1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng tâm lý học sư phạm

116 489 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 1: TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG CHƯƠNG I. TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức: Xác định được đối tượng, nhiệm vụ của TLH, vị trí, ý nghĩa của TLH trong dạy học – giáo dục và trong cuộc sống. Phân tích được bản chất tâm lý người và chức năng của các hiện tượng tâm lý. Phân biệt được các loại hiện tượng tâm lý. Trình bày các phương pháp nghiên cứu tâm lý người. 2. Kỹ năng: Vận dụng những hiểu biết về khoa học tâm lý trong việc nhận định, phân tích và lý giải các hiện tượng tâm lý theo quan điểm khoa học. Vận dụng những hiểu biết về các phương pháp nghiên cứu để tìm hiểu các hiện tượng tâm lý của học sinh. 3. Thái độ: Ý thức được tầm quan trọng của TLH đối với bản thân trong quá trình rèn luyện trở thành người giáo viên. Từ đó xây dựng tình cảm và hứng thú học tập tích cực. II. NỘI DUNG 1. Đối tượng, nhiệm vụ, vị trí, ý nghĩa của TLH 2. Bản chất, chức năng, phân loại các hiện tượng tâm lý 3. Phương pháp nghiên cứu của TLH hiện đại III. PHƯƠNG PHÁP Thuyết trình tích cực, thảo luận nhóm và hướng dẫn tự học. IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) (2007), Tâm lý học, NXBGD. 2. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998), Tâm lý học (tập 1), NXBGD. 3. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998), Tâm lý học, NXBGD. 4. Nguyễn Xuân Thức (chủ biên) (2007), Giáo trình TLH đại cương, NXB ĐHSP. 5. Bùi Ngọc Oánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh (1995), Tâm lý học (tập 1), Trường ĐHSP tp.HCM. 6. Trần Trọng Thủy (chủ biên), Bài tập thực hành TLH, NXBGD. NỘI DUNG BÀI GIẢNG I. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, VỊ TRÍ, Ý NGHĨA CỦA TLH 1. Đối tượng của TLH Đối tượng của TLH là các hiện tượng tâm lý với tư cách là một hiện tượng tinh thần được sinh ra trên cơ sở hiện thực khách quan tác động vào não người, gọi chung là hoạt động tâm lý. TLH nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triên của hoạt động tâm lý. 2. Nhiệm vụ của TLH Nhiệm vụ cơ bản của TLH là nghiên cứu: Bản chất của hoạt động tâm lý Các quy luật nảy sinh và phát triển tâm lý Những cơ sở khách quan và chủ quan tạo ra tâm lý người Cơ chế hình thành và biểu hiện của hoạt động tâm lý Chức năng, vai trò của tâm lý đối với hoạt động của con người Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu, TLH đưa ra các giải pháp hữu hiệu cho việc hình thành và phát triển tâm lý, sử dụng nhân tố tâm lý trong con người có hiệu quả nhất. 3. Vị trí, ý nghĩa của Tâm lý học 3.1. Vị trí của TLH Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học khác nhau dưới các góc độ khác nhau. Trong các khoa học nghiên cứu về con người, TLH chiếm một vị trí quan trọng nhất. TLH nghiên cứu đời sống, đặc điểm, năng lực con người để hiểu con người và đưa ra hướng phát triển con người. TLH có mối quan hệ với nhiều khoa học. Viện sỹ Triết học Kêđơrov (Liên Xô) đã đưa ra sơ đồ quan hệ của TLH với Triết học, KHTN và KHXH như sau: Triết học: Là nền tảng của TLH, cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận cho TLH, ngược lại TLH đóng góp nhiều tư liệu quan trọng làm phong phú Triết học. KHTN: Giải phẫu sinh lý, Di truyền học, Sinh lý thần kinh,… góp phần làm sáng tỏ sự hình thành tâm lý. TLH góp phần vào việc nghiên cứu con người đầy đủ và toàn diện. KHXH: Xã hội học, Dân tộc học, Văn học, Nghệ thuật,… cung cấp tư liệu cho TLH. Thành tựu của TLH có thể ứng dụng hiệu quả trong sáng tác văn học, nghệ thuật và xây dựng đời sống pháp luật của XH,… 3.2. Ý nghĩa của TLH Về mặt lý luận: TLH đóng góp tích cực vào việc đấu tranh chống lại quan điểm phản khoa học trong nghiên cứu tâm lý con người, khẳng định quan điểm DVBC và DVLS. Ý nghĩa thực tiễn: + TLH trực tiếp phục vụ cho sự nghiệp GD. + TLH giúp cho mỗi chúng ta giải thích một cách khoa học những hiện tượng tâm lý của bản thân và những người xung quanh. Trên cơ sở đó, mỗi người có thể tự rèn luyện, hoàn thiện bản thân và xây dựng các mối quan hệ cộng đồng tốt đẹp. Ngoài ra, TLH còn ứng dụng trong nhiều mặt khác của đời sống XH như trong kinh doanh, du lịch, quản lý,… II. BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ 1. Tâm lý là gì? Từ điển Tiếng Việt (1988): tâm lý là ý nghĩ, tình cảm,… làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong con người,… Theo nghĩa đời thường chữ “tâm” thường dùng như “nhân tâm”, “tâm giao”, “tâm can” có nghĩa như chữ “lòng” thiên về tình cảm, chữ “hồn” chỉ diễn đạt tư tưởng, tinh thần, ý thức,… của con người, tâm hồn gắn với thể xác. Từ điển Phật học (Đoàn Trọng Côn): “tâm” là lòng cảm động, là cái chí, ý thức. cái linh của con người nói chung, của con người với vũ trụ, “lý” là lý lẽ về tâm hồn. 2. Bản chất hiện tượng tâm lý người Có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất hiện tượng tâm lý người: Quan niệm duy tâm: Linh hồn của con người do thượng đế, trời tạo ra và nhập vào thể xác con người, tâm lý không phụ thuộc vào TGKQ cũng như điều kiện thực tại của cuộc sống. Hiểu tâm lý một cách thần bí, không thể nghiên cứu được. Quan niệm duy tâm chủ quan: Tâm lý là cái sẵn có. Quan niệm duy vật tầm thường: Tâm lý cũng như mọi SVHT được cấu tạo từ vật chất, do vật chất trực tiếp sản sinh… Đồng nhất tâm lý với sinh lý, phủ nhận tính tích cực của tâm lý, tính chủ thể, bản chất XH và tính lịch sử của tâm lý người. Quan niệm CNDVBC khẳng định: “Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể, tâm lý người có bản chất XH và mang tính lịch sử”. Đây là quan niệm khoa học, giải thích một cách rõ ràng và hợp lý về các hiện tượng tâm lý. Bản chất hiện tượng tâm lý thể hiện dưới 3 luận điểm sau: 2.1. Tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông quan chủ thể Thế giới khách quan tồn tại bằng các thuộc tính không gian, thời gian và luôn vận động. Phản ánh là thuộc tính chung của mỗi SVHT đang vận động. Phản ánh là quá trình tác động qua lại giữa hai hệ thống, kết quả để lại dấu vết (hình ảnh) tác động ở cả hai hệ thống tác động và hệ thống chịu tác động. Có nhiều hình thức phản ánh diễn ra từ đơn giản đến phức tạp và có sự chuyển hóa cho nhau: phản ánh cơ học, vật lý, hóa học, sinh vật cho đến phản ánh XH trong đó có phản ánh tâm lý. Phản ánh tâm lý là một phản ánh đặc biệt “đó là sự tác động của hiện thực khách quan vào con người, vào hệ thần kinh, bộ não con người – tổ chức cao nhất của vật chất”. Hiện thực khách quan là tất cả những gì tồn tại xung quanh con người, ngoài ý muốn chủ quan của con người (thế giới tự nhiên, thế giới XH). Phản ánh hiện thực khách quan của não chính là sự ghi nhận hình ảnh của hiện thực khách quan vào não và hình ảnh đó gọi là hình ảnh tâm lý. Vì vậy, C.Mac nói: “tinh thần, tư tưởng, tâm lý,… chẳng qua là vật chất được chuyển vào trong đầu óc, biến đổi trong đó mà có”. Như vậy, tâm lý không phải là cái bẩm sinh, tự có trong não, tâm lý chỉ là hình ảnh của hiện thực khách quan trong não mà thôi và hình ảnh của phản ánh tâm lý khác xa về chất so với hình ảnh phản ánh của các hình thức phản ánh khác ở chỗ: Hình ảnh tâm lý mang tính sinh động, sáng tạo: Hình ảnh tâm lý về cuốn sách trong đầu của người biết chữ, khác xa về chất so với hình ảnh vật lý có tính chất “chết cứng”, hình ảnh vật chất của chính cuốn sách đó ở trong gương. Hình ảnh tâm lý mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân: Hình ảnh tâm lý là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Tính chủ thể của hình ảnh tâm lý biểu hiện ở chỗ: trong khi tạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới, chủ thể đã đưa vốn hiểu biết, kinh nghiệm, cái riêng của mình (nhu cầu, xu hướng, tính khí, năng lực,…) vào trong hình ảnh đó, làm nó mang đậm màu sắc cá nhân. Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý thể hiện ở chỗ: + Cùng một hiện thực khách quan tác động nhưng ở những con người khác nhau hình ảnh tâm lý khác nhau về mức độ, sắc thái, chẳng hạn như trong tình yêu, đàn ông yêu bằng mắt, phụ nữ yêu bằng tai,… + Cùng một hiện thực khách quan tác động vào một chủ thể nhưng trong những thời điểm, hoàn cảnh, trạng thái cơ thể, trạng thái tâm lý khác nhau có thể cho thấy mức độ biểu hiện và sắc thái khác nhau ở chính chủ thể ấy, và ngay cả trong cùng một con người thì sự phản ánh cũng khác nhau, chẳng hạn như một bản nhạc được nghe bởi một chủ thể nhưng trong những hoàn cảnh khác nhau sẽ có cảm nhận, cảm xúc khác nhau. + Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lý là người cảm nhận, cảm nghiệm và thể hiện nó rõ nhất. + Thông qua các mức độ và sắc thái tâm lý khác nhau mà mỗi chủ thể tỏ thái độ, hành vi khác nhau đối với hiện thực. Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý do nhiều yếu tố chi phối như đặc điểm giải phẫu sinh lý, hoàn cảnh sống, điều kiện GD, vốn sống, lứa tuổi, nền văn hóa, nghề nghiệp,.. đặc biệt do mức độ tích cực hoạt động và giao lưu của cá nhân. Từ việc phân tích luận điểm trên, có thể đưa ra kết luận cơ bản như sau: Tâm lý có nguồn gốc là hiện thực khách quan, vì thế khi nghiên cứu cũng như hình thành, cải tổ tâm lý người phải nghiên cứu hoàn cảnh trong đó con người sống và hoạt động. Tâm lý người mang tính chủ thể, vì thế trong dạy học, giáo dục cũng như trong quan hệ ứng xử phải chú ý nguyên tắc sát đối tượng (chú ý đến đặc điểm riêng của con người), chẳng hạn có lần Khổng Tử ( 551 – 479 TCN ) đang dạy học, học trò Tử Lộ hỏi thầy “một việc tốt có nên làm ngay không?”. Khổng Tử trả lời “Bàn bạc với người lớn chút đã rồi hãy làm”. Lần khác học trò Nhiễm Hữu cũng hỏi thầy câu hỏi trên. Ông trả lời “Đương nhiên nên làm ngay đi”. Tại sao cùng một câu hỏi mà Khổng Tử lại trả lời mỗi trò một khác? Bởi vì, Tử Lộ làm việc hay dông dài, bộp chộp, vội vàng, hấp tấp, còn Nhiễm Hữu trước việc làm gì vẫn thường nhút nhát, do dự, không dám làm nên Khổng Tử cổ vũ anh ta mạnh bạo làm ngay. Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp, vì thế phải tổ chức hoạt động và các quan hệ giao tiếp để nghiên cứu, hình thành và phát triển tâm lý con người. 2.2. Tâm lý là chức năng của não Mối liên hệ giữa não và tâm lý là vấn đề cơ bản trong việc lý giải cơ sở vật chất, cơ sở tự nhiên của hiện tượng tâm lý người. Không phải cơ sở vật chất nào trong cơ thể cũng có chức năng làm nảy sinh tâm lý. Khoa học đã chứng minh hiện tượng tâm lý đơn giản nhất là cảm giác bắt đầu xuất hiện ở loài động vật có hệ thần kinh mấu (giun). Và theo dòng tiến hóa sinh vật, những hiện tượng tâm lý càng trở nên phức tạp hơn tương xứng với sự phát triển của hệ thần kinh. Đến con người, bộ não đã phát triển phức tạp và tinh vi nhất mới có thể tạo ra tâm lý. Não người không chỉ là sản phẩm đơn thuần của quá trình tiến hóa sinh vật, mà chủ yếu là sản phẩm của quá trình tiến hóa lịch sử xã hội dưới tác động của lao động và ngôn ngữ. Vì vậy, Ănghen đã khẳng định: “Ý thức của chúng ta, tư duy của chúng ta… là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao, là cơ quan nhục thể của não”. V.I.Lênin cũng viết: “Tâm lý, ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao, là chức năng của khối vật chất đặc biệt phức tạp là não người”. Điều này cũng được CNDVBC khẳng định: Vật chất có trước, tâm lý, ý thức có sau là sản phẩm của vật chất đã đạt đến trình độ tinh vi và phức tạp nhất đó là não. Vật chất quyết định tâm lý, ý thức. Bộ não nhận các tác động của HTKQ dưới dạng các xung động thần kinh, cùng với những biến đổi lý hóa ở từng nơron thần kinh, từng xinap, các trung khu TK dưới vỏ và vỏ não làm cho bộ não hoạt động theo các quy luật thần kinh tạo nên hiện tượng tâm lý này hay hiện tượng tâm lý khác. Như vậy, cơ quan vật chất của tâm lý là não, hoạt động của não là cơ chế sinh lý thần kinh của hoạt động tâm lý. Tâm lý là chức năng của não, nhưng tâm lý không phải là não. Tuy nhiên, không phải cứ có não và vỏ não là có hiện tượng tâm lý. Đó là điều kiện cần, cái quyết định ở chổ là con người có động não hay không. Não phải ở trạng thái hoạt động mới tạo ra hình ảnh tâm lý. Não chỉ qui định hình thức biểu hiện, tốc độ biểu hiện nhanh hay chậm, cường độ manh hay yếu của hiện tượng tâm lý, còn nội dung của hình ảnh tâm lý do HTKQ, kinh nghiệm sống, hoạt động của cá nhân qui định. 2.3. Tâm lý người có bản chất xã hội lịch sử Tâm lý người có nguồn gốc từ HTKQ, trong đó cuộc sống XH là cái quyết định tâm lý con người, thể hiện qua các mối quan hệ kinh tế XH, quan hệ đạo đức, pháp quyền, quan hệ làng xóm, quan hệ giữa con người với nhau,… Các mối quan hệ này quyết định bản chất tâm lý. Nếu thoát ly các mối quan hệ này, con người sẽ bản tính người, rối loạn hoặc tâm lý phát triển không bình thường. Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao lưu của con người trong các quan hệ XH, vì thế tâm lý người mang đầy đủ dấu ấn XH – LS mà trong đó con người là một thành viên sống và hoạt động. Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm XH, nền văn hóa XH thông qua hoạt động, giao tiếp, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo, hoạt động và giao tiếp của con người có tính quyết định trực tiếp. Tâm lý của mỗi người hình thành, phát triển, biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc, và cộng đồng mà người đó là thành viên. Tâm lý của mỗi người bị chế ước bởi lịch sử của cá nhân và cộng đồng. 3. Chức năng của tâm lý Hiện thực khách quan quyết định tâm lý con người nhưng chính tâm lý con người lại tác động trở lại hiện thực bằng tính năng động, sáng tạo của nó, thông qua hoạt động, hành động, hành vi. Sự điều hành của tâm lý đối với hoạt động sống của con người biểu hiện: Tâm lý có chức năng chung là định hướng cho hoạt động, ở đây muốn nói đến vai trò của động cơ, mục đích của hoạt động. Nhờ có sự định hướng mà hoạt động được chính xác và có hiệu quả. Tâm lý là động lực thúc đẩy. Các yếu tố tâm lý như sự say mê, lương tâm, danh dự, thất vọng, hụt hẫng,… có thể làm cho hoạt động mạnh lên hay yếu đi, kìm hãm hoặc thúc đẩy hoạt động. Tâm lý điều khiển và kiểm soát hoạt động bằng chương trình, kế hoạch, phương pháp, phương thức tiến hành hoạt động làm cho hoạt động của con người trở nên có ý thức, đem lại hiệu quả nhất định. Tâm lý giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với mục tiêu đã xác định đồng thời phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế cho phép. 4. Phân loại hiện tượng tâm lý Có nhiều cách phân loại. Song, cách phân loại mà nhà tâm lý học N.Đ.Lêvitop đưa ra dựa theo thời gian tồn tại của các hiện tượng tâm lý và vị trí tương đối của chúng trong nhân cách thành 3 nhóm hiện tượng tâm lý chính: quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý và thuộc tính tâm lý được sử dụng phổ biến. 4.1. Cách phân loai phổ biến 4.1.1. Quá trình tâm lý: Là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn (vài giây đến vài giờ), có mở đầu, diễn biến và kết thúc tương đối rõ ràng. Quá trình tâm lý gồm có 3 quá trình sau: a. Quá trình nhận thức: Là quá trình phản ánh bản thân SVHT trong hiện thực khách quan, bao gồm: Nhận thức cảm tính: Là quá trình phản ánh những thuộc tính bên ngoài không bản chất của SVHT khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan. Quá trình này giúp con người hiểu biết về thế giới khách quan, bao gồm 2 mức độ nhận thức là cảm giác và tri giác. Nhận thức trung gian: Phản ánh thuộc tính khái quát bên ngoài không bản chất của SVHT. Quá trình này giúp con người lưu trữ hình ảnh của SVHT khi chúng không còn trực tiếp tác động, đó là quá trình trí nhớ. Nhận thức lý tính: Phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ quan hệ có tính qui luật của SVHT mà trước đó con người chưa biết. Quá trình này giúp con người cải tạo được thế giới khách quan, bao gồm 2 mức độ là tư duy và tưởng tượng. b. Quá trình xúc cảm – tình cảm: Là sự biểu thị thái độ của con người đối với đối tượng mà con người nhận thức được như sự hài lòng, phấn khởi, buồn phiền, lo âu,… c. Quá trình ý chí và hành động: Là quá trình con người tác động vào thế giới khách quan nhằm cải tạo thế giới khách quan. 4.1.2. Trạng thái tâm lý: Là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài (vài chục phút đến vài tháng), mở đầu và kết thúc không rõ ràng, như chú ý, tâm trạng,… Trạng thái tâm lý có thể đi kèm với quá trình tâm lý và chi phối nó như trạng thái căng thẳng, hồi hộp, bâng khuâng, do dự, lo lắng, vui mừng,… 4.1.3. Thuộc tính tâm lý: Là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành và khó mất đi tạo thành những nét riêng của nhân cách, chi phối các quá trình tâm lý và trạng thái tâm lý của con người, bao gồm 4 thuộc tính như sau: xu hướng (mặt chỉ đạo nhân cách), tính cách (mặt bản chất, cái gốc của nhân cách), khí chất (sắc thái biểu hiện của tính cách), năng lực (khả năng hiện thực của một nhân cách) 4.2. Căn cứ vào sự tham gia của ý thức .................

Trang 1

PHẦN 1: TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG CHƯƠNG I TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC

I MỤC TIÊU

1 Kiến thức:

- Xác định được đối tượng, nhiệm vụ của TLH, vị trí, ý nghĩa của TLH trong dạy học – giáo dục và trong cuộc sống

- Phân tích được bản chất tâm lý người và chức năng của các hiện tượng tâm lý

- Phân biệt được các loại hiện tượng tâm lý

- Trình bày các phương pháp nghiên cứu tâm lý người

II NỘI DUNG

1 Đối tượng, nhiệm vụ, vị trí, ý nghĩa của TLH

2 Bản chất, chức năng, phân loại các hiện tượng tâm lý

3 Phương pháp nghiên cứu của TLH hiện đại

III PHƯƠNG PHÁP

Thuyết trình tích cực, thảo luận nhóm và hướng dẫn tự học

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) (2007), Tâm lý học, NXBGD.

2 Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998), Tâm lý học (tập 1), NXBGD.

3 Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998), Tâm lý học, NXBGD.

4 Nguyễn Xuân Thức (chủ biên) (2007), Giáo trình TLH đại cương, NXB ĐHSP.

5 Bùi Ngọc Oánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh (1995), Tâm lý học (tập 1),

Trường ĐHSP tp.HCM

6 Trần Trọng Thủy (chủ biên), Bài tập thực hành TLH, NXBGD.

NỘI DUNG BÀI GIẢNG

I ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, VỊ TRÍ, Ý NGHĨA CỦA TLH

1 Đối tượng của TLH

Đối tượng của TLH là các hiện tượng tâm lý với tư cách là một hiện tượng tinh thần

được sinh ra trên cơ sở hiện thực khách quan tác động vào não người, gọi chung là hoạt động tâm lý

TLH nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triên của hoạt động tâm lý

2 Nhiệm vụ của TLH

Nhiệm vụ cơ bản của TLH là nghiên cứu:

- Bản chất của hoạt động tâm lý

- Các quy luật nảy sinh và phát triển tâm lý

- Những cơ sở khách quan và chủ quan tạo ra tâm lý người

- Cơ chế hình thành và biểu hiện của hoạt động tâm lý

- Chức năng, vai trò của tâm lý đối với hoạt động của con người

Trang 2

Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu, TLH đưa ra các giải pháp hữu hiệu cho việc hình thành và phát triển tâm lý, sử dụng nhân tố tâm lý trong con người có hiệu quả nhất.

3 Vị trí, ý nghĩa của Tâm lý học

3.1 Vị trí của TLH

Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học khác nhau dưới các góc độ khác nhau Trong các khoa học nghiên cứu về con người, TLH chiếm một vị trí quan trọng nhất TLH nghiên cứu đời sống, đặc điểm, năng lực con người để hiểu con người và đưa ra hướng phát triển con người

TLH có mối quan hệ với nhiều khoa học Viện sỹ Triết học Kêđơrov (Liên Xô) đã đưa

ra sơ đồ quan hệ của TLH với Triết học, KHTN và KHXH như sau:

- Triết học: Là nền tảng của TLH, cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận cho TLH, ngược lại TLH đóng góp nhiều tư liệu quan trọng làm phong phú Triết học

- KHTN: Giải phẫu sinh lý, Di truyền học, Sinh lý thần kinh,… góp phần làm sáng tỏ sự hình thành tâm lý TLH góp phần vào việc nghiên cứu con người đầy đủ và toàn diện

- KHXH: Xã hội học, Dân tộc học, Văn học, Nghệ thuật,… cung cấp tư liệu cho TLH Thành tựu của TLH có thể ứng dụng hiệu quả trong sáng tác văn học, nghệ thuật và xây dựng đời sống pháp luật của XH,…

3.2 Ý nghĩa của TLH

- Về mặt lý luận: TLH đóng góp tích cực vào việc đấu tranh chống lại quan điểm phản khoa học trong nghiên cứu tâm lý con người, khẳng định quan điểm DVBC và DVLS

- Ý nghĩa thực tiễn:

+ TLH trực tiếp phục vụ cho sự nghiệp GD

+ TLH giúp cho mỗi chúng ta giải thích một cách khoa học những hiện tượng tâm lý của bản thân và những người xung quanh Trên cơ sở đó, mỗi người có thể tự rèn luyện, hoàn thiện bản thân và xây dựng các mối quan hệ cộng đồng tốt đẹp Ngoài ra, TLH còn ứng dụng trong nhiều mặt khác của đời sống XH như trong kinh doanh, du lịch, quản lý,…

II BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ

1 Tâm lý là gì?

- Từ điển Tiếng Việt (1988): tâm lý là ý nghĩ, tình cảm,… làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong con người,…

- Theo nghĩa đời thường chữ “tâm” thường dùng như “nhân tâm”, “tâm giao”, “tâm can”

có nghĩa như chữ “lòng” thiên về tình cảm, chữ “hồn” chỉ diễn đạt tư tưởng, tinh thần, ý thức,

… của con người, tâm hồn gắn với thể xác

- Từ điển Phật học (Đoàn Trọng Côn): “tâm” là lòng cảm động, là cái chí, ý thức cái linh của con người nói chung, của con người với vũ trụ, “lý” là lý lẽ về tâm hồn

2 Bản chất hiện tượng tâm lý người

Có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất hiện tượng tâm lý người:

Triết học

Tâm lý

KHTN

Trang 3

- Quan niệm duy tâm: Linh hồn của con người do thượng đế, trời tạo ra và nhập vào thể xác con người, tâm lý không phụ thuộc vào TGKQ cũng như điều kiện thực tại của cuộc sống Hiểu tâm lý một cách thần bí, không thể nghiên cứu được.

- Quan niệm duy tâm chủ quan: Tâm lý là cái sẵn có

- Quan niệm duy vật tầm thường: Tâm lý cũng như mọi SVHT được cấu tạo từ vật chất,

do vật chất trực tiếp sản sinh… Đồng nhất tâm lý với sinh lý, phủ nhận tính tích cực của tâm lý, tính chủ thể, bản chất XH và tính lịch sử của tâm lý người

- Quan niệm CNDVBC khẳng định: “Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể, tâm lý người có bản chất XH và mang tính lịch sử”

Đây là quan niệm khoa học, giải thích một cách rõ ràng và hợp lý về các hiện tượng tâm lý

* Bản chất hiện tượng tâm lý thể hiện dưới 3 luận điểm sau:

2.1 Tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông quan chủ thể

- Thế giới khách quan tồn tại bằng các thuộc tính không gian, thời gian và luôn vận động Phản ánh là thuộc tính chung của mỗi SVHT đang vận động

Phản ánh là quá trình tác động qua lại giữa hai hệ thống, kết quả để lại dấu vết (hình ảnh) tác động ở cả hai hệ thống tác động và hệ thống chịu tác động

Có nhiều hình thức phản ánh diễn ra từ đơn giản đến phức tạp và có sự chuyển hóa cho nhau: phản ánh cơ học, vật lý, hóa học, sinh vật cho đến phản ánh XH trong đó có phản ánh tâm lý

- Phản ánh tâm lý là một phản ánh đặc biệt “đó là sự tác động của hiện thực khách quan vào con người, vào hệ thần kinh, bộ não con người – tổ chức cao nhất của vật chất”

Hiện thực khách quan là tất cả những gì tồn tại xung quanh con người, ngoài ý muốn chủ quan của con người (thế giới tự nhiên, thế giới XH) Phản ánh hiện thực khách quan của não chính là

sự ghi nhận hình ảnh của hiện thực khách quan vào não và hình ảnh đó gọi là hình ảnh tâm lý

Vì vậy, C.Mac nói: “tinh thần, tư tưởng, tâm lý,… chẳng qua là vật chất được chuyển vào trong đầu óc, biến đổi trong đó mà có” Như vậy, tâm lý không phải là cái bẩm sinh, tự có trong não, tâm lý chỉ là hình ảnh của hiện thực khách quan trong não mà thôi và hình ảnh của phản ánh tâm lý khác xa về chất so với hình ảnh phản ánh của các hình thức phản ánh khác ở chỗ:

Hình ảnh tâm lý mang tính sinh động, sáng tạo: Hình ảnh tâm lý về cuốn sách trong đầu

của người biết chữ, khác xa về chất so với hình ảnh vật lý có tính chất “chết cứng”, hình ảnh vật chất của chính cuốn sách đó ở trong gương

Hình ảnh tâm lý mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân: Hình ảnh tâm lý là

hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan Tính chủ thể của hình ảnh tâm lý biểu hiện ở chỗ: trong khi tạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới, chủ thể đã đưa vốn hiểu biết, kinh nghiệm, cái riêng của mình (nhu cầu, xu hướng, tính khí, năng lực,…) vào trong hình ảnh đó, làm nó mang đậm màu sắc cá nhân Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý thể hiện ở chỗ:

+ Cùng một hiện thực khách quan tác động nhưng ở những con người khác nhau hình ảnh tâm lý khác nhau về mức độ, sắc thái, chẳng hạn như trong tình yêu, đàn ông yêu bằng mắt, phụ nữ yêu bằng tai,…

+ Cùng một hiện thực khách quan tác động vào một chủ thể nhưng trong những thời điểm, hoàn cảnh, trạng thái cơ thể, trạng thái tâm lý khác nhau có thể cho thấy mức độ biểu hiện và sắc thái khác nhau ở chính chủ thể ấy, và ngay cả trong cùng một con người thì sự phản ánh cũng khác nhau, chẳng hạn như một bản nhạc được nghe bởi một chủ thể nhưng trong những hoàn cảnh khác nhau sẽ có cảm nhận, cảm xúc khác nhau

+ Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lý là người cảm nhận, cảm nghiệm và thể hiện nó rõ nhất

Trang 4

+ Thông qua các mức độ và sắc thái tâm lý khác nhau mà mỗi chủ thể tỏ thái độ, hành vi khác nhau đối với hiện thực.

Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý do nhiều yếu tố chi phối như đặc điểm giải phẫu sinh

lý, hoàn cảnh sống, điều kiện GD, vốn sống, lứa tuổi, nền văn hóa, nghề nghiệp, đặc biệt do mức độ tích cực hoạt động và giao lưu của cá nhân

Từ việc phân tích luận điểm trên, có thể đưa ra kết luận cơ bản như sau:

- Tâm lý có nguồn gốc là hiện thực khách quan, vì thế khi nghiên cứu cũng như hình thành, cải tổ tâm lý người phải nghiên cứu hoàn cảnh trong đó con người sống và hoạt động

- Tâm lý người mang tính chủ thể, vì thế trong dạy học, giáo dục cũng như trong quan

hệ ứng xử phải chú ý nguyên tắc sát đối tượng (chú ý đến đặc điểm riêng của con người), chẳng hạn có lần Khổng Tử ( 551 – 479 TCN ) đang dạy học, học trò Tử Lộ hỏi thầy “một việc tốt có nên làm ngay không?” Khổng Tử trả lời “Bàn bạc với người lớn chút đã rồi hãy làm!” Lần khác học trò Nhiễm Hữu cũng hỏi thầy câu hỏi trên Ông trả lời “Đương nhiên nên làm ngay đi!” Tại sao cùng một câu hỏi mà Khổng Tử lại trả lời mỗi trò một khác? Bởi vì, Tử Lộ làm việc hay dông dài, bộp chộp, vội vàng, hấp tấp, còn Nhiễm Hữu trước việc làm gì vẫn thường nhút nhát, do dự, không dám làm nên Khổng Tử cổ vũ anh ta mạnh bạo làm ngay

- Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp, vì thế phải tổ chức hoạt động và các quan hệ giao tiếp để nghiên cứu, hình thành và phát triển tâm lý con người

2.2 Tâm lý là chức năng của não

Mối liên hệ giữa não và tâm lý là vấn đề cơ bản trong việc lý giải cơ sở vật chất, cơ sở

tự nhiên của hiện tượng tâm lý người Không phải cơ sở vật chất nào trong cơ thể cũng có chức năng làm nảy sinh tâm lý Khoa học đã chứng minh hiện tượng tâm lý đơn giản nhất là cảm giác bắt đầu xuất hiện ở loài động vật có hệ thần kinh mấu (giun) Và theo dòng tiến hóa sinh vật, những hiện tượng tâm lý càng trở nên phức tạp hơn tương xứng với sự phát triển của hệ thần kinh Đến con người, bộ não đã phát triển phức tạp và tinh vi nhất mới có thể tạo ra tâm

lý Não người không chỉ là sản phẩm đơn thuần của quá trình tiến hóa sinh vật, mà chủ yếu là sản phẩm của quá trình tiến hóa lịch sử xã hội dưới tác động của lao động và ngôn ngữ Vì vậy,

Ănghen đã khẳng định: “Ý thức của chúng ta, tư duy của chúng ta… là sản phẩm của vật chất

có tổ chức cao, là cơ quan nhục thể của não” V.I.Lênin cũng viết: “Tâm lý, ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao, là chức năng của khối vật chất đặc biệt phức tạp là não người” Điều này cũng được CNDVBC khẳng định: Vật chất có trước, tâm lý, ý thức có sau là sản phẩm của vật chất đã đạt đến trình độ tinh vi và phức tạp nhất đó là não Vật chất quyết định tâm lý, ý thức.

Bộ não nhận các tác động của HTKQ dưới dạng các xung động thần kinh, cùng với những biến đổi lý hóa ở từng nơron thần kinh, từng xinap, các trung khu TK dưới vỏ và vỏ não làm cho bộ não hoạt động theo các quy luật thần kinh tạo nên hiện tượng tâm lý này hay hiện tượng tâm lý khác

Như vậy, cơ quan vật chất của tâm lý là não, hoạt động của não là cơ chế sinh lý thần kinh của hoạt động tâm lý Tâm lý là chức năng của não, nhưng tâm lý không phải là não Tuy nhiên, không phải cứ có não và vỏ não là có hiện tượng tâm lý Đó là điều kiện cần, cái quyết định ở chổ là con người có động não hay không Não phải ở trạng thái hoạt động mới tạo ra hình ảnh tâm lý Não chỉ qui định hình thức biểu hiện, tốc độ biểu hiện nhanh hay chậm, cường

độ manh hay yếu của hiện tượng tâm lý, còn nội dung của hình ảnh tâm lý do HTKQ, kinh nghiệm sống, hoạt động của cá nhân qui định

2.3 Tâm lý người có bản chất xã hội lịch sử

- Tâm lý người có nguồn gốc từ HTKQ, trong đó cuộc sống XH là cái quyết định tâm lý

Trang 5

con người, thể hiện qua các mối quan hệ kinh tế XH, quan hệ đạo đức, pháp quyền, quan hệ làng xóm, quan hệ giữa con người với nhau,… Các mối quan hệ này quyết định bản chất tâm

lý Nếu thoát ly các mối quan hệ này, con người sẽ bản tính người, rối loạn hoặc tâm lý phát triển không bình thường

- Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao lưu của con người trong các quan hệ

XH, vì thế tâm lý người mang đầy đủ dấu ấn XH – LS mà trong đó con người là một thành viên sống và hoạt động

- Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm

XH, nền văn hóa XH thông qua hoạt động, giao tiếp, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo, hoạt động và giao tiếp của con người có tính quyết định trực tiếp

- Tâm lý của mỗi người hình thành, phát triển, biến đổi cùng với sự phát triển của lịch

sử cá nhân, lịch sử dân tộc, và cộng đồng mà người đó là thành viên Tâm lý của mỗi người bị chế ước bởi lịch sử của cá nhân và cộng đồng

3 Chức năng của tâm lý

Hiện thực khách quan quyết định tâm lý con người nhưng chính tâm lý con người lại tác động trở lại hiện thực bằng tính năng động, sáng tạo của nó, thông qua hoạt động, hành động, hành vi Sự điều hành của tâm lý đối với hoạt động sống của con người biểu hiện:

- Tâm lý có chức năng chung là định hướng cho hoạt động, ở đây muốn nói đến vai trò của động cơ, mục đích của hoạt động Nhờ có sự định hướng mà hoạt động được chính xác và

có hiệu quả

- Tâm lý là động lực thúc đẩy Các yếu tố tâm lý như sự say mê, lương tâm, danh dự, thất vọng, hụt hẫng,… có thể làm cho hoạt động mạnh lên hay yếu đi, kìm hãm hoặc thúc đẩy hoạt động

- Tâm lý điều khiển và kiểm soát hoạt động bằng chương trình, kế hoạch, phương pháp, phương thức tiến hành hoạt động làm cho hoạt động của con người trở nên có ý thức, đem lại hiệu quả nhất định

- Tâm lý giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với mục tiêu đã xác định đồng thời phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế cho phép

4 Phân loại hiện tượng tâm lý

Có nhiều cách phân loại Song, cách phân loại mà nhà tâm lý học N.Đ.Lêvitop đưa ra dựa theo thời gian tồn tại của các hiện tượng tâm lý và vị trí tương đối của chúng trong nhân

cách thành 3 nhóm hiện tượng tâm lý chính: quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý và thuộc tính tâm lý được sử dụng phổ biến.

4.1 Cách phân loai phổ biến

4.1.1 Quá trình tâm lý: Là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn

(vài giây đến vài giờ), có mở đầu, diễn biến và kết thúc tương đối rõ ràng Quá trình tâm lý gồm có 3 quá trình sau:

a Quá trình nhận thức: Là quá trình phản ánh bản thân SVHT trong hiện thực khách quan,

bao gồm:

- Nhận thức cảm tính: Là quá trình phản ánh những thuộc tính bên ngoài không bản chất của SVHT khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan Quá trình này giúp con người hiểu biết về thế giới khách quan, bao gồm 2 mức độ nhận thức là cảm giác và tri giác

- Nhận thức trung gian: Phản ánh thuộc tính khái quát bên ngoài không bản chất của SVHT Quá trình này giúp con người lưu trữ hình ảnh của SVHT khi chúng không còn trực tiếp tác động, đó là quá trình trí nhớ

- Nhận thức lý tính: Phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ quan hệ có

Trang 6

tính qui luật của SVHT mà trước đó con người chưa biết Quá trình này giúp con người cải tạo được thế giới khách quan, bao gồm 2 mức độ là tư duy và tưởng tượng.

b Quá trình xúc cảm – tình cảm: Là sự biểu thị thái độ của con người đối với đối tượng mà

con người nhận thức được như sự hài lòng, phấn khởi, buồn phiền, lo âu,…

c Quá trình ý chí và hành động: Là quá trình con người tác động vào thế giới khách quan

nhằm cải tạo thế giới khách quan

4.1.2 Trạng thái tâm lý: Là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài (vài

chục phút đến vài tháng), mở đầu và kết thúc không rõ ràng, như chú ý, tâm trạng,… Trạng thái tâm lý có thể đi kèm với quá trình tâm lý và chi phối nó như trạng thái căng thẳng, hồi hộp, bâng khuâng, do dự, lo lắng, vui mừng,…

4.1.3 Thuộc tính tâm lý: Là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành và

khó mất đi tạo thành những nét riêng của nhân cách, chi phối các quá trình tâm lý và trạng thái tâm lý của con người, bao gồm 4 thuộc tính như sau: xu hướng (mặt chỉ đạo nhân cách), tính cách (mặt bản chất, cái gốc của nhân cách), khí chất (sắc thái biểu hiện của tính cách), năng lực (khả năng hiện thực của một nhân cách)

4.2 Căn cứ vào sự tham gia của ý thức

4.2.1 Hiện tượng tâm lý có ý thức: Là loại hiện tượng tâm lý có sự tham gia, tác động, ảnh

hưởng của ý thức (chủ thể nhận thức được hoặc nhiều) Nhờ vậy mà các hiện tượng tâm lý có

sự biến đổi về chất và có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống

4.2.2 Hiện tượng tâm lý chưa được ý thức: Là những hiện tượng tâm lý mà con người không

ý thức về nó hoặc dưới ý thức, chưa kịp ý thức, chủ thể không điều chỉnh, không có thái độ, không có dự kiến về nó,… nhưng nó vẫn luôn diễn ra và tham gia điều hành hoạt động của con người Một số tác giả Phương Tây còn chia hiện tượng tâm lý chưa ý thức thành 2 mức độ: tiềm thức và vô thức

- Tiềm thức: Là những hiện tượng bình thường nằm sâu trong ý thức, thỉnh thoảng trong những hoàn cảnh nhất định có thể được ý thức “chiếu rọi”

- Vô thức: Là những lĩnh vực nằm ngoài ý thức, khó “lọt” vào lĩnh vực ý thức

Tuy vậy, các hiện tượng tâm lý chưa ý thức cũng có vai trò nhất định trong hoạt động sư phạm, chẳng hạn như ám thị và tự ám thị, các mặc cảm (tự ti hay tự cao), các thứ “chuẩn” không tự giác (làm cơ sở cho việc cho điểm, đánh giá,…)

4.3 Các hiện tượng tâm lý sống động và tiềm tàng

4.3.1 Hiện tượng tâm lý sống động được nảy sinh, diễn biến và phát triển trong hành vi, hành

động, hoạt động của cá nhân, cộng đồng và điều hành hoạt động đang diễn biến của cá nhân, cộng đồng

4.3.2 Hiện tượng tâm lý tiềm tàng: Tích đọng trong sản phẩm của hoạt động.

4.3.3 Hiện tượng tâm lý cá nhân và hiện tượng tâm lý XH (phong tục, tập quán, dư luận XH,

…)

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu, vị trí và ý nghĩa của TLH?

2 Từ việc phân tích bản chất tâm lý người, hãy rút ra bài học sư phạm trong công tác dạy học

và giáo dục học sinh?

3 Trình bày và vẽ sơ đồ về mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý theo cách phân loại dựa vào tồn tại và vị trí tương đối của chúng trong nhân cách? Cho ví dụ?

BÀI TẬP THỰC HÀNH

Trang 7

Chương II HOẠT ĐỘNG VÀ GIAO TIẾP

I MỤC TIÊU

1 Kiến thức:

- Phân tích được cơ sở tự nhiên của tâm lý

- Phân tích được khái niệm và cấu trúc của hoạt động

- Trình bày được khái niệm giao tiếp và các loại giao tiếp

- Chứng minh được tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp

II NỘI DUNG

1 Hoạt động

2 Giao tiếp

III PHƯƠNG PHÁP

Thuyết trình tích cực, thảo luận nhóm, hướng dẫn tự học

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) (2007), Tâm lý học (Dự án phát triển giáo viên tiểu học), NXBGD.

2 Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998), Tâm lý học (tập 1), NXBGD.

3 Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998), Tâm lý học (Hệ CĐSP), NXBGD.

4 Nguyễn Xuân Thức (chủ biên) (2007), Giáo trình tâm lý học đại cương, NXBĐHSP.

5 K.K.Platonop (2000), Tâm lý vui (tập 1, 2), NB Thanh niên.

6 Nguyễn Họa, Trần Đình Việt (1996), Tâm lý học, Trường Đại học GTVT HN.

7 Trần Trọng Thủy (chủ biên), Bài tập thực hành tâm lý học, NXBGD.

NỘI DUNG BÀI GIẢNG

I.HOẠT ĐỘNG

1 Khái niệm hoạt động

Hoạt động trở thành khái niệm trong TLH từ đầu thế kỷ XX Xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động và giao tiếp cho nên hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới TLH xem xét một cách toàn diện cả mặt bên trong (tâm lý) và mặt bên ngoài (hành vi) của hoạt động, xem xét cả sản phẩm

vật chất và sản phẩm tinh thần của hoạt động Do đó, hoạt động được hiểu như là quá trình tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con người.

Trong quá trình tác động qua lại, có 2 quá trình diễn ra đồng thời, thống nhất và bổ sung cho nhau: quá trình đối tượng hóa và quá trình chủ thể hóa

a Quá trình đối tượng hóa: Là quá trình mà khi hoạt động chủ thể chuyển năng lực, tâm lý

của mình thành sản phẩm Nói cách khác, tâm lý của chủ thể được bộc lộ, được khách quan

hóa trong quá trình làm ra sản phẩm và được lưu giữ trong sản phẩm Nhờ đó, chúng ta mới có thể hiểu được tâm lý con người thông qua hoạt động của họ Quá trình này còn được gọi là quá trình xuất tâm

Trang 8

b Quá trình chủ thể hóa: Là quá trình mà khi hoạt động, con người chuyển từ phía đối tượng

của hoạt động vào trong bản thân những cái bản chất, quy luật của thế giới để tạo nên tâm lý,

ý thức, nhân cách cho bản thân Nhờ vậy con người có thêm hiểu biết, kinh nghiệm tác động

vào thế giới, rèn luyện và phát triển nhân cách Quá trình này còn gọi là quá trình nhập tâm

Như vậy, trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình Có thể nói tâm lý con người chỉ có thể được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động và thông qua hoạt động

2 Đặc điểm của hoạt động

a Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng

b Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể

c Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp

d Hoạt động bao giờ cũng có mục đích nhất định

3 Cấu trúc của hoạt động

Có nhiều tư tưởng khác nhau về cấu trúc hoạt động

- Chủ nghĩa hành vi: Hoạt động của con người và con vật có cấu trúc chung là kích thích – phản ứng (S-R)

- Tư tưởng Mác cho rằng: Hoạt động mang tính trừu tượng có 3 thành phần là đối tượng hoạt động, công cụ hoạt động và chủ thể hoạt động

- Trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc hoạt động do Mác đề xướng, A.N.Lêônchiev (1975) đã đưa ra cấu trúc vĩ mô của hoạt động được tạo thành bởi 6 thành tố (đơn vị) và mối quan hệ giữa chúng như sau:

Như vậy, nếu xét trong một hoạt động cụ thể thì hoạt động không phải là đơn vị cuối

cùng không thể phân chia được mà hoạt động còn bao gồm các đơn vị chức năng tạo thành nên hoạt động và có sự chuyển hóa chức năng giữa các đơn vị

Theo Lêônchiev, tại một thời điểm xác định và loại bỏ mọi sự khác nhau về hình thức biểu hiện và tính chất riêng rẽ sẽ còn lại quan hệ chủ thể và đối tượng thông qua công cụ lao động Trong quan hệ với chủ thể, đối tượng hoạt động là khách thể có 2 đặc tính: đặc tính vật

Trang 9

và đặc tính chức năng kích thích, hướng dẫn hoạt động của chủ thể trong quá trình chiếm lĩnh

nó Nói cách khác, đối tượng là cái khách quan, hấp dẫn, lôi kéo và chi phối các tác động của chủ thể về phía mình Đối tượng chứa nội dung tâm lý mà chủ thể cần chiếm lĩnh sau khi kết thúc hoạt động Trong quan hệ với chủ thể, đối tượng có thể là động cơ, là mục đích, phương

tiện Khi đó, về phía chủ thể, các tác động cá nhân có thể trở thành hoạt động, hành động, thao tác (các yếu tố thuộc đơn vị thao tác) Sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể trong một hoạt động sẽ tạo ra sản phẩm cuối cùng – sản phẩm kép

a Hoạt động – động cơ

Hoạt động luôn nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Khi nhu cầu gặp đối

tượng thì trở thành động cơ thôi thúc chủ thể hoạt động Như vậy, động cơ là đối tượng mà chủ thể cần chiếm lĩnh để thỏa mãn nhu cầu nào đó Nói cách khác, hoạt động là quá trình hiện

thực hóa động cơ Động cơ được coi là mục đích chung, mục đích cuối cùng của hoạt động Vì thế động cơ có chức năng kích thích, hướng dẫn, hấp dẫn hoạt động của chủ thể hướng về nó

Do đó, động cơ là cái nằm bên ngoài chủ thể, là cái có trước

Bất kỳ hoạt động nào cũng có động cơ tương ứng Như vậy tương ứng với hoạt động của chủ thể là động cơ – đối tượng liên quan đến nhu cầu

b Hành động – mục đích

Động cơ là mục đích chung của hoạt động (còn gọi là động cơ xa) Động cơ được phát

triển theo hướng cụ thể hóa trong các mục đích bộ phận Nói cách khác, mục đích là hình thức

cụ thể hóa của động cơ, là bộ phận cấu thành động cơ Mục đích là đối tượng mà chủ thể ý thức cần chiếm lĩnh, cần phải thỏa mãn để làm phương tiện đạt được động cơ, chẳng hạn như;

Trẻ thích chơi bóng đá, nhưng mẹ bảo phải làm bài tập xong mới được chơi, vậy bài tập là mục đích để trẻ thỏa mãn nhu cầu đá bóng Như vậy, mục đích có chức năng hướng dẫn chủ thể đến đối tượng thỏa mãn nhu cầu Quan hệ giữa mục đích và động cơ là quan hệ giữa mục đích và phương tiện để đạt được động cơ và động cơ được xem như mục đích cuối cùng mà hoạt động hướng đến

Quá trình hiện thực hóa động cơ được tiến hành từng bước để đạt được mục đích xác định trong những hoàn cảnh cụ thể, nhất định Các quá trình tiến hành từng bước gọi là hành động (việc làm, công việc) Hành động nhằm vào mục đích bộ phận để góp phần tiến tới hiện thực hóa động cơ Nói cách khác, hành động là một giai đoạn cụ thể của hoạt động

c Thao tác – phương tiện

Chủ thể chỉ có thể đạt được mục đích bằng các phương tiện (công cụ, máy móc, ngôn ngữ, ký hiệu, luật lệ,…) trong các điều kiện nhất định nơi diễn ra hành động Mỗi phương tiện

qui định cách thức hành động riêng Mỗi cách thức hành động bao gồm nhiều thao tác Như

vậy, phương tiện là cái có trước, cái qui định thao tác, chẳng hạn như nội dung kiến thức qui định cách học, cách dạy,… Thao tác là cơ cấu kỹ thuật của hành động để đạt mục đích Thao tác là đơn vị nhỏ nhất của hoạt động, không có mục đích riêng và phụ thuộc chặt chẽ vào phương tiện khách quan

Tóm lại, cấu trúc hoạt động mà Lêônchiev nêu ra là một cấu trúc động Trong đó các

thành phần, đơn vị có thể chuyển hóa cho nhau Sự chuyển hóa ở đây không phải là sự chuyển hóa các cơ cấu kỹ thuật mà là sự chuyển hóa về mặt chức năng Một hoạt động có thể trở thành một hành động bằng cách biến động cơ của nó thành mục đích của hành động Một hành động

có thể trở thành thao tác bằng cách luyện tập hành động đó trở nên thành thục và tước bỏ mục đích của nó và đưa vào việc thực hiện một hành động khác Cấu trúc hoạt động mà Lêônchiev đưa ra có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt trong lĩnh vực GD và DH

4 Các loại hoạt động (SV tự nghiên cứu)

Trang 10

II Giao tiếp

1 Khái niệm về giao tiếp

Giao tiếp là quá trình tác động qua lại giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau

2 Chức năng của giao tiếp

* Các chức năng của giao tiếp: có 2 chức năng

- Chức năng thuần túy XH: là chức năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu chung của HX hay của một nhóm người, cụ thể:

Giao tiếp có chức năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hoạt động lao động tập thể, chẳng hạn như khi bộ độ kéo pháo, họ cùng hô “hò dô ta” để tổ chức, điều khiển và thống nhất hành động nhằm tăng sức mạnh thực hiện công việc

Giao tiếp còn có chức năng thông tin giữa những người trong tổ chức, những nhóm XH,

- Chức năng tâm lý – XH: Là chức năng phục vụ nhu cầu của từng thành viên trong Xh Con người có đặc thù là luôn muốn giao tiếp với người khác, thiết lập các quan hệ với người khác, với những nhóm người mà họ có nhu cầu, hứng thú hay hay có chung mục đích,… Chức năng này của giao tiếp còn gọi là chức năng nối mạch (tiếp xúc) với người khác, với nhóm, với

xã hội

Như vậy, giao tiếp giúp cho con người thực hiện các quan hệ liên nhân cách nghĩa là

mỗi thành viên hòa nhịp với nhóm, coi nhóm là mình, mình là nhóm Giao tiếp là dạng hoạt động rất phổ biến trong cuộc sống, đặc biệt nó có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tâm lý

3 Phân loại giao tiếp

a Căn cứ vào phương tiện giao tiếp, có 3 loại:

- Giao tiếp vật chất: Con người giao tiếp với nhau bằng hành động với vật thể Loại giao tiếp này bắt đầu xuất hiện ở cuối 1 tuổi đầu 3 tuổi, các hành động thực hiện lúc này có chức năng biểu cảm

- Giao tiếp ngôn ngữ: Là một dạng hoạt động xác lập và vận hành quan hệ người – người bằng các tín hiệu từ ngữ

- Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ: Dùng các tín hiệu ngoài ngôn ngữ để giao tiếp như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, cách ăn mặc,…, chẳng hạn như trẻ khuyết tật về thị giác, thính giác,…

b Căn cứ vào khoảng cách không gian của các cá nhân, có 2 loại:

- Giao tiếp trực tiếp: Là loại giao tiếp giữa các cá nhân khi họ đối mặt với nhau để trực tiếp truyền đạt và tiếp nhận tín hiệu của nhau

- Giao tiếp gián tiếp: Là loại giao tiếp được thực hiện qua một người khác hoặc qua các phương tiện nào đó để truyền đạt và tiếp nhận của nhau như thư từ, điện tín,…

Có loại giao tiếp trung gian giữa giao tiếp trực tiếp và gián tiếp như nói chuyện với nhau bằng điện thoại, chat trên mạng

c Căn cứ vào qui cách giao tiếp, có 2 loại:

- Giao tiếp chính thức (giao tiếp chức trách): Là loại giao tiếp giữa hai hay một số người đang thực hiện một chức trách nhất định ở cơ quan, trường học,… Phương tiện, cách thức của loại giao tiếp này thường tuân theo những qui ước nhất định, thậm chí được thể chế hóa

- Giao tiếp không chính thức (giao tiếp ý): Là loại giao tiếp giữa những người đã quen biết, không chú ý đến thể thức mà chủ yếu sử dụng ý riêng của những người tham gia giao tiếp

Trang 11

Mục đích của giao tiếp loại này là để đồng cảm, chia sẽ ngọt bùi với nhau.

III Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp

1 Quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động

Hoạt động và giao tiếp là 2 khái niệm phản ánh 2 loại quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh Có nhiều ý kiến khác nhau về mối quan hệ giữa hoạt động và giao tiếp

Có nhiều nhà TLH cho rằng giao tiếp như là một dạng đặc biệt của hoạt động Xét về mặt cấu trúc tâm lý, giao tiếp có cấu trúc chung của hoạt động Giao tiếp cũng có những đặc điểm cơ bản của một hoạt động Một số nhà TLH khác lại cho rằng giao tiếp và hoạt động là 2 phạm trù đồng đẳng, có quan hệ qua lại với nhau trong cuộc sống con người:

- Giao tiếp như là một điều kiện để tiến hành hoạt động Các quan hệ giao tiếp có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả hoạt động

- Hoạt động là điều kiện để thực hiện một quan hệ giao tiếp giữa con người với nhau

Như vậy, hoạt động và giao tiếp có mối quan hệ hữu cơ, khắng khít với nhau, là hai mặt

không thể thiếu, không thể tách rời của đời sống con người và có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý con người

2 Hoạt động và sự hình thành, phát triển tâm lý

Hoạt động tâm lý nảy sinh và phát triển từ các mối quan hệ giữa con người với thế đồ vật, từ các quan hệ xã hội, giao tiếp xã hội Tâm lý con người là quá trình chuyển hóa những kinh nghiệm LSXH thành kinh nghiệm của bản thân Đó chính là quá trình chuyển hóa các dạng bên ngoài của hoạt động có đối tượng thành các dạng bên trong của hoạt động ấy Như vậy, tâm lý được nảy sinh bằng hoạt động, là sản phẩm của hoạt động

- Hình thái bên ngoài của hoạt động: Là hoạt động nhờ công cụ vật chất, hoạt động thực tiễn tác động vào hiện thực khách quan nhằm cải biến nó, sáng tạo ra những sản phẩm phục vụ cho con người

- Hình thái bên trong của hoạt động: Là hoạt động tâm lý, hoạt động tinh thần, nhờ đó con người hoàn thiện thế giới tinh thần của mình (Hoạt động này sử dụng phương tiện trung gian: ngôn ngữ, HTTH và các âm thanh)

Như vậy, hoạt động là quá trình thống nhất 2 mặt bên trong và bên ngoài

Con người là sản phẩm hoạt động của chính mình Những dạng hoạt động là cá nhân tham gia sẽ qui định kiểu nhân cách vì mỗi cá nhân tác động đến thế giới khách quan không như nhau

Con người tích cực hoạt động bao nhiêu thì thế giới khách quan tác động lại con người càng tích cực bấy nhiêu Điều này sẽ làm cho tâm lý cá nhân càng phát triển phong phú, đa dạng Như C.Mác đã nói: “Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy”

Sự phát triển tâm lý phụ thuộc không phải vào những hoạt động nói chung mà phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động chủ đạo Ở một lứa tuổi có hoạt động chủ đạo nhất định Hoạt động này không đơn giản là chiếm nhiều thời gian so với các hoạt động khác, mà chủ yếu là hoạt động được chủ thể tập trung nhiều để thực hiện, và hoạt động chủ đạo quyết định đến việc tạo nên cac nét tâm lý mới, đến sự phát triển tâm lý ở từng giai đoạn nhất định và chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo

Ở mỗi lứa tuổi thường xuất hiện một hoạt động chủ đạo nhất định có ảnh hưởng mạnh

mẽ đến sự phát triển tâm lý của trẻ

* Hoạt động chủ đạo là hoạt động mà sự phát triển của nó qui định những biến đổi chủ

yếu nhất trong các quá trình tâm lý và trong các đặc điểm tâm lý của nhân cách đứa trẻ ở một giai đoạn phát triển nhất định của nó.

Trang 12

* Đặc điểm của hoạt động chủ đạo:

Hoạt động có đối tượng mới mẻ, chưa hề có trước đó Chính đối tượng này tạo ra những cái mới trong tâm lý

Hoạt động có khả năng chi phối toàn bộ đời sống tâm lý của trẻ Những quá trình tâm lý được cải tổ hoặc tổ chức lại bằng hoạt động này

Hoạt động có khả năng chi phối các hoạt động khác cùng diễn ra đồng thời và tạo ra những nét đặc trưng trong tâm lý của trẻ ở mỗi giai đoạn phát triển

Trong hoạt động GD, DH, GV cần tổ chức và điều khiển những dạng hoạt động đa dạng, đặc biệt chú trọng đến hoạt động chủ đạo ở từng lứa tuổi nhất định nhằm hình thành, phát triển tâm lý, nhân cách

3 Giao tiếp và sự hình thành, phát triển tâm lý

Giao tiếp là một nhân tố rất cần thiết cho sự phát triển tâm sinh lý của con người đặc biệt là đối với trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi Nếu không có giao tiếp con người không thể phát triển tâm lý với tư cách là một con người

Giao tiếp giúp con người lĩnh hội những kinh nghiệm LSXH biến thành kinh nghiệm của mình Đó là quá trình tạo ra sự phát triển tâm lý ở mỗi người

Giao tiếp là phương thức quan trọng nhất để phát triển ngôn ngữ của con người, đặc biệt

là trẻ em

Tóm lại, tâm lý con người do tồn tại khách quan quy định, được nảy sinh và vận hành bằng hoạt động và giao tiếp Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Hoạt động là gì? Phân tích hai quá trình đối tượng hóa và chủ thể hóa trong hoạt động?

2 Nêu sơ đồ cấu trúc hoạt động và ý nghĩa của nó?

3 Trình bày các đặc điểm của hoạt động Qua đó làm rõ sự khác biệt giữa hành động của con người và hành vi của con vật?

4 Giao tiếp là gì? Phân tích các loại giao tiếp Ý nghĩa của việc nghiên cứu các loại giao tiếp trong hoạt động sư phạm

5 Phân tích vai trò của hoạt động, giao tiếp trong sự hình thành và phát triển tâm lý

6 Đánh giá hoạt động của con người, nếu chỉ đánh giá sản phẩm hoạt động của họ đã đúng chưa? Tại sao?

BÀI TẬP THỰC HÀNH

Trang 13

CHƯƠNG III SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ, Ý THỨC

I MỤC TIÊU

1 Kiến thức:

- Phân tích được sự hình thành tâm lý về phương diện loài và phương diện cá thể

- Phân tích được khái niệm ý thức

- Chứng minh được vai trò của lao động và ngôn ngữ đối với sự hình thành ý thức

- Nêu các cấp độ của ý thức

- Phân tích được chú ý là điều kiện của hoạt động có ý thức

2 Kỹ năng:

- Vận dụng hiểu biết về ý thức và tự ý thức để nhìn nhận, đánh giá các vấn đề đúng đắn

- SV áp dụng được những hiểu biết về các loại và các thuộc tính của chú ý trong quá trình học tập và trong công tác GD, DH sau này

3 Thái độ:

- Đánh giá đúng vai trò của ý thức và tự ý thức trong sự hình thành, phát triển tâm lý

- Có ý thức tích cực trong việc sử dụng và rèn luyện các loại, các thuộc tính của chú ý ở bản thân

II NỘI DUNG

1 Sự hình thành và phát triển tâm lý

2 Sự hình thành và phát triển ý thức

III PHƯƠNG PHÁP

Thuyết trình tích cực, thảo luận nhóm, hướng dẫn tự học

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) (2007), Tâm lý học (Dự án phát triển giáo viên tiểu học), NXBGD.

2 Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998), Tâm lý học (tập 1), NXBGD.

3 Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998), Tâm lý học (Hệ CĐSP), NXBGD.

4 Nguyễn Xuân Thức (chủ biên) (2007), Giáo trình TLH đại cương, NXB ĐHSP.

5 K.K.Platonop (2000), Tâm lý vui (tập 1, 2), NB Thanh niên.

6 Nguyễn Họa, Trần Đình Việt (1996), Tâm lý học, Trường Đại học GTVT HN.

7 Trần Trọng Thủy (chủ biên), Bài tập thực hành tâm lý học, NXBGD.

NỘI DUNG BÀI GIẢNG

I SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ

Sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức xét về phương diện loài người và cả phương diện riêng của từng cá thể là một trong những vấn đề cơ bản của tâm lý học

1 Sự nảy sinh và hình thành tâm lý về phương diện loài người (phát triển chủng loại)

2 Sự hình thành tâm lý về phương diện cá thể

2.1 Thế nào là sự phát triển tâm lý

Sự hình thành tâm lý về phương diện cá thể là một quá trình chuyển đổi liên tục từ cấp

độ này sang cấp độ khác Ở mỗi lứa tuổi, sự hình thành tâm lý đạt đến một chất lượng mới và diễn ra theo các quy luật đặc thù

Theo A.N.Lêôchiev, sự phát triển tâm lý con người gắn liền với sự phát triển hoạt động của con người trong thực tiễn đời sống, trong đó một số hoạt động chủ đạo đóng vai trò chính

trong sự phát triển Hoạt động chủ đạo là hoạt động mà sự phát triển của nó quy định những biến đổi chủ yếu nhất trong các quá trình tâm lý và trong các đặc điểm tâm lý nhân cách của đứa trẻ ở giai đoạn phát triển nhất định của nó.

Trang 14

2.2 Các giai đoạn phát triển tâm lý theo lứa tuổi

a Giai đoạn tuổi sơ sinh và hài nhi

- Thời kỳ từ 0-2 tháng tuổi (sơ sinh)

- Thời kỳ từ 2-12 tháng tuổi (hài nhi)

b Giai đoạn trước tuổi học

- Thời kỳ từ 1-3 tuổi (vườn trẻ)

- Thời kỳ từ 3-6 tuổi (mẫu giáo)

c Giai đoạn tuổi đi học

- Thời kỳ từ 6-11 tuổi (nhi đồng hoặc học sinh tiểu học)

- Thời kỳ từ 12-15 tuổi (thiếu niên hoặc học sinh THCS)

- Thời kỳ cuối tuổi học từ 15-18 tuổi (thanh niên hoặc học sinh THPT)

- Thời kỳ sinh viên từ 18-24, 25 tuổi

d Giai đoạn tuổi trưởng thành từ 24, 25 trở đi

e Giai đoạn người già từ 55-60 tuổi trở đi

Ý thức có liên quan mật thiết với hoạt động nhận thức Hiện thực khách quan được não phản ánh và tạo ra một hình ảnh tâm lý trên não, nhờ có ngôn ngữ, chính hình ảnh tâm lý đó được khách quan hóa và trở thành đối tượng để ta tiếp tục phản ánh, làm cho kết quả phản ánh sâu sắc, tinh vi hơn, chẳng hạn như khi lửa phản ánh vào mắt để lại hình ảnh một ngọn lửa trên não (phản ánh lần 1 – hình ảnh tâm lý), khi ta tác động vào lửa và phát hiện ra tính chất nóng, làm đau, thắp sáng, điều này được khái quát qua ngôn ngữ (phản ánh lần 2) Ở đây bản thân ngôn ngữ không tạo ra ý thức mà là hình thức tồn tại của ý thức, chẳng hạn như nói “Tôi thích anh”,… Như vậy, các quá trình nhận thức mang những tri thức cho con người về thế giới khách quan thì ý thức là năng lực hiểu biết tri thức đó Do đó, ta có thể coi ý thức là quá trình phản ánh cái phản ánh, là hiểu biết của hiểu biết, là tri thức của tri thức Với ý nghĩa này có thể nói:

Ý thức là tồn tại được nhận thức

1.2 Các thuộc tính cơ bản của ý thức

1.2.1 Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới

Nói đến ý thức là nói đến khả năng được nhận thức, vì vậy khi có ý thức tức là đồng nghĩa với việc có hiểu biết, có tri thức về hiện thực khách quan Nhờ có ý thức (tri thức) mà chúng ta nhận thức được sự tồn tại độc lập, khách quan của các SVHT với ý thức của ta

Ý thức thể hiện năng lực nhận thức thông qua các quá trình nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, nhờ đó mà con người có thể:

- Nhận thức được cái bản chất, nhận thức khái quát bằng ngôn ngữ

- Dự kiến trước kế hoạch hành vi, kết quả của nó, làm cho hành vi mang tính có chủ định

1.2.2 Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới

Khi con người ý thức về một vấn đề gì đó thường tỏ thái độ tương ứng Thái độ đó là những rung cảm, những cảm nghĩ dẫn đến những hành động, hành vi tương ứng với những đối tượng nhận thức Thái độ đó có thể là sự đồng tình, phản đối, yêu, ghét,…

Người bị rối loạn về thái độ dẫn đến rối loạn về ý thức chẳng hạn như người bệnh tâm

Trang 15

1.2.3 Ý thức thể năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi con người

Trên cơ sở nhận thức và tỏ thái độ đối với thế giới, ý thức điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người đạt được mục đích hoạt động Vì thế, ý thức có khả năng sáng tạo Trên cơ sở nhận thức các quy luật của thế giới tự nhiên, con người sáng tạo và bắt thiên nhiên phục vụ đời sống con người như đắp đập xây dựng công trình thủy điện,…

1.2.4 Khả năng tự ý thức

Con người không chỉ ý thức về thế giới xung quanh mà ở mức độ cao con người có khả năng tự ý thức Đó là khả năng tự nhận thức về mình, xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh, tự hoàn thiện mình

Tự ý thức bắt đầu xuất hiện từ năm 3 tuổi (bắt đầu từ hiện tượng nhận ra mình trong gương, nhưng trải qua suốt thời thiếu niên và thanh niên mới hình thành và định hình)

1.3 Cấu trúc của ý thức

Ý thức là một chỉnh thể mang lại chất lượng mới cho thế giới nội tâm của con người Nó

bao gồm 3 thành phần (3 mặt) liên kết thống nhất, hữu cơ với nhau đó là: mặt nhận thức, mặt thái độ và mặt năng động của ý thức.

Như vậy, các quá trình nhận thức giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong ý thức Vì vậy

sự rối loạn nghiêm trọng của bất kỳ một quá trình nhận thức nào ắt sẽ dẫn đến sự rối loạn của ý thức

1.3.2 Mặt thái độ

Khi phản ánh thế giới khách quan ở cấp độ ý thức, con người luôn thể hiện táhi độ của mình (thái độ cảm xúc, thái độ đánh giá, thái độ lựa chọn) đối với đối tượng trên cơ sở nhận thức thế giới Từ đó sẽ dẫn đến hành động tương ứng đối với đối tượng nhận thức Vì thế nếu một học sinh nhận thức rằng học tập là ích lợi đối với bản thân, gia đình, đất nước nhưng chưa ham thích và chủ động học tập thì chưa thể nói học sinh đó có ý thức học tập Do đó, C.Mac đã viết: “Thái độ của tôi đối với môi trường của tôi là ý thức của tôi”

Ở động vật không có thái độ vì chúng không có ý thức Tùy vào trạng thái nhu cầu tự nhiên, bản năng từng lúc của cơ thể mà động vật có thể phản ứng khác nhau đối với cùng một kích thích Trong lúc đó, thái độ của con người là một hệ thống những cảm nghĩ, những hành vi rất ổn định, ít thay đổi

Trong ý thức của cá nhân có thể xảy ra mâu thuẫn giữa nhận thức và thái độ Vì thế, cần giáo dục nhận thức và thái độ thống nhất thì mới hình thành được ý thức tiến bộ, lành mạnh ở mỗi cá nhân

1.3.3 Mặt năng động của ý thức

Ý thức tạo cho con người có khả năng vạch phương án, dự kiến trước hành động, điều khiển, điều chỉnh hoạt động nhằm thích nghi và cải tạo thế giới khách quan, và cải tạo cả bản thân Đây là điểm khác biệt cơ bản về hoạt động của con người so với hoạt động bản năng,

Trang 16

thích nghi thụ động của động vật Hành động có ý thức là biểu hiện tập trung cao nhất của hoạt động tâm lý con người Vì thế, khi con người không còn khả năng thực hiện hoạt động có mục đích thì đó là biểu hiện của sự rối loạn ý thức.

Ý thức nảy sinh và phát triển trong hoạt động Cấu trúc của hoạt động qui định cấu trúc của ý thức Quá trình xác định mục đích là điều kiện để có ý thức ở mọi tầng bậc, quan hệ giữa động cơ và mục đích có ảnh hưởng quyết định đối với kết quả của quá trình nhận thức Vì thế, nhu cầu, hứng thú, động cơ, ý chí,… đều có vị trí nhất định trong cấu trúc ý thức

2 Sự hình thành và phát triển ý thức

2.1 Sự hình thành ý thức về phương diện loài người

Tâm lý là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của vật chất Khi vật chất phát triển đến trình độ có sự sống, có tổ chức não bộ thì những hiện tượng tâm lý sơ đẳng đầu tiên xuất hiện như cảm giác, tri giác,… Thế nhưng, ý thức không phải là sản phẩm trực tiếp của sự tiến hóa sinh vật mà ý thức được nảy sinh và phát triển từ nhân tố lịch sử XH, trong đó lao động là yếu

tố quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức Vì thế mà F.Anghen viết: “Đầu tiên là lao động, rồi sau đó, đồng thời với lao động là ngôn ngữ, là hai kích thích chủ yếu nhất mà dưới ảnh hưởng của chúng não khỉ biến thành não người,…”

2.1.1 Lao động và ý thức

- Trước khi lao động làm ra một sản phẩm nào, con người đã hình dung ra được mô hình sản phẩm và cách làm ra sản phẩm ở trong đầu Con người có ý thức về cái (mục đích) mà mình sẽ làm Vì thế, Mác đã nói: Người kiến trúc tồi nhất vẫn hơn con ong giỏi ở chổ trước khi bắt tay xây dựng thì công trình đã hình dung trước trong óc của mình

- Trong lao động, con người ý thức chế tạo và sử dụng các công cụ lao động, tiến hành các thao tác và hành động lao động tác động vào đối tượng lao động để làm ra sản phẩm

- Kết thúc quá trình lao động, con người có ý thức đối chiếu sản phẩm làm ra với mô hình tâm lý của sản phẩm mà mình đã hình dung ra trước, để hoàn thiện, đánh giá sản phẩm đó

Như vậy, có thể nói ý thức – cấp độ cao nhất của sự phán ánh tâm lý của con người được hình thành từ lao động và thể hiện trong quá trình lao động

Tóm lại, từ trong lao động, với lao động là ngôn ngữ làm xuất hiện con người có ý thức

Ý thức phát triển sẽ tác động trở lại lao động và ngôn ngữ

Đối với sự phát triển ý thức của trẻ em thì hoạt động GD, DH giữ vai trò chủ đạo Dưới

sự tổ chức, hướng dẫn của người lớn mà ý thức XH được chuyển vào trong đứa trẻ thông qua

Trang 17

các dạng hoạt động (vui chơi, học tập, lao động,…) đặc biệt là hoạt động chủ đạo.

2.2.2 Ý thức của cá nhân được hình thành trong mối quan hệ giao tiếp của cá nhân với người khác, với XH

Trong các quan hệ giao tiếp, trong đó giao tiếp bằng ngôn ngữ giữ vai trò hàng đầu đối với sự phát triển ý thức của cá nhân Chính trong giao tiếp, con người đối chiếu mình với người khác, với các chuẩn mực XH để có ý thức về người khác và ý thức về chính mình Vì thế, C.Mac và F.Anghen đã nói: “Sự phát triển của một cá thể phụ thuộc vào sự phát triển của nhiều

cá thể khác mà nó đã giao tiếp trực tiếp hay gián tiếp”

2.2.3 Ý thức của cá nhân được hình thành bằng con đường tiếp thu nền văn hóa xã hội, ý thức xã hội

2.2.4 Ý thức của cá nhân được hình thành bằng con đường tự nhận thức, tự đánh giá, tự phân tích hành vi của mình

3 Các cấp độ của ý thức

Căn cứ vào tính tự giác, mức độ sáng tỏ, phạm vi bao quát của tâm lý chia các hiện

tượng tâm lý của con người thành 3 cấp độ: cấp độ chưa ý thức, cấp độ ý thức và tự ý thức, cấp

* Vô thức có các đặc điểm sau:

- Con người không nhận thức được các hiện tượng tâm lý, hành vi của mình

- Con người không đánh giá, kiểm soát được hành vi, ngôn ngữ của mình

- Vô thức không kèm theo sự dự kiến trước, không có chủ định Sự xuất hiện hành vi vô thức thường bất ngờ, đột ngột xảy ra trong thời gian ngắn

- Hình ảnh tâm lý trong vô thức có thể của cả quá khứ, hiện tại và tương lai nhưng chúng liên kết với nhau không theo quy luật hiện thực

* Vô thức bao gồm nhiều hiện tượng tâm lý khác nhau:

- Vô thức ở tầng bản năng vô thức (bản năng dinh dưỡng, tự vệ, sinh dục) tiềm tàng ở tầng sâu, dưới ý thức mang tính bẩm sinh, di truyền, ví dụ như đói bụng, ngáp,…

- Vô thức còn bao gồm cả hiện tượng tâm lý dưới ngưỡng ý thức (tiền ý thức) ví dụ như cảm thấy thích một cái gì đó nhưng không hiểu lý do?

- Hiện tượng tâm thế - khuynh hướng sẵn sàng chờ đón, tiếp nhận một điều gì đó ảnh hưởng đến tính linh hoạt và tính ổn định của hoạt động, ví dụ như tâm thế của buổi học, tâm thế nghỉ ngơi của người già, tâm thế yêu đương,… “Anh nhớ em mỗi bước đường anh đi Mỗi tối anh nằm, mỗi miếng anh ăn”

- Có những hiện tượng tâm lý vốn là có ý thức nhưng do lặp đi lặp lại nhiều lần trở nên quá quen thuộc thành dưới ý thức đó là tiềm thức Tiềm thức là một dạng tiềm năng sâu lắng của ý thức, nó thường trực chỉ đạo hành động, lời nói, suy nghĩ,… của con người đến mức chủ thể không nhận thức rõ được nguyên nhân

Trang 18

Tâm lý vô thức ở động vật phản ánh điều kiện của môi trường sống thuần túy mang tính chất sinh học Tâm lý vô thức ở con người phản ánh tuy là phiến diện, lệch lạc những điều kiện XH cuộc sống của con người, và đôi khi do sự chuyển hóa của hiện tượng tâm lý có ý thức mà thành.

Vô thức và ý thức có mối quan hệ biện chứng, chuyển hóa lẫn nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau giúp tâm lý con người không bị “quá tải, căng thẳng”, vô thức cho giúp cho hoạt động tập trung vào đối tượng quan trọng nhằm đạt hiệu quả cao Nhưng nhìn chung, vô thức không giữ vai trò quan trọng trong đời sống con người

- Chủ thể tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế

và các quan hệ XH

- Có thái độ rõ ràng đối với bản thân: tự nhận xét, tự phê bình, tự đánh giá,…

- Có dự định về đường đời của mình: có mẫu người lý tưởng, có lý tưởng XH, có chí hướng,…

- Có khả năng tự giáo dục: tự kiềm chế, tự thúc đẩy, tự đôn đốc kiểm tra,…

3.3 Cấp độ ý thức nhóm và ý thức tập thể

Trong mối quan hệ hoạt động và giao tiếp, ý thức của cá nhân dần phát triển đến cấp độ

ý thức xã hội – ý thức nhóm và ý thức tập thể như: ý thức gia đình, dòng tộc, ý thức dân tộc, nghề nghiệp,… Khi con người làm việc với ý thức cộng đồng, ý thức tập thể thì mỗi người có những sức mạnh tinh thần mới mà người đó chưa bao giờ có được khi hoạt động chỉ với ý thức

cá nhân riêng lẻ, đơn độc

Tóm lại, các cấp độ khác nhau của ý thức luôn tác động qua lại lẫn nhau, chuyển hóa và

bổ sung cho nhau một cách tối ưu – trong điều kiện con người hoàn toàn khỏe mạnh, bình thường về tâm lý Điều này làm tăng tính đa dạng và sức mạnh của ý thức Sự phát triển của ý thức từ cấp độ thấp đến cấp độ cao là dấu hiệu quan trọng nhất của sự phát triển nhân cách

4 Chú ý – điều kiện của hoạt động có ý thức

Trong cuộc sống, con người luôn luôn tri giác một cái gì đó, hình dung một cái gì đó, suy nghĩ về một điều gì đó Tính chất lựa chọn và có phương hướng của hoạt động tâm lý gắn liền với một hiện tượng tâm lý đó là chú ý

Khác với các quá trình tâm lý, chú ý không có đối tượng riêng, xuất hiện như là một trạng thái tâm lý đi kèm với các hoạt động tâm lý khác giúp phản ánh chính xác các đối tượng của chúng, chẳng hạn chăm chú nhìn, lắng tai nghe,… Chú ý biểu hiện ở nét mặt, điệu bộ và

Trang 19

hành vi Vì thế, chú ý được xem là cái nền, là điều kiện cho hoạt động có ý thức.

4.1 Chú ý là gì?

Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm SVHT để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần – tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả Như vậy, trong chú ý đã thể hiện tính lựa chọn của ý thức

* Đặc điểm của chú ý:

- Tính có định hướng: Đó là tính chất lựa chọn của hoạt động nhận thức – lựa chọn có chủ định hoặc không có chủ định về đối tượng nhận thức Nhờ vậy, có thể giữ đối tượng trong chú ý của mình tương đối lâu

- Tập trung ý thức của chủ thể vào đối tượng hoạt động: Đặc điểm này đòi hỏi con người phải ức chế sự chú ý của mình về đối tượng khác không có ý nghĩa quan trọng Nhờ vậy, sự phản ánh đối tượng chính xác hơn

- Độ mới của vật kích thích

- Cường độ kích thích

- Sự tương phản giữa vật kích thích và bối cảnh

Ngoài ra, quan hệ giữa đối tượng kích thích và nhu cầu, tình cảm của chủ thể cũng là nguyên nhân gây ra chú ý không chủ định

Loại chú ý này ít gây mệt mỏi, căng thẳng nhưng kém bền vững, khó duy trì lâu dài

4.2.2 Chú ý có chủ định

Là loại chú ý có mục đích định trước và phải có sự nỗ lực của bản thân Đây là loại chú

ý cấp cao chỉ loài người mới có

Chú ý có chủ định xuất hiện do nhận thức của chủ thể cần thiết chú ý đến đối tượng Chú ý có chủ định có những đặc điểm sau:

- Có mục đích tự giác, có kế hoạch biện pháp chú ý

- Có liên quan chặt chẽ đến HTTH 2, tình cảm, hứng thú của cá nhân

Khác với chú ý không chủ định, chú ý sau chủ định liên quan đến những nhiệm vụ và mục đích có ý thức Khác với chú ý có chủ định, chú ý sau chủ định không đòi hỏi sự nỗ lực của ý chí để duy trì chú ý

Tóm lại, cả 3 loại chú ý này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và chuyển hóa

cho nhau, giúp con người phản ánh tốt nhất các đối tượng Các loại chú ý đều cần thiết cho

Trang 20

hoạt động của con người nhưng mỗi loại đều có ưu – nhược điểm nhất định, trong đó chú ý sau chủ định là loại chú ý có ý nghĩa đặc biệt, cần hình thành trong các hoạt động của con người đặc biệt trong GD, DH cho học sinh.

4.3 Các thuộc tính cơ bản của chú ý

4.3.1 Sức tập trung chú ý

Là khả năng chú ý tập trung vào một phạm vi hẹp, chỉ chú ý một hay một số đối tượng cần thiết cho hoạt động nhằm phản ánh đối tượng được tốt nhất, chẳng hạn như học sinh chăm

chú tư tưởng để nhận biết kết quả của thí nghiệm, bác sỹ tập trung giải phẫu bệnh nhân,…

Số lượng các đối tượng chú ý hướng đến (số lượng tối đa những đối tượng không kết

hợp thành nhóm gắn với việc giải quyết một nhiệm vụ nào đó mà chú ý hướng đến) gọi là khối lượng chú ý Số lượng này thùy thuộc tùy thuộc vào đối tượng cũng như vào nhiệm vụ và đặc

điểm của hoạt động, ví dụ như chú ý của trọng tài bóng đá, Karatedo,…

Sức chú ý càng cao thì cường độ chú ý càng lớn và hiệu quả càng cao

Có những trường hợp do bệnh lý hoặc do quá say mê tập trung chú ý vào đối tượng nào

đó mà quên hết mọi chuyện gọi là hiện tượng đãng trí, ví dụ Có một lần Newton xuống bếp tự

làm bữa sáng, ông đun một nồi nước chuẩn bị luộc trứng Nước vẫn chưa sôi, xem ra Newton

có phần sốt ruột, rồi bắt đầu nghĩ đến một vấn đề khoa học, quá trình tập trung ông quên luôn chuyện đang đun nước Lúc này nước đã sôi sùng sục, nước bốc hơi mù mịt, thuận tay ông thả luôn vật để bên cạnh vào nồi Nửa tiếng sau ông mới bừng tỉnh, nhớ việc đang làm trong bếp:

"Trứng gà chắc đã chín rồi" Ông mở vung nồi thì thấy trong nồi không phải là trứng mà là

chiếc đồng hộ đeo tay của ông

4.3.2 Tính bền vững của chú ý

Là khả năng duy trì lâu dài chú ý vào một hay một số đối tượng của hoạt động, ví dụ

như học sinh chú ý trong thời gian dài để giải bài toán, Edison phát minh ra máy điện thoại có thời gian chú ý rất lâu 7, 8 ngày đêm liền quên cả ăn ngủ, những người làm việc đặc biệt như điện tín viên, quan sát khí tượng, công nhân đứng máy,…

Tính bền vững của chú ý phụ thuộc vào một số điều kiện như: tính chất và nội dung của hoạt động, quan hệ của chủ thể với đối tượng chú ý, mức độ hứng thú của chủ thể đối với đối tượng, đối tượng chú ý được khám phá ở những khía cạnh mới Tuy nhiên, nếu mức độ quá phức tạp của đối tượng sẽ làm dập tắt sự tập trung chú ý

Để duy trì tính bền vững của chú ý, cá nhân cần tích cực hoạt động, việc đề ra những nhiệm vụ mới mẻ luôn được đặt ra là điều kiện quan trọng để duy trì tính bền vững lâu dài của

sự tập trung chú ý

Ngược lại với tính bền vững là sự phân tán chú ý tức có chú ý nhưng không tập trung cao độ lâu dài vào đối tượng cũng như không phân phối di chuyển chú ý một cách có tổ chức

Nói cách khác, sự phân tán chú ý là sự rời bỏ chú ý một cách không ý thức ra khỏi hoạt động

cơ bản để chú ý vào đối tượng thứ yếu, gây ảnh hưởng tiêu cực đối với công việc đang thực

hiện Nguyên nhân của sự phân tán: tác nhân kích thích có tính chất đột ngột, bất ngờ hoặc liên quan đến xúc cảm, do công việc đơn điệu, nhàm chán, gây mệt mỏi Có một loại phân tán chú ý khác được gọi là đãng trí bác học – do sự khó di chuyển của chú ý tập trung cao độ, rất bền vững và thường hướng vào trong quyết định, chẳng hạn như viện sỹ I.A.Kabucop trước khi lên

xe điện đã cẩn thận tháo giày

Phân tán chú ý diễn ra theo chu kỳ gọi là sự dao động chú ý – là những thay đổi theo những chu kỳ ngắn hạn của cường độ chú ý, ví dụ ngồi học mà có chiếc đồng hồ bên cạnh, đôi

lúc ta nhận thấy hoặc không nhận thấy tiếng tích tắc của đồng hồ,…

4.3.3 Sự phân phối chú ý

Trang 21

Là khả năng cùng một lúc chú ý đầy đủ đến nhiều đối tượng hay nhiều hoạt động khác nhau một cách chủ định.

Điều kiện để phân phối chú ý tốt là mỗi loại hoạt động được thực hiện phải có sự quen biết và tương đối thành thạo đối với chủ thể, chỉ có một hay một số đối tượng hoạt động mới

Sự kết hợp các hoạt động mới lạ làm cho chủ thể hoạt động khó phân phối chú ý Sự phân phối chú ý không mâu thuẫn với sự tập trung chú ý vì trong phân phối chú ý cũng có sự tập trung chú ý vào hoạt động mới

4.3.4 Sự di chuyển chú ý

Là khả năng chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác theo yêu cầu của hoạt động Đây là sự chuyển chú ý do một nhiệm vụ mới được đặt ra một cách có ý thức, ví dụ: sau

khi nghe giảng, học sinh nhanh chóng chú ý làm thí nghiệm hay giải bài tập,…

Sự di chuyển chú ý không mâu thuẫn với độ bền vững của chú ý và cũng không phải là phân tán chú ý vì nó được di chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác một cách có ý thức

và khi di chuyển sang đối tượng chú ý mới thì chú ý lại được tập trung với cường độ cao Sự di chuyển chú ý có nghĩa và trở thành một năng lực ở một số nghề nghiệp như thợ vận hành, điều khiển, kiểm tra,…

* Lưu ý: Chú ý cần phải được giáo dục ở mỗi người tức là biết làm chủ chú ý của mình

– hướng chú ý có chủ định, có mục đích vào cái cần nhìn, và không để bị lôi cuốn đến những cái không cần để ý Để làm được điều này chúng ta cần làm việc có kỷ luật và có ý chí

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Tâm lý con người được hình thành và phát triển như thế nào? (xét cả phương diện chủng loại

và cá thể mỗi người)

2 Sự khác nhau giữa bản năng của động vật với bản năng của con người, giữa hành vi trí tuệ của động vật và người?

3 Phân tích, chứng minh: “Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất chỉ có ở người”

4 Tại sao lao động và ngôn ngữ lại là những điều kiện cơ bản của sự nảy sinh ý thức con người?

5 Khái niệm vô thức và các hình thức biểu hiện của vô thức?

6 Anh/chị hiểu thế nào về tự ý thức? Phân tích cấu trúc của tự ý thức Lấy ví dụ minh họa

7 Vì sao nói chú ý là điều kiện của hoạt động có ý thức? Nêu các thuộc tính cơ bản của chú ý?

BÀI TẬP THỰC HÀNH

Trang 22

CHƯƠNG IV HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC

I MỤC TIÊU

1 Kiến thức:

- Phân tích được bản chất phản ánh của các quá trình nhận thức: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng

- Phân biệt sự khác nhau giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

- Trình bày các quy luật cơ bản của cảm giác và tri giác

- Giải thích được vai trò của ngôn ngữ đối với hoạt động nhận thức

2 Kỹ năng:

- Vận dụng những hiểu biết về bản chất và quy luật các quá trình nhận thức để giải thích các hiện tượng tâm lý trong cuộc sống theo quan điểm khoa học

- Sử dụng được một công cụ đo trí thông minh

- Vận dụng tri thức vào việc rèn luyện và nâng cao khả năng quan sát, xây dựng mô hình nhiệm vụ tư duy và khả năng tưởng tượng

Thuyết trình tích cực, thảo luận nhóm, hướng dẫn tự học

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) (2007), Tâm lý học (Dự án phát triển giáo viên tiểu học), NXBGD.

2 Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998), Tâm lý học (tập 1), NXBGD.

3 Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998), Tâm lý học (Hệ CĐSP), NXBGD.

4 Nguyễn Xuân Thức (chủ biên) (2007), Giáo trình TLH đại cương, NXB ĐHSP.

5 K.K.Platonop (2000), Tâm lý vui (tập 1, 2), NB Thanh niên.

6 Nguyễn Họa, Trần Đình Việt (1996), Tâm lý học, Trường Đại học GTVT HN.

7 Trần Trọng Thủy (chủ biên), Bài tập thực hành tâm lý học, NXBGD.

NỘI DUNG BÀI GIẢNG

Trang 23

viên gạch đầu tiên để xây dựng nên tòa lâu đài nhận thức”.

1.2 Đặc điểm của cảm giác

- Cảm giác là một quá trình tâm lý có nghĩa là có nảy sinh, diễn biến và kết thúc

- Cảm giác chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của SVHT chứ chưa phản ánh đầy đủ, trọn vẹn các thuộc tính của SVHT Cơ sở sinh lý của cảm giác là hoạt động của các giác quan riêng lẻ

- Cảm giác phản ánh SVHT một cách trực tiếp khi SVHT đang hiện diện, đang tác động vào các cơ quan thụ cảm Khi kích thích ngừng tác động thì cảm giác cũng hết

1.3 Cơ sở sinh lý cảm giác

Khi một SVHT tác động vào các giác quan, nó gây ra một luồng xung thần kinh Luồng xung động thần kinh đó được dẫn truyền theo các dây thần kinh hướng tâm đến các trung khu tương ứng trên vỏ não Tại vỏ não các thông tin được xử lý và cảm giác được xuất hiện tại đây rồi theo dây thần kinh ly tâm truyền lại nơi giác quan bị kích thích Có thể tổng quát một quá trình cảm giác bao gồm 3 khâu như sau :

- Kích thích xuất hiện và tác động vào một cơ quan thần kinh đến não

- Xuất hiện xung động thần kinh được truyền theo các dây thần kinh đến não

- Vùng thần kinh cảm giác tương ứng trên vỏ não hoạt động tạo ra cảm giác

Nếu thiếu một trong ba khâu trên thì ta sẽ không có cảm giác tương ứng

1.4 Bản chất của cảm giác

- Đối tượng phản ánh của cảm giác ở người không chỉ là SVHT vốn có trong tự nhiên

mà chủ yếu là các sản phẩm được tạo ra nhờ lao động XH của con người

- Cảm giác ở người không chỉ diễn ra nhờ HTTH thứ nhất mà cả HTTH 2 – một đặc trưng của XH loài người

- Cảm giác không phải mức độ duy nhất và cao nhất như ở một số loài động vật tức là cảm giác của con người còn chịu sư chi phối của các hiện tượng tâm lý cấp cao khác

- Sự rèn luyện, hoạt động của con người là những phương thức đặc thù của XH giúp hình thành và phát triển cảm giác, ví dụ có những người thợ dệt phân biệt được đến 60 màu đen khác nhau, có những người đầu bếp ”nếm” được bằng mũi,…

1.5 Vai trò của cảm giác

Cảm giác có vai trò quan trọng trong cuộc sống và trong hoạt động nhận thức

- Cảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người (động vật) trong hiện thực khách quan, cụ thể định hướng về không gian, thời gian Cảm giác giúp cho con người thích ứng và thiết lập mối quan hệ với môi trường xung quanh

- Cảm giác là kênh thu nhận các loại thông tin từ thế giới bên ngoài và cung cấp cho các quá trình nhận thức cao hơn Lênin nói rằng: ”Cảm giác là nguồn gốc duy nhất của hiểu biết” Ngày nay, các nhà TLH chỉ ra vai trò của từng cảm giác trong việc thu nhận thông tin: vị giác (1%), xúc giác (1.5%), khứu giác (3.5%), thính giác (11%), thị giác (83%)

- Cảm giác là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt hóa của vỏ não, hoạt động của hệ thần kinh

- Cảm giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan đặc biệt quan trọng đối với những người bị khuyết tật, ví dụ người mù, người câm, điếc nhận ra những người thân và hàng loạt đồ vật qua xúc giác

2 Các loại cảm giác

3 Các quy luật cơ bản của cảm giác

3.1 Quy luật ngưỡng cảm giác

Muốn có cảm giác thì phải có sự kích thích vào các giác quan Song không phải mọi

Trang 24

kích thích vào giác quan đềy gây ra cảm giác (kích thích quá yếu không gây ra cảm giác, kích thích quá mạnh cũng dẫn đến mất cảm giác) Kích thích chỉ gây ra được cảm giác khi kích

thích đó đạt đến một giới hạn Giới hạn của cường độ kích thích mà ở đó kích thích gây ra được cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác Cảm giác có 2 ngưỡng: ngưỡng cảm giác phía dưới

(ngưỡng tuyệt đối phía dưới) và ngưỡng cảm giác phía trên (ngưỡng tuyệt đối phía trên)

* Ngưỡng cảm giác phía dưới: Là cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây ra được cảm giác.

* Ngưỡng cảm giác phía trên: Là cường độ kích thích tối đa vẫn còn gây ra được cảm giác.

* Giữa hai ngưỡng trên có một vùng gọi là vùng phản ánh tốt nhất tức là trong phạm vi vùng này con người sẽ cảm nhận rõ và phản ánh chính xác tác nhân đang kích thích là tác nhân gì.

Cảm giác còn phản ánh sự khác nhau giữa các kích thích nhưng kích thích phải có tỷ lệ chênh lệch tối thiểu về cường độ hay về tính chất thì ta mới cảm thấy có sự khác nhau giữa hai

kích thích Mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hay tính chất của hai kích thích đủ để phân biệt sự khác nhau giữa chúng gọi là ngưỡng sai biệt. Ở mỗi cá nhân ngưỡng sai biệt cũng không giống nhau do bộ máy phân tích và tính chất kích thích khác nhau

Khả năng cảm nhận được các kích thích tác động vào giác quan đủ để gây ra cảm giác gọi là độ nhạy cảm của giác quan đó.

Ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng sai biệt tỉ lệ nghịch với độ nhạy cảm của cảm giác và độ nhạy cảm sai biệt: ngưỡng cảm giác phía dưới càng thấp thì độ nhạy cảm của cảm giác càng cao, ngưỡng sai biệt càng nhỏ thì độ nhạy cảm sai biệt càng cao Ví dụ: đi vào trong hội trường hay đám đông hàng ngàn người, nhưng đối tượng của ta đứng ở góc nào đó, ngồi ở góc nào đó chúng ta vẫn nhận ra hay người nhạc công có thể phân biệt được mức độ âm thanh khác nhau trong một cung (từ đồ lên rê, từ rê lên mi, )

Tính nhạy cảm của cảm giác ở từng cá nhân chịu ảnh hưởng đặc điểm của cơ thể, bộ máy phân tích và điều kiện hoạt động, kinh nghiệm của con người Tính nhạy cảm khác nhau tạo nên nhân cách cá nhân khác nhau và nó là một thuộc tính tâm lý của nhân cách

* Ứng dụng: Trong công tác GD phải coi trọng việc rèn luyện cảm giác cho HS sao cho

ngưỡng cảm giác phía dưới phải thấp hơn và ngưỡng cảm giác phía trên cao hơn Hình thành tính nhạy cảm cho HS bởi lẽ nó là một yếu tố tạo nên tài năng của con người và cần thiết cho mọi hoạt động

3.2 Quy luật thích ứng của cảm giác

Thích ứng là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích Có nhiều kiểu thích ứng:

- Khi cường độ kích thích tăng thì độ nhạy cảm giảm và khi cường độ kích thích giảm thì độ nhạy cảm tăng.

- Cảm giác hoàn toàn mất đi khi kích thích kéo dài

* Ứng dụng: Nếu tính nhạy cảm tăng lên, cảm giác con người trở nên tinh tế và nhạy

bén Nếu tính nhạy cảm giảm xuống nhiều, tính chai dạn cao giúp con người chịu đựng những kích thích mạnh và lâu Tính thích ứng phát triển làm cho cuộc sống con người ngày càng phong phú Tuy nhiên, nó có thể tạo nên sự đơn điệu, nhàm chán trong công việc, cuộc sống gây nên tâm trạng mệt mỏi ở con người, vì thế cần lưu ý yếu tố gây ra trạng thái đơn điệu

3.3 Quy luật tác động lẫn nhau của các cảm giác

Sự tác động qua lại giữa các cảm giác là sự thay đổi tính nhạy cảm của một cơ quan cảm giác này dưới ảnh hưởng của những kích thích vào các cơ quan cảm giác khác Sự tác

Trang 25

động qua lại diễn ra theo quy luật sau:

- Sự thích thích yếu lên một cơ quan phân tích này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của cơ quan phân tích kia Ví dụ: Nhà ở vùng nhiệt đới thường sơn màu nhạt, sáng hoặc cảm giác nếm

yếu (chua) làm tăng độ nhạy cảm của cảm giác nhìn,

- Sự thích thích mạnh lên một cơ quan phân tích này sẽ giảm tăng độ nhạy cảm của cơ quan phân tích kia Ví dụ: Khi nấu chè mà chúng ta nếm lúc nóng sẽ có cảm giác chè không

ngọt, cho thêm đường cũng vậy (nhưng khi chè nguội thực ra ngọt khé cổ) bởi cảm giác nóng làm giảm tính nhạy cảm của vị giác (độ ngọt), hay người mệt mỏi (cảm giác cơ thể) nên cảm giác nếm không tinh nhạy – hiện tượng đắng miệng của người bệnh,

* Loạn cảm giác: Là hiện tượng đặc biệt của sự tác động qua lại giữa các cảm giác –

là hiện tượng xảy ra khi có kích thích gây ra một cảm giác này đồng thời lại có một cảm giác khác Thực chất này hiện tượng này là do sự kết hợp khá vững chắc giữa một số cảm giác đến

mức bền vững (con người có kinh nghiệm từ trước về nó), ví dụ: Khi hai thanh nứa (miếng kính) cọ xát vào nhau – kích thích thính giác, ta có cảm giác “ghê” người – cảm giác cơ thể hoặc hiện tượng “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”, “giọng chua như giấm”,

Nhờ có quy luật này trong dạy học khi đưa ra một vấn đề gì htì GV phải phân tích kỹ càng, sâu sắc, tránh đưa ra sự kiện không phân tích bỏ lửng hoặc những vấn đề hiểu hai ý nghĩa thì trong nhận thức HS hiểu sai vấn đề, nhiều khi hậu quả sẽ không lường hết được

Sự tác động qua lại giữa các cảm giác có thể diễn ra đồng thời hay nối tiếp trên những

cảm giác cùng loại hay khác loại Sự tác động qua lại giữa các cảm giác cùng loại được gọi là tương phản Đó là sự thay đổi cường độ hoặc chất lượng của cảm giác dưới ảnh hưởng của một kích thích cùng loại xảy ra trước đó hoặc đồng thời Có 2 loại tương phản: tương phản nối

tiếp và tương phản đồng thời

- Tương phản nối tiếp: Sau khi cầm một cục đá cho tay vào nước ấm cảm thấy nóng hơn lúc bình thường; từ trong phòng lạnh bước ra ngoài đường ta có cảm giác nóng hơn nhiệt độ thật

- Tương phản đồng thời: Đặt 2 tờ giấy màu xám như nhau lên một nền trắng và lên một nền đen, tờ màu xám trên nền trắng xám hơn trên nền đen; hay viết phấn lên trên bảng nền mới

vó vẻ trắng, rõ hơn trên nền đen đã nhạt; hoặc người mập mặc áo kẻ sọc dọc, màu sẫm trông có

vẻ ốm hơn, người ốm mặc áo kẻ sọc ngang, màu sáng trông có da thịt hơn,

* Ứng dụng:

- Trong quảng cáo: Thu hút được sự chú ý của mọi người

- Trong dạy học: Phòng học thoáng mát, đủ ánh sáng, nhìn lên bảng màu xanh lá cây thì

sự mệt mỏi sẽ đến chậm hơn, tiếp thu nhanh hơn, cảm thấy dễ chịu hơn Thay đổi các phương pháp giảng dạy, trang phục giản dị, phù hợp,

- Trong lao động sản xuất: Để nâng cao năng suất, nâng cao thể trạng của người công nhân thì việc bố trí màu sắc của vật xung quanh (môi trường lao động, dụng cụ lao động, máy móc, ) sử dụng âm nhạc, ánh sáng môi trường lao động,

II TRI GIÁC

1 Khái niệm chung về tri giác

1.1 Định nghĩa về tri giác

Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của SVHT đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta.

1.2 Đặc điểm của tri giác

Cùng thuộc về giai đoạn nhận thức cảm tính, tri giác có những đặc điểm giống cảm giác như sau:

Trang 26

- Đều là một quá trình tâm lý tức có nảy sinh, diễn biến và kết thúc tương đối rõ ràng.

- Đều phản ánh những thuộc tính bề ngoài, trực quan của SVHT chứ chưa phải là thuộc tính bên trong, bản chất

- Đều phản ánh SVHT một cách trực tiếp – khi đang tác động vào các giác quan của chúng ta

- Đều phản ánh một cách riêng lẻ, cụ thể các SVHT chứ chưa phản ánh một cách khái

quát cả một lớp, một loại hay một phạm trù của các SVHT Nói cách khác, sản phẩm của chúng là những hình ảnh cụ thể, trực quan chưa phải là khái niệm, quy luật.

Tri giác có những đặc điểm khác với đặc điểm của cảm giác như sau:

- Tri giác phản ánh SVHT một cách trọn vẹn (tuy vẫn là thuộc tính bề ngoài)

- Tri giác phản ánh SVHT theo những cấu trúc nhất định

- Cảm giác không đòi hỏi kinh nghiệm, nhưng tri giác rất cần kinh nghiệm Nhờ có kinh nghiệm mà chỉ cần có cảm giác một số thành phần của SV mà con người có thể nhận biết SV với các đặc tính bên ngoài một cách trọn vẹn, chỉ cần ngửi trái sầu riêng ta có thể hình dung toàn vẹn về trái sầu riêng

- Cảm giác không có tính chọn lọc, tri giác có tính chọn lọc cao, thường tri giác những

gì phù hợp với xu hướng tâm lý của mình

- Tri giác là quá trình hành động tích cực được gắn liền với hoạt động của con người Tri giác mang tính tự giác, giải quyết một nhiệm vụ nhận thức cụ thể

1.3 Cơ sở sinh lý của tri giác

Khi có một tập hợp các kích thích của đối tượng tác động vào các giác quan làm nảy sinh luồng xung thần kinh Luồng xung thần kinh này được truyền đến các trung khu riêng biệt tương ứng trên vỏ não Tại đây diễn ra sự phân tích, tổng hợp các luồng thần kinh riêng biệt được liên hệ với nhau tạo thành một hệ thống nhất định của những đường liên hệ thần kinh và nhờ vậy xuất hiện tri giác Như vậy, tri giác là hình thức cao của hoạt động phân tích, tổng hợp của vỏ não, là sự xuất hiện một hệ thống chức năng của nhiều bộ máy phân tích

1.4 Vai trò của tri giác

- Tri giác là thành phần chính của nhận thức cảm tính, nhất là ở người trưởng thành

- Tri giác là một điều kiện quan trọng giúp con người định hướng nhanh chóng và chính xác hơn trong thế giới khách quan, chẳng hạn khi đi vào rừng càng đi càng thấy bịt bùng, biết mình bị lạc hướng phải tìm hướng khác trước khi trời sập tối,

- Hình ảnh tri giác thực hiện chức năng là vật điều chỉnh hành vi và hoạt động của con người trong thế giới xung quanh có chọn lọc và mang ý nghĩa Quan sát – hình thức cao nhất của tri giác đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của hoạt động và là một phương pháp nghiên cứu khoa học

2 Các loại tri giác

3 Quan sát và năng lực quan sát

Quan sát là một hình thức tri giác cao nhất mang tính tích cực, chủ động và có mục đích

rõ rệt ví dụ: nhà nghiên cứu quan sát đời sống của côn trùng, sinh viên quan sát các thí nghiệm, các tiết dự giờ,… Quan sát bao giờ cũng có sự phối hợp giữa tín hiệu 1 và 2 Quan sát khác tri giác ở chổ HTTH 2 đóng vai trò chủ yếu, kết quả quan sát thường mô tả và thể hiện bằng ngôn ngữ Quan sát có vai trò quan trọng trong hoạt động của con người, Paplop từng nói : ”Quan sát

là khí trời nâng cánh chim bay, quan sát, quan sát và quan sát”

Năng lực quan sát là khả năng tri giác một cách nhanh chóng và chính xác những điểm quan trọng và đặc sắc của SVHT cho dù những điểm đó khó nhận thấy hoặc có vẻ thứ yếu.

Năng lực này được hình thành trong quá trình hoạt động và rèn luyện Năng lực quan sát

Trang 27

của mỗi người khác nhau Cùng quan sát một đối tượng nhưng kết quả quan sát có thể không giống nhau, có người quan sát tinh tế nhưng có quan sát rất kém Điều này phụ thuộc vào hoạt động nghề nghiệp, sự rèn luyện và kiểu tri giác như :

- Kiểu phân tích – tổng hợp: giữ được sự cân bằng giữa hai mặt này

- Kiểu tổng hợp: thiên về tri giác những mối liên hệ giữa các thuộc tính bộ phận, chú trọng đến chức năng, ý nghỉa coi nhẹ các chi tiết thuộc tính cụ thể

- Kiểu phân tích: chủ yếu tri giác những thuộc tính, những bộ phận chi tiết cụ thể, nhiều

vẻ của đối tượng

- Kiểu cảm xúc: chủ yếu phản ánh cảm xúc, tâm trạng mà đối tượng gây ra mà ít quan tâm đối tượng, thuộc tính,…

Những kiểu tri giác này không cố định mà được thay đổi do mục đích và nội dung của hoạt động

4 Các quy luật của tri giác

4.1 Quy luật về tính đối tượng của tri giác

Tri giác bao giờ cũng có đối tượng – là các sự vật trong hiện thực khách quan Hình ảnh trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng thuộc về một SVHT nhất định của thế giới bên ngoài Tuy nhiên khi con người tạo ra hình ảnh tri giác thì phải sử dụng một tổ hợp các hoạt động của các cơ quan phân tích, đồng thời phải đem lại sự hiểu biết của mình về SVHT đang tri giác để ”tách” các đặc điểm của sự vật, đưa chúng vào hình ảnh của các SVHT Hình ảnh ấy một mặt phản ánh đặc điểm của đối tượng mà ta tri giác mặt khác nó là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan

Tính đối tượng của tri giác có vai trò quan trọng – là cơ sở định hướng và điều chỉnh hành vi, hoạt động con người ví dụ như muốn học sinh chú ý tập trung vào một vấn đề nào đó, dùng bút đỏ gạch chân,…

4.2 Quy luật về tính lựa chọn của tri giác

Tính lựa chọn của tri giác là sự tách ra một cách rõ ràng và tự giác từ trong vô số những tác động một vài tác động để tri giác, ví dụ: đứng trước một đám đông ta chỉ có thể tri

giác một người nào đó, hay xem một bức tranh chỉ có thể nhìn chi tiết này hoặc chi tiết khác, sau đó mới tổng quát toàn bộ bức tranh,…

* Tính lựa chọn của tri giác phụ thuộc vào một số yếu tố sau:

- Yếu tố khách quan:

+ Đặc điểm nổi bật của đối tượng (cường độ, nhịp điệu vận động, sự tương phản,…), ví

dụ để gây hưng phấn khi giảng bài, GV thường hay nhìn vào một số em có sự tập trung chú ý, say sưa nghe giảng, khi xem những bức hình có 2 ý nghĩa – bà già hay cô gái ?

+ Đặc điểm của các điều kiện bên ngoài (khoảng cách từ vật đến ta, độ chiếu sáng của vật,…)

+ Sự tác động bằng ngôn ngữ của người khác có tác dụng hướng dẫn sự lựa chọn

- Yếu tố khách quan:

+ Kinh nghiệm của người tri giác Kinh nghiệm phong phú thì sự lựa chọn đối tượng tri giác nhanh và ngược lại

+ Phụ thuộc nhu cầu, hứng thú, tâm thế của cá nhân Khi có nhu cầu và hứng thú về cái

gì đó thì tri giác thiên về đối tượng đó

+ Ngoài ra còn phụ thuộc vào tuổi tác, nghề nghiệp, tính chất và nhiệm vụ cụ thể, trạng thái sức khỏe, tâm lý,…

* Ứng dụng:

Quy luật này ứng dụng nhiều trong thực tế như dạy học, kiến trúc, trang trí,…

Trang 28

- Khi muốn làm cho đối tượng tri giác được phản ánh tốt thì làm cho đối tượng phân biệt hẳn với bối cảnh: thay đổi kiểu chữ, màu mực khi viết bảng, sử dụng những nét gạch,…

- Khi muốn làm cho việc tri giác đối tượng trở nên khó khăn, ta tìm cách làm cho đối tượng hòa lẫn với bối cảnh (ngụy trang), ví dụ như trong chiến tranh, mâm pháo được phủ màu xanh hòa với lá xanh cây rừng để địch khó phát hiện mục tiêu,…

4.3 Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác

Khi tri giác một SVHT bằng kinh nghiệm và vốn hiểu biết của mình, con người gọi được tên SVHT đó và xếp nó vào một nhóm, một loại nhất định Điều này có được do sự gắn

bó chặt chẽ của tri giác với tư duy Ví dụ: Khi tri giác cái bảng ta gọi đúng tên nó, biết nó làm bằng nguyên liệu gì, có chức năng gì,…

Tính ý nghĩa của tri giác có quan hệ chặt chẽ với tính trọn vẹn : tri giác càng đầy đủ các thuộc tính, các bộ phận của SVHT thì việc gọi tên hoặc chỉ ra công dụng của SVHT càng cụ thể, chính xác Tính ý nghĩa của tri giác phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm, hiểu biết và đặc biệt là ngôn ngữ của cá nhân

* Ứng dụng:

Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục, GV khi đưa ra một khái niệm, định luật,… hoặc tổ chức một hoạt động giáo dục nào đó phải làm cho HS hiểu được vai trò và ý nghĩa của hoạt động đó Muốn vậy, GV cần phải:

- Khi đưa ra một vấn đề gì đó, GV cần phải giải thích, phân tích rồi khái quát vấn đề

- Khi sử dụng tài liệu trực quan, GV cần kèm theo những lời chỉ dẫn để HS quan sát một cách đầy đủ, sâu sắc

- GV phải trau dồi, rèn luyện ngôn ngữ trong sáng, mạch lạc, ngắn gọn, súc tích, sử dụng đúng thuật ngữ khoa học qui định

4.4 Quy luật về tính ổn định của tri giác

Là khả năng phản ánh SVHT không thay đổi khi điều kiện tri giác thay đổi, ví dụ: Khi xem tivi thì người trên màn hình nhỏ hơn rất nhiều so với người thực nhưng ta vẫn có hình ảnh con người thực của họ, áo màu trắng dưới ánh đèn màu thì dù trên võng mạc là hình ảnh áo màu xanh nhưng ta vẫn tri giác được áo màu trắng,…

Tính ổn định của tri giác phụ thuộc nhiều yếu tố như: Cấu trúc của SVHT tương đối ổn định trong một thời gian, thời điểm nhất định Nhưng chủ yếu là do cơ chế tự điều chỉnh của hệ thần kinh cũng như vốn kinh nghiệm của con người về đối tượng

Tính ổn định của tri giác không phải là bẩm sinh, được hình thành trong hoạt động và là điều kiện cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người Tuy nhiên có khi tri giác cũng cần khắc phục cái nhìn phiến diện, tĩnh tại về thế giới

Trong dạy học và giáo dục cần rèn luyện cho HS có thói quen và hành vi đúng, lập trường vững vàng có tính động hình ở mỗi cá nhân

4.5 Quy luật tổng giác

Ngoài tính chất, đặc điểm của vật kích thích gây ra, tri giác còn bị qui định bởi một loạt các nhân tố nằm trong bản thân chủ thể tri giác như nhu cầu, hứng thú, tình cảm, động cơ, kinh nghiệm, trạng thái cơ thể,…

Sự phụ thuộc của tri giác vào nội dung của đời sống tâm lý và đặc điểm nhân cách của chủ thể tri giác được gọi là hiện tượng tổng giác Như vậy chứng tỏ rằng chúng ta có thể điều khiển được tri giác

Khả năng tổng giác của con người được hình thành và phát triển trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Nhờ khả năng này mà con người nhận thức thế giới ngày càng tinh

vi, nhạy bén hơn Trong quá trình dạy học và giáo dục, chúng ta phải tính đến kinh nghiệm,

Trang 29

vốn hiểu biết, xu hướng, hứng thú, tâm lý của HS khi chúng tri giác Đồng thời cung cấp tri thức kinh nghiệm, giáo dục hình thành niềm tin, nhu cầu,… cho HS làm cho tri giác của HS trở nên tinh tế, nhạy bén hơn.

4.6 Ảo giác (Ảo ảnh)

Ảo giác thị giác hay ảo giác là sự phản ánh sai lệch, không đúng, hời hợt các SVHT một cách khách quan trong quá trình tri giác của con người Hiện tượng này tuy không nhiều

nhưng nó có tính quy luật

* Nguyên nhân của ảo giác rất đa dạng, nhưng nhìn chung có 3 nguyên nhân sau:

- Nguyên nhân vật lý:

- Nguyên nhân sinh lý:

- Nguyên nhân tâm lý:

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Phân tích khái niệm cảm giác? Tại sao nói cảm giác mang bản chất XHLS?

2 Trình bày các quy luật của cảm giác và nêu lên những ứng dụng của nó trong dạy học và đời sống?

3 Trình bày các quy luật của tri giác Rút ra kết luận sư phạm cần thiết

4 Nhận thức cảm tính là gì? So sánh sự giống nhau, khác nhau và mối quan hệ qua lại giữa hai quá trình của nhận thức cảm tính

5 Đề xuất các biện pháp có thể phát triển năng lực quan sát cho bản thân và cho học sinh tiểu học

BÀI TẬP THỰC HÀNH

B NHẬN THỨC LÝ TÍNH

I TƯ DUY

1 Khái niệm chung về tư duy

1.1 Định nghĩa về tư duy

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của SVHT mà trước đó ta chưa biết

1.2 Bản chất xã hội của tư duy

- Mọi hành động tư duy đều dựa vào kinh nghiệm mà các thế hệ trước đã tích lũy được tức là dựa vào kết quả hoạt động nhận thức mà xã hội loài người đã đạt được ở trình độ phát triển lúc đó Vì vậy, Newton khi nói về điều kiện tư duy cho các phát minh của mình, ông khẳng định ”Tôi có may mắn là được đứng trên vai của loài người nên tôi nhìn xa hơn mọi người”

- Tư duy sử dụng vốn từ ngữ của xã hội loài người với tư cách là phương tiện khái quát (nhận thức) và gìn giữ các kết quả hoạt động nhận thức của loài người Nhờ có ngôn ngữ mà con người kế thừa, sử dụng, phát triển và truyền lại những sản phẩm tư duy cho các thế hệ tiếp theo

- Quá trình tư duy được thúc đẩy bởi nhu cầu XH nghĩa là tư duy của con người hướng vào giải quyết các nhiệm vụ cấp thiết của XH ở một giai đoạn nhất định, ví dụ như hiện tại XH đang cố gắng bào chế ra vắcsin phòng ngừa cúm H1N1,…

- Tư duy mang tính tập thể tức là tư duy phải sử dụng các tài liệu thu được trong các lĩnh vực tri thức liên quan, nếu không sẽ không giải quyết được các nhiệm vụ đặt ra

- Tư duy là để giải quyết nhiệm vụ, vì vậy nó có tính chất chung của loài người

- Con người là chủ duy nhất của quá trình tư duy chân chính

1.3 Đặc điểm của tư duy

Trang 30

1.3.1 Tính ”có vấn đề” của tư duy

Không phải bất kỳ sự tác động nào của hiện thực khách quan cũng gây ra tư duy Tư duy chỉ xuất hiện khi có đồng thời 2 điều kiện sau :

- Tư duy nảy sinh khi gặp tình huống có vấn đề.

- Cá nhân phải có nhu cầu và những tri thức cần thiết liên quan đến vấn đề đủ để giải quyết vấn đề Nếu vấn đề được đặt ra quá dễ hoặc quá khó thì cá nhân không cần phải tư duy

hoặc không đủ trình độ để tư duy

Trong dạy học, muốn kích thích HS tư duy, GV phải tổ chức hoạt động dạy học theo phương pháp nêu vấn đề : liên tiếp tạo ra các tình huống có vấn đề, đưa các em vào tình huống

đó và hướng dẫn cách thức giải quyết Người học không nên bằng lòng với những tri thức, cách thức giải quyết vấn đề có sẵn trong sách giáo khoa mà nên tìm tòi giải quyết vấn đề theo nhiều cách

1.3.2 Tính gián tiếp của tư duy

- Nhận thức cảm tính cung cấp nguồn nguyên liệu cho quá trình tư duy, ví dụ như căn cứ vào tri giác các dấu vết của hiện trường, người công an có thể truy lùng tội phạm, dựa vào vài hóa thạch mà nhà khảo cổ biết được sự sống của trái đất hàng năm trước,…

- Tư duy được vận hành trên nền ngôn ngữ, biểu đạt bằng ngôn ngữ, tiến hành các thao tác tư duy bằng ngôn ngữ,…, , ví dụ qua lời miêu tả của nhà văn ta có thể hiểu được đặc điểm tâm lý của nhân vật, các qui luật, qui tắc, các mối liên hệ, các tri thức về tự nhiên, xã hội,… được biểu đạt bằng ngôn ngữ

- Tư duy của con người đều dựa vào kết quả của loài người như sử dụng các công cụ, máy móc, các qui luật,… để giải quyết vấn đề mới đối với cá nhân

Nhờ có tính phản ánh gián tiếp trong tư duy mà chúng ta có thể phản ánh sâu sắc, đầy đủ SVHT và mở rộng khả năng nhận thức của con người Ngoài ra tư duy còn giúp chúng ta phản ánh cái quá khứ, hiện tại và dự báo trước những điều sắp xảy ra và sẽ xảy ra dựa trên suy đoán một cách có cơ sở Tư duy phản ánh được cả những vấn đề mà giác quan con người không thể phản ánh Như vậy, có thể nói nhờ có tính gián tiếp trong tư duy mà thế hệ sau bao giờ cũng phát triển hơn thế hệ trước

1.3.3 Tính trừu tượng và khái quát của tư duy

Nếu nhận thức cảm tính phản ánh SVHT một cách riêng lẻ, cụ thể thì tư duy có khả năng phản ánh trừu tượng và khái quát các SVHT

- Tư duy có khả năng trừu xuất những đặc điểm, thuộc tính riêng, cá biệt ra khỏi SVHT

để giữ lại những thuộc tính chung cho nhiều SVHT

- Tư duy có khả năng phản ánh bản chất, cái chung của hàng loạt SVHT cùng loại Trên

cơ sở đó mà khái quát các đặc điểm chung thành khái niệm, định nghĩa, công thức tổng quát, quy luật chung,… Từ các công thức tổng quát, quy luật chung, tư duy có khả năng phán đoán

và suy luận sáng tạo, ví dụ công thức tính S của hàng loạt tam giác dù lớn hay nhỏ đều là S=1/2ah, quy luật chung của kim loại là tính dẫn điện, dẫn nhiệt, bất cứ hiện tượng tâm lý nào của con người đều có tính lịch sử XH,…

1.3.4 Tư duy có mối quan hệ mật thiết với ngôn ngữ

Ở nhận thức cảm tính, ngôn ngữ có vai trò nhất định tuy nhên nếu không có ngôn ngữ tham gia vẫn có thể diễn ra quá trình cảm giác, tri giác

Trong nhận thức lý tính, cụ thể là tư duy thì mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ được xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau Theo quan điểm của TLHDVBC thì tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất Đó là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức

Trang 31

* Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ :

- Không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy không diễn ra và các sản phẩm của tư duy cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận, các thao tác tư duy cũng không diễn ra

- Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm thanh, ký hiệu vô nghĩa, không có nội dung chẳng khác nào tín hiệu âm thanh trong thế giới động vật,

Như vậy, tư duy và ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ nhau, tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ và ngôn ngữ cũng không thể có nếu không dựa vào tư duy

* Tư duy và ngôn ngữ thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất :

- Kết quả của tư duy là những khái niệm, phán đoán, suy lý phải được biểu đạt bằng ngôn ngữ Ngôn ngữ là hình thức biểu đạt của tư duy, nội dung của tư duy như thế nào biểu đạt

ra bên ngoài mang hình thức ngôn ngữ như thế đó Nhờ có ngôn ngữ, tư duy ngày càng phát triển, phản ánh đúng đắn, sâu sắc các SVHT và là phương tiện để con người trao đổi, học hỏi, tích lũy kinh nghiệm

- Nhờ có ngôn ngữ mà một khái niệm có thể biểu đạt dưới nhiều từ khác nhau nhưng ngược lại một từ có thể đại diện cho nhiều khái niệm

- Ngôn ngữ không đồng nhất tư duy vì tư duy và ngôn ngữ là những quá trình tâm lý có chức năng khác nhau Tư duy có chức năng nhận thức thế giới, cải tạo thế giới Ngôn ngữ có chức năng biểu đạt của tư duy, ngôn ngữ là hiện thực của tư tưởng

1.3.5 Tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính

Tư duy dựa trên những tài liệu cảm tính, trên kinh nghiệm, trên cơ sở trực quan sinh động và thường bắt đầu từ nhận thức cảm tính Ngược lại tư duy và sản phẩm của nó cũng ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính, làm cho nhận thức cảm tính tinh vi, nhạy bén, chính xác hơn, có sự lựa chon và ý nghĩa hơn Vì vậy mà F.Anghen đã viết : ”Nhập vào con mắt của chúng ta chẳng những có cảm giác khác mà còn có cả hoạt động

tư duy của ta nữa”

1.4 Vai trò của tư duy

- Mở rộng giới hạn, vượt ra ngoài giới hạn của nhận thức cảm tính, đi sâu vào bản chất và tìm ra những mối liên hệ có tính quy luật

- Giải quyết những nhiệm vụ hiện tại mà cả nhiệm vụ trong tương lai

- Cải tạo lại những thông tin do nhận thức cảm tính đem lại Vận dụng cái đã biết để đưa ra các giải pháp giải quyết những cái tương tự Tiết kiệm được công sức Tư duy giúp con người hiểu biết sâu sắc và vững chắc hơn về thực tiễn và nhờ đó mà hành động có kết quả cao hơn

2 Các giai đoạn của tư duy

2.1 Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề

Những cái chưa biết, những mâu thuẫn, cái phải tìm (gọi chung là vấn đề) luôn tồn tại trong cuộc sống, điều quan trọng là ta có nhận biết được chúng hay không Khi phát hiện được vấn đề, chủ thể phải có nhu cầu giải quyết, phải huy động các kiến thức, kinh nghiệm có liên quan để nhận thức vấn đề - tức là xác định được nhiệm vụ tư duy và biểu đạt được nó Sự phát hiện ra vấn đề nhanh hay chậm phụ thuộc vào kinh nghiệm và khả năng quan sát của từng cá nhân

2.2 Xuất hiện các liên tưởng

Sau khi xác định được vấn đề, trong đầu chúng ta sẽ xuất hiện các liên tưởng đến những kiến thức, kinh nghiệm có liên quan đến vấn đề cần giải quyết Việc liên tưởng này hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệm vụ tư duy

2.3 Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết

Những sự liên tưởng có tính chất rộng rãi, chưa định khu Ở giai đoạn này, việc sàng lọc

Trang 32

các liên tưởng thực chất là lựa chọn những tri thức cần thiết, gạt bỏ những cái không cần thiết cho nhiệm vu tư duy Trên cơ sở sàng lọc mà hình thành giả thuyết tức là một điều giả định, phỏng đoán về kết quả cuối cùng, một dự kiến hay một kết luận tạm thời Sự đa dạng của các giả thuyết cho phép xem xét một SVHT từ nhiều hướng khác nhau, trong hệ thống liên hệ và quan hệ khác nhau, tìm ra cách giải quyết đúng đắn và tiết kiệm.

2.4 Kiểm tra giả thuyết

Trên cơ sở các giả thuyết đưa ra cần phải kiểm tra xem giả thuyết nào tương ứng với điều kiện và vấn đề đặt ra, hoặc giả thuyết nào tối ưu nhất ta sẽ sử dụng Việc kiểm tra có thể diễn ra trong đầu hay trong hoạt động thực tiễn Kết quả của sự kiểm tra sẽ dẫn đến sự khẳng định, phủ định hoặc chính xác hóa giả thuyết đã nêu Trong trường hợp các giả thuyết bị phủ định hoàn toàn thì phải xem lại tất cả các giai đoạn trên, một quá trình tư duy lại được bắt đầu

2.5 Giải quyết nhiệm vụ

Đây là khâu cuối cùng của một quá trình tư duy Khi giả thuyết đã được kiểm tra và khẳng định thì nó sẽ được thực hiện để đi đến câu trả lời cho vấn đề được đặt ra Cũng có khi, trong giải quyết nhiệm vụ người ta mới phát hiện vấn đề cần giải quyết thêm

Trong quá trình giải quyết nhiệm vụ, người ta có thể gặp phải các khó khăn do 3 nguyên nhân sau:

- Không nhận thấy một số dữ kiện của bài toán (nhiệm vụ)

- Chủ thể đưa thêm vào bài toán một số điều kiện thừa

- Tư duy theo lối cũ, máy móc, cứng nhắc

3 Các thao tác tư duy

Tư duy là một quá trình cá nhân thực hiện các thao tác trí tuệ nhất định để giải quyết nhiệm vụ đặt ra Các nhà TLH gọi các thao tác tư duy là những quy luật bên trong của tư duy

3.1 Phân tích – tổng hợp

Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân tích đối tượng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần tương đối độc lập để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn Ví dụ như khi nghiên cứu một HS ta có thể đi sâu vào từng mặt như học tập, đạo đức, hoạt động, quan hệ giao tiếp,

Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã được tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể, ví dụ: sau khi phân tích từng mặt ở HS ta có thể đánh giá chung

HS đó giỏi ngoan hay giỏi nhưng chưa ngoan, lễ phép, Tổng hợp thường đem lại cho chúng

ta một kết quả mới về chất và nhờ đó ta có hiểu biết về SVHT đó Tuy nhiên có trường hợp tổng hợp chỉ là sự hiểu biết máy móc hay là sự tổng hợp các bộ phận của một toàn thể

3.2 So sánh

So sánh là quá trình dùng trí óc xác định sự giống nhau, sự đồng nhất, không đồng nhất,

sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức (SVHT), ví dụ: so sánh hình thù, công dụng, đặc điểm,

3.3 Trừu tượng hóa và khái quát hóa

Trừu tượng hóa là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, thuộc tính, những mối liên

hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết, và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho tư duy

Khái quát hóa là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung nhất định

4 Các loại tư duy

4.1 Căn cứ trên phương diện lịch sử hình thành và mức độ phát triển của tư duy, có các loại tư duy sau:

a Tư duy trực quan hành động

Trang 33

Loại tư duy này xuất hiện sớm nhất về phương diện chủng loại và phát sinh cá thể Đây

là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực thực hiện nhờ sự cải tổ thực tế các tình huống và nhờ các hành động vận động có thể quan sát Loại tư duy này nhằm giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, trực quan Loại tư duy này có cả ở người và một số động vật cao cấp, ví dụ: trẻ em làm toán bằng cách dùng tay di chuyển các vật thật hay các vật thay thế (que tính) tương ứng với các dữ liệu của bài toán

b Tư duy trực quan hình ảnh

Loại tư duy này ra đời muộn hơn tư duy trực quan hành động và phát triển ở mức độ cao Đây là loại tư duy mà việc giải quyết các nhiệm vụ được thực hiện bằng sự cải tổ tình huống chỉ trên bình diện hình ảnh Loại tư duy này chỉ có ở người, đặc biệt là ở trẻ nhỏ, ví dụ như trẻ em làm toán bằng cách dùng mắt quan sát các sự vật hay vật thay thế tương ứng với các

dữ kiện của bài toán

c Tư duy trừu tượng (tư duy từ ngữ hay tư duy logic)

Loại tư duy này ra đời muộn nhất và chỉ có ở người Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được dựa trên sự sử dụng khái niệm, các kết cấu logic, tồn tại và vận hành nhờ ngôn ngữ, ví dụ: Học sinh làm toán bằng cách sử dụng các công thức toán học, thiết lập quan

hệ logic những kiến thức đã biết giải quyết nhiệm vụ (bài toán), tất cả đều sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện đắc lực

Các loại tư duy nói trên có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và chi phối lẫn nhau Trong đó, tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan hình ảnh là hai loại tư duy có trước làm cơ sở cho tư duy trừu tượng

4.2 Căn cứ vào hình thức biểu hiện của nhiệm vụ và phương thức giải quyết nhiệm vụ, có các loại tư duy sau:

a Tư duy thực hành

Là loại tư duy mà nhiệm vụ được đề xuất ra một cách trực quan, dưới hình thức cụ thể, phương thức giải quyết là những hành động thực hành, ví dụ như tư duy của người sửa chữa xe máy khi gặp sự cố, bản đồ hoặc suống hẳn thực tế đồng ruộng để tìm ra phương án làm nương tưới tiêu nước tốt nhất,

b Tư duy hình ảnh cụ thể

Đây là loại tư duy mà nhiệm vụ được đặt ra dưới hình thức hình ảnh cụ thể và việc giải quyết nhiệm vụ cũng dựa trên những hình ảnh trực quan đã có, ví dụ như khi ta nghĩ xem từ trường học về nhà đi đường nào ngắn nhất, sau khi đi thực tế người ta họp lại bàn phương án làm mương tưới tiêu nước tốt nhất,

c Tư duy lý luận

Đây là loại tư duy mà nhiệm vụ được đặt ra và việc giải quyết nhiệm vụ đó đòi hỏi phải

sử dụng những khái niệm trừu tượng, những tri thức lý luận, ví dụ như sự tư duy của HS khi nghe giảng trên lớp, tư duy của thầy giáo khi soạn bài

Trong thực tế, để giải quyết nhiệm vụ, người trưởng thành thường sử dụng phối hợp nhiều loại tư duy, trong đó có một loại tư duy nào đó giữ vai trò chủ yếu, ví dụ: người công nhân sử dụng tư duy hình ảnh và tư duy lý luận Nhà bác học thường sử dụng tư duy lý luận, song nhiều khi vẫn sử dụng tư duy hình ảnh, Như vậy, tính chất nghề nghiệp nghề nghiệp đã làm cho con người thiên về loại tư duy nào đó hơn so với các loại tư duy khác

II TƯỞNG TƯỢNG

1 Khái niệm về tưởng tượng

1.1 Định nghĩa về tưởng tượng

Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa có trong kinh nghiệm

Trang 34

của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có

1.2 Đặc điểm của tưởng tượng

- Nội dung phản ánh: Tưởng tượng phản ánh cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá

nhân hoặc xã hội

- Phương thức phản ánh: Tưởng tượng phản ánh cái mới trên cơ sở những biểu tượng đã

có trong hiện thực nhờ phương thức chắp ghép, liên hợp, nhấn mạnh, mô phỏng,

- Kết quả của tưởng tượng là các biểu tượng mới: Biểu tượng của trí nhớ là những hình

ảnh SVHT nảy sinh trên vỏ não khi mà SVHT không còn trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta nữa Như vậy, biểu tượng của trí nhớ chỉ là biểu tượng nguyên xi, không được sáng tạo Còn biểu tượng trong tưởng tượng là biểu tượng mới được xây dựng từ biểu tượng của trí nhớ theo cách cải biên, khái quát, chế tạo lại Biểu tượng của tưởng tượng là hình ảnh mới, có tính khái quát, do con người tự sáng ra trên cơ sở của biểu tượng trí nhớ

- Nguồn gốc nảy sinh của tưởng tượng từ những tình huống có vấn đề nhưng mang tính bất định lớn tức là những dữ kiện, tài liệu của hoàn cảnh không rõ ràng, sáng tỏ, con người chỉ

có thông tin mơ hồ, chưa rõ ràng, không có đủ những tri thức để giải quyết vấn đề theo quy luật của tư duy

- Tưởng tượng là một quá trình nhận thức lý tính được bắt đầu và thực hiện chủ yếu bằng hình ảnh nhưng vẫn mang tính khái quát và gián tiếp Biểu tượng của tưởng tượng là một hình ảnh mới được xây dựng từ những biểu tượng của trí nhớ Phương tiện phản ánh chủ yếu của tưởng tượng cũng sử dụng HTTH 2

- Ngôn ngữ là điều kiện cần thiết cho tưởng tượng Kinh nghiệm và tri thức có vai trò chủ yếu trong tưởng tượng Nó được truyền lại và sử dụng dưới dạng ngôn ngữ Nhờ có ngôn ngữ mà con người có khả năng hình dung được những cái mới chưa gặp trong cuộc sống, ví dụ: miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều “làn thu thủy nét xuân sơn”

- Tưởng tượng liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính, nó sử dụng những biểu tượng của trí nhớ do nhận thức cảm tính thu lượm, cung cấp

1.3 Cơ sở sinh lý của tưởng tượng

Cơ sở sinh lý của tưởng tượng rất phức tạp Chức năng chủ yếu của não bộ là tạo ra hệ thống các đường liên hệ thần kinh tạm thời Trong tưởng tượng, hệ thống các đường liên hệ TK tạm thời đã hình thành bị phân giải và kết hợp lại với nhau theo một hệ thống mới Sự kết hợp này được thực hiện nhờ trên vỏ não xuất hiện một ổ hưng phấn đủ mạnh – xuất hiện do nhu cầu hoặc một ấn tượng trực tiếp nào đó gậy nên Điều này giúp cho con người phản ánh hiện thực dưới dạng hình tượng mới, mang một nội dung mới Ngoài vỏ não, hệ thống dưới gò thị Limbic cũng góp phần tạo nên tưởng tượng

1.4 Quan hệ giữa tư duy và tưởng tượng

Tư duy và tưởng tượng có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau Không có quá trình tư duy nào tách khỏi tưởng tượng và ngược lại

Tư duy tạo ra ý đồ cho tưởng tượng Tư duy đảm bảo tính hệ thống, logic, hợp lý, giảm tính bất hợp lý, thiếu chặt chẽ cho hoạt động tưởng tượng

Những hình ảnh cụ thể do tưởng tượng tạo nên bao giờ cũng chứa đựng và bộc lộ nội dung của tư duy tạo ra Nhờ tưởng tượng mà tư duy được cụ thể bằng các hình ảnh Tưởng tượng vạch hướng đi cho tư duy, thúc đẩy tư duy trong việc tìm kiếm, khám phá cái mới

Trang 35

- Phản ánh hiện thực khách quan một gián tiếp, mang tính khái quát.

- Đều nảy sinh từ tình huống có vấn đề và hướng vào giải quyết tình huống có vấn đề

- Có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ và nhận thức cảm tính

- Lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn đánh giá tính đúng đắn

- Sản phẩm của tư duy là những khái niệm, phán đoán, suy lý, Sản phẩm của tưởng tượng là các biểu tượng mới

- Tư duy có tính chặt chẽ và logic hơn tưởng tượng Tư duy diễn ra theo một tiến trình các bước như quan sát, giả thuyết, thí nghiệm, kiểm chứng và kết luận Tưởng tượng cho phép

bỏ qua một vài giai đoạn mà hình dung ra kết quả cuối cùng

1.5 Vai trò của tưởng tượng

- Tưởng tượng cần thiết cho bất kỳ hoạt động nào của con người

- Tưởng tượng tạo nên những hình mẫu tươi sáng, rực rỡ, hoàn hảo mà con người mong đợi vươn tới (hình ảnh lý tưởng), nó nâng con người lên trên hiện thực, làm nhẹ bớt những nặng nề, khó khăn của cuộc sống, hướng con người về phía tương lai, kích thích con người hành động để đạt được nhưng kết quả lớn lao hơn

- Tưởng tượng có ảnh hưởng rõ rệt đến việc học tập của HS, đến việc tiếp thu và thể hiện tri thức mới, đặc biệt là việc giáo dục đạo đức, cũng như việc phát triển nhân cách nói chungg cho HS

- Trong công tác giáo dục, cần rèn luyện cho HS óc tưởng tượng phong phú, chính xác

và thiết thực, sát với thực tế cuộc sống

2 Các loại tưởng tượng

2.1 Căn cứ vào tính tích cực và tính hiệu lực: Tưởng tượng tích cực và tưởng tượng tiêu cực, ước mơ và lý tưởng

2.1.1 Tưởng tượng tích cực và tưởng tượng tiêc cực

a Tưởng tượng tích cực

Là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnh nhằm đáp ứng nhu cầu tích cực, kích thích tính tích cực thực sự của con người Tưởng tượng tích cực gồm 2 loại: tưởng tượng tái tạo và

tưởng tượng sáng tạo

Tưởng tượng tái tạo là loại tưởng tượng này tạo ra những hình ảnh mới đối với cá

nhân người tưởng tượng, dựa trên sự mô tả của người khác, ví dụ: HS tưởng tượng những điều

thầy mô tả trong lớp hay trong sách vở trình bày,

Tưởng tượng sáng tạo là loại tưởng tượng xây dựng hình ảnh mới một cách độc lập

Hình ảnh này mới đối với cá nhân người tưởng tượng và với xã hội, ví dụ: Xiôncôpxki sáng tạo

ra mô hình con tàu vũ trụ, Tính chất mới mẻ độc đáo và có giá trị là đặc điểm nổi bật của loại tưởng tượng này Đây là mặt không thể thiếu được của mọi hoạt động sáng tạo (trong nghiên cứu khoa học, hoạt động nghệ thuật, trong sản xuất, )

Tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

b Tưởng tượng tiêu cực

Là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnh không thể hiện thực hóa trong cuộc sống

Tưởng tượng tiêu cực có thể xảy ra có chủ định hoặc không chủ định

Trang 36

Tưởng tượng tiêu cực có chủ định nhưng không gắn liền với ý chí thể hiện hình ảnh

tưởng tượng trong cuộc sống, còn gọi loại tưởng tượng này là mơ mộng, tưởng tượng thành nhà doanh nhân thành đạt mà lại lười biếng không làm việc, học tập, Đây là một hiện tượng thường có ở con người, song nếu nó trở thành chủ yếu thì lại là một lệch lạc của sự phát triển nhân cách

Tưởng tượng tiêu cực không chủ định thường xảy ra khi hoạt động của ý thức và

HTTH2 bị suy yếu, khi con người ở tình trạng ngủ chiêm bao, trong trạng thái hay rối loạn bệnh lý của ý thức (ảo giác, hoang tưởng)

2.1.2 Ước mơ và tưởng tượng

Là một loại tưởng tượng hướng về tương lai, biểu hiện những mong muốn, ước ao của con người

a Ước mơ: Có điểm giống tưởng tượng sáng tạo ở chổ nó cũng là quá trình tạo ra hình ảnh

mới, nhưng khác là nó không hướng vào hoạt động hiện tại Trẻ em 3 tuổi đã bắt đầu biết ước mơ

Có 2 loại ước mơ: ước mơ có lợi (thúc đẩy cá nhân vươn lên, biến ước mơ thành hiện thực), ước mơ có hại (không dựa vào những khả năng thực tế, còn gọi là mộng tưởng, có thể làm cá nhân thất vọng và chán nản)

b Lý tưởng: Là loại tưởng tượng có tính hiện thực cao hơn ước mơ, là một hình ảnh chói lọi,

rực sáng Nó trở thành động cơ mạnh mẽ, thúc đẩy con người vươn tới, con người khoảng

15-18 tuổi đã xây dựng hình mẫu tương lai

Như vậy, tưởng tượng là một thành phần của nhân cách Giáo dục và bồi dưỡng trí tưởng tượng cho HS không chỉ là nhiệm vụ của trí dục mà còn là nhiệm vụ của GD nữa

2.2 Căn cứ vào đặc điểm nảy sinh, sự chủ động, sự tham gia của ý thức

a Tưởng tượng không chủ định: Là loại tưởng tượng không có mục đích định trước, không

có biện pháp tiến hành mà vẫn đạt được kết quả, nghe câu chuyện kể tự nhiên tưởng tượng đến cảnh xảy ra trong câu chuyện Tưởng tượng này có 2 loại mức độ

- Hoàn toàn không có sự tham gia của ý thức, những hình ảnh trong chiêm bao, giấc mơ

- Có sự tham gia của ý thức ở giai đoạn đầu, khi nhìn bầu trời thấy những đám mây bay, tưởng tượng ra những con vật, những hình thù khác nhau,

b Tưởng tượng có chủ định: Tưởng tượng có mục đích đặt ra, có kế hoạch, có phương pháp

nhằm tạo ra những hình ảnh mới, ví dụ người họa sỹ Tưởng tượng loại này có thể gồm tưởng tượng tái tạo và tưởng tạo sáng tạo

3 Các cách sáng tạo hình ảnh mới trong tưởng tượng

a Thay đổi kích thước, số lượng hay các thành phần của sự vật, ví dụ người khổng lồ, người tí

hon, phật bà trăm tay ngàn mắt,

b Nhấn mạnh các chi tiết, thành phần, thuộc tính của sự vật, ví dụ: các tranh biếm họa, phương

pháp cường điệu (vẽ ông tham quan đầu to, bụng to),

c Chắp ghép: Chắp ghép các bộ phận của nhiều SVHT khác nhau thành một SVHT mới

Trong hình ảnh mới, các bộ phận hợp thành vẫn giữ nguyên không thay đổi, chế biến, ví dụ hình ảnh con rồng, nàng tiên cá,

d Liên hợp: Cách tạo ra hình ảnh mới bằng cách liên hợp các bộ phận của nhiều SV khác nhau

nhưng các bộ phận tạo nên hình ảnh mới đều được cải biến và sắp xếp trong mối tương quan mới, ví dụ xe điện bánh hơi (liên hợp ô tô và tàu điện), thủy phi cơ (tàu bay và tàu thủy),

Phương pháp này sử dụng nhiều trong văn học, nghệ thuật, trong khoa học để chế biến máy móc, các công cụ kỹ thuật,

e Điển hình hóa: Phương pháp tạo ra hình ảnh mới phức tạp nhất, trong đó các thuộc tính điển

Trang 37

hình, các đặc điểm điển hình của nhân cách như là một đại diện cho giai cấp hay tầng lớp xã hội nhất định.

g Loại suy: Cách sáng tạo hình ảnh mới trên cơ sở mô phỏng, bắt chước những chi tiết, bộ

phận, những sự vật có thật, ví dụ: chế tạo chân tàu thủy từ chân vịt, cái kìm, cái búa, cái cào từ đôi bàn tay, máy bay từ hình ảnh chim bay,

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Tư duy là gì? Phân tích các đặc điểm của tư duy? Rút ra các kết luận sư phạm cần thiết

2 Cho ví dụ tình huống có vấn đề và vận dụng các thao tác tư duy để giải quyết tình huống đó

3 Một quá trình tư duy có những giai đoạn và thao tác nào?

4 Phân tích mối quan hệ giữa tư duy và tưởng tượng Rút ra các kết luận sư phạm cần thiết

5 Trình bày các cách sáng tạo hình ảnh mới trong tưởng tượng

Trí nhớ phản ánh bằng biểu tượng – là hình ảnh của SVHT được nảy sinh trong óc khi những SVHT đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan

2 Vai trò của trí nhớ

Trí nhớ có vai trò to lớn trong đời sống và trong hoạt động của con người

- Trí nhớ là điều kiện không thể thiếu để con người có đời sống tâm lý bình thường và

ổn định, đảm bảo tính toàn vẹn và tính thống nhất của nhân cách

- Nhờ có trí nhớ mà con người tích lũy được vốn kinh nghiệm và áp dụng những kinh nghiệm vào trong cuộc sống Trên cơ sở đó con người có thể hành động và hành động có kết quả

- Trí nhớ giúp cho con người xác định được phương hướng để thích nghi với ngoại giới

- Đối với hoạt động nhận thức:

Là công cụ để lưu giữ lại kết quả của các quá trình cảm giác và tri giác, nhờ đó nhận thức phân biệt được cái mới tác động lần đầu tiên và cái cũ đã tác động trước đây.

Trí nhớ cung cấp tài liệu do nhận thức cảm tính mang lại làm cơ sở cho nhận thức lý tính một cách đầy đủ nhất

Nó là cơ sở cho những phát minh và sáng chế ra đời.

4 Cơ sở sinh lý của trí nhớ

Cơ sở sinh lý của trí nhớ là sự hình thành, giữ lại và gợi lại những đường liên hệ thần kinh tạm thời và sự diễn biến của quá trình lý hóa trong vỏ não và phần dưới vỏ

Trí nhớ là một quá trình phức tạp, cho đến nay chưa có một lý thuyết thống nhất về cơ chế của trí nhớ, trong đó thuyết tế bào thần kinh được nhiều nhà khoa học quan tâm

Trang 38

loài và được biểu hiện dưới hình thức những bản năng, phản xạ không điều kiện.

b Trí nhớ cá thể

Được hình thành trong quá trình phát triển cá thể, mang tính chất cá thể

Ở động vật, loại trí nhớ này biểu hiện ở những kỹ xảo, phản xạ có điều kiện Ở con người, biểu hiện ở kho tàng kinh nghiệm

2 Trí nhớ vận động, trí nhớ xúc cảm, trí nhớ hình ảnh, trí nhớ từ ngữ logic

Các loại trí nhớ này được hình thành dựa trên căn cứ nội dung phản ánh trong trí nhớ

a Trí nhớ vận động: Phản ánh những cử động và hệ thống những cử động Nó có vai trò để

hình thành kỹ xảo thực hành và lao động

b Trí nhớ xúc cảm: Phản ánh những rung cảm, trải nghiệm của con người Những xúc cảm,

tình cảm đó trở thành một loại tín hiệu đặc biệt kích thích hoặc kìm hãm hành động

c Trí nhớ hình ảnh: Phản ánh những hình ảnh, biểu tượng thị giác, thính giác, khứu giác, vị

giác của các SVHT đã tác động vào ta trước đây Loại trí nhớ này đặc biệt phát triển rõ ràng ở những người làm công tác nghệ thuật

d Trí nhớ từ ngữ logic: Phản ánh những tư tưởng, ý nghĩ của con người Đây là một loại trí

nhớ đặc trưng cho con người, giữ vai trò chính trong sự lĩnh hội tri thức

3 Trí nhớ không chủ định, trí nhớ có chủ định

Hai loại trí nhớ này được hình thành dựa trên căn cứ vào tính mục đích của trí nhớ

a Trí nhớ không chủ định: Là loại trí nhớ mà trong đó việc ghi nhớ, gìn giữ và tái hiện một

cái gì đó được thực hiện không theo mục đích định trước

b Trí nhớ có chủ định: Là loại trí nhớ được diễn ra theo những mục đích xác định.

4 Trí nhớ dài hạn và ngắn hạn

Hai loại trí nhớ này được hình thành dựa trên căn cứ theo thời gian củng cố và gìn giữ tài liệu

a Trí nhớ dài hạn: Là loại trí nhớ mà trong đó thời gian củng cố các dấu vết được kéo dài sau

nhiều lần lặp lại và tái hiện nó, do đó những dấu vết ấy được gìn giữ lâu dài

b Trí nhớ ngắn hạn: Là loại trí nhớ mà trong đó thời gian củng cố các dấu vết diễn ra ngắn

ngủi, chốc lát và do đó những dấu vết được giữ lại cũng chỉ trong thời gian ngắn ngủi

III Các quá trình cơ bản của trí nhớ

1 Quá trình ghi nhớ

Đây là giai đoạn đầu của một hoạt động nhớ cụ thể Ghi nhớ là quá trình lưu lại trong não con người những hình ảnh của SVHT trong quá trình tri giác, đồng thời cũng hình thành mối quan hệ giữa tài liệu cũ với tài liệu mới, cũng như mối liên hệ giữa các bộ phận của bản thân tài liệu với nhau.

Căn cứ vào mục đich của sự ghi nhớ có thể chia thành: ghi nhớ không chủ định và ghi nhớ có chủ định

Trang 39

- Có sự chuẩn bị giáo án, bài giảng một cách khoa học, nghệ thuật.

- Có ví dụ đi kèm với nội dung truyền thụ

nhớ này Thông thường, học sinh ghi nhớ máy móc trong các trường hợp sau:

- Không thể hiểu hoặc lười không chịu tìm hiểu ý nghĩa của tài liệu

- Các phần của tài liệu rời rạc không có quan hệ lôgic với nhau

- Giáo viên thường yêu cầu học sinh trả lời đúng như trong sách giáo khoa

Ghi nhớ máy móc là sự lĩnh hội tri thức một cách hình thức và tốn nhiều thời gian, khi quên khó hồi tưởng lại Tuy vậy, ghi nhớ máy móc trở nên hữu ích trong trường hợp ta phải ghi nhớ những tài liệu không có nội dung khái quát, ví dụ như số điện thoại, số tài khoản ngân hàng, ngày tháng năm sinh…

- Ghi nhớ có ý nghĩa là loại ghi nhớ dựa trên sự thông hiểu nội dung của tài liệu, và nhận thức được những mối liên hệ lôgíc giữa các bộ phận của tài liêu đó.

Loại ghi nhớ này gắn liền với hoạt động tư duy – nhờ tư duy mới có thể tìm ra mối quan

hệ giữa các thuộc tính, các bộ phận của SVHT Đây là loại ghi nhớ chủ yếu trong hoạt động học tập, đảm bảo cho sự lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc và bền vững, dễ dàng tái hiện Dù ít tốn thời gian nhưng loại ghi nhớ này tiêu hao nhiều năng lượng

Ghi nhớ máy móc và có ý nghĩa có mối quan hệ mật thiết với nhau Ghi nhớ có ý nghĩa làm cho ghi nhớ máy móc được dễ dàng vì nó giảm số lần lặp đi lặp lại Ghi nhớ máy móc sẽ làm tăng độ chính xác, tính ý nghĩa của tài liệu cần nhớ

c Học thuộc lòng và thuật nhớ

Học thuộc lòng là sự kết hợp ghi nhớ máy móc với thông hiểu tài liệu ghi nhớ Thuật

nhớ là sự ghi nhớ có chủ định bằng cách tự tạo ra những mối liên hệ bên ngoài, giả tạo để nhớ,

mà không phải tri giác lại tài liệu đó

Trong họat động học tập của học sinh, quá trình gìn giữ được gọi là ôn tập Kinh nghiệm

“đi truy, về trao’ của học sinh chính là một cách ôn tập tích cực

3 Quá trình nhận lại và nhớ lại

Kết quả của quá trình ghi nhớ và gìn giữ được thực hiện trong quá trình nhận al5i và nhớ lại

Nhận lại là sự nhớ lại một đối tượng nào đó trong điều kiện tri giác lại đối tượng đó

Tính chính xác và tốc độ của nhận lại phụ thuộc vào mức độ bền vững của ghi nhớ, bản thân các SVHT, nếu SVHT thay đổi ít thì sự nhận lại nhanh và ngược lại

Tuy nhiên: Trong sự nhận lại nhiều khi vẫn nhận lại sai (gọi là ngộ nhận), nguyên nhân:

+ Do sự hiểu biết về đối tượng quá ít

Trang 40

+ Do những lần tri giác trước đây không nắm được thành phần chính của đối tượng

Nhận lại là một quá trình đơn giản, nó thường xẩy ra sớm hơn so với nhớ lại Nhận lại không phải là tiêu chuẩn đánh giá trí nhớ của con người tốt hay không tốt vì có người nhận lại nhanh, nhưng khi cần nhớ lại thường gặp rất nhiều khó khăn

Nhớ lại là biểu hiện cao của trí nhớ tốt, là khả năng làm sống lại những hình ảnh của SVHT đã được ghi nhớ trước đây mà không cần dựa vào sự tri giác lại những đối tượng đã gây nên hình ảnh đó.

Khi sự nhớ lại có chủ định đòi hỏi phải có sự khắc phục những khó khăn nhất định, phải

có sự nỗ lực ý chí thì gọi là sự hồi tưởng Muốn hồi tưởng được tốt:

+ Loại bỏ ý nghĩ sai lầm cho rằng: mình đã quên và “quên hẳn”, “quên sạch” chẳng nhớ gì Mà cần phải ám thị mình sẽ phải nhớ và tập trung ý thức vào việc tái hiện lại

+ Phải kiên trì, lần này không nhớ lại được, lần sau phải nhớ được

+ Phải tự tin

+ Phụ thuộc vào khả năng ghi nhớ và giữ gìn tài liệu trước đây

Khi sự nhớ lại các hình ảnh cũ trong những không gian và thời gian nhất định thì goi là

hồi ức Trong hồi ức, chúng ta không chỉ nhớ lại các đối tượng đã qua mà còn đặt chúng vào

một thời gian và địa điểm nhất định

IV Sự quên và phương pháp chống quên

- Quên cục bộ (từng phần): Không nhớ lại được nhưng lại nhận ra được

- Quên tạm thời: Một thời gian dài có thể không nhận lại được SVHT nhưng đột nhiên lại sức nhớ ra được

* Nguyên nhân của sự quên:

- Các quy luật ức chế hoạt động thần kinh (ức chế ngược, xuôi, ức chế tới hạn)

- Do quá trình ghi nhớ (thiếu tập trung, khả năng quan sát chưa cao)

- Do thể lực, sinh lý

- Tài liệu ghi nhớ không phù hợp với nhu cầu, hứng thú, sở thích hoặc ít có ý nghĩa thực tiễn đối với cá nhân

* Quy luật của sự quên:

- Quên những gì không hoặc ít liên quan đến cuộc sống

- Quên những gì không phù hợp với hứng thú, nhu cầu, sở thích cá nhân

- Những gì ít củng cố hoặc không sử dụng thường xuyên

- Quên khi gặp những kích thích mới lạ hoặc mạnh

- Sự quên diễn ra với tốc độ không đồng đều: ở giai đoạn đầu tốc độ quên khá lớn, về sau tốc độ quên càng giảm dần (quy luật Ebin Gao)

- Quên diễn ra theo một trình tự xác định: chi tiết quên trước, ý chính quên sau Chi tiết nào phù hợp với hứng thú cá nhân, gây được ấn tượng cảm xúc sâu sắc thì lâu quên “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”

Thường quên ở những thời điểm giữa một quá trình hoạt động

Ngày đăng: 07/09/2016, 19:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w