Cơ sở khoa học của quyết định quản lý, yêu cầu đặt ra cho quyết định quản lý, các bước ra quyết định. Liên hệ việc ra quyết định quản lý ở địa phương cơ quan, đơn vị; đưa ra giải pháp? trả lời: Một trong những chức năng của quản lý là ra quyết định quản lý. Quyết định quản lý liên quan đến thành bại, đến hiệu quả cao thấp của toàn bộ quá trình quản lý. Quyết định quản lý được coi là sản phẩm của người lãnh đạo quản lý, người lãnh đạo thể hiện tài năng của mình là ở khâu ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản lý. Vì vậy, để có quyết định chính xác, đúng đắn, khả thi và hiệu quả, người quản lý phải nắm vững các đặc điểm, yêu cầu của quyết định quản lý, phương pháp xây dựng và tổ chức thực hiện quyết định một cách khoa học.
Trang 1Câu 2 : Cơ sở khoa học của quyết định quản lý, yêu cầu đặt ra cho quyết định quản lý, các bước ra quyết định Liên hệ việc ra quyết định quản lý ở địa phương cơ quan, đơn vị; đưa ra giải pháp
Bài làm
Một trong những chức năng của quản lý là ra quyết định quản lý Quyết định quản lý liên quan đến thành bại, đến hiệu quả cao thấp của toàn bộ quá trình quản lý Quyết định quản lý được coi là sản phẩm của người lãnh đạo quản lý, người lãnh đạo thể hiện tài năng của mình là ở khâu ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản
lý Vì vậy, để có quyết định chính xác, đúng đắn, khả thi và hiệu quả, người quản lý phải nắm vững các đặc điểm, yêu cầu của quyết định quản lý, phương pháp xây dựng
và tổ chức thực hiện quyết định một cách khoa học Bằng những kiến thức về khoa học quản lý, chúng ta hãy phân tích làm rõ các nội dung trên
Quyết định quản lý là hành vi có tính chất chỉ thị do một cơ quan hay một người
đưa ra nhằm định hướng, tổ chức hoạt động của tập thể lao động thực hiện mục tiêu quản lý Ra quyết định là việc lựa chọn các mục tiêu cũng như nguồn lực và đề ra các phương pháp thực hiện để đạt được mục tiêu đó
Cơ sở khoa học của quyết định quản lý (QĐQL):
- QĐQL phải đc xây dựng trên cơ sở tuân thủ các yêu cầu của các quy luật khách quan
- QĐQL phải đc xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc của Đảng và NN đã đề ra
- QĐQL phải phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh và xu hướng hoạt động của đối tượng quản lý
- QĐQL phải đc xây dựng trên cơ sở khả năng thực hiện
- QĐQL phải đc xây dựng trên cơ sở làm tốt công tác thu thập và xử lý tốt thông tin
Do quyết định quản lý là sản phẩm của chủ thể quản lý nên nội dung của nó
thường chứa đựng ý chí chủ quan của người quản lý chi phối như : cá tính, quan điểm, trình độ năng lực nhận thức và vận dụng quy luật của người lãnh đạo quản lý Để đảm bảo cho quyết định quản lý có chất lượng, người quản lý phải dựa trên các cơ sở khách quan như: yêu cầu khách quan tác động đến đối tượng quản lý, đặc điểm và xu thế phát triển của đối tượng quản lý, điều kiện vật chất và thời gian có thể thực hiện quyết định
Vì tính chất quan trọng của quyết định quản lý nên nội dung của quyết định quản lý
phải đảm bảo các yêu cầu:
- Về tính hợp pháp: Trong nhà nước pháp quyền, mọi hành vi của tổ chức và cá nhân đều phải tuân theo pháp luật Quyết định quản lý là hành vi của tập thể hoặc cá nhân các nhà quản lý nên nó phải tuân theo pháp luật Tính hợp pháp của các quyết định quản lý được thực hiện trên các khía cạnh: quyết định được đưa ra trong phạm vi thẩm quyền của tổ chức hoặc cá nhân; quyết định không trái với nội dung mà pháp luật quy định; quyết định được ban hành đúng thủ tục và thể thức
- Về tính khoa học: Tính pháp lý chưa đủ cho quyết định có hiệu quả Muốn có hiệu quả, các quyết định phải có tính khoa học Yêu cầu về tính khoa học của quyết định quản lý được thể hiện trên các khía cạnh: quyết định phù hợp với định hướng và
Trang 2mục tiêu của tổ chức, quyết định phù hợp với quy luật, các xu thế khách quan, các nguyên tắc và nguyên lý khoa học, quyết định đưa ra trên cơ sở vận dụng các phương pháp khoa học; quyết định phù hợp với điều kiện cụ thể, với tình huống cần đưa ra quyết định kể cả thế và lực, cũng như môi trường tổ chức
- Tính hệ thống: Tính hệ thống của quyết định quản lý được thực hiện trên các khía cạnh: các quyết định được ban hành bởi các cấp và bộ phận chức năng phải thống nhất theo cùng một hướng Hướng đó do mục tiêu chung xác định; các quyết định được ban hành tại các thời điểm khác nhau, không được mâu thuẩn, trái ngược và phủ định nhau Quyết định nào đã hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp phải loại bỏ
- Tính tối ưu: Quản lý thực chất là một phương án hành động được lựa chọn nhằm giải quyết một vấn đề nảy sinh trong quá trình hoạt động của tổ chức Yêu cầu về tính tối ưu của quyết định đòi hỏi phương án mà quyết định lựa chọn phải là phương án tối ưu Theo nghĩa tổng quát phương án tối ưu là phương án thỏa mãn cao nhất các mục tiêu, đồng thời phù hợp với những ràng buộc nhất định, được sự ủng hộ của các thành viên và các cấp trong tổ chức
- Tính linh hoạt: Tính linh hoat đòi hỏi các quyết định quản lý phải phản ánh được mọi nhân tố mới trong lựa chọn quyết định, phản ánh được tính thời đại, môi trường mà quyết định ra đời và thực hiện Tính linh hoạt củq quyết định quản lý cũng đòi hỏi việc xử lý tình huống phải linh hoạt, khéo léo, tránh rập khuôn, máy móc, giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa Trên cơ sở đó mà phương án quyết định đáp ứng được với
sự biến đổi của môi trường
- Tính cụ thể về thời gian và người thực hiện: Quyết định được ban hành ngày nào và có hiệu lực từ khi nào phải rõ ràng đồng thời đối tượng và phạm vi điều chỉnh cần được làm rõ
Các bước ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định.
Các bước ra quyết định:
- Bước 1: Phát hiện vấn đề, sơ bộ đề ra nhiệm vụ (Người lãnh đạo phải có khả năng phân tích sâu sắc )
Phát hiện vấn đề là điểm khởi đầu của quá trình ra quyết định, xuất phát từ mục tiêu chức năng nhiệm vụ quản lý và từ thực tiễn mà xem cần có những vấn đề gì phải đặt ra cần giải quyết Người quản lý thường gặp rất nhiều vấn đề phải quyết định như:
Cụ thể hóa nghị quyết của cấp trên, tổ cslaij đơn vị, bổ nhiệm cán bộ dưới quyền, xử lý các tình huống Trong thực tế quản lý ít khi gặp những vấn đề hoàn toàn mới mà lãnh đạo trước đó chưa từng gặp Vì vậy, khi ra qđ mới, thường cần nhìn lại qđ cũ, đánh giá kết quả của nó, phân tích cá nguyên hân, tìm hiểu nguồn gố sâu xa của sự phát sinh vấn
đề cũng như những mâu thuẫn cụ thể Mặt khá, phải làm rõ những tình huống và những con người cụ thể có trách nhiệm đã thực hiện qđ trước đây Nhiều trường hợp khi trở lại
qđ cũ mới thấy rõ cần tổ chức ra qđ mới như thế nào, những ai có thể tham gia chuẩn bị, cần những tài liệu như thế nào và bao nhiêu thời gian
- Bước 2: Lựa chọn tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả
Một quyết định thường không thể giải quyết được tất cả các yêu cầu phát sinh trong quản lý, một quyết định cũng không chỉ tác động đến một mặt, mà thường tạo ra những “hiệu ứng phụ” khác Vì vậy, phải chọn những tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả cho thống nhất và sau đó dựa vào tiêu chuẩn đã chọn mà đánh giá quyết định đo tốt, xấu Người ta có thể căn cứ vào 2 mặt: quan điểm chung là đánh giá một cách toàn diện
Trang 3cả trước mắt và lâu dài, cả kinh tế và xã hội; hoặc có thể lượng hóa hiệu quả bằng hệ thống chỉ tiêu cụ thể
Cũng cần lưu ý rằng, nếu chọn tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả không đúng hoặc không nhất quán sẽ dẫn tới những kết luận sai lầm, có thể bỏ qua mặt này, thổi phồng mặt khác, dẫn đến tác hại không nhỏ
- Bước 3: Thu thập và xử lý thông tin để làm rõ nhiệm vụ đề ra
Giai đoạn trực tiếp thu thập thông tin, nghiên cứu, chuẩn bị qđ Giai đoạn này phải bảo đảm tính khoa học, khả thi và thống nhất của qđ Chất lượng thông tin có ý nghĩa rất lớn đến qđ Phương pháp ra qđ khoa học cũng đóng góp đáng kể vào sự thành công của quá trình ra qđ Kinh nghiệm cho thấy, một qđ đúng đắn là qđ có thông tin đầy
đủ, có sự phân tích tìn hình một cách cụ thể, toàn diện, tuân thủ các phương pháp ra qđ đúng đán, phù hợp
Hình thức thông qua qđ có thể là cá nhân hay tập thể tùy theo thẩm quyền quy định trong cơ cấu tổ chức bô máy quản lý Mỗi hình thức đó có ưu điểm và nhược điểm riêng Hình thức cá nhân qđ có ưu điểm nổi bật là nhạy bén, cho phép đề cao được trách nhiệm cá nhân về chất lượng qđ và việc chấp hành các biện pháp đề ra Qđ của tập thể thường có sự cân nhắc của nhiều người, kết hợp được những quan điểm và lợi ích khác nhau
- Bước 4: Xây dựng và lựa chọn phương án Trong quá trình chuẩn bị ra quyết định cần có nhiều phương án để từ đó lựa chọn phương án tốt nhất, chọn được phương
án tốt nhất chính là nâng cao được khả năng thực hiện và hiệu quả của quyết định
- Bước 5: Ra quyết định, có hai hình thức (cá nhân hoặc tập thể ra quyêt định)
Cá nhân: Gắn trách nhiệm của người ra quyết định, nhạy bén, thời gian ra quyết định ngắn; Tuy nhiên, chất lượng lại phụ thuộc vào năng lực của người ra quyết định (nhược)
Tập thể: tranh thủ được sự tham gia của các thành viên, nhiều chuyên gia, nhà khoa học; Tuy nhiên thời gian ra quyết định kéo dài
Các sai lầm cần tránh khi ra quyết định:
Quá tin cấp dưới mà thiếu kiểm tra, hay quá tin vào sự hiểu biết của mình mà ra quyết định chủ quan, duy ý chí;
Ra quyết định mang tính nể nang, thỏa hiệp, dựa dẫm vào cấp trên hay làm theo người khác một cách máy móc;
Ra quyết định thiếu căn cứ pháp lý, thiếu cơ sở khoa học
Liên hệ phân tích một quyết định cụ thể (Tham khảo)
Trong thực tiễn cho thấy có những quyết định quản lý khi ban hành được triển khai rộng rãi và được rất nhiều người đồng tình ủng hộ, tham gia thực hiện nhưng cũng
có những quyết định quản lý rất khó tổ chức triển khai thực hiện Đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai, vốn là những vấn đề rất nhạy cảm trong quần chúng nhân dân Pháp luật nói chung và pháp luật đất đai nói riêng đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, quá trình này cũng là quá trình đổi mới, quá trình hoàn thiện pháp luật để thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội Sự phát triển của pháp luật với sự phát triển của thực
tế trong giai đoạn này không phải lúc nào cũng đạt được sự đồng bộ nhất nhất mà có
Trang 4lúc, có nơi còn có những khoảng cách mà Nhà nước đã và đang cố gắng khắc phục tình trạng này
Lấy ví dụ như việc ban hành Nghị định 60/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5/7/1994
về việc Quyền sử dụng nhà ở và Quyền sử dụng đất ở tại đô thị Nội dung chính của Nghị định này là nhà nước quy định đối với nhà và đất ở thuộc khu vực đô thị thì chủ sở hữu nhà và chủ sử dụng đất sẽ được cấp 1 giấy chứng nhận trên đó có cả 2 quyền: quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở Đây là một quyết định hợp pháp do được ban hành đúng thẩm quyền, đúng thể thức Tuy nhiên, về tính khoa học, tính linh hoạt, tính hiệu quả, tính toàn diện và tính khả thi của quyết định có rất nhiều vấn đề cần phải xem xét
Về tính khoa học và tính thống nhất, quyết định này có nhiều yếu tố phù hợp với mục tiêu mà chính phủ và cả người dân mong muốn: đó là nhằm quản lý chặt chẽ hơn tình hình đất đai - nhà ở tại đô thị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách đền bù, giải toả, quy hoạch, chỉnh trang đô thị cũng như các quan hệ giao dịch khác của người dân (thế chấp, chuyển nhượng ) Rõ ràng việc gắn cả 2 quyền này vào cùng một giấy chứng nhận sẽ thuận tiện hơn cho người dân khi thực hiện các quyền (chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn ) và cũng phù hợp xu thế hình thành một thị trường bất động sản ở nước ta Tuy nhiên bản thân của 2 quyền này có những điểm khác nhau rất cơ bản : đó là đối với quyền sở hữu nhà thì người chủ sở hữu
có thể toàn quyền định đoạt tài sản của mình, họ có thể thế chấp, chuyển nhượng, thừa
kế phần tài sản này cho bất cứ đối tượng nào mà pháp luật không cấm, tuy nhiên về quyền sử dụng đất đai thì khác, quyền của người sử dụng đất sẽ có những giới hạn nhất định, do đó có những trường hợp có thể pháp luật về nhà ở, dân sự không cấm nhưng đối với pháp luật đất đai thì không được phép chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp Mặt khác, nội dung của Nghị định còn giao cho cả 2 ngành Xây dựng và Địa chính trong phạm vi chức năng của mình tổ chức thực hiện, mỗi ngành với nhân lực và nội dung quản lý riêng nên ban hành hướng dẫn lại chưa thống nhất Do đó, Nghị định này còn hạn chế về tính khoa học và tính thống nhất
Về tính khả thi, tính toàn diện và tính linh hoạt thì thực tế cho thấy rằng phương
án tổ chức thực hiện mà Nghị định đưa ra là phải có sự phối hợp của cả hai cơ quan xây dựng và địa chính cùng thực hiện, quản lý hồ sơ lưu và bản lưu giấy chứng nhận cũng ở
cả hai đơn vị, điều này trên thực tế gây rất nhiều phiền hà cho người dân vì khi có thay đổi nội dung trên giấy chứng nhận thì phải đến cả 2 cơ quan để xác nhận Mặt khác, do mỗi cơ quan chức năng quản lý khác nhau nên cơ quan nào cũng muốn giấy chứng nhận phải thể hiện đầy đủ những thông tin mình cần quản lý, điều đó càng làm cho quy trình thực hiện khó khăn hơn nhiều Lực lượng thực hiện của 2 bên cũng không đồng nhất nên cùng một nhà và đất ấy phải đo vẽ nhà đất 2 lần Ngoài ra, có rất nhiều hồ sơ nhà đất chưa đủ điều kiện cấp giấy nên để được hợp thức hóa cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì người dân phải cùng một lúc phải nộp một khoản tiền khá lớn vừa nhà, vừa đất Bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng có khi chủ nhà hợp pháp về đất nhưng do nhà xây dựng lấn chiếm không gian hoặc xây dựng trái phép và không phù hợp với quy hoạch nên không được cấp quyền sở hữu nhà, do đó người chủ nhà này cũng không được cấp GCN Từ những vướng mắc trên cho thấy rằng tính khả thi và tính toàn diện của Nghị định là rất thấp và sau 10 năm ban hành cả nước cũng chỉ mới cấp được không quá 50% số trường hợp phải cấp, không thỏa mãn những mục tiêu
đã đề ra cũng như không đáp ứng được những vấn đề mà thực tế diễn ra
Trang 5Ví dụ thứ 2 là việc ban hành Quyết định 19/2000/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 03/02/2000 về việc bãi bỏ các loại giấy phép trái quy định của Luật doanh nghiệp Nội dung chính của quyết định là bãi bỏ các loại giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy phép hành nghề, chứng chỉ hành nghề và giấy phép dưới hình thức khác trái với Luật doanh nghiệp, kể cả những loại giấy phép kinh doanh khác do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành mà không căn cứ vào luật, pháp lệnh, nghị định, nhưng chưa được liệt kê vào Danh mục kèm theo Quyết định 19 Đối với điều kiện kinh doanh xét thấy cần thiết phải có giấy phép thì các cơ quan hữu quan phải trình Chính phủ ban hành nghị định để thực hiện đúng quy định tại Điều 6 Luật Doanh nghiệp
Đây là quyết định ban hành hợp pháp do được ban hành đúng thẩm quyền, đúng thể thức Quyết định này cũng mang tính khoa học và mang tính hiệu quả cao bởi vì nó phù hợp với xu hướng cải cách hành chính, giảm bớt những thủ tục phiền hà và gây trở ngại cho doanh nghiệp, nhờ đó có tác động tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng phát triển kinh tế Quyết định này mang tính toàn diện vì những vấn đề mà quyết định nêu bao hàm rất nhiều ngành, (khoa học công nghệ, môi trường, Thương mại, hải quan, Thủy sản, tài chính, công nghiệp, bưu điện, du lịch, y tế, lao động – thương binh xã hội, văn hóa thông tin, giao thông vận tải, xây dựng, nông nghiệp, kế hoạch đầu tư ) Quyết định nàu cũng mang tính linh hoạt vì nội dung của quyết định còn bao hàm cả những trường hợp mà quyết định chưa xác định kịp nhưng dự đoán sẽ có xảy ra trong thực tế Quyết định này cũng mang tính khả thi cao vì phù hợp với nguyện vọng của đối tượng chịu tác động (các doanh nghiệp) cũng như của những nhà quản lý có đạo đức nghề nghiệp Quyết định này cũng thống nhất với nội dung của Luật doanh nghiệp và chủ trương cải cách hành chính của Đảng và nhà nước ta