệt trẻ em Nga đã tham gia thực nghiệm của E.I.Têkhêva và L.R.Côlubêva và các tác giả khác.
Ta có một bức tranh hoàn toàn mới, khi điểm
Trang 23qua các công trình nghiên cứu các hiện tượng tâm lý thường gọi là thuộc tính tâm lý, như hứng thú học tập, hứng thú nghề nghiệp, đại diện của thế giới tình cảm Các công trình nghiên cứu những thuộc tính này cho thấy vì sao học sinh cấp III rất quan tâm đến những vấn đề thời sự, xã hội Đó là ảnh hưởng của tình hình đất nước trong những năm 1965-1975 Cũng như ảnh hưởng và vị trí của cách mạng khoa học kỹ thuật làm cho sơ đồ hứng thú đối với các môn học ở học sinh cấp II và cấp III Việt Nam cũng giống học sinh các nước: đỉnh cao hứng thú rơi vào các môn khoa học tự nhiên.
Công trình tập thể của Ban Tâm lý học, Viện KHGD tiến hành năm 1972 tại trường Bắc Lý cho thấy
do có tham gia vào hoạt động lao động tạo ra sản phẩm có ý nghĩa trực tiếp đến đời sống gia đình, học sinh lớp 6, lớp 7 đã sớm hình thành được ý thức và mục đích xã hội của việc làm, việc học của bản thân Quan hệ giữa nghĩa và ý trong các mối quan hệ xã hội, công việc mà các em có tham gia, sớm được đặt ra Quan hệ nghĩa và ý ấy sớm có tính chất thực của cuộc sống Nói cách khác, quá trình hình thành ý thức, tự ý thức, tự khẳng định bằng các hoạt động học tập văn
Trang 24hóa, lao động và công tác xã hội, được hình thành khá
rõ ngay từ tuổi 12 - 15, tuổi học sinh cấp II.
Như vậy các công trình thực nghiệm về tâm lý học học sinh đưa ta đến kết luận rằng, hoạt động nhận thức của học sinh có những biểu hiện đặc thù bên cạnh những đặc điểm chung Chẳng hạn, ở học sinh cấp II Việt Nam, trong "hệ thống các chức năng tâm lý" (L.XVưgốtxki) đôi khi trí nhớ còn giữ vai trò chủ yếu (nhớ thế nào, nghĩ thế ấy) Ngược lại, trong phạm vi nhân cách, học sinh Vệt Nam lại có những chuyển dịch phát triển sớm hơn.
Nhiều cứ liệu của các công trình tiến hành trong những năm 1900, được phản ánh trong cuốn sách giáo khoa Tâm lý học thứ hai và các tập sách mới về tâm lý học, làm cho các cuốn sách này gần gũi hơn với sinh viên và bạn đọc Vệt Nam Quan điểm lịch
sử đã thấm nhuần tới các luận điểm cơ bản của các chương sách Lần đầu tiên trong các tài liệu Việt Nam
có giới thiệu tư tưởng "vòng phản xạ", và "hệ thống chức năng cơ động" (EK.Anôkhin, AN.Bécstêin, AR.Luria).
Một thành tích bước đầu trong việc xây dựng
Trang 25và phát triển tâm lý học Việt Nam là vào năm 1967 đã xuất bản cuốn Thuật ngữ tâm lý và giáo dục Vốn thuật ngữ này ngày càng phong phú hơn, chuẩn xác hơn và
đã được dùng vào việc xây dựng bộ Từ điển bách khoa đầu tiên ở Việt Nam.
Từ 1975, cùng với các khoa học khác, tâm lý học được Nhà nước hết sức quan tâm , tạo điều kiện phát triển Nhờ vậy, số lượng và trình độ cán bộ công tác trong ngành này được tăng cường, các tổ chức nghiên cứu tâm lý được mở rộng.
Nếu năm 1959-1960 mới có khóa đào tạo một năm cho cán bộ tâm lý - giáo dục, sau tăng lên 2 năm, cuối những năm 60 tăng lên 3 năm, từ năm
1973 có chương trình dạy 4 năm tại Khoa Tâm lý giáo dục (tổ chức từ năm 1962) đào tạo cán bộ tâm lý học
và giáo dục học Đồng thời, từ năm 1974, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội mở Khoa Triết học, trong đó có các chuyên đề tâm lý học Từ năm 1979, theo quyết định của Chính phủ, Viện Khoa học giáo dục và Trường ĐHSP Hà Nội I có hệ nghiên cứu sinh tâm lý học.
Về đội ngũ cán bộ tâm lý học, những năm
Trang 26gần đây ngoài số sinh viên được đào tạo về tâm lý học ở trong nước và nước ngoài, từ 1971 đến nay đã
có gần năm chục người hoàn thành luận án phó tiến
sĩ ở trong nước và nước ngoài và có ba người bảo vệ luận án tiến sĩ.
Trong các vấn đề phương pháp luận và lý luận chung có vấn đề xem xét ảnh hưởng của tâm lý học Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam Tính đến năm
1975, ở Sài Gòn và Huế đã xuất bản hàng trăm tên sách tâm lý học phân tâm, hiện sinh, Có ý kiến cho rằng, tâm lý học Hoa Kỳ du nhập vào miền Nam Vệt Nam chủ yếu là dòng lý thuyết Phrớt và hành vi chủ nghĩa Nhưng có điều lạ là rất ít thấy sách của các tác giả hành vi Các sách thuần túy tâm lý học hành vi hầu như chỉ là tài liệu dùng nội bộ trường học Cũng có một số sách giáo dục trình bày theo tâm lý học hành vi; một vài trường phổ thông thực nghiệm theo lý thuyết hành vi Nhưng số sách này so với sách của Phrớt, Átle, Iung, thật không đáng kể Có thể giả định rằng, có những nhà tư tưởng chủ trương: nên tiêm nhiễm cho dân thuộc địa tâm lý học sâu thẳm Phrớt để họ lý giải cuộc đời, còn xây dựng cuộc đời thì lấy cuộc sống cơ thể làm mục đích, theo kiểu "con người trung bình chủ
Trang 27nghĩa" Và, khi huấn luyện cho họ, thì theo công thức hành vi, để biến họ thành người máy" Đấu tranh chống lại các quan niệm phi nhân văn này là công việc cần làm trong tâm lý học, trong cuộc sống Một phần cuộc đấu tranh đó đã được phản ánh trên báo chí, trong giáo trình, sách giáo khoa dạy ở các trường miền Nam.
Nhưng, để xây dựng được một nền tâm lý học với tính cách là một bộ phận của nền khoa học dân tộc, nhiệm vụ chủ yếu là tiến hành được những công trình tâm lý học lý thuyết, đặc biệt là các công trình thực nghiệm dựa trên phương pháp luận mác-xít Đương nhiên, phải kết hợp chặt chẽ việc nghiên cứu với đào tạo bồi dưỡng, việc nghiên cứu và phổ biến khoa học vào các tầng lớp nhân dân đông đảo đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học tâm lý vào cuộc sống.
Trong bước đầu xây dựng khoa học tâm lý, chúng ta rất quan tâm đến việc hợp tác quốc tế Hơn hai mươi năm qua, ta đã dịch và xuất bản Gần 50 cuốn sách tâm lý học, dịch và in rônêô trên 5000 trang của các tác giả nổi tiếng các nước Chúng ta vừa học tập các bạn đồng nghiệp, vừa góp phần xây dựng khoa học tâm lý Đến nay, đã xuất bản được hơn 30 cuốn
Trang 28sách giáo khoa, chuyên khảo, kỷ yếu, đã có hàng trăm bài báo về tâm lý học và chúng ta đã từng tham gia nhiều cuộc hội nghị quốc tế về tâm lý học với nhiều bài giảng, báo cáo, tham luận, trong đó có hàng chục bài báo đăng ở nhiều nước trên thế giới.
Phương hướng lý thuyết cơ bản của các công trình nghiên cứu là lĩnh hội tốt phạm trù hoạt động đối tượng của chủ nghĩa Mác và vận dụng phạm trù đó vào việc nghiên cứu các quá trình, các thuộc tính tâm lý.
Việc nghiên cứu tâm lý học hiện nay đang tiến hành bao gồm các công trình phát hiện chỉ số, các công trình thực nghiệm nhằm góp phần thực sự xây dựng thực tiễn giáo dục, an ninh, quốc phòng, y tế, thể dục thể thao, quản lý lãnh đạo, v.v Kết quả của công trình này lần lượt đã phản ánh trong các báo cáo khoa học, đọc tại Hội nghị tâm lý học m iền Bắc m ỗi năm một lần (1974-1977), ba Hội nghị toàn quốc (1978,
1982, 1985) và Đại hội thành lập Hội Tâm lý Giáo dục Việt Nam (31 -12-1990).
Việc nghiên cứu tâm lý học ở nước ta tập trung trong các lĩnh vực sau đây:
1 Các vấn đề phương pháp luận,
Trang 29và sự hình thành nhân cách học sinh" (Viện tâm lý học
và sinh lý học lứa tuổi - Vện KHGD), "Nghiên cứu quy luật phát triển tâm lý trẻ em qua thực nghiệm giảng dạy các môn học theo chương trình và phương pháp mới ở học sinh Tiểu học" (Trung tâm thực nghiệm giáo dục phổ thông - Bộ Giáo dục), "Các vấn đề của tập thể học sinh xã hội chủ nghĩa (Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường ĐHSP Hà Nội), "Tâm lý học nhân cách người chiến sĩ' (Học viện chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam),v.v
Gần đây để phát triển nghiên cứu tâm lý học giao tiếp, tâm lý học xã hội, tâm lý học thị trường, mảng nghiên cứu nhân cách được tăng cường, nhất là
Trang 30từ khi tâm lý học tham gia vào Chương trình Nhà nước
"Con người - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội" (KX - 07).
Cơ sở lý luận của việc xây dựng tâm lý học ở nước ta xuất phát từ "Các cá thể thực, hoạt động của
họ và các điều kiện vật chất của cuộc sống của họ." (C.Mác) vì tâm lý người chỉ có thể ra đời nhờ hoạt động
và giao lưu diễn ra trong các mối quan hệ xã hội của chủ thể.
Nói cách khác, việc nghiên cứu tâm lý học được tiến hành theo quan điểm hoạt động ở mức độ nhân cách, gọi là phương pháp tiếp cận hoạt động nhân cách.
Là con đẻ của đường lối xây dựng khoa học của Vệt Nam, sinh ra trong thử thách kháng chiến và kiến quốc, ngay từ đầu đã gắn bó với nền tâm lý học tiến bộ trên thế giới, khoa tâm lý học ở Việt Nam sẽ ngày một phát triển mạnh mẽ hơn, nhằm đáp ứng những nhiệm vụ, yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Vệt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trang 32Quyển I CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
HOC
Phần 1 CÁC CÔNG TRlNH n g h iê n c ứ u t ừ n ă m 1962 ĐẾN NĂM 1968
Phần 6 ĐINH HƯỚNG CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN TÂM
LÝ HOC VIÉT NAM
Created by AM Word2CHM
Trang 33Phần 1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
TỪ NĂM 1962 ĐẾN NĂM 1968
I VÀI SỐ LIÊU VẺ GHI NHỚ M ÁY MÓC CỦA HỌC SINH VIÉT NAM
II - Ý KIẾN VẺ MÕT CUỐN TÂM LÝ HỌC XUẨT BẢN Ở SÀI GÒN
III - KHOA HỌC TÂM LÝ
IV CƠ SỞ SINH LÝ THẦN KINH CỦA CÁC HIÊN TƯỢNG TÂM LÝ
V SỰ NẢY SINH VÀ HlNH t h à n h t â m l ý, ý t h ứ c
Created by AM Word2CHM
Trang 34I VÀI SỐ LIỆU VỀ GHI NHỚ MÁY MÓC CỦA HỌC SINH VIỆT NAM
* « *
-h„,, , C f L
„ 'H O C -> Quyến L CÁC CỔNG TRÌNH NGHIỀN c ừ u
CCJNC 1 K°NH NOHIEN c ứ u T ư NAM 1 ^ 2 ĐEN NAM 1968
Tâm lý học là một khoa học còn trẻ Riêng ở Việt Nam, nó còn mới hơn hầu hết các ngành khoa học khác Cũng như trước đây hiện nay ở nước ta tâm
lý học mới tổn tại như một môn học ở trường sư phạm Các bài giảng tâm lý chủ yếu dựa vào các nguyên lý của chủ nghĩa Mác về con người và tài liệu tâm lý học nước ngoài, hầu hết là của các nhà tâm lý học xô-viết Đó là việc làm cần thiết và tất yếu ở giai đoạn mở đầu Tâm lý học là khoa học về con người,
có phần gắn với khoa học tự nhiên, có phần gắn với khoa học xã hội Nó có tính phổ biến, có các nguyên lý chung, quy luật chung, nhưng đồng thời cũng có tính đặc thù, có đặc điểm riêng của từng dân tộc Tổ Tâm lý học Trường đại học Sư phạm Hà Nội đã chú ý đến điểm đó, nhất là trong thời gian gần đây Trong các bài giảng lẻ tẻ đã có một số ví dụ của Việt Nam do anh em quan sát được hay lấy từ báo cáo của trường phổ thông, các ty giáo dục, sở giáo dục, các vụ chức năng
Trang 35Đó là ưu điểm ban đầu đáng khuyến khích Nhưng nếu chỉ làm như vậy thì chưa đáp ứng được yêu cầu của trường phổ thông, không phục vụ được thực tiễn Muốn giảng dạy tốt, phải nghiên cứu khoa học, đối với tâm lý học phải nói trên thực nghiệm khoa học.
Xuất phát từ những nhận thức ấy, từ lâu, Tổ tâm lý học muốn làm một số thực nghiệm tâm lý học với học sinh Việt Nam Năm 1962-1963, chúng tôi bắt đầu tiến hành một số thực nghiệm để tìm tiểu ký ức máy móc của học sinh cấp I (do hậu sinh viên lớp giáo dục học khóa 1962-1964 thực hiện) và một số thực nghiệm để tìm tiểu ghi nhớ có ý nghĩa ở học sinh cấp
II Ngoài ra, từ năm học 1963 - 1964, Tổ chúng tôi phối hợp với Vện Nghiên cứu khoa học giáo dục bắt đầu nghiên cứu tư duy của học sinh cấp II.
Nghiên cứu quá trình ký ức, quá trình tư duy của học sinh cũng như các hiện tượng tâm lý khác không phải chỉ để phát hiện chỉ tiêu này hay chỉ tiêu khác, mà chủ yếu là để tìm ra phương pháp có thể tác động vào học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy
và giáo dục Những thực nghiệm đầu tiên mà chúng tôi tiến hành là những thực nghiệm rất đơn giản và cũng chỉ mới cung cấp được một số chỉ tiêu về ký ức
Trang 36của học sinh, trước mắt nhằm phục vụ cho giáo trình tâm lý học.
Bài này giới thiệu vài số liệu về ký ức của học sinh các lớp 5,6,8 Đồng thời, giới thiệu số liệu của hai sinh viên làm với học sinh lớp 3, 4 và một số nhận xét rút ra từ các số liệu thu thập được Đó là kết quả chủ yếu do các đồng chí Đặng Xuân Hoài, Lê Văn Hồng, Bùi Đình Mỹ, Nguyễn Đức Anh và Phạm Minh Hạc cùng phụ trách Ngoài ra, có sự tham gia của các đồng chí Phùng Đức Hải, Phạm Hoàng Gia, Lê Thu Cúc, Bùi Đức Văn và sự giúp đỡ nhiệt tình của nữ đồng chí Cảnh, hiệu trưởng Trường cấp II Yên Hòa huyện Từ Liêm, Hà Nội và một số đồng chí giáo viên chủ nhiệm Trường cấp II - III Yên Hòa.
A PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
Các thực nghiệm đã tiến hành ở hai lớp 5, hai lớp 6 Trường cấp II Yên Hòa và một lớp 8 Trường cấp III Yên Hoa, với tổng số học sinh của 5 lớp là 120 em, trong đó có cả các em học lực khá, trung bình, kém; sức khỏe trung bình trở lên; tuổi theo quy định của Bộ Giáo dục (lớp 5: 12 13 tuổi; lớp 6: 13 - 14 tuổi, v.v ) Riêng thực nghiệm đầu tiến hành ở 8 lớp của 8 trường
Trang 37khác nhau ở Thái Nguyên, Hồng Quảng, Hà Nội.
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm theo phương pháp thực nghiệm tự nhiên Tất cả có 5 thực nghiệm:
những từ không có liên hệ về ý (từ rời rạc) Ở hai lớp 5A 6A và các lớp 3, 4 chúng tôi đã dùng 10 từ: sung sướng, nhà cửa, thương yêu, thành thị, căm ghét, đinh
ốc, cha mẹ, núi rừng, sợ sệt, sách vở ở các lớp 5B, 6B,
8 chúng tôi dùng 20 từ: hoa lá, nhà cửa, sung sướng, viên gạch, nức nở, thuyền bè, khổ sở, lạnh lùng, xe đạp, ghế đẩu, sợ sệt, thành thị, căm ghét, thương yêu, núi rừng, đinh ốc, đoàn kết, phấn khởi, cha mẹ, sách vở.
Sau khi ổn định trật tự, chuẩn bị giấy bút, được nghe giải thích về yêu cầu, mục đích và cách thức thực nghiệm, tất cả học sinh nghe người hướng dẫn đọc một lượt những từ theo thứ tự đã nêu ở trên Đọc thư thả, đều giọng, không nhấn mạnh riêng một
từ nào; khoảng cách thời gian giữa các từ bằng nhau, đọc to vừa đủ cho cả lớp nghe Ngay sau khi đọc xong, cho các em ghi lại những từ nào các em nhớ được.
Trang 38Trong thực nghiệm này, các em ghi lại các từ theo thứ
tự tùy ý, không cần phải theo trật tự các em nghe được.
Thực nghiệm tiến hành nhằm tìm hiểu xem mỗi học sinh ở mỗi lớp nhớ được bao nhiêu từ và tìm hiểu số lượng từ ghi nhớ được thay đổi như thế nào khi thay đổi số lượng tài liệu phải ghi nhớ.
tất cả các lớp, chúng tôi dùng 10 số, từ số có 3 chữ số đến số có 12 chữ số (theo Útuốc, Đức) sau đây:
972 1406 39418
Trang 393516927
58391204
Trang 402164089573
45382170369 870932614280 Trong thực nghiệm này, chúng tôi không đọc một lượt cả 10 số, mà đọc từng số một, rồi cho tái hiện ngay Khi đọc, đọc từng con số một, chứ không đọc triệu, vạn, nghìn, trăm, chục Ví dụ số 972 sẽ đọc như thế này: chín, bảy, hai Xong, cho các em viết lại ngay những số các em nhớ được Sau đó, đọc số 1406: một, bốn, không, sáu, rồi cho các em tái hiện ngay Cứ thế làm hết 10 số Ở đây yêu cầu phải ghi đúng và đủ các số đã nghe trong mỗi lượt Ví dụ, sau khi nghe đọc
số 39418, nếu các em ghi 34918 hay 3941, đều coi
là sai Thực nghiệm này cho ta biết mỗi học sinh ở mỗi lớp nhớ được số lớn nhất gồm bao nhiêu chữ số.
nhưng khác thực nghiệm trên: trong thực nghiệm này các em phải ghi nhớ và tái hiện từ theo đúng trật tự đã đọc cho các em nghe Ở đây, yêu cầu cao hơn.
Trong thực nghiệm này, ở các lớp 3, 4, 5Ạ 6Ạ