bài tập hết môn sở hữu trí tuệ 9d. “Do có quen biết từ trước trong việc buôn bán lạc, đậu Nguyễn Thị H và Đỗ Thị D thấy bột ngọt nhãn hiệu MIWON trên thị trường có giá rẻ hơn bột ngọt nhãn hiệu AJINOMOTO; mặt khác bột ngọt AJINOMOTO có chất lượng tốt hơn và tiêu thụ nhanh hơn nên khoảng tháng 112009 H và D đã bàn nhau sản xuất bột ngọt AJINOMOTO giả với thủ đoạn: D và H mua 30 thùng bột ngọt nhãn hiệu MIWON tại siêu thị METRO với giá 12.900.000đồng (434.000 đthùng), đặt X sản xuất túi nilông nhãn hiệu AJINOMOTO sau đó đóng bột ngọt MIWON vào túi bột ngọt nhãn hiệu AJINOMOTO và sử dụng máy dán mép túi nilông để dán lại. D và H đã bị cơ quan điều tra bắt quả tang khi đang trên đường đi tiêu thụ.” Yêu cầu đề đặt ra là: Hành vi của D, H và X có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không? Cụ thể là hành vi xâm phạm nào? Hành vi của D và H có thể bị xử lý hình sự về tội danh nào? Tại sao?
Trang 1Mục Lục
Nội Dung
A. Đặt Vấn Đề
Đối với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã kéo theo sự phát triển của nền kinh tế cũng như xã hội Một trong nhưng hệ quả của nó là sự đa dạng hóa các mặt hàng hóa được lưu thông trên thị trường nhằm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của người dân Tuy nhiên, để có được lợi nhuận cao và thỏa mãn tham vọng của mình nhiều người đã dung muôn vàn các thủ đoạn, mánh khóe
để lợi dụng những sản phẩm hàng hóa có uy tín trên thị trường để đạt mục đích của
Trang 2mình Dưới đây là một trong những tình huống không hiếm thấy trong xã hội hiện nay:
“Do có quen biết từ trước trong việc buôn bán lạc, đậu Nguyễn Thị H và Đỗ Thị
D thấy bột ngọt nhãn hiệu MIWON trên thị trường có giá rẻ hơn bột ngọt nhãn hiệu AJINOMOTO; mặt khác bột ngọt AJINOMOTO có chất lượng tốt hơn và tiêu thụ nhanh hơn nên khoảng tháng 11/2009 H và D đã bàn nhau sản xuất bột ngọt AJINOMOTO giả với thủ đoạn: D và H mua 30 thùng bột ngọt nhãn hiệu MIWON tại siêu thị METRO với giá 12.900.000đồng (434.000 đ/thùng), đặt X sản xuất túi nilông nhãn hiệu AJINOMOTO sau đó đóng bột ngọt MIWON vào túi bột ngọt nhãn hiệu AJINOMOTO và sử dụng máy dán mép túi nilông để dán lại D và H đã
bị cơ quan điều tra bắt quả tang khi đang trên đường đi tiêu thụ.” Yêu cầu đề đặt ra là:
- Hành vi của D, H và X có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không? Cụ thể là hành vi xâm phạm nào?
- Hành vi của D và H có thể bị xử lý hình sự về tội danh nào? Tại sao?
B. Giải Quyết Vấn Đề
I. Một vài khái niệm cơ bản
I.1 Khái niệm nhãn hiệu
Theo quy định tại Khoản 16 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005: “ Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”
Như vậy, có thể hiểu rằng nhãn hiệu có chức năng cơ bản và quan trọng nhất
đó là nhận biết và phân biệt, để khi nhìn vào hàng hóa người dùng có thể phân
Trang 3biệt giữa hàng hóa này với hàng hóa khác bởi vì mỗi hàng hóa có một nhãn hiệu khác nhau Nhãn hiệu có thể là dấu hiệu chữ, cũng có thể là dấu hiệu hình hoặc bao gồm cả hai dấu hiệu chữ và hình
I.2 Khái niệm văn bằng bảo hộ
Theo Khoản 1 Điều 92 Luật sở hữu trí tuệ 2005 thì : “Văn bằng bảo hộ ghi nhận chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu (sau đây gọi là chủ văn bằng bảo hộ); tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; đối tượng, phạm vi và thời hạn bảo hộ.”
II. Giải quyết tình huống
II.1 Hành vi của D, H và X có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không? Cụ thể là hành vi xâm phạm nào?
Trên thực tế, gia đình em và những người em quen biết, khi đi mua sắm nội trợ, luôn tin dùng các sản phẩm mang nhãn hiệu AJINOMOTO – đó là sự lựa chọn hàng đầu của những người tiêu dùng Thế nhưng điều đó chưa có thể chứng minh được rằng đây là nhãn hiệu nổi tiếng đã được người tiêu dùng biết đến và sử dụng rộng rãi
Nhìn theo góc độ pháp lý, tiêu chí để đánh giá được nhãn hiệu nổi tiếng
được quy định tại Điều 75 Luật sở hữu trí tuệ 2005: Các tiêu chí sau đây được
xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng:
1 Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán,sử dụng hàng hoá,dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;
2 Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá,dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;
Trang 43 Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra,lượng dịch vụ đã được cung cấp;
4 Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
5 Uy tín rộng rãi của hàng hoá,dịch vụ mang nhãn hiệu;
6 Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
7 Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;
8 Giá chuyển nhượng,giá chuyển giao quyền sử dụng,giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.
Tập đoàn AJINOMOTO được thành lập từ năm 1909 tại Nhật Bản với việc khám phá ra vị “Umami” Cho đến nay, Tập đoàn AJINOMOTO đã có 103 nhà máy sản xuất ở 17 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, hoạt động trong
ba lĩnh vực chính là thực phẩm, axít amin, dược phẩm và các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe với hơn 1.700 sản phẩm các loại, tạo ra hơn 30.000 việc làm và đạt doanh thu hơn 10 tỉ đô la Mỹ mỗi năm
Được thành lập từ năm 1991, Công Ty AJINOMOTO Việt Nam (gọi tắt là AJINOMOTO Việt Nam) là công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc Tập đoàn Ajinomoto, Nhật Bản với giá trị đầu tư ban đầu hơn 8 triệu đô la Mỹ Từ khi thành lập đến nay, công ty đã không ngừng mở rộng và nâng công suất sản xuất các sản phẩm với tổng chi phí xây dựng, hoạt động và phát triển thị trường lên đến 65 triệu đô la Mỹ Với sứ mệnh góp phần mang đến cho người tiêu dùng Việt Nam một cuộc sống khỏe mạnh và hạnh phúc, AJINOMOTO Việt Nam luôn nỗ lực để mang đến nhiều chủng loại sản phẩm gia vị với chất lượng tốt nhất và an toàn, phù hợp với khẩu vị của người Việt Nam Bằng những ý tưởng và sản phẩm được liên tục cải tiến, AJINOMOTO Việt Nam
Trang 5làm giàu bữa ăn cho hàng triệu gia đình, góp phần mang đến cho mọi người dân Việt Nam một chuẩn mực sống tốt đẹp và khỏe mạnh hơn Trong quá trình phát triển, AJINOMOTO Việt Nam luôn chú tâm đến việc vận hành quy trình sản xuất cũng như áp dụng những công nghệ thân thiện với môi trường
và con người Việt Nam Từ năm 1999 đến nay, nhãn hiệu AJINOMOTO luôn đạt chứng nhận Hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn AJINOMOTO đã được nhiều người tiêu dùng trên thế giới cũng như ở Việt Nam tin tưởng
Vậy nhãn hiệu AJINOMOTO đã đáp ứng đủ 8 căn cứ tại Điều 75 Luật sở hữu trí tuệ 2005 và trở thành nhãn hiệu nổi tiếng Và Tập đoàn AJINOMOTO
cũng chính là chủ sở hữu nhãn hiệu AJINOMOTO bởi vì “…Chủ sở hữu nhãn
hiệu là tổ chức,cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng”( Khoản 1, Điều 121 Luật SHTT).
Theo như tình huống trên, em xin khẳng định: “Hành vi của D,H và X xâm
phạm quyền SHCN và cụ thể là xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu nổi tiếng” Tại Điều 16 Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ quy định rằng: “Chủ sở hữu một nhãn
hiệu hàng hoá đã đăng ký phải có độc quyền ngăn cấm những người không được phép của mình sử dụng trong hoạt động thương mại các dấu hiệu trùng hoặc tương tự cho hàng hoá hoặc dịch vụ trùng hoặc tương tự với những hàng hoá hoặc dịch vụ được đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng như vậy có nguy cơ gây nhầm lẫn Việc sử dụng cùng một dấu hiệu cho cùng một loại hàng hoá hoặc dịch vụ phải bị coi là có nguy cơ gây nhầm lẫn Các quyền nêu trên sẽ không làm tổn hại đến bất kỳ quyền nào tồn tại trước, cũng không cản trở các Thành viên cấp các quyền trên cơ sở sử dụng.” Ở nước
Trang 6thành viên Việt Nam, pháp luật cũng đã quy định rõ về hành vi xâm phạm tới
nhãn hiệu nổi tiếng: “Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi
tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa,phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá,dịch vụ bất kỳ,kể cả hàng hoá,dịch vụ không trùng,không tương tự
và không liên quan tới hàng hoá,dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá,dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng,nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng” (Điểm d, Khoản 1, Điều 129 SHTT).
Vì thấy bột ngọt nhãn hiệu MIWON trên thị trường có giá rẻ hơn bột ngọt
nhãn hiệu AJINOMOTO, mặt khác bột ngọt AJINOMOTO có chất lượng tốt hơn và tiêu thụ nhanh hơn, D và H đã mua 30 thùng bột ngọt nhãn hiệu
MIWON tại siêu thị METRO với giá 12.900.000đồng (434.000 đ/thùng) Họ
đã đặt X sản xuất túi nilong có gán nhãn hiệu AJINOMOTO để đựng số mì chính MIWON Sản phẩm đó nếu đưa ra thị trường sẽ gây ra nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa Người tiêu dùng sẽ chỉ để ý tới nhãn hiệu AJINOMOTO trên bao bì mà không thể nhận ra được mì chính đó có phải là mì chính AJINOMOTO thật hay không? D và H là những người đã chủ mưu kế hoạch này còn X là người sản xuất ra túi nilong có gán nhãn hiệu AJINOMOTO mà biết hoặc không quan tâm tới D,H là ai, X vẫn sản xuất cho D,H Vì thế trong tình huống này cả 3 đối tượng D,H và X đã xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu nổi tiếng AJINOMOTO
Để chứng minh rõ ràng hơn nữa về hành vi xâm phạm của D,H và X, em căn cứ vào Điều 5, Nghị định 105/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005 về Sở hữu công nghiệp thì hành vi xâm phạm
Trang 7quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu quy định tại điều 129 được xác định dựa trên 4 căn cứ sau:
1 Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ.
2 Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.
3 Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các Điều 25, 26, 32, 33, khoản 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133, Điều 134, khoản 2 Điều 137, các Điều 145, 190 và 195 của Luật Sở hữu trí tuệ.
4 Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.
Sở dĩ khẳng định D, H và X có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng, bởi lẽ hành vi đó đáp ứng đầy đủ 4 căn cứ trên Cụ thể là:
Thứ nhất, AJINOMOTO được pháp luật coi là nhãn hiệu và đang được bảo hộ tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam.
Từ việc chứng minh ở trên , chúng ta có thể nhận định rằng AJINOMOTO
là một nhãn hiệu nổi tiếng Theo nguyên tắc chung, quyền sở hữu đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng có thể được xác lập trên cơ sở sử dụng chứ không phải trên cơ sở đăng ký) Như vậy, nhãn hiệu AJINOMOTO là một nhãn hiệu nổi tiếng, việc đã được đăng ký bảo hộ ở đây có nghĩa là nhãn hiệu này đã được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng theo quyết định của Cục sở hữu trí tuệ (Thông tư 01/2007 của bộ khoa học và công nghệ)
Trang 8Căn cứ vào khoản 42.2 điều 42 Mục 5 Chương I Thông tư của Bộ khoa học
công nghệ số 01/2007/TT – BKHCN ngày 14/2/2007 quy định: “ Quyền đối
với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ và thuộc về chủ sở hữu nhãn hiệu” Như
vậy, nhãn hiệu AJINOMOTO là nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam
Thứ hai, hành vi của D, H và X có yếu tố xâm phạm đến nhãn hiệu nổi tiếng.
Điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ-CP, yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là dấu hiệu gắn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện, dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đang được bảo hộ Căn cứ vào khoản 4 điều 11 nghị định 105/2006/NĐ-CP quy
định: “ Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, dấu hiệu bị nghi ngờ bị coi là yếu tố xâm
phạm nếu:
a) “Dấu hiệu bị nghi ngờ đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a khoản 3 Điều
này” Điểm a khoản 3 Điều 11 quy định: “Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ; trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả màu sắc); một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu, chữ, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.
Trang 9b) “Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ đáp ứng điều kiện quy định
tại điểm b khoản 3 Điều này hoặc hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự, không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nhưng có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng”.Khoản 3
điều 11 nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định: “Hàng hoá, dịch vụ mang dấu
hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ với hàng hoá, dịch vụ thuộc phạm
vi bảo hộ.”
Trong tình huống nêu ra, D và H mua 30 thùng bột ngọt nhãn hiệu MIWON
tại siêu thị METRO với giá 12.900.000đồng (434.000 đ/thùng), đặt X sản xuất túi nilông nhãn hiệu AJINOMOTO sau đó đóng bột ngọt MIWON vào túi bột ngọt nhãn hiệu AJINOMOTO và sử dụng máy dán mép túi nilông để dán lại.
Như vậy, D, H và X chủ ý sản xuất và sử dụng nhãn hiệu AJINOMOTO có tên gọi, kiểu dáng, cách phát âm nhãn hiệu vv… giống với nhãn hiệu nổi tiếng
AJINOMOTO Bên cạnh đó việc Nguyễn Thị H và Đỗ Thị D thấy bột ngọt
nhãn hiệu MIWON trên thị trường có giá rẻ hơn bột ngọt nhãn hiệu AJINOMOTO; mặt khác bột ngọt AJINOMOTO có chất lượng tốt hơn và tiêu thụ nhanh hơn nên khoảng tháng 11/2009 H và D đã bàn nhau sản xuất bột ngọt AJINOMOTO giả có nghĩa là mục đích khi A sản xuất và sử dụng nhãn
hiệu này là mong muốn mọi người khi mua mì chính nhầm lẫn về nguồn gốc xuất xứ của nó, để người mua hàng nhầm tưởng đây là hàng hóa được chủ sở hữu nhãn hiệu AJINOMOTO sản xuất Qua đó, chứng minh hành vi của D, H
và X là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, vi phạm điểm d khoản 1 Điều 129 Luật SHTT
Trang 10Thứ ba, D, H và X không phải là chủ thể quyền SHTT của nhãn hiệu nổi tiếng AJINOMOTO và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan
có thẩm quyền cho phép Rõ ràng ở đây, 3 đối tượng trên không thể nào là
chủ sở hữu của nhãn nhiệu nổi tiếng AJINOMOTO mà là Tập đoàn AJINOMOTO Các quy định được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng nhãn hiệu đó là điểm b khoản 2 điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ 2005:
“Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức,cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý không có quyền cấm người khác thực hiện hành vi thuộc các trường hợp sau đây:
b) Lưu thông,nhập khẩu,khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường,kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp,trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài”;
Tình huống của D, H và X không thuộc phạm vi trên, vì vậy chủ sở hữu
nhãn hiệu AJINOMOTO có quyền ngăn cấm D, H và X gắn nhãn hiệu nổi tiếng AJINOMOTO lên hàng hoá,bao bì hàng hoá trong hoạt động kinh doanh; lưu thông,chào bán,quảng cáo để bán,tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu AJINOMOTO
Thứ tư, hành vi của D, H và X được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.
D và H đã mua mì chính MIWON ở Siêu thi METRO – một hệ thống siêu thị lớn ở Việt Nam và với thanh toán số hàng hóa đó với loại tiền tệ VNĐ (Việt Nam đồng) Vì mục đích lợi nhuận nên D, H có thể sẽ đặt cơ sở sản xuất túi nilong gắn nhãn hiệu AJINOMOTO ở Việt Nam (X) để tiết kiệm chi phí và
Trang 11tránh lộ liễu ra bên ngoài Như vậy chắc chắn rằng hành vi xâm phạm của 3 đối tượng trên được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam
Tóm lại, từ những phân tích trên, một lần nữa e, xin đưa ra kết luận: “Hành vi
của D, H và X xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu nổi tiếng”
II.2 Hành vi của D và H có thể bị xử lý hình sự về tội danh nào? Tại sao? Theo giả thiết của tình huống D và H đã mua mì chính MIWON để đóng gói
vào bao bì đã đặt sẵn có gắn nhãn hiệu AJINOMOTO, không thể phân biệt được với mì chính AJINOMOTO thật nhằm mục đích đánh lừa người tiêu dùng nhầm tưởng đó là sản phẩm của AJINOMOTO và việc sản xuất đó không được phép chủ sở hữu nhãn hiệu AJINOMOTO nên số lượng mì chính mà D và H làm ra là hàng giả Căn cứ vào khoản 2 điều 213 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy
định: “Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá,bao bì của hàng hoá có gắn
nhãn hiệu,dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu,chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý” Đồng thời tại điểm a khoản
1 và khoản 2 điều 4 Nghị định 08/2013/NĐ-CP có quy định:
“Điều 4 Các loại hàng giả
1 Hàng không có giá trị sử dụng, công dụng:
a) Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;
2 Hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa: