1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chương 1 luận văn phương pháp

9 379 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 38,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư duy là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ được chọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức

Trang 1

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Khi bạn làm một bài toán bạn cần phải đọc và phân tích đề thật kỹ sau đó suy nghĩ xem nó thuộc dạng nào, đề bài cho gì và yêu cầu gì, phương pháp giải là

gì, các công thức định lý nào cần áp dụng… Điều này có nghĩa là bạn đã phải tư duy trước khi làm bài Hay một ví dụ khác là cảm xúc trào dâng khiến bạn nảy

ra một ý thơ nào đó và bạn muốn làm một bài thơ Để có thể làm được bài thơ diễn tả ý thơ đó, bạn phải lựa chọn thể loại, chọn lựa cấu trúc, chọn cách gieo vần Nói tóm lại là bạn phải tiêu tốn thời gian để suy nghĩ, tìm tòi Có nghĩa là bạn tư duy

Những quá trình tư duy trên đây, dù nhanh hay chậm, dù nhiều hay ít, dù nông cạn hay sâu sắc đều diễn ra trong bộ não hay thần kinh trung ương Chúng không diễn ra trong mắt hay trong tim Chúng là một hoạt động của hệ thần kinh Hay tư duy là một hoạt động của hệ thần kinh

Trong cuốn “Rèn luyện tư duy trong dạy học toán”, PGS.TS Trần Thúc Trình

có định nghĩa: “Tư duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng và trước

đó chủ thể chưa biết”.[13,tr.1]

Theo Pap-lôp: “Tư duy là sản vật cao cấp của một vật chất hữu cơ đặc biệt, tức

là bộ óc, qua quá trình hoạt động của sự phản ánh hiện thực khách quan bằng biểu tượng, khái niệm, phán đoán… Tư duy bao giờ cũng liên hệ với một hình thức nhất định của sự vận động của vật chất với sự hoạt động của bộ óc… Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng tư duy là đặc tính của vật chất’

Tư duy không phải là sự ghi nhớ mặc dù nó có thể giúp cho sự hoàn thiện ghi nhớ Tư duy không phải là hoạt động điều khiển cơ thể mà chỉ giúp cho sự định

Trang 2

hướng điều khiển hay định hướng hành vi Tư duy cũng không phải là giấc mơ mặc dù nó có thể xuất hiện trong một số giấc mơ và có những điểm giống với giấc mơ Tư duy không có ở ngoài hệ thần kinh Tư duy là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ được chọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức

về thế giới xung quanh, định hướng cho hành vi phù hợp với môi trường sống

Tư duy là sự hoạt động, là sự vận động của vật chất, do đó tư duy không phải là vật chất Tư duy cũng không phải là ý thức bởi ý thức là kết quả của quá trình vận động của vật chất

Tư duy là một quá trình hoạt động trí tuệ gồm 4 bước cơ bản Bước một là xác định vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ tư duy Bước hai là huy động tri thúc, vốn kinh nghiệm, liên tưởng, hình thành giả thiết về cách giải quyết vấn đề, cách trả lời câu hỏi Bước ba là xác minh giả thiết trong thực tiễn Bước bốn là quyết định đánh giá kết quả và đưa ra sử dụng

Nhân loại đã đặt cho tư duy rất nhiều loại hình tư duy như tư duy lôgic, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo, tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận, tư duy khoa học, tư duy triết học v.v Về bản chất, tư duy chỉ có một, đó là sự việc hình thành mới hoặc tái tạo lại các liên kết giữa các phần tử ghi nhớ Sự phân chia ra các loại hình tư duy nhằm mục đích hiểu sâu và vận dụng tốt tư duy trong hoạt động của hệ thần kinh Có thể phân loại tư duy theo các loại dưới đây:

Phân loại theo cách thể hiện được chia ra thành tư duy bằng hình tượng và tư duy bằng ngôn ngữ

Phân loại theo cách vận hành: tư duy kinh nghiệm, tư duy sáng tạo, tư duy trí tuệ, tư duy phân tích, tư duy tổng hợp Trong các loại tư duy trên đây thì ba loại nêu trước mang tính cá thể, chúng thể hiện cho năng lực cá nhân và mang tính bẩm sinh Chúng không lệ thuộc vào kinh nghiệm hay lượng tri thức được tích

Trang 3

luỹ Hai loại tư duy sau vừa chứa đựng yếu tố thuộc về cá nhân, vừa chứa đựng các yếu tố thuộc về môi trường sống (và chủ yếu là môi trường văn hoá giáo dục)

Phân loại theo tính chất: tư duy rộng hay hẹp, tư duy sâu hay nông,tư duy logic,

tư duy phi logic, tư duy đơn giản hay phức tạp, tư duy lý luận

Phân loại theo nội dung là phân loại dựa trên các nội dung, phương pháp, phạm

vi tư duy và các điều kiện về tư duy Theo cách phân loại này, tư duy có rất nhiều loại và cũng không khó cho việc đặt tên dưới đây là một số loại:tư duy khoa học,tư duy nghệ thuật, tư duy triết học,tư duy tín ngưỡng

Tư duy là hoạt động cao cấp của hệ thần kinh và để thực hiện được tư duy cần

có những điều kiện Có các điều kiện cơ bản và điều kiện riêng cho từng loại hình tư duy

Điều kiện cơ bản là hệ thần kinh phải có năng lực tư duy Đây là điều kiện tiên quyết, điều kiện về bản thể Thiếu điều kiện này thì không có tư duy nào được thực hiện Năng lực tư duy thể hiện ở ba loại hình tư duy là kinh nghiệm, sáng tạo và trí tuệ Ba loại hình tư duy này mang tính bẩm sinh nhưng có thể bị biến đổi trong quá trình sinh trưởng theo xu hướng giảm dần từ trí tuệ xuống kinh nghiệm, nhưng sự bộc lộ của chúng lại theo chiều hướng ngược lại đây là biểu hiện của mối quan hệ giữa năng lực bẩm sinh với môi trường sống và trực tiếp

là môi trường kinh nghiệm Hệ thần kinh đã được tiếp nhận kinh nghiệm, tiếp nhận tri thức Đây là điều kiện qua trọng Không có kinh nghiệm, không có tri thức thì các quá trình tư duy không có cơ sở để vận hành Kinh nghiệm, tri thức

là tài nguyên cho các quá trình tư duy khai thác, chế biến Để tư duy tốt hơn thì nguồn tài nguyên này cũng cần nhiều hơn Học hỏi không ngừng sẽ giúp tư duy phát triển

Trang 4

Điều kiện riêng Điều kiện riêng được đặt ra nhằm giúp cho mỗi loại hình tư duy thực hiện được và thực hiện tốt nhất Ví dụ muốn có tư duy về lĩnh vực toán học thì hệ thần kinh phải có các kiến thức về toán học Muốn tư duy về lĩnh vực nào thì phải có kinh nghiệm, tri thức về lĩnh vực đó Muốn có tư duy lý luận thì phải có sự kết hợp giữa năng lực tư duy trí tuệ với tư duy triết học và tri thức về triết học…

Ngoài các điều kiện trên đây còn có các điều kiện yêu cầu buộc phải tư duy và

có phương pháp tư duy thích hợp Không ai muốn tư duy khi tư duy là gánh nặng cho hoạt động thần kinh trừ trường hợp tư duy là niềm vui, là khát khao sống của họ Vì vậy để có tư duy cũng cần phải giao trách nhiệm thực hiện công việc cần tư duy Phương pháp tư duy kích thích sự hính thành quá trình tư duy

và nâng cao hiệu quả tư duy Tư duy là một vấn đề phức tạp, nghiên cứu về tư duy cần nhiều thời gian và công sức Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư duy nhưng các ý kiến vẫn còn chưa có sự thống nhất Bạn đọc có thể dễ dàng tìm kiếm các bài viết, các công trình nghiên cứu về tư duy trên mạng bằng việc

gõ từ khóa vào các công cụ tìm kiếm Các vấn đề nêu trong bài viết này mới chỉ

là những mảng tường thô đầu tiên của một công trình xem xét tư duy mang tính toàn diện trên cả hai mặt bản thể luận và nhận thức luận (trước đây chỉ có mặt nhận thức luận) Nó còn cần nhiều nghiên cứu hơn, cần nhiều bàn luận hơn để

nó trở nên sáng tỏ hơn

1.2 Tư duy sáng tạo

Tư duy sáng tạo là chủ đề của một lĩnh vực nghiên cứu còn mới Nó nhằm tìm

ra các phương án, biện pháp thích hợp để kích hoạt khả năng sang tạo và để tăng cường khả năng tư duy của một cá nhân hay một tập thể cộng đồng làm việc chung về một vấn đề hay lĩnh vực Ứng dụng chính của bộ môn này là giúp

Trang 5

cá nhân hay tập thể thực hành nó tìm ra các phương án, các lời giải từ một phần đến toàn bộ cho các vấn đề nan giải Các vấn đề này không chỉ giới hạn trong các ngành nghiên cứu về khoa học kỹ thuật mà nó có thể thuộc lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội, nghệ thuật hoặc trong các phát minh, sáng chế Một danh từ khác được giáo sư Edward De Bono sử dụng để chỉ ngành nghiên cứu này và được dùng rất phổ biến là tư duy định hướng

Khi nghiên cứu về tư duy sáng tạo Nguyễn Bá Kim đã viết: ” Tính linh hoạt, tính độc lập, tính phê phán là những điều kiện cần thiết của tư duy sáng tạo, là những đặc điểm về những mặt khác sáng tạo của tư duy sáng tạo Tính sáng tạo của tư duy thể hiện rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới, phát hiện vấn đề mới, tìm

ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới Nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi

nhẹ cái cũ” (Nguyễn Bá Kim – Phương pháp dạy học môn Toán).

Cũng nghiên cứu về vấn đề này thì Tôn Thân quan niệm: “ Tư duy sáng tạo là

một dạng tư duy độc lập tạo ra ý tưởng mới, độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao” Và theo tác giả “tư duy sáng tạo là tư duy độc lập và nó không bị

gò bó phụ thuộc vào cái đã có Tính độc lập của nó bộc lộ vừa trong việc đặt mục đích, vừa trong việc tìm giải pháp” Mỗi sản phẩm của tư duy sáng tạo đều

mang dấu ấn cá nhân của người tạo ra nó (Tôn Thân- Xây dựng hệ thống câu

hỏi và bài tập nhằm bồi dưỡng một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học sinh khá và giỏi Toán ở trường THCS Việt Nam, luận án phó Tiến sỹ khoa học sư

phạm –Tâm lý, Viện khoa học giáo dục Hà Nội)

Tùy vào mức độ tư duy, người ta chia nó thành: tư duy tích cực, tư duy độc lập,

tư duy sáng tạo Mỗi mức độ tư duy đi trước là tiền đề tạo nên mức độ tư duy đi sau Đối với chủ thể nhận thức tư duy tích cực được đặc trưng bởi sự khát vọng,

sự cố gắng trí tuệ và nghị lực Còn tư duy độc lập thể hiện ở khả nưng tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tự kiểm tra và hoàn thiện kết quả đạt được Không thể

có tư duy sáng tạo nếu không có tư duy tích cực và tư duy độc lập

Trang 6

Một số phương pháp tư duy sáng tạo đã và đang được triển khai thành các lớp học, các hội nghị chuyên đề ở các cơ quan, tổ chức xã hội, chính trị, chính trị -

xã hội nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của cá nhân hay tập thể Ở các trường trung học của các nước phát triển, một số phương pháp quan trọng như tập kích não, giản đồ ý cũng đã được áp dụng cho học sinh biết cách áp dụng dưới dạng thô sơ; đồng thời cũng đã có nhiều cơ sở giáo dục tư thục giảng dạy các chuyên

đề về phương pháp tư duy sáng tạo cho học viên mọi lứa tuổi

1.3 Một số yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo

Tính mềm dẻo của tư duy là năng lực dễ dàng đi từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, từ thao tác tư duy này sang thao tác tư duy khác, vận dụng linh hoạt các hoạt động phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa và các phương pháp suy luận như quy nạp, suy diễn, tương

tự, dễ dàng chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác, điều chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ khi gặp trở ngại

Tính mềm dẻo của tư duy còn là năng lực thay đổi dễ dàng, nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức chuyển từ góc độ quan niệm này sang góc độ quan niệm khác, định nghĩa lại sự vật, hiện tượng, gạt bỏ sơ đồ tư duy có sẵn và xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong những quan hệ mới, hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra bản chất sự vật và điều phán đoán

Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc các kiến thức kỹ năng đã có sẵn vào hoàn cảnh mới, điều kiện mới, trong đó có những yếu tố đã thay đổi, có khả năng thoát khỏi ảnh hưởng kìm hãm của những kinh nghiệm, những phương pháp, những cách suy nghĩ đã có từ trước Đó là nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết

Trang 7

Như vậy tính mềm dẻo là một trong những đặc điểm cơ bản của tư duy sáng tạo, do đó để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh ta có thể cho các em giải các bài tập mà thong qua đó rèn luyện được tính mềm dẻo của tư duy

1.3.2 Tính nhuần nhuyễn

Tính nhuần nhuyễn của tư duy thể hiện ở năng lực tạo ra một cách nhanh chóng

sự tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của các tình huống, hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết mới Các nhà tâm lý học rất coi trọng yếu tố chất lượng của ý tưởng sinh

ra, lấy đó làm tiêu chí để đánh giá sáng tạo

Tính nhuần nhuyễn được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng nhất định các ý tưởng Số ý tưởng nghĩ ra càng nhiều thì càng có nhiều khả năng xuất hiện

ý tưởng độc đáo, trong trường hợp này số lượng làm nảy sinh chất lượng Tính nhuần nhuyễn còn thể hiện rõ nét ở hai đặc trưng sau:

Một là tính đa dạng và cách xử lý khi giải toán, khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau Đứng trước một vấn đề phải giải quyết, người có tư duy nhuần nhuyễn nhanh chóng tìm và đề xuất được nhiều phương án khác nhau và từ đó tìm được phương án tối ưu

Hai là khả năng xem xét đối tượng dưới nhiều khía cạnh khác nhau, có một cái nhìn sinh động từ nhiều phía đối với sự vật và hiện tượng chứ không phải cái nhìn bất b iến, phiến diện, cứng nhắc

Ví dụ: Giải phương trình 2x2  6x10 5( x 2) x1

Khi học sinh đã được học và nhuần nhuyễn các cách giải phương trình vô các

em sẽ có nhiều hướng suy nghĩ để tìm đến lời giải

Cách 1: Nếu biến đổi một chút các em sẽ có

2

2(x 2) 2(x1) 5( x 2) x 1 0 và nếu thành thạo việc phân tích nhân tử

các em có thể phân tích được thành 2x 2  x1 x 2  2 x1 0

Trang 8

Cách 2: Nếu học sinh có thể đặt ẩn phụ để chuyển về phương trình đẳng cấp bậc

3 như sau:

2

1 (b 0)

Khi đó phương trình trở thành: 2a2 2b2  5ab đây là phương trình đẳng0 cấp

Cách 3: Nếu học sinh thành thạo phương pháp tách để nhân liên hợp thì cũng có thể làm theo phương pháp này Tuy nhiên cũng có 2 cách để làm đó là ta có thể nhân liên hợp từng nghiệm đơn hoặc nhân liên hợp để tách luôn hai nghiệm đơn

Phương trình trở thành:

2

2

2

x

Vậy là nhờ có sự nhuần nhuyễn thành thạo các phương pháp mà các em học sinh có thể nhanh chóng tìm ra hướng giải quyết cho bài toán Và khi có nhiều hướng giải quyết các em sẽ tìm được hướng giải quyết tốt nhất độc đáo nhất Đó chính là tư duy sáng tạo

1.3.3 Tính độc đáo

Tính độc đáo của tư duy sáng tạo được đặc trưng bởi các khả năng sau:

+ Khả năng tìm ra những hiện tượng và những kết hợp mới

+ Khả năng thấy được những mối liên hệ trong những sự kiện mà bên ngoài liên tưởng như không có liên hệ với nhau

+ Khả năng tìm ra những giải pháp lạ mặc dù đã biết những giải pháp khác Các yếu tố cơ bản trên không tách rời nhau mà trái lại chúng có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau Khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác (tính mềm dẻo) tạo điều kiện cho việc tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ, và tình huống khác nhau (tính nhuần

Trang 9

nhuyễn) và nhờ đó đề xuất được nhiều phương án khác nhau mà có thể tìm được giải pháp lạ, đặc sắc (tính độc đáo) Các yếu tố này có quan hệ khăng khít với các yếu tố khác như: tính chính xác, tính hoàn thiện, tính nhảy cảm vấn đề Tất cả các yếu tố đặc trưng nói trên cùng góp phần tạo nên tư duy sáng tạo, đỉnh cao nhất trong các hoạt động trí tuệ của con người

1.3.4 Tính hoàn thiện

Tính hoàn thiện là khả năng lập kế hoạch, phối hợp các ý nghĩa và hành động, phát triển ý tưởng, kiểm tra và kiểm chứng ý tưởng

1.3.5 Tính nhạy cảm vấn đề

Tính nhạy cảm vấn đề có các đặc trưng sau:

+ Khả năng nhanh chóng phát hiện vấn đề

+ Khả năng phát hiện ra mâu thuẫn, sai lầm, thiếu logic, chưa tối ưu từ đó có nhu cầu cấu trúc lại, tạo ra cái mới

Các yếu tố cơ bản của tư duy sáng tạo nêu trên đã biểu hiện khá rõ ở học sinh nói chung và đặc biệt rõ nét với học sinh khá giỏi Trong học tập toán mà cụ thể

là trong hoạt động giải toán, các em đã biết di chuyển, thay đổi các hoạt động trí tuệ, biết sử dụng xen kẽ phân tích và tổng hợp, dùng phân tích trong khi tìm tòi lời giải và dùng tổng hợp để trình bày lời giải Ở học sinh khá và giỏi cũng có

sự biểu hiện các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo Điều quan trọng là người giáo viên phải có phương pháp dạy học thích hợp để có thể bồi dưỡng và phát triển tốt hơn năng lực sáng tạo của các em

1.4 Vận dụng tư duy biện chứng để phát triển tư duy cho học sinh 1.5 Tiềm năng của chủ đề khối đa diện và thể tích khối đa diện trong việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh

1.6 Kết luận chương I

Ngày đăng: 15/09/2016, 00:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w