1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ việt nam campuchia

40 638 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 61,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhu cầu hợp tác của hai nước Nhu cầu quan hệ hợp tác Campuchia -Việt Nam được hìnhthành trong lịch sử, nhất là trong các thời kỳ cả hai dân tộc bịngoại bang xâm lược và cai trị, nhân dâ

Trang 1

A QUAN HỆ VIỆT NAM – CAMPUCHIA.

I.Những nhân tố hình thành, quyết định mối quan hệ hữu

nghị Việt Nam – Campuchia, Campuchia – Việt Nam

Campuchia và Việt Nam là hai nước có mối quan hệ lâu đời.Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, vận mệnh của hai quốc gia luôngắn kết với nhau chặt chẽ, điều này đã được thực tế chứngminh: Nếu một giai đoạn nào đó, quan hệ hai nước trục trặc thìđều tổn hại đến lợi ích của cả Campuchia và Việt Nam Ngượclại, nếu quan hệ giữa hai nước tốt đẹp thì tạo cơ hội và sự ổnđịnh cho sự phát triển của hai bên Mặt khác, sự gần gũi về mặtđịa lý và sự gắn bó, tương đồng về lịch sử khiến cho nhân dânhai nước luôn có sự hiểu biết, thông cảm và chia sẻ, đồng thời

là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy quan hệ hai nước trong tìnhhình mới

1 Nhân tố lịch sử

Từ lâu trong lịch sử, Campuchia đã có mối quan hệ với ViệtNam, trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược.Những năm 1930 -1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sảnĐông Dương nhân dân hai nước đã cùng chống thực dân Phápxâm lược Đến năm 1954, nhân dân hai nước lại cùng kề vai sátcánh chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược Trong cuộc khángchiến chống Mỹ xâm lược (1954-1975), lực lượng của Trungương Cục Miền Nam Việt Nam đã sử dụng phần lãnh thổCampuchia giáp biên giới Việt Nam để làm căn cứ địa để chốnglại chính quyền Việt Nam Cộng hòa nên Hoa Kỳ đã ném hàngloạt bom xuống các vùng ở Campuchia Một số nguồn tin chobiết ước tính số thương vong dân sự tại đây đạt tới con số100.000 người

Ngày 24/6/1967, đã đánh dấu sự kiện quan trọng hai nướcchính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, khi nhân dân Việt Namcòn đang trong giai đoạn đấu tranh quyết liệt chống Mỹ cứunước Đây là sự ủng hộ có ý nghĩa cao cả của Campuchia đốivới Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranhgiải phóng và thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Chủtịch Hồ Chí Minh Sự kiện này cũng khẳng định sự ủng hộ chântình của nhân dân Việt Nam đối với cuộc đấu tranh bảo vệ độc

Trang 2

hệ Campuchia Việt Nam chủ yếu xoay quanh việc giải quyếtvấn đề hòa bình, hòa hợp dân tộc ở Campuchia Đây cũng làgiai đoạn cực kỳ khó khăn trong quan hệ hai nước.

Thời kỳ 1993 đến nay, quan hệ Việt Nam - Campuchia khôngngừng được củng cố và phát triển về mọi mặt Hai bên đã traođổi nhiều chuyến thăm cấp cao, đặc biệt là chuyến thăm chínhthức Campuchia của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tháng 3/2005,hai bên đã nhất trí phương châm phát triển quan hệ hai nướctrong thời kỳ mới "Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống,hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài"

2 Nhu cầu và chính sách đối ngoại của Campuchia và Việt Nam

2.1 Nhu cầu hợp tác của hai nước

Nhu cầu quan hệ hợp tác Campuchia -Việt Nam được hìnhthành trong lịch sử, nhất là trong các thời kỳ cả hai dân tộc bịngoại bang xâm lược và cai trị, nhân dân hai nước đã chủ độngliên minh trong chiến đấu bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ.Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, đứngtrước những thuận lợi và khó khăn của tình hình khu vực và thếgiới, nhu cầu hợp tác Campuchia - Việt Nam càng trở nên thiếtthực hơn nhằm bảo vệ và phát huy những thành quả đã đạtđược

Về phương diện kinh tế, là hai quốc gia có nền kinh tế đangphát triển, có vị trí địa lý liền kề, do đó, hợp tác kinh tế giữa hainước đã đưa lại những lợi ích quan trọng Về phương diện anninh - chính trị, lịch sử đã chứng minh Campuchia và Việt Nam

có lợi ích căn bản và sống còn trong việc duy trì và phát triểnquan hệ với nhau

2.2 Chính sách đối ngoại của Campuchia

Trang 3

Đối với Việt Nam, quốc gia láng giềng lâu đời củaCampuchia, đất nước đã từng giúp đỡ Campuchia thoát khỏihọa diệt chủng Khmer Đỏ, sau cuộc Tổng tuyển cử năm 1993,Nhà nước và nhân dân Campuchia luôn dành cho Việt Nam một

vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của mình Phát huytình đoàn kết cách mạng trước đây, trong giai đoạn mới,Campuchia hết sức coi trọng quan hệ với nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, coi đó là một phần tất yếu nhằmgiữ vững ổn định và phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước

Mục tiêu của Campuchia trong chính sách đối với Việt Nam làđảm bảo quan hệ hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợicho phát triển kinh tế, hợp tác hữu nghị đôi bên cùng có lợi, giữvững an ninh quốc phòng vì lợi ích của mỗi nước và khu vực.Mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức, nhất là chế độ chínhtrị hai bên khác nhau; đồng thời, nhiều đảng phái tạiCampuchia vẫn có thái độ thù địch với Việt Nam, song vượt lêntrên tất cả là chính sách nhất quán của lãnh đạo và nhân dânCampuchia dành cho Việt Nam luôn tốt đẹp, thân thiện.Nhìn trên tổng thể, nền ngoại giao của Campuchia trong thời kỳmới nói chung đều nhằm vào phục vụ mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội và giữ vững an ninh - quốc phòng, ổn định đất nước.Đối với Việt Nam, Campuchia luôn dành ưu tiên trong chínhsách đối ngoại của mình Năm 2007, kỷ niệm 40 năm thiết lậpquan hệ ngoại giao Campuchia Việt Nam (1967 -2007), Thủtướng Campuchia S.Hunsen đã một lần nữa tái khẳngđịnh “cùng nhau chúng ta sẽ hành động để thúc đẩy quan hệgiữa hai dân tộc lên mức cao hơn vì lợi ích của nhân dân hainước cũng như của đại gia đình ASEAN nói chung”

2.3 Chính sách đối ngoại của Việt Nam

Đối với Campuchia, Việt Nam thực hiện xây dựng mối quan

hệ láng giềng thân thiện giữa hai nước trên nguyên tắc tôntrọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, khôngdùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, giải quyết mọi vấn đề trongquan hệ hai nước bằng con đường hòa bình, hợp tác bình đẳng,cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình Trong chính sách “coitrọng các nước láng giềng” này, Campuchia có một vị trí rấtquan trọng Việt Nam và Campuchia cùng ở khu vực Đông Nam

Á - khu vực phát triển kinh tế năng động Ngoài sự tương đồng

Trang 4

về văn hóa, phong tục, tập quán hai nước còn có những lợithế so sánh có thể bổ sung cho nhau Đặc biệt, sự giúp đỡ vô

tư, trong sáng thân tình, đã làm cho hai nước luôn đoàn kết gắn

bó với nhau từ trước đến nay Chính điều này là nền tảng quantrọng để hai nước tiếp tục nương tựa vào nhau cùng phát triểntrong bối cảnh mới Nhận thức rõ vai trò vị trí của Campuchiacũng như các quốc gia lân cận, Nghị quyết Trung ương VIII(khóa IX) một lần nữa nhấn mạnh “ưu tiên hàng đầu cho việccủng cố quan hệ với các nước láng giềng” Với Campuchia,chính sách ngoại giao tốt đẹp giữa hai nước được nâng lênthành 16 chữ vàng “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống,hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” Đây chính là tâm điểmtrong chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Campuchiatrong giai đoạn hiện nay cũng như về lâu dài

II.Những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ Việt Nam – Campuchia, Campuchia – Việt Nam.

1 Quan hệ toàn diện giữa hai nước

1.1 Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao

Năm 1930, Đảng cộng sản Đông Dương ra đời, sau một thờigian lãnh đạo đã tách ra thành 3 đảng độc lập đó là Đảng Laođộng Việt Nam năm 1951, Đảng nhân dân cách mạng Khơmernăm 1951, Đảng nhân dân cách mạng Lào năm 1955

Từ 1954-1970, chính quyền Sihanouk thực hiện chính sáchhoà bình trung lập tích cực, từng bước có quan hệ tốt với cáclực lượng cách mạng Việt Nam, ủng hộ cuộc đấu tranh chống

Mỹ cứu nước thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam

Tháng 3/1965, Hội nghị nhân dân các nước Đông Dương họp

ở Phnom Pênh, Mặt trận đoàn kết chống Mỹ của nhân dân cácnước Đông Dương được hình thành

Ngày 24/6/1967, Việt Nam - Campuchia thiết lập quan hệngoại giao

Tháng 4/1975 - 7/1/1979, Chế độ diệt chủng Pôn Pốt cầmquyền ở Campuchia Chúng thi hành chính sách thù địch vớiViệt Nam, gây ra nhiều cuộc xung đột ở khu vực biên giới TâyNam và tiến hành cuộc chiến tranh Biên giới chống Việt Nam

Trang 5

Ngày 7/1/1979, nước Cộng hòa nhân dân Campuchia thoátkhỏi chế độ diệt chủng Từ 1979 - 1989, quân đội và chuyên giaViệt Nam đã giúp nhân dân Campuchia lật đổ và ngăn chặn chế

độ diệt chủng Pôn Pốt quay trở lại, giúp Campuchia hồi sinh.Cuối năm 1989, Việt Nam rút hết quân tình nguyện và chuyêngia về nước

Tháng 10/1991, Hiệp định Pari về Campuchia được ký kết.Campuchia tiến hành Tổng tuyển cử tháng 5/1993 do Liên hiệpquốc tổ chức bầu Quốc hội lập hiến và Chính phủ Hoàng giaCampuchia được thành lập

Từ 1993 đến nay, quan hệ Campuchia - Việt Nam trên lĩnhvực chính trị, ngoại giao đạt được nhiều thành tựu và có phầnkhởi sắc trên nhiếu cấp độ:

Kênh ngoại giao Chính phủ: Trong những năm 1993 - 1996,nhiều đoàn lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã sang thămCampuchia, có thể kể đến đó là chuyến thăm của Bộ trưởngNgoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Chủ tịchnước Lê Đức Anh

Về phía Campuchia trong giai đoạn này đáng ghi nhận làchuyến thăm Việt Nam của Quốc vương Nôrôđôm Shihanuc (14-16/12/1996), đồng Thủ tướng Ung Huot và Hunsen Sự kiệnđược đánh giá làm thay đổi sâu sắc diện mạo quan hệCampuchia - Việt Nam là chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướngS.Hunsen vào ngày 13-14/12/1998 (kết thúc thời kỳ 2 Thủtướng)

Việc lựa chọn Việt Nam làm điểm đến đầu tiên trên cương vịThủ tướng Chính phủ Liên hiệp mới của S.Hunsen đã tạo ratriển vọng mới trong quan hệ hai nước và tái khẳng định sự ưutiên đối với Việt Nam trong chính sách ngoại giao củaCampuchia Sự kiện Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tới Campuchia làbiểu hiện cơ bản nâng tầm quan hệ hợp tác ngoại giao giữa hainước sau cuộc tổng tuyển cử tháng 7/1998 tại Campuchia Đặcbiệt là chuyến thăm chính thức Campuchia của Tổng Bí thưNông Đức Mạnh tháng 3/2005, hai bên đã nhất trí phương châmphát triển quan hệ hai nước trong thời kỳ mới “láng giềng tốtđẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâudài”

Trang 6

Những năm gần đây, lãnh đạo cấp cao hai nước thường xuyên

có các chuyến thăm, làm việc nhằm tiếp tục củng cố và thúcđẩy quan hệ tốt đẹp giữa hai nước:

- Các lãnh đạo cấp cao Việt Nam thăm Campuchia có: Tổng bíthư Nguyễn Phú Trọng thăm hữu nghị cấp Nhà nước (6-8/12/2011) Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng dự Hội nghịcấp cao ASEAN 20 (tháng 4/2012), Phó Chủ tịch Quốc hộiHuỳnh Ngọc Sơn thăm Campuchia (tháng 4/2012); Phó Thủtướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc thăm, làm việc tại CPC(tháng 8/2012); Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm và làm việctại Campuchia từ ngày 12-14/01/2014; Chủ tịch nước TrươngTấn Sang cùng Đoàn đại biểu cấp cao nước CHXHCN Việt Nam

đã thăm cấp Nhà nước Vương quốc Campuchia từ ngày 23 24/12/2014

Các lãnh đạo CPC sang Việt Nam có: Quốc Vương NôrôđômShihamôni thăm cấp nhà nước từ ngày 24-26/9/2012, Thủ tướngChính phủ Hoàng gia CPC Hun Sen sang Việt Nam hai lần cùngThủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng dự lễ khánh thành Khu

di tích tại địa điểm thành lập đơn vị 125 - tiền thân lực lượng vũtrang đoàn kết cứu nước CPC tại Đồng Nai ngày 02/01/2012 vàđồng chủ trì Lễ khánh thành cột mốc 314 trên tuyến Biên giớiđất liền Việt Nam - Campuchia và Hội nghị hợp tác đầu tư, ViệtNam - Campuchia lần thứ 3 tại Kiên Giang ngày 24/6/2012; Chủtịch Quốc hội Heng Samrin thăm hữu nghị chính thức Việt Nam

từ ngày 20-25/7/2012 và sang Việt Nam đồng chủ trì Hội nghịquan hệ hữu nghị Quốc hội Việt Nam - Campuchia (23-25/8/2012); Phó Thủ tướng Thường trực Men Sam On dự lễ míttinh kỷ niệm 33 năm ngày chiến thắng chế độ diệt chủng ởCampuchia (07/01/1979 - 07/01/2012) ngày 07/01/2012; Bộtrưởng Nội vụ CPC Sar Kheng sang Việt Nam đồng chủ trì Hộinghị hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam –Campuchia lần thứ 7 (08-09/3/2012)

Trong tình hình nền chính trị đa đảng ở Campuchia, Việt Namchủ trương duy trì, củng cố quan hệ Nhà nước, Chính phủ và vớihai đảng cầm quyền là Đảng CPP và Đảng FUNCINPEC Kênh

“ngoại giao nhân dân ”Giao lưu hợp tác giữa các tổ chức hữunghị của nhân dân hai nước cũng có những bước phát triển như

sự ra đời của Liên minh xã hội dân sự vì an ninh con người,

Trang 7

đoàn kết nhân dân hai nước vì sự phát triển của đất nướcCampuchia Đáng chú ý là những hoạt động tích cực của HộiHữu nghị Việt Nam - Campuchia đã góp phần tăng cường sựhiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước và thúc đẩy sự gắnkết giữa hai dân tộc láng giềng Các địa phương cũng đã tạo lậpmối quan hệ gắn bó, nhất là những tỉnh giáp biên giới vớiCampuchia

Ngoài ra, hai bên còn phối hợp triển khai nhiều hoạt động thiếtthực chào mừng “Năm hữu nghị Việt Nam – Campuchia 2012”

và kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước(24/6/1967 - 24/6/2012)

1.2.Trên lĩnh vực an ninh

1.2.1 Vấn đề biên giới lãnh thổ

Campuchia và Việt Nam có chung đường biên giới trên đấtliền dài 1.137 km đi qua 10 tỉnh biên giới của Việt Nam và 10tỉnh biên giới của Campuchia, toàn tuyến biên giới có 10 cửakhẩu quốc tế, 12 cửa khẩu chính và nhiều cửa khẩu phụ kháctạo điều kiện cho việc thông thương hàng hóa, qua lại giữanhân dân hai nước Do đó, vấn đề biên giới luôn được hai bênquan tâm và tạo mọi điều kiện để giải quyết ổn thỏa, nhằmphát triển kinh tế - xã hội mỗi nước và của cả khu vực.Campuchia và Việt Nam đã ký nhiều Hiệp định, biên bản thỏathuận về việc phân định biên giới trên bộ và trên biển:

- Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa nướcCHXHCN Việt Nam và nước CHND Campuchia năm 1982 vàHiệp định về quy chế biên giới năm 1983

- Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCNViệt Nam và nước CHND Campuchia năm 1985

- Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 giữa nướcCHXHCN Việt Nam và Vương quốc Campuchia và ký Hiệp ước

bổ sung năm 2005

- Hiệp định về vùng nước lịch sử giữa CHXHCN Việt Nam vàCHND Campuchia được ký kết ngày 7/7/1982 tại thành phố HồChí Minh

Trang 8

Hoạch định và phân định biên giới giữa Campuchia và Việt Nam

đã tiến một bước dài Tuy nhiên, công việc còn lại vẫn không ít,tình hình chính trị nội bộ của Campuchia vẫn tiếp tục đặt ranhiều thách thức cho vấn đề hoạch định và phân định đườngbiên giới trên đất liền và trên biển giữa hai nước Trong bốicảnh hợp tác an ninh - chính trị giữa hai nước ngày càng đi vàochiều sâu, Campuchia và Việt Nam đang cố gắng giải quyết đầy

đủ và hợp lý, công bằng và khách quan về vấn đề hoạch định

và phân định đường biên giới, đặc biệt là phân định đường biêngiới trên biển, trên cơ sở bình đẳng, hữu nghị, tôn trọng lẫnnhau, vì hòa bình và phát triển

1.2.2 Hợp tác đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống

Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam và Campuchia đã có nhữnghợp tác chặt chẽ nhằm đối phó với những thách thức an ninhphi truyền thống ngày càng xuất hiện nổi trội với những kháiniệm an ninh toàn diện như an ninh kinh tế, an ninh lương thực,

an ninh môi trường, an ninh con người, an ninh tiền tệ, an ninhthông tin

Hai nước tiếp tục tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực nhưtrao đổi thông tin, kinh nghiệm, đào tạo, phối hợp bảo vệ biêngiới, ngăn chặn sự xâm nhập và phá hoại của các thế lực thùđịch, chống âm mưu diễn biến hoà bình, phòng chống tộiphạm

Có thể kể đến một số hợp tác như chống nạn buôn bán phụ

nữ, trẻ em và buôn lậu qua biên giới, phòng chống tình trạngsản xuất, buôn bán, vận chuyển, lạm dụng ma tuý và nhiềuloại tội phạm khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định

an ninh - chính trị, kinh tế - xã hội, cũng như sự phát triển bềnvững của từng quốc gia, dân tộc Hai nước cũng có nhiềuhoạt động hợp tác an ninh thông qua các diễn đàn khu vực nhưASEAN, ARF, GMS(hợp tác Tiểu vùng Mê Công), Tam giác pháttriển Việt Nam - Lào -Campuchia nhằm tạo điều kiện chonhau phát triển, đặc biệt là việc thống nhất đẩy mạnh tuyêntruyền và ngăn chặn những âm mưu phá hoại sự nghiệp xâydựng đất nước của mỗi bên, đập tan âm mưu “diễn biến hoà

Trang 9

Theo Hội đồng Phát triển Vương quốc Campuchia, hiện nayCampuchia là thị trường xuất khẩu lớn thứ 16 của Việt Nam vàViệt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ 4 vào Campuchia sau TrungQuốc, Thái Lan, Hồng Kông Ngược lại, Campuchia là nước xuấtkhẩu lớn thứ 25 vào Việt Nam và Việt Nam là thị trường xuấtkhẩu lớn thứ 3 của Campuchia sau Hoa Kỳ và EU.

* Về cán cân thương mại, theo thống kê của Tổng Cục Hải quanViệt Nam và số liệu chính thức của Phòng Thương mạiCampuchia (CCC) công bố Từ năm 1993 đến năm 2010, traođổi thương mại hàng hóa giữa Campuchia và Việt Nam ngàycàng tăng, trong đó Việt Nam luôn đứng ở thế xuất siêu với giátrị thặng dư thương mại ngày càng lớn

*Về cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, so với các quốc gia trongkhu vực, Campuchia và Việt Nam là hai nước có sức sản xuất vàtiêu thụ ở mức tương đối Tuy nhiên, trong phạm vi có thể,Campuchia và Việt Nam vẫn luôn tìm mọi biện pháp đẩy mạnhquá trình trao đổi hàng hóa giữa hai bên được thuận lợi

Trang 10

Hàng xuất khẩu Việt Nam sang Campuchia rất đa dạng vềchủng loại, đủ các loại sản phẩm như nhóm hàng lương thực,thực phẩm, vật liệu xây dựng, xăng dầu, dược phẩm, rau hoaquả tươi, máy móc thiết bị, sản phẩm dệt may, vật liệu dụng cụngành tẩy rửa, phân bón, giống cây trồng, dụng cụ ngành giáodục

Mặt hàng của Việt Nam nhập khẩu chủ yếu là gỗ nguyên liệu

đã chế biến, cao su, hạt nông sản như thóc gạo, mè, đậu,điều Đặc biệt, mặt hàng thép và sản phẩm sắt thép có kimngạch xuất khẩu sang Campuchia lớn nhất, sau đó là các mặthàng vải sợi các loại, vật liệu xây dựng, mì ăn liền Đây lànhững mặt hàng truyền thống mà Việt Nam có thế mạnh vàCampuchia đang rất cần để xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà cửa,tiêu dùng hàng ngày, phù hợp với thị hiếu và giá cả phải chăngnên dễ dàng thâm nhập vào thị trường Campuchia trong thờigian qua

1.3.2 Hợp tác đầu tư

Quan hệ hợp tác đầu tư giữa Campuchia và Việt Nam ngàycàng có dấu hiệu khởi sắc, đóng góp quan trọng vào phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi nước, cũng như tăng cường hơn nữamối quan hệ truyền thống hai nước trong thời kỳ hội nhập

Trong giai đoạn hiện nay, nhất là khi đất nước Campuchia dần

đi vào thế ổn định sau cuộc bầu cử Quốc hội năm 1993 và đổitên từ Nhà nước Campuchia thành Vương quốc Campuchia thìquan hệ đầu tư giữa hai nước được gia tăng mạnh mẽ Trongnhững năm gần đây, Campuchia và Việt Nam đã thực hiện cóhiệu quả chiến lược đầu tư, kể cả ngắn hạn và dài hạn của cáctập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp thuộc nhà nước lẫn tư nhân Trong giai đoạn 1999 - 2010, nhiều dự án đầu tư của các tậpđoàn, doanh nghiệp nhà nước cũng như tư nhân Việt Nam tạiCampuchia tăng nhanh cả về số lượng lẫn quy mô Hiện nay, córất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã mạnh dạn thành lập công

ty, mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện và đi sâu tìm hiểu đểtiến tới hiện thực hóa việc đầu tư tại đất nước gần 14 triệu dânnày Ngoài nguồn vốn FDI, Việt Nam còn tăng cường hợp tácđầu tư với Campuchia bằng vốn viện trợ chính thức (ODA) vàvốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ Việt Nam dành cho Chính

Trang 11

phủ Campuchia Mặc dù số vốn của hai chương trình đầu tư nàykhông lớn nhưng cũng góp phần giúp Campuchia thực hiện một

số dự án cơ bản, đồng thời nâng cao uy tín và hình ảnh tốt đẹp

về Việt Nam trong lòng nhân dân Campuchia

Về phía Campuchia, mặc dù còn nhiều khó khăn, hạn chế vềtiềm lực kinh tế, song Chính phủ và các doanh nghiệpCampuchia vẫn có những nỗ lực xúc tiến đầu tư một số dự ántại Việt Nam, nhất là trong những năm gần đây số dự án và vốnđầu tư có sự gia tăng đáng kể Tính đến tháng 4/2006,Campuchia là nước có vốn đầu tư vào Việt Nam đứng thứ 58trong tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ có vốn đầu tư vào ViệtNam với 4 dự án đang hoạt động và tổng số vốn đăng ký 4 triệuUSD

1.3.3 Hợp tác về giao thông vận tải

Về đường bộ: Ngày 1/6/1998, Hiệp định vận tải đường bộgiữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hoàng giaCampuchia đã được ký kết tại Hà Nội và Nghị định thư thực hiệnHiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam

và Chính phủ Hoàng gia Campuchia ngày 10/10/2005, Thông tưhướng dẫn số 02/VBHN-BGTVT ngày 06/01/2014 là cơ sở đánhdấu bước phát triển mới trong hợp tác giao thông vận tải củahai nước Một số dự án tiêu biểu trong hợp tác giao thông vậntải giữa hai nước: Dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 78 củaCampuchia, triển khai đầu tư xây dựng cầu Long Bình - ChreyThom dưới dạng Hiệp định cho vay ưu đãi

Về đường hàng không: Hợp tác giữa hai nước không ngừng

mở rộng và thu được những tín hiệu khả quan Hiệp định giữaChính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Vương quốcCampuchia về vận tải hàng không ký ngày 19/4/1996 tại Hà Nội

đã mở ra cơ hội hợp tác trong lĩnh vực hàng không dân dụng.Đặc biệt, ngày 26/7/2009, Hiệp định hợp tác của Hàng khôngQuốc gia Campuchia (Cambodia Angkor Air) với hãng hàngkhông Vietnam Airlines được ký kết Theo những thỏa thuận đạtđược, Vietnam Airlines sẽ hợp tác toàn diện và hỗ trợ tối đa choCambodia Angkor Air trong quá trình triển khai hoạt động, mởrộng và phát triển, trong đó, Vietnam Airlines nắm giữ tỷ lệ49% vốn điều lệ ban đầu

Trang 12

Về hợp tác giao thông đường thủy: Campuchia và Việt Nam

đã ký Hiệp định vận tải đường thủy đầu tiên vào năm 1998 Tuynhiên, để đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển giữa hai nước,ngày 17/12/2009 Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN ViệtNam và Chính phủ Hoàng gia Campuchia về vận tải đường thủyđược ký kết thay thế cho Hiệp định năm 1998, với 5 chương, 39điều Hiệp định là văn bản pháp quy cao nhất giữa hai nước vềhợp tác giao thông vận tải bằng đường thủy trong thời kỳ mới,tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình đi lại, giao lưu của cácphương tiện và nhân dân hai bên, nhất là sự di chuyển trêndòng sông Mekong

1.4 Trên một số lĩnh vực khác

1.4.1 Hợp tác về giáo dục và đào tạo

Giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực quan trọngkhông chỉ đối với Campuchia và Việt Nam mà còn đối với tất cảcác quốc gia trên thế giới Do đó, từ rất sớm hai nước đã cónhững hợp tác trên lĩnh vực đặc biệt này nhằm đào tạo và pháttriển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa và đổi mới đất nước Trong bối cảnh hội nhập quốc tế,khu vực cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và côngnghệ hiện nay, hợp tác giáo dục và đào tạo giữa Campuchia vàViệt Nam càng được quan tâm và đẩy mạnh nhằm đáp ứngngày càng cao công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, cũngnhư tăng cường mối quan hệ truyền thống giữa hai dân tộc

Về phía Việt Nam:

Việt Nam đã giúp đào tạo cho Campuchia hàng ngàn họcsinh, cán bộ bậc cao đẳng, đại học, nghiên cứu sinh trong hầuhết các ngành kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, y tế Kể

từ năm 1998, trung bình hàng năm Việt Nam nhận đào tạo choCampuchia 100 LHS, trong đó có 20 LHS sau đại học Theo báocáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam trong 10 năm (1994 -2003), Campuchia đã gửi sang Việt Nam đào tạo 2.091 LHS,trong đó đã tốt nghiệp 1.667; và 136 nghiên cứu sinh, trong đó

đã tốt nghiệp 50 nghiên cứu sinh

Về phía Campuchia:

Trang 13

Mặc dù còn nhiều khó khăn hơn so với Việt Nam nhưng Chínhphủ Campuchia vẫn ưu tiên nhiều suất học bổng dành cho LHSViệt Nam sang học tại Campuchia theo diện Hiệp định, Nghịđịnh thư đã ký kết giữa hai Chính phủ Từ năm 1992, Việt Nam

đã bắt đầu gửi LHS sang tại Campuchia, chủ yếu để đào tạongôn ngữ Khơmer và kiến thức văn hóa, xã hội Campuchianhằm phục vụ công tác đối ngoại, mở rộng quan hệ hợp táctoàn diện giữa hai nước Trong giai đoạn 1992 -2005 có khoảng

80 LHS Việt Nam được đào tạo tại Campuchia

Đặc biệt, việc quan hệ hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực nàynhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh ngành, nhất là lợi thế vềmặt địa lý gần kề, mở rộng giao lưu kết nối văn hóa, phục vụ sựnghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh, ổn định chính trị mỗinước cũng được hai nước đặc biệt chú ý Số lượng khách du lịchqua lại giữa Campuchia và Việt Nam ngày càng tăng lên Dulịch hai nước còn mở rộng hợp tác với các nước và khu vực

1.4.3 Hợp tác về y tế

Hợp tác y tế giữa Campuchia và Việt Nam là một trongnhững lĩnh vực quan trọng, được Chính phủ và nhân dân hainước đặc biệt quan tâm, nhất là giai đoạn hiện nay Đặc biệt,Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện giúp đỡ Campuchia trong lĩnhvực y tế, việc tiếp nhận thường xuyên và khám chữa bệnh chongười dân Campuchia tại các trung tâm y tế tuyến huyện, tỉnhgiáp biên giới và bệnh viện TW của Việt Nam là minh chứngthiết thực cho quá trình hợp tác này Việt Nam đã hỗ trợ giúpCampuchia xây dựng một số cơ sở hạ tấng y tế quan trọng

Trang 14

Trong năm 2004, thành phố Hồ Chí Minh đã tài trợ kinh phíxây dựng một bệnh viện tại Phnom Penh trị giá 20 triệu USD.Đặc biệt, năm 2010, dự án Bệnh viện Chợ Rẫy - Phnom Penhđược khởi công là một trong những công trình quan trọng nhất

có ý nghĩa xã hội rất to lớn, tạo điều kiện thuận lợi phục vụkhám chữa bệnh cho nhân dân Phnom Penh nói riêng và nhândân Campuchia nói chung, góp phần to lớn thúc đẩy mối quan

hệ láng giềng hữu nghị giữa hai quốc gia Chính phủ Việt Nam

và các cơ quan liên quan còn tích cực giúp đỡ Campuchia bằngcách tổ chức các đợt khám chữa bệnh và phẫu thuật miễn phícho bệnh nhân nghèo ở các tỉnh vùng biên giới Campuchia, đặcbiệt là mổ đục thủy tinh thể, phẫu thuật vá môi hở hàm ếch

II.Tình đoàn kết, hữu nghị giữa hai nước Việt Nam – Campuchia trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay

Cách đây 48 năm, ngày 24 tháng 6 năm 1967, trong bốicảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân tabước vào giai đoạn khó khăn, ác liệt nhất, Việt Nam dân chủcộng hòa và Vương quốc Campuchia chính thức thiết lập quan

hệ ngoại giao Đây là một sự kiện chính trị quan trọng, tạo cơ

sở vững chắc cho việc phát triển mối quan hệ bền vững lâu dàigiữa hai nước Việt Nam và Campuchia

Trong quá trình phát triển, nhân dân hai nước đã xây đắpnên mối quan hệ: “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống,hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” Mối quan hệ truyền thốngquý báu đó đã được lãnh đạo và nhân dân hai nước khẳng định

là tài sản chung vô giá, một nhân tố đảm bảo thành công củacách mạng mỗi nước, cần phải giữ gìn, phát huy và truyền tiếpcho các thế hệ mai sau

Chúng ta đều biết, vào nửa cuối thế kỷ XIX, Việt Nam,Campuchia và Lào lần lượt bị thực dân Pháp xâm chiếm, biếnthành các xứ bảo hộ, thuộc địa của Pháp dưới cái tên “ĐôngDương thuộc Pháp” Họa mất nước, số phận nô lệ đã sớm gắn

bó nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia trong cuộc đấutranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân Pháp

Trang 15

là làm cho ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào hoàn toàn độclập.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, phongtrào đấu tranh của nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchiaphát triển mạnh mẽ, rộng khắp và ngày càng đi vào chiều sâu;tình thần yêu nước và truyền thống đấu tranh dũng cảm củanhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia đã được phát huycao độ, trở thành một cao trào cách mạng rộng lớn Nhằm tăngcường sức mạnh đoàn kết của nhân dân mỗi nước với sức mạnhđoàn kết của nhân dân hai nước, lần đầu tiên các chiến sĩ cánhmạng, quân tình nguyện Việt Nam đã sang Campuchia, cùngđồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh với nhân dân Campuchia tổchức kháng chiến cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn Hiệpđịnh Giơnevơ về Đông Dương năm 1954 là cơ sở pháp lý quốc

tế cao nhất xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp; độc lập chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Campuchia và Làođược thế giới công nhận và tôn trọng Đó là thắng lợi vĩ đại, có

ý nghĩa lịch sử của tình đoàn kết và liên minh chiến đấu đặcbiệt giữa nhân dân ba nước Việt Nam – Campuchia – Lào

Thực dân Pháp rút đi, đế quốc Mỹ nhảy vào, thi hành chínhsách can thiệp vũ trang xâm lược Việt Nam, Campuchia và Lào.Với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” (Hồ ChíMinh), nhân dân ba nước lại sát cánh bên nhau để bảo vệ nềnđộc lập dân tộc

Hội nghị nhân dân ba nước Việt Nam – Campuchia – Lào,tháng 3/1965 tại Phnôm Pênh, một lần nữa khẳng định tìnhđoàn kết, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhândân ba nước Trong cuộc chiến đấu với đối thủ được coi là mạnhnhất thế giới, hai nước Việt Nam – Campuchia đã dành chonhau sự giúp đỡ quý báu, chí tình, chí nghĩa, lần thứ hai ViệtNam đưa quân trở lại chiến trường Campuchia, phối hợp cùng

Trang 16

với lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia chiến đấu chốnglại những cuộc hành quân xâm lược của quân đội Mỹ và tay sai.Đỉnh cao của tình đoàn kết chiến đấu vĩ đại của nhân dân hainước là sự phối hợp hành động trong cuộc tổng tiến công và nổidậy mùa xuân năm 1975

Với thắng lợi năm 1975, lần đầu tiên trong lịch sử 100 năm,hai nước Việt Nam và Campuchia mới thực sự giành được độclập hoàn toàn Tiếc rằng, tiếng súng chống Mỹ vừa chấm dứt,nhân dân hai nước chưa một ngày được hưởng niềm vui tháibình thì ngay lập tức tập đoàn phản động Pôn Pốt, núp dướichiêu bài dân chủ, giả danh Chủ nghĩa xã hội đã thi hành chínhsách diệt chủng đối với nhân dân Campuchia, đồng thời phátđộng cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam chống lại Việt Nam Đáp lại lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận đoàn kết dân tộccứu nước Campuchia trước nguy cơ dân tộc bị diệt chủng, lầnthứ ba các chiến sĩ quân tinh nguyện Việt Nam lại có mặt kịpthời, cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia tiếnhành cuộc cách mạng Ngày 7/1/1979, lật đổ chế độ diệt chủngtàn bạo của Pôn Pốt, tiếp đó cùng với Chính phủ và nhân dânCampuchia tiến hành công cuộc hồi sinh dân tộc, xây dựngcuộc sống mới, tạo nên thế nương tựa, hỗ trợ lẫn nhau đối phóvới sự bao vây, cấm vận và tiến công quân sự của các thế lựcthù địch; phối hợp đấu tranh đi tới một giải pháp chính trị toàndiện, công bằng cho vấn đề Campuchia, đảm bảo độc lập, chủquyền của Campuchia, bảo vệ thành quả cách mạng của nhândân Campuchia

Sau Hiệp định Pari về Campuchia (tháng 10/1991), trướcnhững biến động nhanh chóng và phức tạp của tình hình thếgiới và khu vực, mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống,hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước ngày càng phát triểnsâu săc với những cơ chế đặc biệt và sự hợp tác toàn diện

Hằng năm, lãnh đạo cấp cao hai nước đều có các cuộc gặp

gỡ, tiếp xúc và thực hiện các chuyến thăm viếng lẫn nhau dướinhiều hình thức, đạt được nhiều thỏa thuận chiến lược, vừa địnhhướng cho tổng thể quan hệ giữa hai nước, vừa kịp thời tháo gỡnhững khó khăn, vướng mắc nhằm thúc đẩy sự hợp tác toàndiện, thiết thực, hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực giữa hai nước

Trang 17

Các hình thức gặp gỡ trao đổi thông tin, kinh nghiệm, nhất lànhững kinh nghiệm về xây dựng đất nước giữa hai nước ngàycàng được mở rộng, các hoạt động giao lưu hữu nghị, hợp tácgiúp đỡ lẫn nhau giữa các cấp, các nghành, các địa phương, cácdoanh nghiệp được thúc đẩy mạnh mẽ; sự phối hợp trong côngtác tuyên truyền, giáo dục truyền thống quan hệ đoàn kết, hữunghị trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hainước tiếp tục được tăng cường

Quan hệ hợp tác giữa hai nước trên lĩnh vực quốc phòng, anninh và đối ngoại là lĩnh vực hợp tác truyền thống từ nhữngnăm tháng hai nước kề vai sát cánh, đồng cam cộng khổ đấutranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục đượcphát huy, góp phần quan trọng trong việc giữ vững ổn địnhchính trị - xã hội và phát triển của mỗi nước trong giai đoạnhiện nay

Cùng với những tiến triển tốt đẹp trong quan hệ nhiều mặtgiữa hai nước, các vấn đề về biên giới, kiều dân…cũng từngbước giải quyết trên tinh thần hữu nghị, phù hợp với luật phápcủa mỗi nước và thông lệ của quốc tế Việc hai nước đã ký vàphê chuẩn hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định Biên giới quốcgia ký năm 1985, theo đó các Bộ, ngành, địa phương của hainước đang tích cực triển khai phân giới cắm mốc trên thực địa,

dự kiến sẽ hoàn thành mục tiêu cơ bản vào cuối năm 2012nhưng chưa đạt được do gặp một số khó khăn và sự chống phácủa các thế lực thù địch Khi công tác phân giới cắm mốc hoànthành sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng đường biêngiới hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững

B.QUAN HỆ VIỆT NAM – LÀO

I Bản chất, thành quả, ý nghĩa và bài học lịch sử

Trang 18

Bản chất của quan hệ đặc biệt đó bắt nguồn từ lòng yêu nướcnồng nàn kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; tình đoànkết thủy chung và niềm tin về lòng chân thành, trong sáng màhai dân tộc Việt Nam, Lào dành cho nhau; sự giúp đỡ đến mứccao nhất nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng vàtạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển tương lai của hai dântộc

Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam khônggiống bất cứ mối quan hệ nào trong lịch sử thế giới đương đại,được xây đắp, nuôi dưỡng bằng công sức, của cải, xương máucủa nhiều thế hệ cách mạng người Việt Nam và Lào Trải quarất nhiều gian nan, thử thách khắc nghiệt, quan hệ đó vẫn vẹnnguyên, không hề bị rạn nứt và phá vỡ cho dù các thế lực thùđịch dùng nhiều thủ đoạn chống phá, chia rẽ

Tính đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Namđược tạo dựng trên nền tảng quan điểm, nguyên tắc, phươngpháp và cơ chế phù hợp với điều kiện cụ thể của hai dân tộcViệt Nam - Lào

Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam,được nuôi dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắccủa quan điểm“giúp bạn là mình tự giúp mình” do Chủ tịch HồChí Minh chỉ dẫn Đây là câu nói cô đọng, giàu ý nghĩa chính trị,nhân văn, mở ra phương hướng xử lý hài hòa lợi ích của hai dântộc; là vũ khí sắc bén chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ban ơn Dựa trên luận điểm về quyền dân tộc tự quyết, cơ quan lãnhđạo cấp cao Việt Nam, Lào đã nhất trí tiến hành liên minh, hợptác theo nguyên tắc tôn trọng độc lập tự chủ của bạn như Chủtịch Hồ Chí Minh xác định: “Cán bộ Việt Nam sang công tác ởLào phải hoàn toàn ở dưới sự lãnh đạo của Chính phủ Trungương Lào, nhất là của Thủ tướng Xuphanuvông Tuyệt đốikhông được tự cao, tự đại, không được bao biện…”

Về phía Lào, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản nhấn mạnh : “Sựnghiệp cách mạng của nhân dân ta phải do nhân dân ta tự làmlấy Đảng ta là một Đảng lãnh đạo cách mạng thực sự, do đóphải giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ”

Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam còn đòi hỏi

cả hai bên thực hiện tự phê bình và phê bình như Chủ tịch Hồ

Trang 19

Chí Minh nhắc nhở : “Mong cán bộ Việt Nam làm việc ở Làothành khẩn, thật thà tự phê bình và mong các đồng chí Làocũng phê bình anh em Việt Nam thật thà không nể nả Vì cáchmạng, vì đoàn kết ba dân tộc mà phê bình”

Xuất phát từ sự tôn trọng quyền độc lập tự chủ và tình nghĩaanh em, tại cuộc Hội đàm ngày 9 tháng 7 năm 1961, hai đoànđại biểu cấp cao của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhândân Lào bàn thảo và nhất trí với phương pháp quan hệ công táccủa hai Đảng do đồng chí Lê Duẩn đề xuất : “Cách mạng Lào dođồng chí Lào lãnh đạo Đường lối, chủ trương do Đảng Lào đề

ra, Việt Nam góp ý kiến Cũng có lúc Việt Nam thấy vấn đềtrước thì Việt Nam sẽ đề xuất ý kiến trước nhưng quyền quyếtđịnh vẫn do Đảng Lào”

Về quan hệ giữa hai nước, hai Chính phủ, đồng chí Lê Duẩncho rằng : “Những vấn đề lớn trong quan hệ giữa hai Chính phủthì hai Đảng cũng cần có sự trao đổi ý kiến trước với nhau”.Nhiệm vụ giúp đỡ nhau giữa hai dân tộc đã được tiến hànhtheo phương pháp giúp bạn nâng cao năng lực để tự giải quyếtcác nhiệm vụ cách mạng của dân tộc mình, không áp đặt, dậpkhuôn

Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam có sứcnhanh nhạy, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chiến lược và cả cáctình huống bất ngờ, do hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam, Lào

áp dụng cơ chế điều hành linh hoạt các hoạt động liên minh,hợp tác trong đấu tranh chống ngoại xâm và hòa bình xây dựngđất nước

Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào Việt Nam có những đặcđiểm sau đây:

- Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệtruyền thống lên quan hệ đặc biệt

Quan hệ truyền thống thân thiết của nhân dân hai nước ViệtNam - Lào được chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉhướng, soi đường đi tới độc lập tự do, đã biến thành quan hệđặc biệt và sức mạnh vĩ đại, đưa tới nhiều thắng lợi lịch sử củaViệt Nam và Lào trong đấu tranh giành chính quyền, khángchiến chống đế quốc Pháp, Mỹ xâm lược và tiến hành thành

Trang 20

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người vạch đường,cho sự nghiệp giải phóng và phát triển của hai dân tộc ViệtNam, Lào, cũng là người trực tiếp chỉ đạo xây dựng, phát triểnquan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam và tự mình nêutấm gương sáng về đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tưtrong xử lý mối quan hệ quốc gia, quốc tế Việt Nam - Lào, Lào -Việt Nam.

Các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân, dân hai nước

do thấm nhuần và thực hiện lời dạy của Người mà vượt qua mọigian nguy để giành nhiều thắng lợi, kết thúc vẻ vang các chặngđường cách mạng và đang vươn tới những thắng lợi mới

- Xây dựng, bảo vệ và phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam - LàoLào - Việt Nam là sự nghiệp của nhân dân Việt Nam, Lào

Mục tiêu phấn đấu của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào

- Việt Nam bao quát những nguyện vọng tha thiết nhất củanhân dân Việt Nam, Lào, là đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng chống

kẻ thù chung, xây dựng quan hệ bình đẳng, tự chủ, hữu nghị,hợp tác giữa hai quốc gia

Trong gần một thế kỷ qua, họ chung sức, chung lòng, vừaxây dựng lực lượng, vừa anh dũng, sáng tạo, giữ vững mục tiêucách mạng, đánh thắng nhiều kẻ thù hùng mạnh mà không tínhthiệt hơn, chỉ dành cho nhau sự quý mến, trân trọng và biết ơnsâu nặng.Truyền thống tốt đẹp đó tiếp tục được phát huy trêntrận tuyến bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trên con đường đổi mớicủa hai nước

- Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào mang tính xuyên suốt, toàndiện và bền vững

Ngày đăng: 14/09/2016, 18:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w