MỞ ĐẦUNhận thức về tầm quan trọng của mối quan hệ hòa bình,ổn định và hợp tác để cùng phát triển ngày trở thành yêu cầu của các quốc gia và dân tộc trên thế giới xu thế liên kết khu vực,
Trang 1MỞ ĐẦU
Nhận thức về tầm quan trọng của mối quan hệ hòa bình,ổn định và hợp tác để cùng phát triển ngày trở thành yêu cầu của các quốc gia và dân tộc trên thế giới
xu thế liên kết khu vực,liên kết quốc tế về kinh tế,thương mại,chính trị ngày càng tăng,ý thức về chủ quyền và bản sắc dân tộc thì ngày càng được nâng cao,nổi bật là vừa hợp tác vừa đấu tranh,cùng tồn tại giữa các chế độ chính trị xã hội khác nhau
Đứng trước tình hình thế giới có những thay đổi,quan hệ hai nước tuy có trải qua thăng trầm nhưng ngày càng phát triển.Sau khi tổng thống Biclinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam 11/7/1995,chấm dứt 50 năm quan hệ bất bình thường,mở ra một trang sử mới trong quan hệ hai nước.Từ đây quan hệ Việt –Mỹ nhanh chóng phát triển
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp,cả hai nước Việt –Mỹ đều đứng trước thời cơ và thách thức mới.Hơn bao giời hết hai bên cần môi trường hòa bình,ổn dịnh để phát triển ở mỗi nước.Vì vậy nghiên cứu quan hệ Việt-Mỹ và một yêu cầu rất cần thiết.Qua đó để nhìn lại thực trạng và nhũng vấn đề đặt ra trong quan
hệ hai nước,từ đó đề xuất những kiến nghị đóng góp vào chính sách ngoại giao của Việt Nam đối vói Mỹ nhằm tiến tói quan hệ ngoại giao phát triển đi vào chiều sâu,ổn định,bền vững trong bối cảnh thế giới đang đầy rẫy các bất ổn
Trang 2NỘI DUNG
I Khái quát quan hệ ngoại giao Việt- Mỹ (1945-1975)
1 Khái quát quan hệ ngoại giao Việt- Mỹ (1945-1954)
Trước thế kỷ 20 đã có những động thái nhằm xúc tiến quan hệ bang giao Việt-Mỹ nhưng vì chính sách “ Bế quan tỏa cảng” của nhà Nguyễn đã làm mọi nỗ lực bang giao Việt-Mỹ bế tắc
Mãi đến năm 1873, lần này do xúc tiến của triều đình nhà Nguyễn, Bùi Viện được vua Tự Đức cử sang Mỹ như một "đại sứ đặc mệnh toàn quyền" để cầu viện tìm cách chống Pháp Bùi Viện sau đó đã đi qua Yokohama (Nhật Bản) để đáp tàu sang Mỹ, rồi lưu lại đó một năm mới gặp được Tổng thống Ulysses Grant (nhiệm kỳ1868-1876) Lúc này Pháp và Mỹ đang đụng độ trong trận chiến ở México nên Mỹ cũng tỏ ý muốn giúp một quốc gia đang bị Pháp uy hiếp Nhưng Bùi Viện không mang theo quốc thư nên không đạt được cam kết chính thức Vì vậy, ông lại quay về Việt Nam trở lại kinh thành Huế Có được thư ủy nhiệm của vua Tự Đức, Bùi Viện lại xuất dương một lần nữa Năm 1875 ông lại có mặt tại Hoa Kỳ Có trong tay quốc thư nhưng lại gặp lúc Mỹ và Pháp đã hết thù địch nên Ulysses Grant lại khước từ sự cam kết giúp Đại Nam đánh Pháp Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939) ở châu Âu và nhanh chóng lan rộng ra phạm vi toàn thế giới Ở Châu Á Thái bình dương phát xít Nhật tăng cường công cuộc xâm lược Trung Quốc và tiến xuống xâm lược Đông Dương
Trong thời gian này, Đảng ta cũng đề ra chủ trương đối ngoại đúng đắn, tranh thủ
sự ủng hộ từ bên ngoài, góp phần vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, ủng hộ Liên bang Xô viết, giao thiệp với chính phủ kháng chiến Trung quốc, thực hiện khẩu hiệu
“Hoa – Việt kháng Nhật trên đất Đông Dương” trên nguyên tắc “bình đẳng, tương trợ” và liên hiệp có điều kiện với Anh – Mỹ để chống phát xít Nhật giành độc lập
Với tinh thần trên, ngày 13/8/1942, Nguyễn Ái Quốc (với tên ghi trên giấy tờ tùy thân là Hồ Chí Minh) lên đường sang Trung Quốc để liên hệ với các lực lượng cách mạng ngừơi Việt Nam và Đồng minh, nhằm tranh thủ sự viện trợ từ bên ngoài
Ngày 27/8/1942, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam 13 tháng, sau đó tướng Quốc dân Đảng là Trương Phát Khuê quyết định trả tự do cho Người Việc làm của Trương Phát Khuê nhằm lợi dụng Nguyễn Ái Quốc và một số yếu nhân theo chủ nghĩa dân tộc ở miền Nam Trung Quốc chống phát xít Nhật
Trang 3Sau khi ra tù, Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp chủ động tìm cách liên hệ với quân Đồng Minh để chống phát xít Nhật Cuối 1944, một máy bay do thám Mỹ bị quân Nhật bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, Trung úy phi công William Saw nhảy dù xuống Cao Bằng và được Việt Minh cứu thoát khỏi vòng vây của Nhật-Pháp Ngày 2/11/1944, Hồ Chí Minh đã tiếp Trung úy Saw một cách thân mật và Người tìm cách đưa viên phi công về Trung Quốc cho Tập đoàn không quân số 14
Mỹ Đầu tháng 3/1945, nhân danh lực lượng Việt Nam giải cứu cho Trung úy Saw, Hồ Chí Minh tiếp xúc với AGAS Phía Mỹ cảm ơn và tặng người thuốc men, tiền bạc Người không nhận tiền Ngày 17/3/1945, Hồ Chí Minh gặp Charles Fenn - Trung úy OSS (cơ quan tình báo chiến lược Mỹ) Charles Fenn đã thỏa thuận trên nguyên tắc giúp đỡ Việt Minh Ngày 29/3/1945, Hồ Chí Minh gặp Trung tướng Chennault tại Côn Minh (Trung Quốc) Trung tướng cảm ơn Việt Minh và sẵn sàng giúp đỡ những gì có thể theo yêu cầu Còn Hồ Chí Minh Người khẳng định quan điểm của Việt Minh là ủng hộ và đứng về phía Đồng Minh chống phát xít Nhật Cuộc gặp diễn ra trong không khí tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, những quan điểm lớn đầu tiên giữa Việt Nam và Mỹ được thống nhất
Sau khi Bác về nước, Người vẫn giữ mối liên lạc với các cơ quan quân sự Mỹ Tháng 6/1945, phía Mỹ, thông qua Thiếu tá A.Patty yêu cầu phía Việt Minh chuẩn bị một sân bay cho máy bay cỡ nhỏ có thể lên, xuống được, và Mỹ sẽ cho một đội sĩ quan, do một sĩ quan cao cấp sẽ nhảy dù xuống Tuyên Quang Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Bác giao nhiệm vụ chuẩn bị địa điểm làm sân bay Sân bay được đặt tại hai xã Lũng Cò
và xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang “Ngày 17/7/1945 đội “Con Nai” gồm 5 người do Thiếu tá Mỹ E.Tômat phụ trách nhảy dù xuống Tân Trào”, làm nhiệm vụ hoạt động huấn luyện cho khoảng 2000 bộ đội ta. Người Mỹ cũng đã cung cấp cho Việt Minh một số vũ khí, thuốc men bằng cách thả dù xuống khu căn cứ Việt Bắc hoặc đưa đến Nam Ninh (Trung Quốc) để Việt Minh chuyển về nước Với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, lại trực tiếp phục trách công tác ngoại giao, Hồ Chí Minh đã thảo bản tuyên bố về chính sách ngoại giao trong đó khẳng định chủ trương quan hệ hoà bình hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền của mỗi nước Với Mỹ,
Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì những quan hệ đã có trong chiến tranh Nhân dân Chính phủ Việt Nam, Người đã gửi hàng chục bức thư, điện, công hàm tới Tổng thống Truman, Chính phủ và Bộ Ngoại giao Mỹ Nội dung của các văn bản ấy
Trang 4xoay quanh vấn đề yêu cầu Mỹ ủng hộ nen độc lập của Việt Nam, khẳng đinh sự hợp tác của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Tháng 10/1945 Tổng thống Truman ra tuyên bố 12 điểm về chính sách đối ngoại của Mỹ, Hồ Chí Minh đã bày tỏ thái độ hoan nghênh và mong muốn Chính phủ Mỹ sẽ thực hiện đúng tinh thần của Bản tuyên bố, ủng hộ chủ quyền của các dân tộc nhược tiểu Song lúc này Chính phủ Mỹ đã ngả hẳng sang chủ trương ủng hộ Pháp ữở lại Đông Dương Những cố gắng trong quan hệ ngoại giao chính thức với Mỹ đã không đạt kết quả Tuy vậy, Việt Nam vẫn luôn chú ý đến việc giữ tôn ừọng của Chính phủ mình đối với vai trò của Mỹ ừong đồng minh, sự có mặt của đại diện phái bộ Mỹ trong các buổi lễ
ký Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 cũng như ừong các văn bản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho Chính phủ Mỹ đã nói lên điều đó
Trong thòi gian này, tuy quan hệ ngoại giao chính thức nhưng quan hệ của Việt Nam với Chính phủ Mỹ vẫn có dấu hiệu khả quan thông qua hình thức ngoại giao nhân dân mà điển hình là Hội hữu nghị Việt - Mỹ.Ngày2/9/1947, trong thư gửi Việt - Mỹ áỉ hữu hội, Hồ Chủ Tịch đã viết:
“Chúng ta không bao giờ quên sự hợp tác giúp đỡ thân ái của các bạn người Mỹ hồi chủng ta du kích chổng Nhật và chúng ta mong rằng sự hợp tác đó được tiếp tục trong cuộc tranh đẩu cửi chủng ta chống thực dân phản động Pháp giành thống nhất và độc lập Chúng ta mong rằng Hoa Kỳ, nước đầu tiên đã tranh đấu cho nền độc lập và dân chủ của quốc gia, sẽ giúp chúng ta trong công cuộc đấu tranh giải phóng hiện nay và trong công cuộc kiến thiết xây dựng sau này”
Cho đến khi cách mạng tháng Tám thành công, người “bạn” ngoại quốc đầu tiên có mặt bên cạnh Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng chính là Hoa Kỳ…Thế nhưng, vì nhiều lí do khác nhau OSS không những đã bỏ lỡ cơ hội thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với Việt Nam mà còn đưa đến một kết cục bi thảm: Việt Nam và Mỹ từ chỗ cùng
là đồng minh trong cuộc chiến chống phát xít Nhật ở châu Á dần dần đã trở thành kẻ thù
“không đội trời chung” trong cuộc chiến ở Đông Dương và Việt Nam về sau này
Có thể nói, quan hệ Việt – Mỹ được hình thành từ cuộc chiến chống phát xít Nhật Trên tinh thần hiểu biết, cần nhau trong cuộc chiến nên Hồ Chí Minh và Việt Minh luôn mong muốn có sự ủng hộ giúp đỡ về mọi mặt của Mỹ, Đồng Minh; ngược lại Mỹ cùng Đồng minh lại hết sức mong muốn có một chỗ đứng ở Đông Dương – vị trí chiến lược quan trọng ở châu Á - Thái bình dương trong cuộc chiến tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản
Trang 52 Khái quát quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ(1954-1975)
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, Mỹ không những không bị hao hụt về người và của mà lại thu được nhiều lợi nhất nhờ làm giàu bằng bán vũ khí.Cùng thời gian này,cách mạng Việt Nam thành công,lập lên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.Dười sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản do Chủ Tịch Hồ Chí Minh sáng lập ,cách mạng Việt Nam
đã trở thành ngọn cờ tiêu biểu cho sự kết hợp các trào lưu cách mạng của thời đại,cho xu thế phát triển tất yếu của phòng trào giải phóng dân tộc lên chủ nghĩa xã hội
Do vậy ,sau khi Pháp thua, Mỹ đã thế chân Pháp can thiệp trưc tiếp vào Việt Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã chứng tỏ rõ ràng ý đồ của Mỹ Ngày 23/10/1954.sau khi Eisenhour gửi bức thư cho Ngô Đình Diệm cam kết Mỹ ủng hộ hoàn toàn và sẽ viện trợ đối với chế độ của ông ta.Điều đó có ý nghĩa rõ ràng là Mỹ chính thức
và công khai cam kết chống lại Việt Nam dân chủ cộng hòa với miền nam Việt Nam Cuộc chiến đấu của Đảng và nhân dân ta chống cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam.đã khởi đàu trong so sánh lực lượng bất lợi cho ta,chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “không có gì quý hơn độc lập tự do”,nhân dân cả hai miền đều đứng lên kiên quyết chống Mỹ xâm lược
Năm 1967 ta thấy cơ hội dẫn đến Đảng ta quyết định mở mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị cùng đánh Mỹ.Ta tăng cường đoàn kết với Liên Xô và Trung Quốc cùng các nước XHCN khác,củng cố và phát triển mặt trận Đông Dương,kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẵn sáng đàm phán với điều kiện là quân Mỹ phải rút khỏi cuộc chiến tranh Viêt Nam.Với mục đích đó,ta chủ động buộc địch xuống thang từng bước ,giánh thắng lợi từng phần.mở cho ta cục diên vừa đánh vừa đàm,kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao,tạo điều kiện cho thắng lợi sau này
Mỹ phải kí Hiệp định pari,theo Hiệp định pari 1973 thì “Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới,bình đẳng và cùng có lợi giữa Viêt Nam dân chủ cộng hòa và Mỹ,trên cơ sở tôn trọng đọc lập , chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc của nhau”
Ngày 29/4/1975: sứ quán Mỹ đã rút hết số nhân viên và đóng cửa Ngày 30/4/1975
ta giải phóng Sái Gòn, thống nhất đất nước mở ra một chương mới trong lịch sử 4.000 năm của dân tộc Việt Nam Cùng từ đó ,sau khi thua trên chiến trường ,Mỹ lại quyết định cấm vận Việt Nam ,và từ đây Viêt Nam và Mỹ cắt đứt quan hệ
II Hoạt động ngoại giao của Việt Nam – Mỹ(1975- 2015)
1 Hoạt động ngoại giao của Việt Nam – Mỹ (1975-1995)
Trang 6Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức ra đời ngày 2/7/1976, đã đánh dấu bước phát triển rực rỡ của nước Việt Nam Cũng trong thời gian này, hai Chính phủ Việt Nam và Mỹ đã bắt đầu đàm phán để thiết lập quan hệ ngoại giao Phía Việt Nam
đã bày tỏ quan điểm của mình : Mỹ phải thực hiện đúng Hiệp định Pari 1973, theo đó Mỹ
đã cam kết viện trợ tái thiết cho Việt Nam sau chiến tranh, nhưng Tổng thống Mỹ Ford
đã bác bỏ yêu cầu này
Trong 2 năm (1975-1976), Mỹ 3 lần phủ quyết việc Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng thế giới (WB), Qũy tiền tệ quốc tế(IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) Mỹ làm ngơ trước thiện chí mà Chính phủ ta đã nhiều lần bày tỏ điều kiện cho 2 bên có thể gặp nhau, nhằm giải quyết vấn đề còn lại giữa 2 bên
Đầu năm 1977, Jimmy Carter lên làm Tổng thống và ngày 16/3/1977, Carter cử đoàn phái viên của Tổng thống sang Việt Nam, do ông L.Woodcook dẫn đầu để thăm dò khả năng bình thường hóa quan hệ với Việt Nam Cũng trong tháng 3/1977, Tổng thống J.Carter cũng cho phép tàu thủy, máy bay các nước khác trở hàng cho Việt Nam được phép ghé qua các sân bay của Mỹ để lấy nhiên liệu đây là một cố gắng của Chính phủ
Mỹ nhằm đạt dược sự bình thường hóa với Việt Nam
Trong khi các cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ chưa có một chút biến chuyển
gì thì tình hình quốc tế có nhiều thay đổi năm 1978,Mỹ và Trung Quốc bắt đầu có sự hợp tác để đi đến bình thường hóa quan hệ cuối 1978, Trung Quốc và Mỹ xúc tiến ddàm phán để bình thường hóa qua hệ Đối với Việt Nam, Tổng thống Mỹ J.Carter đã quyết định xếp lại kế hoạch đàm phán Năm 1979, các cuôc đàm phán để bình thường quan hệ Vệt – Mỹ ngừng trệ Vì phía Mỹ cho rằng Việt Nam đã vi phạm Luật quốc tế khi đưa quân vào Campuchia đế lập ra chính quyền Campuchia – Hiengmrin.Mỹ đã lấy lý do này
để lôi kéo cac nước ủng hộ những hành động chống phá Việt Nam dưới danh nghĩa bảo
vệ ổn định an ninh thế giới Vấn đề Campuchia đã kéo theo sự dính líu của nhiều nước và
sự phân cực gay gắt trong nền chính trị khu vực Từ đó đánh dấu thời kỳ băng giá trong quan hệ Việt - Mỹ
Tháng 1/1981, Tổng thống Mỹ Regan tuyê n hệ nhận chức.Dưới sức ép mạnh mẽ vấn đề MIA Nhưng trong nhiệm kỳ đầu của ông, ngoại giao giữa hai nước ít đạt được kết quả Năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới cải thiện vị thế của mình trong khu vực
và trên thế giới nên Mỹ bắt đầu thay đổi chính sách quan hệ với Việt Nam
Từ tháng 1 đến 3/8/1987 Tướng Vetsxi đặc phái viên của Tổng thống Regan thăm Việt Nam lần thứ nhất, thảo luận về vấn đề nhân đạo mà hai bên cùng quan tâm Năm
Trang 71989, Tổng thống Bush đắt cử và đã quyết định thay đổi chính sách với Việt Nam, mở ra thời kỳ mới với nhiều hy vọng Ngày 6/8/1990 đối thoại Việt – Mỹ vòng một giữa đại sứ Trịnh Xuân Lãng và phó trợ lý Bộ trưởng ngoại giao K.Quyn về quan hệ Việt – Mỹ Ngày 9/4/1991, phía Mỹ đưa ra lộ trình (Roadmaping) bốn bước bình thường hóa quan
hệ với Việt Nam lần đầu tiên đưa ra công khai, chính thức chính sách đối với Việt Nam Ngày 20/4/1991, tướng Vetxi vào Việt Nam lần hai bàn về vấn đề văn phòng MIA tại
Hà Nội Cuối tháng 1/1991 đặc phái viên Tướng Vetxi vào Việt Nam lần nữa bàn về các biện pháp thúc đẩy vấn đề MIA và các vấn đề khác trong quan hệ Việt – Mỹ
Ngày 8/10/1992, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm gặp ngoại trưởng Mỹ Eagleburger và bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chenry lần đầu tiên tại bộ ngoại giao Mỹ trao đổi về quan hệ giữa hai nước Ngày 23/10/1992, Tổng thống Bush tuyên bố rằng Mỹ sẽ nhanh chóng tiến tới bình thường hoá, kể cả bãi bỏ cấm vận với Việt Nam Năm 1993, Bill Clinton đắt cử Tổng thông Mỹ Chính quyền của Clinton cũng kế thừa chính sách ”
lộ trình” của chính quyền G.Bush, trong đó cốt lõi của quá trình bình thường hóa quan hệ vẫn là “ tốc độ và quy mô” của quá trình bình thường hóa bị tác động bởi sự hợp tác của Việt Nam về vấn đề POW/MIA Tuy rằng lộ trình bốn giai đoạn cho quá trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam do chính quyền Mỹ công bố tháng 4/1991 không được coi chính thức là bản chỉ dẫn tuyệt đối cho việc cải thện quan hệ hai nước nhưng trên thực tế nhiều bước đi đã diễn ra theo đúng lịch trình này, Mỹ sẽ lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Việt Nam, xem xét Việt Nam việc giành chế độ buôn bán với Việt Nam của Mỹ
Ngày 28/1/1995, chính phủ Việt Nam và chính phủ Mỹ chính thức thông báo mở cơ quan liên lạc ở thủ đô hai nước Với nổ lực và thiện chí của cả hai bên, ngày 25/7/1995 chinh thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao Đây là một bước đi quan trọng đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước phù hợp với xu thế phát triển hiện nay của tình hình quốc tế, đồng thời góp phần vào sự nghiệp hòa bình ổn định và phát triển ở Đông Nam Á
2 Hoạt động ngoại giao của Việt Nam – Mỹ sau khi bình thường hóa quan hệ (1996 -2015)
a Chính trị - ngoại giao
Sau khi Tổng thống Bill Clinton tuyên bố thiết lập quan hệ ngoai giao với Việt Nam
ở cấp đại xứ, thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã hoan nghênh và nói phía Việt Nam sẵn sàng trao đổi đại sứ Đầu tháng 8/1996, chính quyền Bill Clinton đã quyết định bổ nhiệm hạ nghị sỹ Douglas Peterson làm đại sứ tại Việt Nam và đề nghị quốc hội Mỹ thông qua theo luật của Mỹ Nhưng khi đó ông Peterson là nghị sỹ đương nhiệm, do đó không được giữ
Trang 8một chức vụ của chính quyền mới lập ra và hưởng lương cao hơn mức lương hiện tại của dân biểu, những người chống đối đã dựa vào đó để trì hoãn công việc ông Peterson điều trần trước quốc hội cho đến đầu năm 1997 Ngày 13/2/1997 tiểu ban Châu Á – Thái Bình Dương thuộc ủy ban đối ngoại thượng viện Mỹ thông qua việc cử ông Peterson, Ngày 10/41997 toàn thể thượng nghị viện Mỹ đã nhất trí phê chuẩn việc ông Peterson làm đại
sứ tại Việt Nam Về phía Việt Nam, đã cử ông Lê Văn Bàng làm đại sứ tại Hoa Kỳ Ngày 9/5/1997 ông Lê Văn Bàng tới Oasinhton trong khi cùng ngày ông Peterson cũng đến Hà Nội Ngày 14/5/1997 tại Nhà trắng ông Lê Văn Bàng đại sứ đặt mệnh toàn quyền nước Cộng hòa chủ nghĩa Việt Nam, trình thư ủy nhiệm lên Tổng thông Bill Clinton Cùng ngày tại Phủ Chủ tịch ông Peterson, đại sứ đặt mệnh toàn quyền Hoa kỳ trình thư ủy nhiệm lên phó chủ tịch Nguyễn Thị Bình
Có thể nói, đây là kết quả quan trọng và cao nhất về mặt ngoại giao Nó là điều kiện cần thiết về mặt pháp lý để mở rộng các quan hệ khác cho cả hai bên
Với việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao việc tạo lập cơ sở vật chất,cơ cấu tổ chức bộ máy cho hoạt động của đại sứ quán ở thủ đô mỗi nước đã được tiến hành tuần tự theo từng bước một
Về cơ sở vật chất của đại diện ngoại giao của hai bên đã thiết lập với việc khai trương đi vào hoạt động và việc mở lãnh sứ quán của Việt Nam tại Sanphrangxitco, lãnh
sứ quan Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh cơ sở vật chất của đại diện ngoại giao hai bên đã được thiết lập cơ cấu, bộ máy tổ chức, nhân sự của các đại sứ quán về cơ bản đã được hình thành và thực thi chức năng của mình Phía Hoa Kỳ cũng có tùy viên quân sự, tùy viên văn hóa, đại diện thương mại tại Việt Nam Về phía mình, Việt Nam cũng đã thiết lập đại diện Thông tấn xá Việt Nam, đại diện văn hóa tị sứ quán của mình ở Oasinhton
Là đại diện chính thức của chính phủ mỗi bên ở nước sở tại, các đại sứ là kênh chính để hai bên trao đổi thông tin về nhau giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quan hệ song phương, để các bên thâm nhập, trực tiếp tìm hiểu nhau Trước khi Mỹ vào Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, chưa có đại sứ quán thì mọi vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa hai nước rất khó giải quyết hoặc nếu có được giải quyết thì cũng đòi hỏi thời gian khá dài vì phải trải qua các khâu trung gian phức tạp, do vậy đôi khi những
cơ hội thuận lợi bị bỏ lỡ Giờ đây mọi vấn đề đều nhanh chóng được phản ánh một cách chính thức tới chính phủ hai nước, và những cơ hội cũng được tận dụng không bị bỏ lỡ Nhờ có đại sứ quán, lãnh sứ quán mà việc đi lại, trao đổi các đoàn ở cấp chính phủ cũng như phi chính ,phủ của hai nước có nhiều thuận lợi và có cơ hội tăng cường.Điều
Trang 9này giúp cho ngoại giao nhân dân được mở rộng, tạo điều kiện để các doanh nghiệp của hai nước tìm hiểu, thâm nhập vào thị trường, đầu tư kinh doanh buôn bán
Kể từ khi bình thường hóa quan hệ đến nay, hai nước đã tăng cường trao đổi các đoàn quan chức chính phủ, các nghị sĩ quốc hội, tận dụng cơ hội để tiếp xúc với nhau ở cấc diễn đàn, tổ chức khu vực cũng như quốc tế Có thể nói, tháng nào cũng có ít nhất một đoàn của Hoa Kỳ tới Việt Nam và mở đầu cho hoạt động ngoại giao chính thức của
Mỹ ở Việt Nam từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ là chuyến công du tới Việt Nam của ngoại trưởng W.Chirstopher (tháng 8/1995) Sứ mệnh lịch sử của ông trong chuyến thăm đầu tiên là “ Nhân danh Tổng thống Bill Clinton và nhân dân Hoa Kỳ để mở đầu một chương mới trong quan hệ hai nước” Ông cũng là người chính thức khai trương đại
sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội
Tháng 7/1996, một phái đoàn cấp cao của chính phủ Mỹ do cố vấn an ninh quốc gia
Mỹ Athony Lake dẫn đầu tới Việt Nam Trong đoàn có các nhân vật quan trọng của Chính phủ Mỹ như trợ lý ngoại trưởng chuyên trách khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, phó bí thư báo chí nhà trắng Đ.Gionxen,… Một trong những sứ mệnh chủ chốt của đoàn tới Việt Nam lần này là phía Hoa Kỳ cùng Việt Nam kiểm điểm, đánh giá tình hình phát triển quan hệ hai nước một năm sau khi bình thường hóa
Tháng 6/1997 sau chuyến thăm của ông A.Lake, tân ngoại tưởng Hoa Kỳ bà Albright đã đến thăm Việt Nam Chuyến viếng thăm của bà nhằm khảo sát và đánh giá quan hệ hai nước sau hai năm bình thường hóa Đặc biệt, nhiệm vụ trọng tâm của bà Albright trong chuyến viếng thăm này là nhằm hối thúc hai phía tăng cường phát triển kinh tế thương mại Vì vấn đề POW/MIA là vấn đề mà Mỹ lấy làm điều kiện tuyên quyết trước khi bình thường hóa thì chính bản thân phía Mỹ cũng phải công nhận sự hợp tác rất
có hiệu quả của Việt Nam trong lĩnh vực này Giờ đây, vấn đề nổi lên hơn cả trong quan
hệ hai nước là vấn đề hợp tác kinh tế, thương mại
Ngày 16/11/2000 máy bay của Tổng thống hợp chuẩn quốc Hoa Kỳ - Bill Clinton đến Hà Nội và ông được tháp tùng bởi một đoàn các nhà doanh nghiệp lớn Đoàn doanh nghiệp này đã đạt được mục đích của mình và một loạt các công ty liên doanh đã được thành lập trong đó có lễ ký kết bản ghi nhớ giữa hãng Boeing và hàng không Việt Nam
về việc mua ba máy bay Boeing 777 -200 ER thỏa thuận liên doanh sản xuất cáp quang được ký kết giữa Corining International và tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam,
… Tổng thông Bill Clinton đã tặng thêm một khoản tín dụng 200 triệu USD cho những công ty muốn vào khinh doanh tại Việt Nam, tiếp đó là lời cam kết của Chủ tịch Hội
Trang 10đồng, Giams đốc điều hành Tổng công ty đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC) Mỹ George Munor thăm Việt Nam trong tháng 12/2000 Munor cho biết những doanh nghiệp Mỹ có
ít nhất 25% cổ phần trong liên doanh đầu tư đủ tư cách để vay từ 250 nghìn tới 200 triệu USD đầu tư cho các dự án có khả năng thành công cao, tạo nên công ăn việc làm và ít ô nhiễm môi trường Ngày 1/12/2000 công ty mới nhất của Mỹ vào thị trường Việt Nam kinh doanh là New York life International, đại diện hải ngoại của công ty bảo hiểm nhân thọ New York life Insurance đã mở văn phòng đại diện tại Hà Nội với hi vọng tiếp cận được thị cận Việt Nam đầy hứa hẹn với gần 80 triệu dân và ghóp phần cho sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam
Cũng có nhiều đoàn quan chức cao cấp của Việt Nam sang thăm Mỹ như: Bộ trưởng bộ tài chính, bộ trưởng công nghiệp, bộ trưởng kế hoạch và đầu tư, thứ trưởng bộ khoa học công nghệ và môi trường Việt Nam Ngày 29/9 đến 2/10/1998 phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm thăm chính thức Hoa Kỳ, đây là chuyến thăm đầu tiên của một quan chức cấp cao của Việt Nam sau ba năm bình thường hóa quan hệ hai nước, Những chuyến viếng thăm nhau giữa hai nước kể trên và những kết quả đạt được là những tín hiệu khả quan về quan hệ Việt –Mỹ
Ngày 19/6/2005, Thủ tướng Phan Văn Khải là lãnh đạo chính phủ Việt Nam đầu tiên thăm Mỹ sau khi hòa bình lập lại Thủ tướng đã thảo luận với Tổng thống George Bush về sự ủng hộ của Mỹ với nỗ lực tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Việt Nam
Giữa tháng 11/2006, Tổng thống George Bush thăm chính thức Việt Nam khi tham
dự cuộc họp APEC tổ chức ở Hà Nội
Đến tháng 6/2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trở thành người đứng đầu nhà nước đầu tiên của Việt Nam sang Mỹ sau giai đoạn chiến tranh
Ngày 25/6/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và đoàn đại biểu Việt Nam đã đến Nhà Trắng để hội đàm với Tổng thống George Bush Thủ tướng Việt Nam và Tổng thống
Mỹ đã ra tuyên bố chung sau cuộc hội đàm
Chuyến thăm Mỹ cuối tháng 7/2013 của Chủ tịch Trương Tấn Sang đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ song phương Sau cuộc hội đàm tại Nhà Trắng ngày 25/7/2013, Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Barack Obama đã xác lập Quan hệ Đối tác Toàn diện giữa Việt Nam và Mỹ
Từ ngày 6/7, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính thức thăm Mỹ Đây là lần đầu tiên một Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đến Mỹ Tổng Bí thư và Tổng thống