đây là giáo trình môn an sinh xã hội dành cho sinh viên các ngành tâm lý, giáo dục, xã hội học. Bài giảng có thể dùng cho sinh viên và giáo viên trong công tác dạy và học các chế độ về anh sinh và xã hội.
Trang 11.1.2 Vấn đề xã hội và sự nảy sinh các vấn đề xã hội
Vấn đề xã hội là những tình huống nảy sinh trong đời sống xã hội mà cách thức và những biện pháp giải quyết của chủ thể (con người, nhóm xã hội) chưa đạt được kết quả mong muốn Ví dụ: vấn đề đói nghèo, bệnh tật, thất học, trẻ em lang thang đường phố, người khuyết tật, nạn nhân thiên tai, nạn nhân chiến tranh, tệ nạn mại dâm, ma tuý…
1.2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 1.2.1 Sự cần thiết hình thành hệ thống an sinh xã hội
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải có điều kiện bảo đảm về
ăn, mặc, ở Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết Khi của cải xã hội càng có nhiều thì mức độ thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời không phải lúc nào con người cũng có thể lao động tạo ra thu nhập, trái lại có nhiều trường hợp xảy ra gây cho con người bị giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, tai nạn, già yếu, thất nghiệp Đồng thời cuộc sống của con người còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội Những điều kiện này không phải lúc nào ở đâu cũng thuận lợi Những rủi ro, bất hạnh do thiên tai hoặc môi trường gây ra cho con người là không thể tránh khỏi
Bất kỳ xã hội hay một quốc gia nào cũng luôn có những người gặp khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống Đó là những người bị ốm đau, bệnh tật hoặc gặp phải thiên tai mà trở thành nghèo đói, lại có người không thể nuôi sống bản thân như trẻ
mồ côi, người già yếu cô đơn, người bị khuyết tật nặng v.v…Từ đây hình thành một nhóm người dễ bị tổn thương hay nhóm yếu thế cần sự giúp đỡ, cưu mang của
1
Trang 2cộng đồng Toàn bộ những chủ trương, chính sách và biện pháp tổ chức thực hiện
để đạt mục tiêu đó hình thành nên hệ thống an sinh xã hội
1.2.2 Lịch sử phát triển hệ thống an sinh xã hội
Trên tất cả quốc gia có một bộ, mang tên khác nhau như bộ An sinh và phát triển xã hội (Phi-lip-pin), bộ phát triển cộng đồng (Singapore), bộ Lao động, Thương binh xã hội hay những hình thức hỗ trợ thường xuyên cho các đối tượng chính sách
Điểm mốc đánh dấu sự hình thành an sinh xã hội là cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ thứ XIX Cuộc sống cá thể, lao động giản đơn đã nhường bước cho công nghiệp hoá Cuộc chuyển biến này khiến cuộc sống của người lao động gắn chặt với thu nhập do bán sức lao động đem lại Chính vì vậy những rủi ro trong cuộc sống như ốm đau, tai nạn, thất nghiệp hoặc do tuổi già sức yếu v.v đã trở thành mối lo ngại cho người lao động Trước những rủi ro thường xuyên xảy ra trong cuộc sống, một số nước đã khuyến khích các hoạt động tương thân tương ái lẫn nhau, kêu gọi người lao động tự tiết kiệm phòng khi có biến cố hoặc thực hiện trợ cấp đối với những người làm công ăn lương
Đến cuối thế kỷ XIX, chính quyền nhiều bang ở Đức bắt đầu thiết lập quỹ trợ cấp ốm đau do chính những người thợ bắt buộc phải đóng góp để tương trợ những người lao động gặp rủi ro ốm đau Vào năm 1850 ở Đức đã thành lập quỹ ốm đau
và bắt buộc công nhân phải đóng góp để trợ cấp cho những người bị bệnh tật Trong khoảng từ năm 1883 đến 1889, các hình thức bảo hiểm mang tính bắt buộc được mở rộng trong các trường hợp tai nạn lao động, tuổi già, tàn tật với sự tham gia đóng góp của ba bên (người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước) Mọi người làm công ăn lương bắt buộc phải đóng góp, bất kể là thợ lành nghề hay lao động phổ thông, là người già hay trẻ, là nam hay nữ Từ đó, nhiều nhà nước đã ban hành các đạo luật làm cơ sở để điều chỉnh các mối quan hệ về trợ cấp cho những người gặp rủi ro bất hạnh Bên cạnh đó các dịch vụ xã hội như: dịch vụ y tế,
dự phòng tai nạn, dịch vụ chăm sóc người già, bảo vệ trẻ em từng bước được mở rộng Tất cả những hoạt động chung mang tính xã hội vì mục đích trợ giúp cho các thành viên trong xã hội như vậy được hiểu là an sinh xã hội.2
1.2.3 An sinh xã hội tại các nước đang phát triển và một số khuyến cáo của Liên Hợp quốc về định hướng an sinh xã hội
Các nước thuộc thế giới thứ 3 đã có những nỗ lực tự thân tìm ra phương hướng phát triển mang bản sắc dân tộc mình nhiều hơn so với trước đây cái gì cũng bắt chước phương Tây Các nước đế quốc thường muốn đồng hoá các nước bị trị trên tất cả các lĩnh vực văn hoá, kinh tế, xã hội Trong an sinh xã hội, họ cũng áp đặt các mô hình của mình đối với các nước thuộc địa như viện mồ côi, viện dưỡng
2 Lê Thị Hoài Thu, Một số vấn đề lý luận về an sinh xã hội
Trang 3lão… để nuôi dưỡng tập trung các đối tượng này, đưa đến những tác hại như đã nói
ở phần trên Mặt khác, nếu hệ thống an sinh xã hội các nước nghèo mà nặng tính giai cấp, cứu trợ thì sẽ làm cho ngân sách quốc gia không thể kham nổi
Từ thực tiễn ấy, các nước nghèo bắt đầu xem xét lại toàn bộ chính sách an sinh xã hội của mình có còn phù hợp với khả năng của đất nước không Từ đó mà chủ trương dựa vào sức dân, dựa vào tiềm lực của cộng đồng quốc gia là chủ yếu
để cải thiện dần điều kiện đời sống của toàn dân Dưới đây là một số khuyến cáo của LHQ về định hướng ASXH:
Cần quan tâm đặc biệt đến gia đình đơn thân, hỗ trợ các trường hợp đặc biệt như trẻ em, thanh thiếu niên, người cao tuổi, người khuyết tật v.v…
Thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ và tạo điều kiện đồng đều để phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội của đời sống
Cần quan tâm hiện tượng di dân, một mặt cải thiện điều kiện kinh tế xã hội ở nơi xuất phát, mặt khác giúp người di dân tại nơi đến của họ
Đối với nghèo đói, không chỉ xoa dịu mà giải quyết tận gốc bằng cách gia tăng việc làm, tạo cơ hội đầu tư đồng đều cho cả nam lẫn nữ, ưu tiên cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương (nhóm người yếu thế)
Tăng sự chủ động và tích cực tham gia của đối tượng thụ hưởng dịch vụ
an sinh xã hội bởi chính họ mới biết rõ nhu cầu của bản thân và quyết định về những dịch vụ, chương trình và lợi ích của mình
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
Với bài mở đầu này, sinh viên cần tập trung nắm rõ khái niệm vấn đề xã hội
là gì? Nguồn gốc của các vấn đề xã hội và nêu lên ý nghĩa cần thiết của việc hình thành hệ thống an sinh xã hội
Trang 4CHƯƠNG 2
CÁC KHÁI NIỆM VỀ AN SINH XÃ HỘI 2.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ AN SINH XÃ HỘI
2.1.1 An sinh xã hội (Social Welfare)
- Theo tác giả B R Compton (Introduction to social welfare and social Work - Nhập môn an sinh xã hội và công tác xã hội, 1980):“An sinh xã hội là một thiết chế, bao gồm các chính sách và luật pháp được thực thi bởi các tổ chức tự nguyện hay của nhà nước Nhằm mục đích phòng ngừa, giảm nhẹ hay đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội để cải tiến sự an sinh của cá nhân, nhóm và cộng đồng một cách trực tiếp"
- Theo Elizabeth Wickenden (Social welfare in a Changing World - An sinh
xã hội trong một thế giới đổi mới, 1965), An sinh xã hội gồm các: “luật lệ, chương trình, quyền lợi và dịch vụ bảo đảm và củng cố các biện pháp đáp ứng các nhu cầu
xã hội được công nhận như an sinh cơ bản của quần chúng và cải tiến trật tự xã hội”
Qua các khái niệm trên có thể thấy:
An sinh xã hội có đối tượng áp dụng rộng lớn
Nội dung là sự bảo vệ của xã hội được thực hiện thông qua một loạt các biện pháp công cộng tiến hành bởi Nhà nước, tổ chức, cá nhân
Hình thức tương trợ bằng tiền, hiện vật, phương tiện
Mục đích chống lại những túng quẫn về kinh tế, những khó khăn về mặt
xã hội của người dân khi gặp phải những biến cố, rủi ro góp phần đảm bảo cuộc sống con người và cao hơn thế là đảm bảo an toàn chung cho toàn xã hội
2.1.2 Công tác xã hội (Social Work)
Tại đại hội khoáng đại của Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Montresal (Canada) vào tháng 7/2000 là: “CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự Thay đổi xã hội, tiến trình Giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, và sự Tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ
Nhân viên xã hội không chỉ làm việc trực tiếp với thân chủ ở cơ sở, mà còn
là một nhà quản lý xã hội, nhà nghiên cứu, nhà biện hộ và tham gia làm các chính sách xã hội
Trang 52.2 CÁC QUAN NIỆM VỀ AN SINH XÃ HỘI TRÊN THẾ GIỚI
2.2.1 Các quan niệm không giống nhau
Quan niệm hạn hẹp cho rằng cá nhân và gia đình chịu trách nhiện chính về
an sinh
Quan niệm theo định chế cho rằng xã hội chịu trách về nền an sinh của người dân An sinh được xem là quyền của mọi người, được quan tâm từ lúc được sinh ra cho đến lúc mất
Quan niệm theo phát triển cho rằng An sinh là quyền cơ bản Là một phần của các định chế xã hội (sức khỏe, giáo dục, nông nghiệp, việc làm…) có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và trình độ của xã hội An sinh quốc gia là phương tiện cơ bản để thực hiện công bằng xã hội và khuyến khích các họat động của các nhóm tự giúp và các hợp tác xã kinh tế
2.2.2 Các bộ phận cấu thành của an sinh xã hội
An sinh xã hội ở các nước phát triển, với vốn tích lũy dồi dào thường bao gồm:
1 An sinh công cộng (Public welfare), đây là tổ chức mang tính cứu trợ cho những người (tạm gọi là) theo diện chính sách nào đó Ví dụ người nghèo dưới một mức độ nhất định, người thất nghiệp, trẻ lang thang, người cao tuổi, khuyết tật,
2 Bảo hiểm xã hội (social insurance) cho những người trong thời gian lao động có đóng góp cho quỹ bảo hiểm
3 Chương trình phát triển lao động và dân dụng
4 Nhà ở và tái thiết đô thị
5 Sức khoẻ chung
6 Sức khoẻ tâm thần
7 Phục hồi chức năng
8 Phạm pháp và giáo hóa
9 Vui chơi giải trí
10 An sinh nhi đồng và gia đình
11 Phát triển cộng đồng
Tùy từng quốc gia nội dung và tổ chức có khác nhau, nhưng nói chung An sinh xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu toàn diện của người dân để sống hạnh phúc, hài hòa và tham gia xây dựng một xã hội hài hòa và phát triển
Trang 62.2.3 Lịch sử của ngành Công tác xã hội
Hiệp hội các tổ chức từ thiện (COS) là cha đẻ của các trường CTXH đầu tiên
ở Mỹ và Anh Năm 1898 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ đầu tiên (Summer school of Philanthropic workers) cho 27 học viên được tổ chức tại New York, trong 6 tuần
Ba năm sau khóa học trở thành trường CTXH đầu tiên với chương trình kéo dài 8 tháng Ngày nay là trường CTXH thuộc đại học Colombia Ngay sau đó hàng loạt trường khác được thành lập ở các thành phố lớn ở Âu, Mỹ Ở Châu Á, và Châu Mỹ
La Tinh, các trường CTXH mọc lên đồng loạt sau thế chiến thứ 2 Trung Quốc và
Ấn Độ do sự gần gũi với Anh quốc có người đi học ở Anh, Mỹ, khá sớm và du nhập ngành CTXH sớm nhất ở Châu Á Miền Nam Việt Nam do ảnh hưởng của Pháp có trường CTXH vào năm 1949 do Hồng thập tự Pháp thành lập, sớm hơn một số nước Châu Á và châu Mỹ La Tinh Đó là trường Caritas, do các nữ tu bác ái điều hành
2.2.4 Cơ sở nền tảng của An sinh xã hội và mối quan hệ với Công tác xã hội
Vai trò của nhân viên xã hội trong hệ thống an sinh xã hội
Nhiều ngành nghề tham gia đóng góp vào nền ASXH của một quốc gia, ví
dụ như nhà thiết kế đô thị tham gia giải tỏa nhà ổ chuột, bác sĩ, y tá có vai trò quan trọng cho sức khoẻ, luật sư tham gia làm luật bảo vệ trẻ em Nhưng do các ngành này và một số ngành khác không đáp ứng một cách toàn diện nhu cầu xã hội của con người một ngành nghề mới xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 đó là công tác xã hội (social work)
Từ đó, các nhân viên xã hội đầu tiên hiểu rằng giúp đỡ con người là một quá trình phức tạp và tế nhị đòi hỏi sự hiểu biết về cá nhân và cả xã hội Họ cũng rút ra nhiều kinh nghiệm về cách tiếp xúc để tìm hiểu từng trường hợp, ghi chép để theo
AN SINH XÃ HỘI Nhà
Tâm thần học
Nhân viên công tác xã hội, tình nguyện viên
Nhà thiết
kế đô thị
Trang 7Cũng từ đó hình thành cơ sở ban đầu của phương pháp CTXH và ý thức về vai trò nhiệm vụ nhân viên xã hội, đạo đức chức nghiệp v.v
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
• An sinh xã hội là gì? Công tác xã hội là gì?
• An sinh xã hội có liên hệ gì với công tác xã hội không? Tại sao?
Trang 8CHƯƠNG 3
HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 3.1 BỐI CẢNH AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Ở nước ta, vấn đề an sinh xã hội được đặt ra từ rất sớm và an sinh xã hội đã
có trong các câu thành ngữ: “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”…
Ở thời kỳ phong kiến cũng đã có những bộ luật khá tiến bộ của triều Lê, Nguyễn quy định chính quyền địa phương phải dành một phần đất canh tác và hoa lợi để nuôi dưỡng trẻ mồ côi và người già cô đơn
Giai đoạn (1945 – 1985), người dân về cơ bản được bảo đảm mọi chế độ về
ăn, ở, đi lại, học hành và chữa bệnh Nhà nước bao cấp các dịch vụ an sinh xã hội cho người già, cán bộ hưu trí, các đối tượng chính sách và nhiều đối tượng khác Nhưng đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, tiềm lực kinh tế rất hạn chế nên không thể kéo dài sự bao cấp đó
Giai đoạn 1986 đến nay bên cạnh những thành tựu to lớn về mọi mặt đời sống kinh tế thì những vấn đề xã hội bức xúc cũng nảy sinh như: tình trạng thất nghiệp, nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo, vấn đề ô nhiễm môi trường, các tệ nạn ma tuý, mại dâm, vấn đề phạm pháp, lạm dụng tình dục trẻ em v.v… Mặt khác, hậu quả của các cuộc chiến tranh đã để lại những người thương tật, những bố mẹ liệt sỹ neo đơn, những goá phụ và trẻ mồ côi, khuyết tật cần giúp đỡ
Mặt khác kinh tế thị trường cũng đặt ra nhiều thách thức như: phá sản, thất nghiệp là những nguy cơ luôn tiềm ẩn các tệ nạn xã hội, phân hoá giàu nghèo là điều khó tránh khỏi… Những rủi ro này làm tăng nhu cầu về an sinh xã hội của người dân Đặc trưng cơ bản của an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn này là đã có sự chuyển giao dần “công việc” từ Nhà nước sang cho xã hội, cho cộng đồng
3.2 BỘ MÁY VÀ CÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN AN SINH XÃ HỘI
3.2.1 Hệ thống an sinh xã hội chính thức thuộc Nhà nước tổ chức và quản lý
Bộ chính trị chỉ đạo Quốc hội ra các bộ luật, chính sách xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội tốt nhất cho mọi người dân Dưới đó là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (cấp Trung ương) chịu trách nhiệm chính về việc thi hành
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động, việc làm, an toàn lao động, dạy nghề, chính sách đối với thương binh, liệt sỹ và người có công, bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội (gọi chung là lao động, thương binh và xã hội) trong phạm vi
cả nước
Trang 9Sở Lao động Thương binh và Xã hội (cấp Tỉnh, Thành)
Sở Lao động -Thương binh và Xã hội là cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, chịu sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của UBND tỉnh Có nhiệm vụ chủ trì và phối hợp với các ngành, địa phương tổ chức thực hiện chương trình giải quyết việc làm, trực tiếp theo dõi chương trình vay vốn quốc gia giải quyết việc làm, công tác xuất khẩu lao động, đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác giải quyết việc làm Giải quyết các hồ sơ chính sách đối với người có công với nước như: thương binh, bệnh binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng, người hoạt động kháng chiến,
Phòng Lao động thương binh và Xã hội (cấp Huyện)
Xây dựng phương hướng nhiệm vụ công tác lao động - thương binh và xã hội đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện và nhiệm
vụ của ngành theo từng giai đoạn hàng năm
Giúp UBND huyện quản lý thực hiện một số vấn đề công tác xã hội thuộc chức năng nhiệm vụ của Phòng Nội vụ - Lao động Thương binh và Xã hội như:
Chương trình Quốc gia Xóa đói giảm nghèo
Chương trình Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Chương trình Phòng chống các tệ nạn xã hội mại dâm, ma tuý
Công tác cứu trợ xã hội, bảo trợ xã hội
Cán bộ Văn hóa - Xã hội (cấp Xã)
Thống kê dân số, lao động, tình hình việc làm, ngành nghề trên địa bàn; nắm
số lượng và tình hình các đối tượng chính sách lao động - thương binh và xã hội
Phối hợp với các đoàn thể trong việc chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng chính sách; quản lý các nghĩa trang liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ và bảo trợ xã hội, việc nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng xã hội ở cộng đồng Theo dõi thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo Giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện sơ kết, tổng kết báo cáo công tác văn hoá, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động - thương binh và xã hội ở xã, phường, thị trấn
3.2.2 Các tổ chức chính trị xã hội thực hiện chức năng an sinh xã hội
Ngoài bộ máy quản lý nhà nước về an sinh xã hội là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội bao gồm cả các phòng, ban thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội được coi là các cơ quan chính thức Bên cạnh đó chúng ta còn nhiều tổ chức khác tham gia thực hiện an sinh xã hội như sau:
Các tổ chức chính trị xã hội như Hội liên hiệp Phụ nữ
Đoàn Thanh niên
Liên đoàn Lao động Việt Nam
Trang 10 Hội nông dân và các tổ chức xã hội khác như
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
Hội Người cao tuổi
Mặt trận Tổ quốc
Bộ Giáo dục và đào tạo
UB Dân số Gia đình và Trẻ em
Ủy ban nhân dân
Các ban ngành cơ quan nhà nước khác (công an, tòa án)
Công đoàn và các doanh nghiệp tư nhân
Bệnh viện hoặc các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khoẻ khác, v.v…
Các mái ấm, nhà mở, chùa chiền, v.v…
Hội bảo trợ trẻ em tàn tật v.v…
3.2.3 Các tổ chức phi chính phủ
UNICEF triển khai chương trình hợp tác trên phạm vi toàn quốc với Việt
Nam sau khi thống nhất đất nước và đã tiếp tục hỗ trợ Chính phủ Việt Nam cải thiện cuộc sống và phúc lợi cho trẻ em
Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam là một bộ phận của một nhóm các tổ chức
phát triển lớn gọi là Nhóm Ngân hàng Thế giới Nhóm Ngân hàng Thế giới có năm
tổ chức thành viên: Ngân hàng Tái thiết và Phát triển (IBRD), Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA), Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), Tổ chức bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA) và Trung tâm Quốc tế Giải quyết những Tranh chấp đầu tư (ICSID) Trong năm tổ chức thành viên này, Hiệp hội Phát triển Quốc tế IDA và Công ty Tài chính Quốc tế đang hoạt động cho tiến trình phát triển của Việt Nam
Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP)
UNDP quyết tâm hỗ trợ tiến trình đổi mới về cải cách thể chế và quản trị Các dự án của UNDP hỗ trợ việc tăng cường các cơ quan dân cử ở cấp trung ương
và địa phương; xây dựng khuôn khổ luật pháp; cải cách hành chính; phân cấp quản lý; quản lý tài chính công; và chuẩn bị cho Việt Nam tham gia vào các hệ thống và thiết chế thương mại toàn cầu
Ngoài ra còn có các tổ chức: FAO, ILO, UNAIDS, UNESCO, UNFPA, UNHCR, UNIDO, UNODC, UNV, WHO, IMF, WORLD VISION, v.v…
3.3 CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam hiện nay cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề an sinh xã hội và các bộ phận cấu thành Tuy nhiên, có thể thấy rằng hiện tại, an sinh
Trang 11xã hội ở Việt Nam là một ngành tương đối mới mẻ được cấu thành gồm bốn bộ phận chính là:
Bảo hiểm xã hội
3.4 CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
3.4.2 Phân loại chính sách xã hội
Xã hội là những công cụ trực tiếp điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa người với người, giữa các nhóm, các tập đoàn xã hội với nhau, bao gồm:
Chính sách dân số
Chính sách việc làm
Chính sách bảo hộ lao động
Chính sách tiền lương
Chính sách bảo hiểm xã hội
Chính sách ưu đãi xã hội
Chính sách cứu trợ xã hội
Chính sách giáo dục
3.4.3 Vai trò của các tổ chức xã hội và tổ chức phi chính phủ
Các vai trò của các tổ chức xã hội và NGO vào việc thực hiện chính sách xã hội như sau:
Tham gia nghiên cứu, xây dựng chính sách, chương trình, hoặc tham gia điều hành ở trung ương và địa phương
Trang 12Là đầu mối tiếp nhận nguồn vốn để tổ chức xây dựng và triển khai các dự án
xã hội cho các thành viên của mình
Tổ chức cung cấp các dịch vụ xã hội (đào tạo và chuyển giao công nghệ; tư vấn xây dựng dự án; dịch vụ về y tế, giáo dục…)
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
• Chính sách xã hội là gì? Nêu các loại chính sách xã hội?
• Mạng lưới an sinh xã hội ở Việt Nam? (các cơ quan, chương trình thực hiện ASXH)
• Vẽ mô hình các cơ quan thực hiện chức năng an sinh xã hội ở địa phương của bạn?
HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
Sinh viên cần tập trung nắm rõ khái niệm chính sách xã hội? Các bộ phận cấu thành hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 4
AN SINH XÃ HỘI VỚI CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1 AN SINH XÃ HỘI VỚI NGHÈO ĐÓI
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
Nghèo đói (Poverty)
Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo cho những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trong lúc bất lợi, ít có khả năng truyền đạt những nhu cầu Những người không có khả năng giải quyết ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục không được người khác tôn trọng
Nghèo được phân thành 2 loại: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Nghèo tuyệt đối:
Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống hàng ngày như ăn, mặc, nhà ở, nước uống, vệ sinh, y tế, giáo dục và sự tham gia vào các quyết định của cộng đồng
Nghèo tương đối:
Là những hộ có thu nhập thấp hơn thu nhập trung bình trong cộng đồng hay không có khả năng đạt tới mức sống tối thiểu tại 1 thời điểm nào đó (Chương trình giảm nghèo khổ, PTS Nguyễn Hữu Dũng, Tạp chí Lao động - XH tháng 8/92)
1.2 THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI
1.2.1 Trên thế giới
Theo số liệu của ngân hàng thế giới thì: năm 2001 trên toàn thế giới có 1,1 tỷ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có ít hơn 1 USD tính theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo Năm 1993 là 1,4 tỷ người tương đương với 29% dân số thế giới Phần lớn những người này sống tại Châu Á, thế nhưng thành phần những người nghèo trong dân cư tại Châu Phi lại còn cao hơn Tại Đông Âu và Trung Á con số những người nghèo nhất tăng lên đến 6% dân số
Theo báo cáo của ngân hàng thế giới năm 2000 về (tấn công nghèo đói), trong 6 tỷ người trên thế giới hiện nay thì có khoảng 2,8 tỷ người chiếm gần một nửa dân số sống một ngày với mức chi tiêu bình quân dưới 2 đôla/ngày, trong đó:
Khu vực Châu Âu và Tây Á chiếm 2,0%
Khu vực Trung Đông và Bắc Phi chiếm 0,5%
Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương chiếm 23,2 %
Tiểu vùng xa mạc Sahara và Châu Phi chiếm 24,3 %
Trang 14 Khu vực Nam Á chiếm 43,5%
Khu vực Châu Mỹ La Tinh và vùng Carribe chiếm 6,5%
(Nguồn: Ngân hàng thế giới 2000)
1.2.2 Vấn đề nghèo đói tại Việt Nam
Mặc dù Đảng và nhà nước ta hết sức nỗ lực đưa đất nước thoát dần cảnh nghèo đói, thế nhưng, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chung của các nước thuộc khối thế giới thứ ba, Việt Nam là một trong 15 - 16 nước nghèo nhất có thu nhập đầu người khoảng 600 USD/năm, trong khi đó những nước phát triển ở cùng khu vực thu nhập bình quân đầu người lên đến 24.000 USD/năm, nhóm nước phát triển trung bình cũng có thu nhập bình quân đầu người từ 620 -
2320 USD/năm Về dân số, Việt Nam được xếp vào nước đông dân đứng hàng thứ mười ba trên thế giới và có tốc độ tăng dân số trung bình hàng năm là 2,2%
Theo số liệu của Liên Hợp Quốc vào năm 2002 tỉ lệ nghèo theo tiêu chuẩn Quốc gia của Việt Nam theo chuẩn thế giới là 29% và tỉ lệ nghèo lương thực (% số
hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10,87%
Một ít số liệu về Việt Nam
Tỉ lệ tăng trưởng GDP trung bình hằng năm (1996-2006) 9.34%
Tỉ lệ nghèo lương thực(% số hộ nghèo, ước lượng năm 2002) 10.87
Trang 15PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
Chỉ số phát triển con người (Xếp hạng trong số 177 nước, 2006) 162
Chỉ số phát triển giới (Xếp hạng trong số 144 nước, 2006) 87
Chỉ số nghèo tổng hợp (Xếp hạng trong 95 nước, 2006) 41
Nguồn: TCTK, UNDP, WEF, IMF, IBRD
Trong khi cải cách, thì tình trạng nghèo đói dường như vẫn rất dai dẳng ở vùng nông thôn Việt Nam, và tỉ lệ nghèo ở mức cao trong các dân tộc thiểu số ít hơn 75% năm 1998 theo con số tổng cục thống kê: các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14% dân số cả nước, nhưng lại chiếm tới 29% tổng số nghèo
So sánh chuẩn nghèo của nước ta với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, chuẩn nghèo của nước ta chỉ bằng 2/3, nhưng tỷ lệ nghèo đói của ta lại cao gấp gần 2 lần Việt Nam đã gia nhập vào WTO, người nghèo là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất trên sân chơi hội nhập Do vậy, nâng cao cuộc sống cho người nghèo, trang bị cho họ khả năng chống chọi với nền kinh tế thị trường là yêu cầu cấp bách và lâu dài
1.2.3 Nguyên nhân nghèo đói
Theo số liệu báo cáo từ điều tra xác định hộ nghèo của Bô LĐ TB & XH, có nhiều nguyên nhân nghèo, trong đó có 8 nguyên nhân chủ yếu được tập hợp trong biểu sau
Các nguyên nhân nghèo chung cả nước và chia theo vùng
Nguyên nhân Thiếu
vốn
Thiếu đất
Thiếu
LĐ
Thiếu kinh nghiệm
Bệnh tật nạn Tệ Rủi ro
Đông người
21,38 10,46 8,54 18,90 12,59 26,12 20,08 47,73
8,26 5,56 17,50 14,60 10,80 7,76 8,64 5,47
33,45 47,37 23,29 50,65 17,57 27,11 20,60 5,88
7,79 5,78 36,26 14,42 31,95 9,03 17,54 4,22
2,30 0,58 1,46 0,80 0,83 1,22 0,37 0,87
1,26 0,52 2,39 1,92 1,34 1,32 0,39 1,80
12,08 9,39 7,30 16,61 20,71 13,72 9,50 11,95
Trang 16Nguồn: Bộ LĐTBXH (2005), Số liệu nghèo đói năm 2004
Các số liệu trong bảng trên cho thấy trong cả nước nguyên nhân hàng đầu của sự nghèo là thiếu vốn, nguyên nhân này chiếm đến 63,69% ý kiến được hỏi Tiếp theo là các nguyên nhân thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh (31,12%), thiếu đất (20,82%), bệnh tật (16,94%), đông người (13,6%), thiếu 1ao động (11,40%)
1.3 AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI
1.3.1 Các chương trình quốc gia
Đến năm 2010 giảm 2/5 tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế (7) và giảm 3/4 tỷ lệ nghèo về lương thực thực phẩm so với năm 2000
Đến năm 2010, đảm bảo các gia đình trong các khu vực đô thị được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà trên khu đất hợp pháp
Tăng cường bảo vệ trẻ em và vị thành niên, giải quyết triệt để tình trạng trẻ
em lao động sớm, trẻ em lang thang, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác, nhất là trẻ
em của những gia đình nghèo do phụ nữ làm chủ hộ Bảo vệ những người có hoàn cảnh đặc biệt (người tàn tật, người bị nhiễm chất độc màu da cam, người già cô đơn, đối tượng chính sách và các đối tượng khác) Chăm lo và điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, nghiện ma tuý
Quy hoạch tổng thể cải cách hành chính công, đảm bảo thực hiện triệt để tại các khu vực đô thị vào năm 2010
Giảm thiểu quan liêu, đẩy lùi tham nhũng, thực hiện quản lý Nhà nước dân chủ có sự tham gia của người dân Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ cơ sở
1.3.2 Các chương trình phát triển (quốc tế tài trợ)
UNDP có một vai trò đặc biệt, Các dự án hợp tác của UNDP cũng phát triển
để đáp ứng những yêu cầu trong thời kỳ mới Ngày nay, Việt Nam đang khai thác ảnh hưởng, tri thức chuyên môn, kinh nghiệm và các hoạt động tuyên truyền vận động toàn cầu của UNDP phục vụ các ưu tiên phát triển của mình trong một thế giới ngày càng mang tính cạnh tranh nhiều hơn
Lĩnh vực hoạt động của UNDP tại Việt Nam phản ánh rõ nét sự cam kết của
cả hai bên trong việc đưa quá trình ra quyết định đến gần hơn với người dân và bảo đảm sự tham gia mạnh mẽ của những người hưởng lợi UNDP còn nhằm mục tiêu kết hợp nỗ lực hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới với phương thức phát triển con người vì lợi ích của mọi công dân Việt Nam, đặc biệt là những nhóm người dễ bị tổn thương nhất
Trang 17CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Trình bày vấn đề nghèo đói tại một xã, nơi mà bạn sinh sống
2 Các chương trình giảm nghèo và ASXH nơi đó như thế nào?
3 Là một tác viên CTXH và PTCĐ trong tương lai bạn sẽ làm như thế nào để cải thiện tình trạng nghèo đói đó?
4 Liệt kê danh sách các cơ quan thực hiện asxh ở tỉnh nơi bạn sinh sống bao gồm: tên cơ quan, địa chỉ, điện thoại liên lạc, …
HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
Sinh viên nắm rõ khái niệm nghèo và các chuẩn nghèo? Hệ thống an sinh
xã hội đối với vấn đề nghèo đói
2 AN SINH XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ TRẺ EM
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
2.1.1 Trẻ em
Về mặt luật pháp, Việt Nam qui định trẻ em là “những công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” Tuy nhiên trong thực tế không chỉ các em dưới 16 tuổi mà các
em ở lứa tuổi từ 16 đến 18 vẫn cần được coi là trẻ em
Nhìn chung trẻ em được xem là những người chưa trưởng thành, còn non nớt
cả về mặt thể chất lẫn trí tuệ Vì thế trẻ em là thành phần dễ bị tổn thương nên cần được gia đình và xã hội chăm sóc và bảo vệ đặc biệt
2.1.2 Trẻ em có những nhu cầu gì? 3
Khi nói đến các nhu cầu của trẻ em không ít người trong chúng ta nghĩ rằng đối với trẻ ta chỉ cần cho trẻ ăn no, mặc ấm là đủ Thực ra điều này không đúng Để trẻ em có thể phát triển tốt, chúng ta cần đáp ứng trẻ nhiều hơn thế
Tổng quát, các nhu cầu chăm sóc chính đối với trẻ em bao gồm:
Nhu cầu chăm sóc thể chất
Nhu cầu chăm sóc tình cảm
Nhu cầu chăm sóc tâm lý
Ở Việt Nam phần lớn các trẻ em được nuôi dưỡng và phát triển từ trong gia đình Do đó vai trò của gia đình là hết sức quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu chăm sóc cho trẻ, đặc biệt khi trẻ trong giai đoạn tuổi thơ và tuổi nhi đồng
2.2 TÌNH HÌNH TRẺ EM Ở VIỆT NAM
3
Trang 182.2.1 Trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt 4
Trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt là những trẻ em hiện đang sinh sống trong những môi trường không có hoặc thiếu sự chăm sóc và bảo vệ đúng mức
Các trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt cần có sự quan tâm, giúp đỡ về chăm sóc và bảo vệ kịp thời và thiết thực từ nhiều thành phần khác nhau trong xã hội Sự quan tâm và giúp đỡ có thể là trực tiếp đối với trẻ hoặc thông qua các hoạt động, dịch vụ từ các chương trình, dự án và chính sách
Các dạng trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt: Trẻ lang thang; Trẻ bị xâm phạm tình dục; Trẻ lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm; Trẻ làm việc
xa gia đình; Trẻ mồ côi không nơi nương tựa; Trẻ khuyết tật; Trẻ phạm pháp; Trẻ nghiện ma túy; Trẻ bị nhiểm HIV/Aids; Trẻ bị bỏ rơi; Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học
Trong các dạng trên thì ba dạng trẻ em được quan tâm đặc biệt trong tình hình hiện nay là trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm
2.2.2 Trẻ em lang thang
Trẻ em lang thang là những trẻ em rời bỏ gia đình và tự kiếm sống, hoặc cũng có thể là những trẻ em cùng với gia đình đi lang thang kiếm sống Đặc điểm chung của trẻ em lang thang là nơi kiếm sống và nơi thường trú của các em thường không ổn định
2.2.3 Trẻ em bị xâm phạm tình dục
Trẻ em bị xâm phạm tình dục bị tổn thương nặng nề cả về mặt sinh lý lẫn về mặt tâm lý Những tổn thương này không chỉ ở hiện tại mà còn kéo dài trong suốt những năm về sau khi trẻ lớn lên
2.2.4 Trẻ em lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm
Trẻ em lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm là những trẻ
em tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp làm những việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm gây nên những ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ
2.2.5 Trẻ mồ côi
Trẻ mồ côi là những trẻ không cha hoặc không mẹ hoặc không có cả cha lẫn
mẹ Chúng ta chỉ đề cập đến trẻ mồ côi sống lang thang hoặc sống tại các trung tâm, cơ sở từ thiện
Dù trẻ ở đâu thì trẻ cũng phải được đảm bảo các nhu cầu sau:
4 Nguyễn Hữu Tân, tài liệu tập huấn Công tác xã hội bảo vệ trẻ em
Trang 19 Điều kiện cơ sở vật chất
Bù đắp tình cảm thiếu hụt
Học văn hoá, nghề
Có việc làm thích hợp, ổn định sau khi ra khỏi trung tâm
2.3 Một số bộ luật liên quan đến trẻ em
2.3.1 Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (BVCSGDTE)
Luật BVCSGDTE đã được Quốc hội Khóa IX kỳ họp thứ 8 thông qua năm
2004 Luật khẳng định lại những quyền cơ bản của trẻ em đã được ghi nhận trong Công ước Quốc tế về quyền trẻ em Đồng thời dành nhiều nội dung về trách nhiệm của xã hội đối với trẻ em
Luật đưa ra những việc nghiêm cấm không được làm:
Dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi
Dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; xâm phạm tình dục trẻ em
Lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với hóa chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động (Điều 7: Các hành vi nghiêm cấm - Luật BVCSGDTE)
2.3.2 Bộ Luật Hình sự đối với các vấn đề liên quan đến trẻ em
Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Bộ Luật hình sự số 15/1999/QH10 đã dành một chương riêng để xử lý các vấn đề hình sự có liên quan đến trẻ vị thành niên phạm tội Chương 10 của Bộ Luật quy định như sau:
Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục
Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên
Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết
Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội
Không áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
Trang 20 Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm: Cảnh cáo; Phạt tiền; Cải tạo không giam giữ; Tù có thời hạn
2.3.3 Luật Hôn nhân và Gia đình đối với các vấn đề liên quan đến trẻ em
Luật Hôn nhân và Gia đình vừa là cơ sở để xây dựng gia đình hạnh phúc vừa
là công cụ để xác định nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái, trong đó có trẻ em:
Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái; Con cái có nghĩa vụ kính yêu, săn sóc, nuôi dưỡng chăm sóc; Cha mẹ không được hành hạ con cái, không được đối xử tàn tệ với con dâu, con nuôi, con riêng; Nghiêm cấm việc vứt bỏ hoặc giết hại trẻ em mới đẻ và người gây ra những việc ấy phải chịu trách nhiệm về hình sự
Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con, chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ, đạo đức; Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con; Cha mẹ phải làm gương tốt cho con về mọi mặt, phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con; Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động để tự nuôi mình; Các con có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong gia đình; Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 là sự kế thừa và Phát triển Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986
2.3.4 Bộ Luật Dân sự đối với các vấn đề liên quan đến trẻ em
Trong các quan hệ dân sự, trẻ em và người chưa thành niên được pháp luật bảo vệ, hỗ trợ
Bộ Luật Dân sự đã quy định khẳng định năng lực chủ thể của người chưa thành niên trong quan hệ pháp luật dân sự
Trẻ em có thể là chủ thể độc lập trong quan hệ pháp luật dân sự phát sinh từ quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác
Bộ Luật Dân sự quy định nhiều chế định nhằm bảo vệ quyền trẻ em: chế định giám hộ, chế định về hộ tịch như quyền được khai sinh, quyền khai sinh của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, quyền có họ tên, quyền cho trẻ em là con ngoài giá thú, chế định về việc nuôi con nuôi
2.3.5 Bộ Luật Lao động đối với các vấn đề liên quan đến trẻ em
Nhà nước ta rất quan tâm đến việc giáo dục trẻ em yêu lao động, nhưng cũng chú trọng bảo vệ trẻ em không bị xâm hại do bị bóc lột hoặc cưỡng bức làm việc dưới các hình thức khác nhau Bộ Luật Lao động của nước ta đã quy định những điều kiện để trẻ em có thể tham gia lao động
Trang 21Độ tuổi lao động quy định trong Luật: Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân ít nhất phải đủ 18 tuổi,
có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động (Điều 6)
Đối với ngành nghề và công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, học nghề, tập nghề thì việc nhận và sử dụng những trẻ em này phải có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu (Điều 120)
Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp vào những công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực và nhân cách, … (Điều 121)
Thời gian làm việc của người lao động chưa thành niên không được vượt quá bảy giờ một ngày hoặc 42 giờ trong một tuần (Điều 122)
2.3.6 Các Luật Phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và vấn đề học tập của trẻ em
Luật Phổ cập giáo dục tiểu học thể hiện quan điểm của Nhà nước ta đối với những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn không đủ điều kiện đến trường như những trẻ
em khác Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước phải tạo điều kiện
để trẻ em tàn tật được học văn hóa và học nghề phù hợp
Trong xu thế phát triển của kinh tế tri thức và xã hội hiện đại, học tập trở thành yếu tố cơ bản để trẻ em bước vào đời Quốc hội đã ra Nghị quyết về triển khai phổ cập giáo dục trung học cơ sở Độ tuổi phổ cập trung học cơ sở là độ tuổi trẻ em theo Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em
2.4 AN SINH XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ TRẺ EM (AN SINH NHI ĐỒNG)
Các vấn đề chính của trẻ em mà quốc gia cần giải quyết theo thứ tự ưu tiên như sức khỏe, dinh dưỡng, dịch vụ an sinh xã hội, giáo dục hướng nghiệp
Các nghiên cứu về nhu cầu trẻ để có cơ sở cho những chương trình hành động phù hợp với kế hoạch phát triển toàn bộ kinh tế - xã hội của quốc gia
Đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên môn để thực hiện chính sách ASNĐ
Cơ quan trung ương (Bộ Xã hội, hay An sinh xã hội ) phụ trách về chính sách kế hoạch có những kiến thức khoa học xã hội ứng dụng (Xã hội học, tâm lý học, CTXH, tư vấn tâm lý ) Bên cạnh đó là các tổ chức vế thiếu niên nhi đồng, bảo vệ bà mẹ trẻ em
Có ngân sách quốc gia, trích từ thuế để thực hiện những chương trình về ASNĐ
2.4.1 An sinh nhi đồng tại Việt Nam
Trang 22Cho đến nay hệ thống ASNĐ tại Việt Nam vẫn chưa rõ nét Mặc dù có nhiều
tổ chức, đoàn thể quan tâm đến việc chăm lo cho trẻ em nhưng chỉ mới dừng lại ở mức độ vận động, hô hào, phối hợp chứ chưa thấy xác định rõ trách nhiệm, quyền lực cũng không có, phương tiện (khoa học - vật chất - ngân sách) cũng chưa đủ Việt Nam đã có:
Luật về quyền trẻ em (Việt Nam là nước thứ hai ký vào công ước Quốc tế về quyền trẻ em) Nhưng việc kiểm tra thực hiện và biện pháp chế tài chưa thấy nói đến
UBGĐDSTE/VN trước kia thuộc trung ương đoàn ở cấp TW và mặt trận ở cấp tỉnh thành, nay mới được thiết lập như một cơ quan chính quyền để hoạt động
có hiệu quả hơn, nhưng kết quả chưa rõ nét
Bộ lao động - TBXH chăm lo cho trẻ mồ côi, trẻ phạm pháp, phần nào ở TPHCM cứu trợ cho trẻ nghèo nhưng hiệu quả chưa cao
Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên có những hoạt động chăm lo cho trẻ theo phong trào
2.4.3.2 Hỗ trợ gia đình, tăng cường khả năng nuôi dạy con cái
Gia đình trị liệu; giúp gia đình xử lý các khó khăn trong gia đình, giúp đỡ các gia đình có thành viên phạm pháp hay tâm thần, nghiện ngập hay bị khủng hoảng
Giúp vốn: kèm theo tư vấn về kinh doanh và tâm lý xã hội Các chương trình tín dụng, vay vốn nâng cao vai trò và quyền lực phụ nữ Các trường học, CLB dành cho các bậc cha mẹ Nhóm tự giúp Nhân viên phụ giúp việc gia đình thay thế cha
mẹ khi đau ốm để chăm sóc trẻ trong thời gian hạn định
Các chương trình phát triển cộng đồng để nâng cao mức sống của dân chúng, trong đó trẻ em và gia đình nghèo là đối tượng ưu tiên Chú trọng đến công đồng dân cư Vận động bà con từ chính quyền đến dân quan tâm, chăm sóc hướng dẫn
Trang 23trẻ của mình bằng chính sức lực mình trước tiên và ngay tại cộng đồng mình để ngăn ngừa những tệ nạn
2.4.3.3 Các dịch vụ thay thế gia đình
Gia đình nhận nuôi hộ một hoặc một số trẻ dưới sự hướng dẫn của một cơ quan xã hội Đây là trường hợp dành cho các trẻ em bị ngược đãi và lạm dụng tới mức phải cách ly với cha mẹ ruột Dưới sự hướng dẫn của một nhân viên xã hội chuyên nghiệp các gia đình này chăm sóc và giúp trẻ phát triển lành mạnh, và trở lại cuộc sống bình thường
Cha mẹ nuôi hộ không có quyền hạn và trách nhiệm của cha mẹ ruột Quyền này thuộc cơ quan xã hội chăm lo cho trẻ
Con nuôi là hình thức được pháp chế hóa vì lợi ích tốt nhất cho trẻ
2.4.3.4 Nuôi dạy tập trung:
Ở các nước Âu châu người ta không còn sử dụng phương pháp này Sau nhiều thập niên thực hiện các nước Phương Tây đã phát hiện ra tác hại lớn lao của việc nuôi dạy tập trung Trẻ thiếu bầu không khí ấm cúng của gia đình, bị tách rời khỏi xã hội bên ngoài Trẻ thiếu tình thương và môi trường thuận lợi dẫn tới tình trạng chậm phát triển tâm thần, kém thông minh, không phát triển được nhân cách, không thành đạt về học vấn Ít học được kỹ năng làm cha mẹ và khi trưởng thành
có thể phạm pháp, nghèo và bị cô lập
Nuôi dạy tập trung có thể áp dụng được với một số em phạm pháp nặng, rối loạn nhân cách nặng cần phải cách ly để tránh nguy hiểm cho chung quanh Số trẻ nuôi tập trung không nên quá 25, 30 em và trung tâm nên để mở để có mối quan hệ với cộng đồng, xã hội bên ngoài hầu giúp trẻ bình thường hơn
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
• Khái niệm trẻ em? Các quyền cơ bản của trẻ em?
• Nội dung của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em?
• Những vấn đề của trẻ em ở Việt Nam hiện nay?
• So sánh nội dung của luật BVCSTE năm 1991 và 2004?
HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
Sinh viên nắm rõ khái niệm trẻ em và cột mốc tuổi giữa các quốc gia? Hệ thống an sinh xã hội đối với vấn đề trẻ em
Trang 243 AN SINH XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ MẠI DÂM
3.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI
3.1.1 Khái niệm
Đã có khá nhiều khái niệm về mại dâm được nêu ra, phát biểu một cách ngắn gọn mại dâm là sự “trao đổi tình dục có thu tiền” hay là “sự cung ứng tình dục của một người cho một người khác như giao hợp hoặc thủ dâm có thu lợi” Chính vì tính chất thương mại của mình nên mại dâm còn được gọi là ngành kinh doanh tình dục hay công nghiệp tình dục
Mại dâm đồng tính: là loại mại dâm mà người mua dâm (có khi cả người bán dâm)
là người đồng tính luyến ái
Sự phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối, ở mỗi nước lại có sự quy định khác nhau về độ tuổi Tuy vậy, tất cả các loại mại dâm đều có tính chất nguy hiểm như nhau
Ngược lại với quan điểm này là chủ trương triệt để chống mại dâm, và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ủng hộ Ngăn chặn mại dâm là mục đích thực của các tổ chức quốc tế, Liên hợp quốc…Nghị quyết tòan thế giới về nhân quyền và công ước ngăn chặn buôn bán người và bóc lột bằng gái mại dâm đã được ban hành Một tường trình được sọan thảo kêu gọi sự hợp tác quốc tế để phát hiện ra mạng lưới mại dâm xuyên quốc gia
Trang 253.2.2 Tại Việt Nam
Trong vài chục năm trở lại đây, quá trình mở cửa nền kinh tế, một mặt làm cho kinh tế đất nước phát triển, đời sống của người dân được tăng lên một mức rõ rệt Mặt khác, nó cũng kéo theonhững xáo trộn đáng kể trong đời sống xã hội ở nước ta, hàng loạt các vấn đề được đặt ra ngày càng gay gắt, đòi hỏi phải giải quyết, trong đó mại dâm phụ nữ là một trong những vấn đề hết sức nan giải
Tình hình mại dâm ở Việt Nam đã vượt mức báo động do sự phổ biến từ thành thì đến nông thôn dưới nhiều hình thức đa dạng và phức tạp Con số phụ nữ
và trẻ em nữ làm mại dâm luôn biến động và rất đáng lo ngại Mại dâm ở nước ta không được xã hội thừa nhận và kiên quyết phòng chống Những năm qua chúng ta
có nhiều biện pháp quyết liệt, nhưng kết quả rất thấp vì tệ nạn này thường dính líu đến nhiều yếu tố như quyền lực, tham nhũng, bao che… Mặt khác trong xã hội vẫn tồn tại những quan điểm trái ngược nhau trong giải quyết vấn đề mại dâm nên tình hình vẫn chưa khả quan
3.3 NHỮNG NGUYÊN NHÂN
3.3.1 Kinh tế
Ở những nước mà phần lớn số phụ nữ đi vào con đường mại dâm là do nghèo đói, thiếu công ăn việc làm hoặc vì đồng lương quá thấp so với tiền kiếm được dễ dàng bằng hoạt động mại dâm Nghèo đói là nguyên nhân cớ bản đẩy phụ
nữ vào con đường làm gái mại dâm Phần lớn họ chấp nhận bán thân xác để cứu gia đình đang túng quẫn, bị xiết nợ, hoặc do thất nghiệp hay đồng lương quá thấp không đủ để sinh sống
3.3.2 Xã hội
Mại dâm có tổ chức Đối tượng mại dâm bị dụ dỗ, ép buộc
Bị người thân đem bán hay đồng tình cho làm mại dâm
Gặp hoàn cảnh khó khăn, có người cưu mang rồi ép làm mại dâm
Bị lừa gạt bán sang các nước khác dưới hình thức hôn nhân, hay đi làm ăn sinh sống
Mại dâm do bị cưỡng bức hoặc lạm dụng tình dục
Bị cha đẻ hay bố dượng hiếp
Bị người thân thích, bà con hay người ngoài hiếp
Đã có nhiều trường hợp đau lòng xảy ra Bố mẹ vì tham tiền mà nhẫn tâm đem bán con mình cho các nhà chứa, các đường dây buôn bán phụ nữ hoặc ép con làm gài tại nhà Lại có những ông chồng mất hết lương tri ép vợ mình làm “điếm”, còn mình lấy tiền hút sách, cờ bạc, thậm chí là đi chơi với người phụ nữ khác Về
Trang 26phía người phụ nữ, họ chưa ý thức được giá trị và vị trí của mình trong gia đình và
xã hội Họ không đủ can đảm để chống lại sự sắp đặt của chồng, nhiều lúc đẩy cả con gái đi vào vũng bùn…
3.3.3 Cuộc sống gia đình
Thiếu thốn tình cảm do cha mẹ rượu chè, hoặc lo làm ăn không quan tâm, chăm sóc
Con cái sống buông thả, hư thân rồi trượt dài vào con đường mại dâm
Bị đánh đập, bỏ nhà ra đi rồi bị kẻ xấu lừa gạt
Đa số phụ nữ đi vào Mại dâm thường có tuổi thơ bất hạnh, họ vốn thiếu thốn một mái ấm gia đình, thiếu tình thương cha me, cha vắng mặt hay hư đốn rượu chè Gia đình bất hoà khiến con cái hụt hẫng về tình cảm nên họ đã tìm cách giải toả nỗi buồn bằng cách vào các quán ba, nhà “lắc”, quán karaoke, bia ôm…
Một số sinh viên xuất thân từ những vùng quê vất vả lên thành phố học, gia đình ở quê không đủ khả năng để trang trải cho con ăn học nên không ít các sinh viên đã tìm thêm việc làm bằng cách bán thể xác của mình cho khách làng chơi
3.3.4 Môi trường
Sống trong một môi trường xã hội luôn luôn đề cao tình dục, Bị kích động bởi văn hoá phẩm đồi truỵ Bị hấp dẫn bởi ma lực của đồng tiền Một môi trường xấu lôi cuốn, mời gọi phụ nữ vào mại dâm như vũ trường, cà phê đèn mờ, karaoke
Nền văn hoá: quan niệm cho mại dâm là chuyện bình thường cũng tiếp tay không ít cho mại dâm phát triển
Lại có một bộ phận gái mại dâm là sinh viên có hoàn cảnh khó khăn song ước mơ trong họ quá lớn và họ chấp nhận làm gái điếm để đạt được những gì mình
ấp ủ Con người chạy theo đồng tiền, bị ma lực đồng tiền ngự trị Họ bất chấp cả dư luận xã hội, danh dự bản thân, sẵn sàng bán thân xác mình để có cuộc sống giàu sang, phú quý
Sex tour, mại dâm trẻ em là một hình thức nô lệ hiện đại
Xã hội ngày nay rất quan tâm đến yếu tố quyền lực, kẻ mạnh khuất phục kẻ yếu và ép buộc làm theo ý mình Kẻ mạnh luôn luôn khai thác kẻ yếu