1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN HỆ CAO ĐẲNG SƯ PHẠM KHOA CƠ BẢN)

49 8,8K 24

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 474,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Cùng với những thành tựu đó, các công trình nghiên cứu dựa trên sự tích lũy và tổng kếtkinh nghiệm của những quan sát sự phát triển tâm lí trẻ em và tâm lí quá trình dạy học giáo dục t

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG

TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM

(TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN HỆ CAO ĐẲNG SƯ PHẠM KHOA CƠ BẢN)

Trang 2

CHƯƠNG 1 Khái quát về tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm

Số tiết: 04 tiết ( Lý thuyết: 03 tiết; Bài tập, thảo luận, thực hành: 01 tiết )

A MỤC TIÊU

- Hiểu được vài nét lịch sử hình thành và phát triển, đối tượng, nhiệm vụ và hệ thống phương pháp

nghiên cứu và ý nghĩa của Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm

- Vận dụng các hiểu biết về Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm vào việc giải thích các hiện

tượng tâm lí nảy sinh và thể hiện ở học sinh THCS Vận dụng các hiểu biết về tâm lí lứa tuổi THCSvào việc học tập nghiên cứu và vận dụng trong việc dạy học, giáo dục học sinh THCS

-Tăng thêm lòng yêu nghề và tự hào được học tập ở trường sư phạm để trở thành giáo viên THCS B.NỘI DUNG

1.1.Vài nét về sự hình thành và phát triển TLHLT&SP

- Trong lịch sử các khoa học về con người, Tâm lí học trở thành một khoa học độc lập, tách

ra khỏi Triết học từ năm 1879 của thế kỉ XIX Cũng từ đó Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sưphạm ra đời

- Cùng với học thuyết tiến hoá, những thành tựu trong việc nghiên cứu hoạt động phản xạcủa con người do I M Xêtrênôv tiến hành đã khẳng định mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượngsinh lí và tâm lí, chỉ ra sự phát triển tâm lí của trẻ em gắn liền với cơ sở sinh lí thần kinh và não bộcon người Tư tưởng của S Đácuyn, I M Xêtrênôv góp phần thúc đẩy Tâm lí học lứa tuổi và Tâm

lí học sư phạm lúc bấy giờ phát triển mạnh mẽ hơn

- Cùng với những thành tựu đó, các công trình nghiên cứu dựa trên sự tích lũy và tổng kếtkinh nghiệm của những quan sát sự phát triển tâm lí trẻ em và tâm lí quá trình dạy học giáo dục trẻ

đã đặt cơ sở thực tiễn cho Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm lúc bấy giờ Những nghiên cứu

thực nghiệm lúc này cũng bắt đầu thâm nhập vào Tâm lí học sư phạm và Tâm lí học trẻ em

- Các quan điểm đúng đắn của N K Crupxcaia, A X Macarencô L X Vưgôtxki đã đặt cơ

sở cho việc nghiên cứu các vấn đề hình thành phát triển nhân cách trẻ em trong giáo dục và tronghoạt động tập thể Đặc biệt là các nhà tâm lí học như A N Lêônchiev, Đ B Encônhin, A A.Liublinxcaia, J Bruner, J Piaget, H Wallon, P Janet v.v…

- Ngày nay, người ta nghiên cứu Tâm lí học lứa tuổi với những quan điểm mới về "tâm lí họcphát triển" nghiên cứu sự hình thành tâm lí con người từ trong bào thai cho đến suốt cả cuộc đời conngười, gắn liền với nền văn hoá xã hội lịch sử và các tiến bộ xã hội của nền văn minh nhân loại, củagiáo dục hiện đại

1.2 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp của tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm:

1.2.1 Đối tượng của tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm

1.2.1.1Đối tượng của tâm lí học lứa tuổi:

Tâm lí học lứa tuổi là khoa học nghiên cứu những đặc điểm tâm lí, các quy luật, các điềukiện, động lực phát triển tâm lí theo lứa tuổi, những biến đổi của các quá trình tâm lí, các phẩm chấttâm lí trong sự hình thành, phát triển nhân cách con người

Tâm lý học lứa tuổi bao gồm nhiều lĩnh vực nghiên cứu cụ thể với tư cách là các phân ngànhcủa tâm lý học phát triển

Trang 3

+ Tâm lý học về đời sống thai nhi trong bụng mẹ

+ Tâm lý học hài nhi

+ Tâm lý học tuổi mầm non

+ Tâm lý học học sinh tiểu học

+ Tâm lý học tuổi thiếu niên

+ Tâm lý học tuổi thiếu niên

+ Tâm lý học người trưởng thành

+ Tâm lý học người già

+ Tâm lý học của trẻ em phát triển không bình thường ( phát triển sớm hoặc chậm phát triển )

1.2.1.2 Đối tượng nghiên cứu của tâm lí học sư phạm:

Tâm lí học sư phạm nghiên cứu các đặc điểm tâm lí, các quy luật tâm lí của việc dạy học vàgiáo dục, nghiên cứu cơ sở tâm lí của quá trình lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, các phẩm chất trítuệ và nhân cách người học, đồng thời Tâm lí học sư phạm cũng nghiên cứu các yếu tố tâm lí vềphía người làm công tác giáo dục, những vấn đề tâm lí của mối quan hệ giữa giáo viên và học sinhcũng như mối quan hệ qua lại giữa học sinh với nhau

1.2.2 Nhiệm vụ của tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm

1.2.2.1 Nhiệm vụ của tâm lý học lúa tuổi

- Chỉ ra các đặc điểm tâm lý con người được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn lứa tuổi và

trong suốt cuộc đời, những quy luật hình thành, biểu hiện tâm lý con người trong mỗi giai đoạn pháttriển tâm lý, chỉ ra các điều kiện, động lực của sự phát triển tâm lý

- Cung cấp cơ sở tâm lý lứa tuổi cho việc vận dụng các nguyên tắc, biện pháp dạy học và giáo dục

phù hợp với đặc điểm và quy luật tâm lý lứa tuổi, tổ chức hợp lí quá trình sư phạm nhằm mục đíchnâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học và giáo dục

- Tâm lí học lứa tuổi không những cung cấp cơ sở tâm lý cho giáo viên trong hoạt động sư phạm của

mình mà còn giúp cho giáo viên và các nhà giáo dục có phương pháp đối xử khéo léo với giaosaviên và học sinh và tự rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân để làm tốt vai trò người giáo viên trong sựnghiệp trồng người

1.2.2.2 Nhiệm vụ của tâm lý học sư phạm

- Chỉ ra các quy luật tâm lí của việc dạy học và giáo dục

- Nghiên cứu những vấn đề tâm lý của việc hình thành tri thức khoa học, hình thành và phát triển kĩ

năng, kĩ xảo và các phẩm chất nhân cách đạo đức của học sinh

- Chỉ ra cơ sở tâm lí của việc điều khiển quá trình dạy học và giáo dục, quá trình tổ chức hoạt động

của học sinh trong dạy học và giáo dục trong và ngoài nhà trường, trong giờ học và ngoài giờ học,cũng như xây dựng được mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau, giữa giađình với nhà trường và các lực lượng giáo dục khác

- Tâm lí học sư phamjnghieen cứu đặc trưng lao động sư phạm của người thầy giáo , hệ thống phẩmchất, năng lực của người giáo viên, việc tự rèn luyện và hoàn thiện nhân cách, năng lực nghề nghiệpcủa người thầy giáo

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu TLHLT và TLHSP

1.2.31.Phương pháp quan sát

Trang 4

- Quan sát là quá trình tri giác, theo dõi có mục đích, có kế hoạch sự nảy sinh, diễn biến và thể hiệntâm lí của trẻ qua hành vi bên ngoài trong điều kiện tự nhiên.

– Cần tổ chức việc quan sát đáp ứng các yêu cầu và các nguyên tắc cơ bản sau đây:

+ Quan sát những biểu hiện tâm lí của học sinh trong điều kiện tự nhiên của cuộc sống, nhất là tronghoạt động vui chơi, học tập, lao động và quan hệ giao tiếp Cần chú ý chúng ta "vừa nghiên cứu vừagiáo dục", hướng học sinh vào "vùng phát triển gần nhất" của trẻ

+ Cần quan sát, xem xét những biểu hiện tâm lí cụ thể của học sinh trong những hoàn cảnh cụ thể,riêng biệt của một nhân cách đang phát triển, xem xét những biểu hiện tâm lí cụ thể đó trong mốiquan hệ với các mặt khác của nhân cách

+ Quan sát phải đảm bảo tính khách quan và tính hệ thống Việc ghi chép và rút ra những nhận xétthu được từ những sự kiện quan sát được cần đảm bảo tính khách quan và thận trọng, cần xác địnhnhững nguyên nhân gây ra những sự kiện quan sát được, dự đoán xu thế biến đổi của chúng

– Phương pháp quan sát có ưu điểm trong việc nghiên cứu tâm lí con người như : tiến hành nhanh,chuẩn bị không mất nhiều thời gian, công sức và các điều kiện phương tiện nhưng vẫn có thể thuthập được nguồn tài liệu trực quan, đa dạng và sinh động về tâm lí con người Tuy nhiên phươngpháp quan sát chỉ cho biết những biểu hiện tâm lí ra hành vi bên ngoài, các tài liệu quan sát thườngchỉ được ghi lại dưới hình thức miêu tả Vì thế phải sử dụng phương pháp quan sát trong sự phốihợp với nhiều phương pháp khác trong việc nghiên cứu tâm lí con người

+Thực nghiệm hình thành còn gọi là thực nghiệm tâm lí giáo dục – thực nghiệm sư phạm, trong đó

nhà nghiên cứu chủ động tiến hành các tác động giáo dục nhằm hình thành một số phẩm chất tâm línào đó ở người được thực nghiệm (nghiệm thể)

Các loại thực nghiệm trên đây được sử dụng phối hợp với nhau trong một công trình nghiên cứu.1.2.3.3 Phương pháp trắc nghiệm tâm lí (test)

- Test là một phép đo lường tâm lí đã được chuẩn hoá trên một số lượng người đủ là đại diện tiêu

biểu.

– Test tâm lí có ưu điểm là đo trực tiếp các biểu hiện tâm lí qua việc giải các bài test, tiến hànhnhanh, đảm bảo lượng hoá, chuẩn hoá việc đo đạc Tuy nhiên test tâm lí chỉ cho biết kết quả, ít bộc

lộ quá trình suy nghĩ của nghiệm thể để đi đến kết quả

– Test đòi hỏi phải chuẩn bị công phu, đảm bảo các yêu cầu kĩ thuật của một bộ test Một bộ testthường bao gồm 4 phần cơ bản sau: văn bản test, hướng dẫn quy trình tiến hành, cách đánh giá, bảngchuẩn hoá

– Cần sử dụng test tâm lí như là một trong các phương pháp chẩn đoán tâm lí con người ởmột thờiđiểm nhất định

Trang 5

Tóm lại, các phương pháp nghiên cứu tâm lí người trong Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm

khá phong phú đa dạng Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định Muốnnghiên cứu một chức năng tâm lí nào đó một cách khoa học, khách quan và chính xác, đòi hỏi phải:

- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với vấn đề nghiên cứu.

- Sử dụng phối hợp, đồng bộ các phương pháp nghiên cứu để đem lại kết quả toàn diện, khách quan 1.2.4 Ý nghĩa của tâm lý học lúa tuổi và tâm lý học sư phạm

- Về mặt lí luận: các nghiên cứu của tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm sử dụng các tài liệu

của một số khoa học khác, nhưng đến lượt mình nó lại cung cấp tài liệu có ý nghĩa quan trọng chocác khoa học khác

- Về mặt thực tiễn: có thể khẳng định sự hiểu biết về tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm là

điều kiện cần thiết để tổ chức có hiệu quả và đúng đắn quá trình học tập và giáo dục

C TÀI LIỆU HỌC TẬP

[1] Nguyễn Kế Hào(CB), Nguyễn Quang Uẩn - Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Bộ Giáo

dục và đào tạo,Dự án đào tạo giáo viên THCS LOAN No 1718 - VIE (SF)

[2] Lê Văn Hồng (Chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học

sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội 1997

[3] Vũ Văn Nho, Tâm lý học phát triển NXB ĐHQG Hà Nội 1998

[4] Phan Trọng Ngọ, Các lý thuyết phát triển tâm lý người NXB ĐHSP Hà Nội 2003

[5] Lê Văn Hồng, Tâm lý học sư phạm, NXB Giáo dục Hà Nội 1996

[6] Phan Trọng Ngọ, Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn tâm lý học lúa tuổi và

tâm lý học sư phạm - NXB ĐHSP Hà Nội

[7] Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1997

[8] Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1999

D CÂU HỔI, BÀI TẬP, NỘI DUNG ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Câu hỏi

- Những cơ sở lí luận và thực tiễn cho sự ra đời của Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm ?

- Hãy chỉ ra vai trò, ý nghĩa của Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm trong công tác giáo dục

Trang 6

1 Đặt câu hỏi cho cả lớp

2 Đặt câu hỏi cho từng học sinh

3 Những chỉ dẫn trực tiếp nhằm tổ chức

các hoạt động của học sinh

4 Bổ sung các câu trả lời của học sinh

5 Sửa chữa câu trả lời của học sinh

6 Đánh giá tốt

7 Đánh giá xấu

8 Học sinh nêu câu hỏi cho giáo viên

9 Sự trả lời sáng tạo của học sinh

10 Kích thích của giáo viên nhằm thúc đấy

học sinh hoạt động

11 Nhận xét về trật tự của lớp

12 Pha trò, kể chuyện, lấy ví dụ vui nhằm

mục đích giảm bớt căng thẳng, giải quyết

tình huống xung đột

CHƯƠNG 2

Lý luận về sự phát triển tâm lý trẻ em

Số tiết: 04 ( Lý thuyết: 03 tiết; Bài tập, thảo luận, thực hành: 01 tiết )

A MỤC TIÊU

– Hiểu rõ khái niệm trẻ em Phân tích được các quan điểm khác nhau về sự phát triển tâm lí trẻ em.Trình bày được sự phân chia các giai đoạn phát triển tâm lí trẻ em, các quy luật, điều kiện, động lựcphát triển tâm lí trẻ em

– Trên cơ sở nắm vững quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lí trẻ em phân tích, phêphán những quan điểm sai lầm về vấn đề này Đồng thời vận dụng lí thuyết đã học vào việc nghiêncứu sự phát triển tâm lí học sinh THCS và tổ chức dạy học và giáo dục học sinh THCS một cách cóhiệu quả

- Tăng thêm lòng yêu nghề Chú ý đặc điểm tâm lí tuổi học sinh THCS, lứa tuổi dậy thì, đặt nềnmóng cho sự phát triển tâm lí nhân cách ở các lứa tuổi tiếp theo

B NỘI DUNG

2.1 Khái niệm trẻ em và tâm lý trẻ em :

2.1.1 Thế nào là trẻ em ?

Dựa trên những quan điểm triết học rất khác nhau, người ta đã hiểu về trẻ em rất khác nhau :

- Có quan niệm cho rằng trẻ em là “ người lớn thu nhỏ lại”, sự khác nhau giữa trẻ em và người lớnkhác nhau về mọi mặt (cơ thể, tư tưởng, tình cảm ) chỉ ở tầm cở, kích thước chứ không khác nhau

Trang 7

- Tâm lý học duy vật biện chứng khẳng định: Trẻ em không phải người lớn thu nhỏ lại Sự khácnhau giữa trẻ em và người lớn là sự khác nhau về chất Trẻ em là trẻ em, nó vận động, phát triểntheo quy luật của trẻ em Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã là một con người, mộtthành viên của xã hội, có nhu cầu giao tiếp với người lớn Việc nuôi nấng, dạy dỗ trẻ phải theo kiểungười Mỗi thời đại khác nhau có trẻ em riêng của mình.

2.1.2.Phát triển tâm lý

2.1.2.1.Phát triển là gì ?

- Phát triển là quá trình biến đổi của sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao, từ đơn giản tới phứctạp

- Phát triển là quá trình tích luỹ dần về số lượng dẫn đến sự thay đổi về chất lượng, là quá trình nảysinh cái mới trên cơ sở cái cũ, do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật,hiện tượng

- Nói đến phát triển là nói đến sự thay đổi chuyển hoá về chất, tạo nên một trình độ, một mức độ caohơn về chất so với cái cũ

- Khái niệm “phát triển” có liên quan và có sự phân biệt so với các khái niệm “tăng trưởng”, “chínmuồi”:

+ Tăng trưởng chủ yếu là sự gia tăng về mặt số lượng của sự vật, hiện tượng (ví dụ chiều dài, chiềurộng, cân nặng v.v…)

+ Chín muồi được dùng để chỉ sự tăng trưởng đã đạt tới một độ nhất định

Ví dụ: Trước đây khi nói tới độ chín muồi về mặt sinh học của nam nữ, cha ông ta thường nói “nữ

thập tam,nam thập lục” (tuổi dậy thì ở nữ thường từ 13 trở đi, ở nam thường từ 16 trở đi)

Ngày nay, độ chín muồi sinh dục ở nam nữ có thể sớm hơn do điều kiện sống và sự phát triển vềmặt cơ thể thiếu niên diễn ra sớm hơn

+ Mối quan hệ giữa tăng trưởng, chín muồi và trưởng thành là mối quan hệ biện chứng có tính nhânquả: sự tăng trưởng chín muồi dẫn đến sự biến đổi về chất (phát triển), chất lượng mới lại tạo tiền đềcho sự tăng trưởng và chín muồi ở mức cao hơn

2.1.2.2.Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lí trẻ em

- Bản chất của sự phát triển tâm lý trẻ em không phải chỉ là sự tăng hay giảm về số lượng mà là mộtquá trình biến đổi về chất trong tâm lý, sự thay đổi về lượng của các chức năng tâm lí dẫn đến sựthay đổi về chất và đưa đến sự hình thành cái mới một cách nhảy vọt (có nghĩa là làm xuất hiệnnhững đặc điểm mới về chất) - những cấu tạo tâm lý mới ở những giai đoạn lứa tuổi nhất định

Ví dụ : Trẻ em lên 3 tuổi có nhu cầu tự lập Thiếu niên có cảm giác mình là người lớn

- Như vậy, trong các giai đoạn phát triển khác nhau (sơ sinh, nhà trẻ, mẫu giáo, nhi đồng ) có sự cảibiến về chất của các quá trình tâm lý và toàn bộ nhân cách của trẻ

- Sự phát triển tâm lý trẻ em là một quá trình trẻ em lĩnh hội văn hoá - xã hội của loài người dưới sựhướng dẫn, giúp đỡ của người lớn thông qua hoạt động của bản thân làm cho tâm lý của trẻ đượchình thành và phát triển Có thể nói, sự phát triển tâm lý là một quá trình kế thừa Bất cứ một mức

độ nào của trình độ trước cũng là sự chuẩn bị cho trình độ sau Yếu tố tâm lý lúc đầu ở vị trí thứ yếu,chuẩn bị cho tâm lý sau chuyển sang vị trí chủ yếu

Trẻ em không tự lớn lên giữa môi trường, nó chỉ lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội khi có vaitrò trung gian của người lớn Người lớn chỉ bảo cho trẻ rất nhiều điều, từ tên các đồ vật đến cáchhành động với các đồ vật…

Trang 8

- Sự phát triển thể hiện ở hai hình thái:

+ Sự phát triển về sinh lí :

Thể hiện ở sự phát triển về cơ thể, ở sức chịu đựng, chống đỡ với những ảnh hưởng bên ngoài của

cơ thể, ở sự hình thành và phát triển hệ thống cơ, xương, thần kinh và sự hoàn thiện các chức năngcủa hệ thống đó

+ Sự phát triển về tâm lý - xã hội:

Thể hiện ở sự hình thành nên con người với tư cách là một thành viên của xã hội, tích cực tham giacải tạo xã hội, thể hiện:

Ở sự nhận thức thế giới: nhận thức của trẻ ngày càng phát triển cao hơn, sâu sắc hơn, từ nhận thứccảm tính phát triển lên nhận thức lý tính

Ở thái độ đối với thế giới xung quanh, ở ý chí, nhu cầu, nếp sống, thói quen

Ở sự tích cực, tự giác tham gia vào các mặt khác nhau trong đời sống xã hội

Ở hoạt động cải tạo thế giới và cải tạo bản thân

Tóm lại :

- Sự phát triển của trẻ đầy biến động và diễn ra cực kỳ nhanh chóng, là một quá trình liên tục ngay

từ khi mới sinh ra, nó phát triển cùng với sự phát triển sinh lý Quá trình này không phẳng lặng mà

có khủng hoảng và đột biến Chính hoạt động của trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn làm cho tâm

lí của trẻ được hình thành và phát triển Đồng thời, các nhà tâm lí duy vật biện chứng cũng thừanhận rằng, sự phát triển tâm lí chỉ có thể xảy ra trên nền của một cơ sở vật chất nhất định (cơ thể trẻem) Những đặc điểm cơ thể là điều kiện cần thiết, là tiền đề của sự phát triển tâm lí trẻ em Sự pháttriển tâm lí mỗi người dựa trên những điều kiện riêng của cơ thể, nhưng những điều kiện này khôngquyết định trước sự phát triển tâm lí, không phải là động lực của sự phát triển tâm lí Sự phát triểntâm lí còn phụ thuộc vào một tổ hợp những yếu tố khác nữa Trẻ phải sống và hoạt động trong điềukiện xã hội tương ứng thì tâm lí của nó mới được phát triển

- Sự phát triển tâm lí của trẻ em không mang tính ngẫu nhiên mà nó diễn ra có quy luật Trong quátrình phát triển tâm lí của từng đứa trẻ có những điểm khác biệt, song bao giờ cũng có những nétchung, những cái thống nhất cho mọi trẻ em:

- Tất cả trẻ em đều trải qua những giai đoạn phát triển nhất định

- Trong một số trường hợp đặc biệt, trẻ em có thể phát triển sớm, phát triển muộn hoặc phát triểnkhông bình thường, đó là những trường hợp có những sai lệch trong sự phát triển tâm lí

- Trẻ em ngày nay phát triển nhanh hơn với trẻ em ngày trước-> Hiện tượng tăng nhanh tốc độ phát

triển của trẻ em gọi là“Hiện tượng gia tốc phát triển”

- Trẻ em thu nhận vốn hiểu biết đa dạng nhiều hơn hẳn trước đây, do tiến bộ của các phương tiệnthông tin đại chúng, phương tiện kĩ thuật hiện đại,người lớn cũng chú ý nhiều hơn đến việc dạy dỗ

và tạo điều kiện cho trẻ em tiếp xúc thực với cuộc sống mới

2.2 Một số quan niệm sai lầm về sự phát triển tâm lý trẻ em

Quan điểm duy tâm coi sự phát triển tâm lý trẻ em chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về sốlượng của các hiện tượng đang được phát triển, mà không có sự chuyển biến về chất lượng Quanđiểm này xem sự phát triển của mỗi hiện tượng như là một quá trình diễn ra một cách tự phát màngười ta không thể điều khiển được, không thể nghiên cứu được,không nhận thức được

- Quan điểm sai lầm này được biểu hiện ở các thuyết sau:

Trang 9

2.2.1 Thuyết tiền định

+ Thuyết này coi sự phát triển tâm lí là do các tiềm năng sinh vật gây ra, con người có tiềm năngnày từ khi mới sinh ra và sự phát triển chỉ là sự trưởng thành, chín muồi của những thuộc tính đã cósẳng ngay từ đầu và được quyết định trước bằng con đường duy truyền

+ Các nhà tâm lí học tư sản cho rằng : những thuộc tính của nhân cách, năng lực cũng đã được mãhoá, chương trình hoá trong các trang bị gien

Ví dụ: Nhà di truyền học người Anh S.Auerbac cho rằng mỗi người bắt đầu sống “khi trong tay có

các trang bị gen cũng giống như đấu thủ chơi một ván bài khi trong tay có các quân bài ”

+ Tuy nhiên, có những người theo thuyết này có đề cập đến yếu tố môi trường Nhưng theo họ,mmôi trường chỉ là “yếu tố điều chỉnh“, “yếu tố thể hiện“ một nhân tố bất niến nào đó ở trẻ

Ví dụ:Nhà tâm lý học Mỹ E Tóocđai cho rằng : “Tự nhiên ban cho mỗi người một vốn nhất nhất

định, giáo dục cần phải làm bộc lộ vốn đó là vốn gì và phải sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất“

và “vốn tự nhiên“ đó đặt ra giới hạn cho sự phát triển, cho nên một bộ phận học sinh tỏ ra không đạt được kết quả nào đó “dù giảng dạy tốt“,số khác lại tỏ ra lại có thành tích “dù giảng dạy tồi” )

+ Từ quan điểm này làm cho con người mất lòng tin vào giáo dục, vào sự tu dưỡng và cải tạo bảnthân, họ cho rằng vai trò của giáo dục là thứ yếu, trẻ tốt hay xấu.học giỏi hay kém không phải dogiáo dục mà do gien tốt hay xấu Từ đó, họ đi đến kết luận : Trẻ em khó bảo, năng lực trí tuệ kémphát triển là do bẩm sinh chứ không phải do giáo dục,do môi trường

- Như vậy, vai trò của giáo dục đã bị hạ thấp Giáo dục chỉ là yếu tố bên ngoài có khả năng làm tăngnhanh hay kìm hãm quá trình bộc lộ những phẩm chất tự nhiên, bị chế ước bởi tính di truyền Và họ

đã rút ra kết luận sai sư phạm lầm: mọi sự can thiệp vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ đều là

sự tùy tiện, không thể tha thứ

- Quan điểm này cho rằng : môi trường xã hội là cái bất biến, quyết định trước sự phát triển tâm lý

cá nhân, còn con người được xem như là đối tượng thụ động trước ảnh hưởng của môi trường

- Mọi người sinh ra đều có sẳn những đặc điểm bẩm sinh như nhau để phát triển trí tuệ và đạo đức

Sự khác nhau giữa các cá nhân về điểm này hay khác là do ảnh hưởng của môi trường, ảnh hưởngcủa những tác động khác nhau

Với quan niệm như vậy, chúng ta không thể giải thích được vì sao trong một môi trường sống nhưnhau lại có những nhân cách khác nhau

2.2.3.Thuyết hội tụ hai yếu tố :

Những người theo quan điểm này cho rằng:

- Sự tác động qua lại giữa hai yếu tố di truyền và môi trường quyết định trực tiếp quá trình pháttriển, trong đó di truyền giữ vai trò quyết định và môi trường là điều kiện để biêns những đặc điểmtâm lý đã được định sẳn thành hiện thực

Trang 10

– Theo họ, sự phát triển là sự chín muồi của những năng lực , những nét tính cách, nhữnghứng thú…mà trẻ sinh ra đã có Những nét và những đặc điểm tính cách do cha mẹ truyềnlại cho trẻ dưới dạng có sẵn, bất biến…

– Một số người theo thuyết này có đề cập đễn vai trò của môi trường đối với tốc độ chín muồicủa năng lực và nét tính cách được truyền lại cho trẻ em Nhưng theo họ, môi trường khôngphải là toàn bộ những điều kiện và hoàn cảnh mà trẻ em sống mà chỉ là gia đình của trẻ…Tóm lại : Mặc dù quan niệm của những người đại diện cho các thuyết trên bề ngoài có vẻ khác nhau,nhưng thực chất đều có những sai lầm giống nhau:

+ Họ đều thừa nhận đặc điểm tâm lý của con người là bất biến hoặc tiền định hoặc do tiềm năngsinh vật di truyền hoặc ảnh hưởng của môi trường bất biến Những quan điểm này nhầm phục vụcho giai cấp bốc lột (Có nghĩa là sự bất bình đẳng trong xã hội là tất nhiên, là hợp lý)

+ Họ đánh giá không đúng vai trò của giáo dục, từ đó thiếu biện pháp giáo dục, bi quan trước sảnphẩm xấu của giáo dục Họ xem xét sự phát triển của trẻ một cách tách rời và không phụ thuộc vànhững điều kiện cụ thể mà trong đó quá trình phát triển của trẻ diễn ra

+ Họ đều cho rằng trẻ em là đối tượng thụ động, cam chịu ảnh hưởng có tính chất quyết định củayếu tố sinh vật hoặc môi trường…Họ phủ nhận tính tích cực riêng của cá nhân, coi thường nhữngmâu thuẫn biện chứng được hình thành trong quá trình phát triển tâm lí của cá nhân, mà không thấyđược con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể có ý thức sáng tạo nên hoàn cảnh

2.3.Điều kiện, động lực và qui luật phát triển tâm lý

2.3.1 Điều kiện phát triển tâm lý

2.3.1.1.Điều kiện thể chất

- Đó là đặc điểm cơ thể, đặc điểm của các giác quan của hệ thần kinh – được coi là tiền đề vật chất,

điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho việc hình thành một loại hoạt động nào đó

- Các đặc điểm thể chất của con người không phải là nhân tố quyết định, không phải là động lực của

sự phát triển tâm lí

2.3.1.2 Các điều kiện sống

- Các điều kiện sống có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí của con người, nhưng chúng không quyết

định trực tiếp đến sự phát triển tâm lí -> tác động thông qua mối quan hệ qua lại giữa con người vớihoàn cảnh ( ảnh hưởng bên ngoài tác động gián tiếp đến sự phát triển tâm lí cá nhân)

- Trong các nhân tố của cuộc sống, trước hết phải nói tới vai trò của vốn kinh nghiệm xã hội, nền

văn hoá xã hội, các mối quan hệ xã hội Các Mác đã chỉ rõ: "… Bản chất của con người là sự tổnghoà các mối quan hệ xã hội" Đặc điểm tâm lí của cá nhân được quyết định bởi đặc điểm của cácmối quan hệ xã hội mà cá nhân con người gia nhập vào đó với tư cách là thành viên của xã hội

- Quá trình phát triển tâm lí là quá trình con người lĩnh hội nền văn hoá xã hội, vốn kinh nghiệm xã

hội, quá trình con người tiếp nhận nền văn hoá theo con đường tự phát và tự giác, con đường tự giácđược thể qua giáo dục

- Giáo dục là nhân tố chủ đạo, quyết định sự phát triển tâm lý con người

2.3.1.3Tính tích cực của con người

Tính tích cực của con người là nhân tố quyết định trực tiếp sự phát triển tâm lí Quá trình tác độngqua lại giữa con người và môi trường thông qua hoạt động của con người trong môi trường đó Hoạt

Trang 11

động của con người có tính mục đích, tính xã hội được xem là điều kiện quyết định sự phát triển tâmlí.

2.3.2 Động lực của sự phát triển tâm lí

- Sự phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, giữa các mâu thuẫn bên trong động lực của sự

phát triển là sự nảy sinh các mâu thuẫn và việc giải quyết các mâu thuẫn đó

- Trong sự phát triển tâm lí của trẻ em thì đó là:

+ Các mâu thuẫn biện chứng giữa cái mới và cái cũ – những cái đang được nảy sinh, đang đượckhắc phục trong quá trình dạy học và giáo dục;

+ Mâu thuẫn giữa nhu cầu mới nảy sinh do hoạt động và khả năng thoả mãn chúng;

+ Mâu thuẫn giữa khả năng của trẻ đang được phát triển với những hình thức cũ của các mối quan

hệ đã được hình thành và các hình thức hoạt động cũ;

+ Giữa những yêu cầu ngày càng tăng của xã hội, của tập thể, của người lớn với trình độ phát triểntâm lí hiện tại của trẻ v.v…

- Việc nảy sinh các mâu thuẫn và việc trẻ em tích cực giải quyết các mâu thuẫn đó dưới sự hướng

dẫn của người lớn làm cho tâm lí của trẻ được hình thành và phát triển Tất nhiên, sự phát triển tâm

lí của trẻ không phẳng lặng mà đầy biến động, trong đó có những cuộc "khủng hoảng" và "đột biến"

tạo ra sự nhảy vọt về chất trong sự phát triển tâm lí của trẻ (Ví Dụ : Khủng hoảng ở lứa tuổi lên ba, ở

lứa tuổi thiếu niên 14 – 15 tuổi v.v…)

2.3.3 Quy luật chung của sự phát triển tâm lý trẻ em

2.3.3.1.Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý:

- Tính không đồng đều:

- Sự phát triển tâm lý trẻ em diễn ra một cách không đồng đều và đầy biến động, có nghĩa là trongđiều kiện bất kỳ, thậm chí ngay cả trong điều kiện thuận lợi nhất của việc giáo dục thì những biểuhiện tâm lý, những chức năng tâm lý khác nhau cũng thể phát triển ở mức độ như nhau-> Cónhững giai đoạn các em phát triển bình thường, nhưng cũng có những giai đoạn đột biến, phát triểnmột cách tối ưu của một biểu hiện nào đó

Ví Dụ: Giai đoạn thuận lợi nhất cho sự phát triển ngôn ngữ là thời kỳ 1->5 tuổi; Cho sự hình thành

kỹ xảo, vận động là từ 6->11 tuổi; Cho sự hình thành tư duy toán là giai đoạn từ 15->20 tuổi

- Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý còn thể hiện ở chỗ có sự khác biệt về sự phát triểntâm lý giữa các cá nhân trong cùng một độ tuổi

- Sự phát triển cơ thể của đứa trẻ cũng thể hiện tính không đồng đều

Ví Dụ: Chiều cao và trọng lượng cơ thể của trẻ tăng nhanh trong 2 năm đầu và trong thời kỳ phát

dục (dậy thì)

2.3.3.1Tính toàn vẹn của tâm lý

- Cùng với sự phát triển, tâm lý con người ngày càng có tính trọn vẹn, thống nhất và bền vững Sựphát triển tâm lý là sự chuyển biến dần các trạng thái tâm lý thành các đặc điểm tâm lý cá nhân

Ví dụ: Tâm trạng vui vẻ, thoải mái trong lao động được lập lại thường xuyên sẽ chuyển thành yêulao động

- Tính trọn vẹn của tâm lý phụ thuộc khá nhiều vào động cơ chỉ đạo hành vi của trẻ Cùng với sựgiáo dục, cùng với sự mở rộng vốn kinh nghiệm sống, những động cơ hành vi của trẻ ngày càng trởnên tự giác, có ý nghĩa xã hội và ngày càng bộc lộ rõ nét trong nhân cách của trẻ

Trang 12

triển mạnh hơn để bù đắp Ví dụ: Khuyết tật thị giác được bù đắp bằng sự phát triển mạnh mẽ hoạt

động của thính giác, hoặc khứu giác; Trí nhớ kém được bù đắp bằng tính tổ chức cao,chính xác Trên đây là một số luật cơ bản của sự phát triển tâm lí trẻ em Sự phát triển tâm lí của trẻ khôngtuân theo quy luật sinh học mà theo quy luật xã hội Nắm được các qui luật nói trên, người lớn vànhà giáo dục tạo điều kiện tốt cho sự phát triển tâm lý của trẻ

2.4 Phát triển và dạy học

- Quan điểm cho rằng dạy học có tác dụng phát triển học sinh đã được thể hiện ở nhiều nhà giáo dụckiệt xuất như J.J Rútxô, I.G.Pextalôzi, chẳng hạn K.Đ.Usinxki cho rằng có hai tác động đến sự pháttriển trí tuệ của học sinh:

+ Một là : Qua quá trình thu nhận tri thức mà trí tuệ được rèn luyện

+ Hai là : Hướng nhiều hơn vào chính bản thân sự phát triển, học sinh phải lĩnh hội một tài liệu họctập nhất định Con đường này dẫn đến hình thành tư duy logich

- Trong quan điểm về mối quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ có nhiều quan điểm khácnhau nhưng tựu trung lại có ba loại quan điểm cơ bản sau đây:

+ Phát triển trí tuệ là một quá trình độc lập, có quy luật riêng, không phụ thuộc dạy hoc ( J Piaget,Jemx…)

+ Sự phát triển trí tuệ là kết quả tác động của nhiều yếu tố Dạy học có vai trò điều chỉnh mối quan

hệ giữa các chức năng tâm lí ( B.G.Ananhiev )

+ Dạy học là hình thức tất yếu bên trong và chung nhấ, quyết định sự phát triển trí tuệ Sự phát triểntrí tuệ là quá trình cơ bản có bản chất xã hội và lịch sử ( L.X.Vưgotxki, A.N.Lêônchiev…)

- Quan điểm của Vugotxki

+ Sự phát triển tâm lí con người mang bản chất xã hội Sự phát triển đó không chỉ quy vào việc nắmtri thức, kĩ năng và sự phát triển diễn ra trong quá trình dạy học mà còn đem lại những đặc điểm mới

và cấu tạo lại các chức năng tâm lí

- Đặc điểm nổi bật của tuổi đi học là xuất hiện và phát triển tính ý thức, tính có chủ định của các quátrình tâm lí đang xuất hiện và phát triển

+ Dạy học và giáo dục đi trước sự phát triển, phát triển vừa là kết quả, vừa là chức năng của dạy học

và giáo dục Dạy học phải hướng vào vùng phát triển trí tuệ gần nhất, hướng vào sự hình thànhnhững cấu tạo tâm lí mới sẽ có ở người học tuy nhiên, tác giả không chỉ rõ giữa dạy học và pháttriển có mối quan hệ chặt chẽ, mặt khác cũng không hề bỏ qua quy luật nội tại của bản thân sự pháttriển tâm lí của trẻ Các quá trình nội tại của sự phát triển do dạy học sản sinh ra là loogich củachúng

- Sau Vugotxki nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu mối tương quan giữa dạy học và sự phát triển trítuệ Đặc biệt là công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học như : G.X.Cooxxchuc, L.V.Zancôv…Các nhà khoa học đã chỉ rõ vai trò của giáo dục và dạy học đối với sự hình thành phát triển tâm lí trẻ

em Tuy nhiên cũng cần chú ý đặc biệt tới vai trò chủ động tích cực của bản thân đứa trẻ Ở một

Trang 13

mức độ nhất định, con người có khả năng tự giáo dục dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn nhất định của nhàgiáo dục và những người xung quanh Để giứu được vai trò chủ đạo, giao dục và dạy học phải kíchthích, dẫn dắt sự phát triển chứ không chờ sự phát triển Giáo dục phải đi trước một bước, đón trước

sự phát triển, tạo điều kiện cho trẻ tích cực, chủ động giải quyết mọi mâu thuẫn, thúc đẩy sự pháttriển của trẻ tới mức cao hơn

2.5 Sự phân chia giai đoạn phát triển tâm lí

2.5.1 Quan niệm về sự phân chia các giai đoạn phát triển tâm lí

Xung quanh việc phân chia giai đoạn tuổi có nhiều quan điểm khác nhau

- Quan điểm sinh vật hóa coi sự phát triển tâm lí tuân theo quy luật tự nhiên của sinh vật, mang tínhbất biến và được chia ra một cách tuyệt đối về các giai đoạn lứa tuổi

- Chủ nghĩa hành vi không thứa nhận khái niệm lứa tuổi Họ coi sự phát triển tâm lí chỉ là tinhs kĩxảo của hành vi, vì thế không có sự phân chia phát triển tâm lí theo giai đoạn lứa tuổi

- Tâm lí học Mác xitscos quan điểm đúng đắn về giai đoạn lứa tuổi

+ L.X.Vưgotxki coi lứa tuổi như thời kì, mức độ phát triển nhất định có ý nghĩa đối với sự phát triểnchung của con người Theo tác giả đặc điểm tâm lí ở mỗi một giai đoạn lứa tuổi được quyết đinh bởimột tổ hợp nhiều yếu tố: Đặc điểm hoàn cảnh sống, đặc điểm cơ thể, đặc điểm các yêu cầu đề ra chođứa trẻ ở giai đoạn đó, do mối quan hệ của đứa trẻ với thế giới xung quanh, trình độ tâm lí đứa trẻ đãđạt được ở giai đoạn trước…

+ Các nhà tâm lí học Mác xít cũng chỉ rõ : Mối liên hệ giữa trình độ phát triển của quan hệ với thếgiới xung quanh, trình độ phát triển của các tri thức, các phương thức, các năng lực quyết định thời

2.5.2 Các giai đoạn phát triển tâm lí

2.5.2.1 Theo sự phat strieenr tư duy của trẻ từ lúc sinh ra đến lúc tuổi thiếu niên

J.Piaget đã chia sự phát triển của trẻ thành 4 giai đoạn

- Giai đoạn cảm giác vận động ( Giác động) : Từ lúc sinh ra đến 2 tuổi

- Giai đoạn tư duy tiền thao tác : 2 đén 7 tuổi

- Giai đoạn thao tác cụ thể : Từ 7,8 tuổi đến 11,12 tuổi

- Giai đoạn thao tác hình thức : 11,12 tuổi đến 14,15 tuổi

2.5.2.2 Căn cứ vào những thay đổi trong cấu trúc tâm lí của con người, sự trưởng thành về cơ thể,những thay đổi cơ bản trong điều kiện sống và hoạt động của con người

a Giai đoạn sơ sinh và hài nhi ( 0-1 tuổi)

Trang 14

Tuổi sơ sinh : thời kì 2 tháng đầu

Tuổi hài nhi : từ 2 - 12 tháng

b Giai đoạn trước tuổi học ( 1 đến 6 tuổi ) gồm

Tuổi nhà trẻ : từ 1 - 3 năm

Tuổi mẫu giáo : từ 3 - 6 năm

c Giai đoạn tuổi đi học gồm:

Thời kì học sinh tiểu học : từ 6 tuổi - 11 tuổi

Thời kì học sinh trung học cở sở : từ 11 tuổi - 15 tuổi

Thời kì học sinh trung học phổ thông : từ 15 tuổi - 18 tuổi

d Giai đoạn tuổi trưởng thành ( 24,25 đến 45,50 tuổi)

e Giai đoạn người có tuổi ( từ 50,55 tuổi trở đi )

C.TÀI LIỆU HỌC TẬP

[1] Nguyễn Kế Hào(CB), Nguyễn Quang Uẩn - Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Bộ Giáo

dục và đào tạo,Dự án đào tạo giáo viên THCS LOAN No 1718 - VIE (SF)

Sách tài liệu tham khảo:

[2] Lê Văn Hồng (Chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học

sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội 1997

[3] Vũ Văn Nho, Tâm lý học phát triển NXB ĐHQG Hà Nội 1998

[4] Phan Trọng Ngọ, Các lý thuyết phát triển tâm lý người NXB ĐHSP Hà Nội 2003

[5] Lê Văn Hồng, Tâm lý học sư phạm, NXB Giáo dục Hà Nội 1996

[6] Phan Trọng Ngọ, Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn tâm lý học lúa tuổi và

tâm lý học sư phạm - NXB ĐHSP Hà Nội

[7] Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1997

[8] Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1999

D CÂU HỎI, BÀI TẬP, NỘI DUNG ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Câu hỏi

- Phân tích các quy luật cơ bản về sự phát triển tâm lí trẻ em:

- Trình bày mối quan hệ giữa dạy học và sự phát triển?

2 Bài tập

- Bài tập 1:

Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lí trẻ em:

a Phủ nhận hoàn toàn vai trò của yếu tố di truyền

b Coi các đặc điểm cơ thể do di truyền mang lại là tiền đề, khả năng của sự phát triển tâm lí

c Những đặc điểm có thể do di truyền mang lại quy định trước giới hạn của sự phát triển tâm lí

d Cả a, b, c đều sai

- Bài tập 2:

Thuyết hoàn cảnh coi sự phát triển tâm lí của con người là do:

a các tiềm năng sinh vật gây ra

b những tác động của môi trường xung quanh quy định

c sự tác động qua lại giữa môi trường và tính di truyền quy định

d hoạt động tích cực của con người lĩnh hội nền văn hoá xã hội quy định

Trang 15

- Bài tập 3:

Tính kế thừa trong quá trình phát triển tâm lí được thể hiện ở:

a sự kế thừa nền văn hoá xã hội

b sự kế thừa những cấu trúc tâm lí từ thế hệ trước thông qua di truyền

c tính kế tục giữa các giai đoạn phát triển

d cả a và c

CHƯƠNG 3 Đặc điểm tâm lý học sinh trung học cơ sở

Số tiết: 06 ( Lý thuyết: 0 5tiết; Bài tập, thảo luận, thực hành: 01 tiết )

A.MỤC TIÊU

– Hiểu rõ khái niệm tuổi thiếu niên Nắm được những đặc điểm về giải phẫu sinh lý; đặc điểm hoạtđộng học; đặc điểm giao tiếp; đặc điểm nhận thức; đặc điểm nhân cáchđặc điểm tâm lý của học sinhTHCS

– Vận dụng các hiểu biết về đặc điểm tâm lý của học sinh THCS vào việc tổ chức dạy học và giáodục học sinh THCS

-Tăng thêm lòng yêu nghề Chú ý đặc điểm tâm lí tuổi học sinh THCS, lứa tuổi dậy thì, đặt nềnmóng cho sự phát triển tâm lí nhân cách ở các lứa tuổi tiếp theo

B NỘI DUNG

3.1 Khái niệm tuổi thiếu niên:

- Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của đời người, giai đoạn giữa tuổi nhi đồng ( học sinh tiểuhọc ) và tuổi thanh niên ( học sinh trung học phổ thông ) Trẻ tuổi thiếu niên có độ tuổi từ 11 - 15tuổi học từ lớp 6 - 9 Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triểncủa trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằngnhững tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị “

- Khái niệm tuổi thiếu niên hay tuổi học sinh THCS không thể diễn tả bằng định nghĩa ngắn ngọn,

mà nên xem xét tiếp cận nó qua các nội dung được trình bày dưới đây

3.2 Những đặc điểm của học sinh trung học cơ sở

3.2.1 Đặc điểm về mặt giải phẫu sinh lí

- Sự phát triển cơ thể của thiếu niên diễn ra mạnh mẽ nhưng không cân đối:

+ Chiều cao của các em tăng lên một cách đột ngột, hằng năm có thể tăng từ 5 - 6 cm; 12 -13 tuổi nữphát triển chiều cao mạnh hơn các em nam Nhưng tuổi 15 – 16 các em nam lại cao đột biến 18,20

sự phát triển chiều cao của nữ dừng lại, còn nam thì tới 24,25 tuổi

+Trọng lượng cơ thể của các em hằng năm tăng nhanh, mỗi năm tăng từ 2,4 - 6 kg

+Ở giai đoạn dưới 14 tuổi vẫn còn có các đốt sụn hoàn toàn giữa các đốt xương sống, nên cột sống

dễ bị cong vẹo khi đứng ngồi không đúng tư thế

Trang 16

+ Sự tăng khối lượng các bắp thịt và lực của cơ bắp diễn ra mạnh nhất vào cuối thời kì dậy thì khiếncác em khỏe ra rõ rệt Tuy nhiên, sự phát triển cơ của các em trai khác biệt nhất định báo hiệu sựhình thành ở các em những nét khác biệt về cơ thể : con trai cao lên, vai rộng ra, con gái tròn trặndần, xương chậu rộng ra…

+Sự phát triển của hệ xương, đặc biệt là các xương chân và xương tay rất nhanh còn xương ngóntay, ngón chân phát triển chậm Vì thế lứa tuổi này thường cao gầy, ít béo, thiếu cân đối, các emthường biểu hiện sự vụng về, lóng ngóng, không khéo léo, thiếu thận trong

+ Sự phát triển của hệ tim - mạch cũng không cân đối : thể tích tim tăng nhanh, hoạt động mạnh hơnnhưng đường kính mạch máu phát triển chậm hơn Điều này gây nên rối loạn tạm thời của hệ tuầnhoàn máu

+ Sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng nhất (tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyếnthượng thận) tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ, trong đó sự nhảy vọt về chiều cao và sự phát dục

- Hoạt động thần kinh cấp cao của tuổi thiếu niên cũng có những nét riêng biệt:

+ Hệ thần kinh của học sinh THCS chưa đạt độ vững vàng nên chưa có khả năng chịu đựng nhữngkích thích mạnh, đơn điệu, kéo dài Những kích thích kiểu này thường gây cho trẻ em tình trạng bị

ức chế, hoặc có thể bị kích động mạnh

+ Ở tuổi thiếu niên, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt, dẫn đến thiếu niên không làm chủ đượccảm xúc của mình, không kiềm chế được xúc động mạnh Các em dễ bị kích động, dễ bực tức, cáugắt, mất bình tĩnh…

- Hiện tượng dậy thì:

+ Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển cơ thể của thể thiếuniên Tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động và cơ thể các em xuất hiện những dấu hiệu phụ khiến chúng

ta nhận ra các em đang ở độ tuổi dậy thì

+ Biểu hiện bên ngoài chủ yếu của sự chín muồi của các cơ quan sinh dục ở các em trai là sự xuấttinh, ở các em gái là hiện tượng thấy kinh Tuổi dậy thì của các em nữ thường vào khoảng 12 - 14tuổi, các em nam bắt đầu và kết thúc chậm hơn các em gái khoảng 1,5 - 2 năm Hiện nay, do điềukiện sống có nhiều thay đổi nên trẻ em có sự phát triển nhan về mặt thể chất và sự phát dục Đến 15-

16 tuổi , giai đoạn phát dục kết thúc thì các em có khả năng sinh sản được, tuy nhiên các em chưa

có sự trưởng thành về mặt cơ thể, đặc biệt là sự trưởng thành về mặt xã hội nên các em chưa thể trởthành người cha người mẹ theo đúng nghĩa

Sự phát dục cùng với những chuyển biến trong sự phát triển cơ thể của thiếu niên có một ý nghĩakhông nhỏ trong sự nảy sinh những cấu tạo tâm lý mới : Cảm giác về tính người lớn thực sự củamình ; cảm giác về tình cảm giới tính mới lạ, quan tâm tới người khác giới

3.2.2 Đăc điểm của hoạt động học

- Hoạt động học của học sinh THCS được hiểu là hoạt động tự giác nhằm lĩnh hội kiến thức, hình

thành kĩ năng và thái độ tương ứng, tạo lập những phẩm chất nhân cách đang hình thành, đang pháttriển

- Học tập ở học sinh THCS vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng vào tuổi thiếu niên, việc học tập của các

em có những thay đổi cơ bản so với học sinh tiểu học

+ Hoạt động học của học sinh THCS phong phú hơn, hoàn thiện hơn so với học sinh tiểu học

Trang 17

+ Hoạt động học diễn ra theo phương thức Học – Hành Học và hành gắn với nhau, học phải hành,qua hành sẽ học được điều cần học.

+ THCS là bậc học có tính lí luận gắn với thực hành theo từng môn học có tính chuyên sâu Nhờ vậy

mà qua hoạt động học, từng bước học sinh có được khái niệm khoa học và bước đầu hiểu được vềtính quy luật của các hiện tượng, các sự vật, bước đầu hình thành được các chuẩn mực về tự nhien,

xã hội và con người

+ Mục tiêu giáo dục THCS là mục tiêu kép, nghĩa là học hết THCS học sinh có thể tiếp tục pháttriển theo các con đường khác nhau Có thể học tiếp lên bậc học THPT hoặc đi vào học nghề, một

bộ phận nhỏ đi vào lao động trong xã hội

3.3 Đặc điểm giao tiếp, quan hệ liên nhân cách, quan hệ bầu bạn của học sinh THCS

- Hoạt đọng giao tiếp và hoạt động học tập là hai hoạt dộng chủ đạo của học sinh THCS

- giao tiếp của học sinh THCS nói riêng và giao tiếp của con người nói chung là sự tiếp xúc tâm lígiữa người với người nhằm xác lập và vận hành các mối quan hệ giưa người với người, hiện thựchóa các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể Mối quan hệ giao tiếp này xảy ra với các hình thứckhác nhau: Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, giao tiếp giwuax cá nhân với nhóm, giao tiếp giữanhóm với nhóm…Bằng hoạt động giao tiếp của mình học sinh THCS lĩnh hội được chuẩn mực đạođức, lối sống, nhờ vậy mà tình cảm của học sinh THCS ngày càng phong phú và tinh tế hơn

- Trong lứa tuổi này, hoạt động gioa tiếp với bạn bề cùng lứa có ý nghĩa quan trọng trong sự pháttriển tâm lí của các em, đó là sự hình thành tình bạn Tình bạn của học sinh THCS có đặc trưng sauđây:

+ Trung thực, hồn nhiên , trong sáng

+ Hình thành trên cơ sở cùng chia sẻ và chấp nhận lẫn nhau

+ Từ quan hệ rộng rãi thiếu bền vững, càng lên lớp trên học sinh THCS càng có ý thức về tình bạn,

có sự lựa chọn bạn bè theo nhận thức và tình cảm riêng của mình Đó cũng chính là cơ sở của tìnhbạn lâu dài, bền vững ở các em

+ Quan hệ giữa nam và nữ đã thể hiện màu sắc giới tính

3.5 Đặc điểm nhân cách:

3.5.1 Sự hình thành tự ý thức của học sinh trung học cơ sở:

- Một trong những đặc điểm quan trọng của sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi thiếu niên là sự hìnhthành tự ý thức Do sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, đặc biệt do sự phát triển của các mối quan hệ

xã hội và sự giao tiếp trong tập thể mà ở các em đã biểu hiện nhu cầu tự đánh giá nhu cầu so sánhmình với người khác Các em đã bắt đầu xem xét mình, vạch cho mình một nhân cách tương lai,muốn hiểu biết mặt mạnh, mặt yếu trong nhân cách của mình

Trang 18

- Mức độ tự ý thức của các em cũng có sự khác nhau:

+ Về nội dung, không phải tất cả những phẩm chất của nhân cách đều ý thức được hết Ban đầu các

em chỉ nhận thức hành vi của mình, sau đó là nhận thức những phẩm chất đạo đức, tính cách vànằng lực của mình trong những phạm vi khác nhau, cuối cùng các em mới nhận thức những phẩmchất phức tạp thể hiện nhiều mặt của nhân cách (tình cảm trách nhiệm, lòng tự trọng…)

+ Về cách thức, ban đầu các em còn dựa vào đánh giá của những người gần gũi và có uy tín vớimình Dần dần các em hình thành khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giá bản thân Nhưng khảnăng tự đánh giá của thiếu niên còn hạn chế, chưa đủ khách quan…Do đó, nảy sinh những xung đột,mâu thuẫn giữa mức độ kì vọng của các em với địa vị thực tế của chúng trong tập thể; mâu thuẫngiữa thái độ của các em đối với bản thân, đối với những phẩm chất nhân cách của mình và thái độcủa các em đối với người lớn, đối với bạn bè cùng lứa tuổi

- Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi này cuộc sống tập thể của các em, nơi mànhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, mối quan hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự tựđánh giá của mình, là những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em… cũngđồng thời giúp cho sự phát triển về mặc tự ý thức của các em

-Việc nhận thức về mình còn thông qua việc đối chiếu so sánh mình với người khác Nhưng khiđánh giá người khác, các em còn chủ quan, nông cạn, nhiều khi chỉ dựa vào một vài hình tuợngkhông rõ ràng các em đã vội kết luận hoặc chỉ chú ý vào một vài phẩm chất nào đó mà quy kết toàn

bộ Vì thế, người lớn rất dễ mà cũng rất khó gây uy tín với thiếu niên Và khi đã có kết luận đánh giá

về một người nào đó, các em thường có ấn tượng dai dẳng, sâu sắc

- Sự phát triển tự ý thức của thiếu niên có ý nghĩa lớn lao ở chỗ, nó thúc đẩy các em bước vào mộtgiai đoạn mới Kể từ tuổi thiếu niên trở đi, khả năng tự giáo dục của các em được phát triển, các emkhông chỉ là khách thể của quá trình giáo dục mà còn đồng thời là chủ thể của quá trình này

-Ở nhiều em, tự giáo dục còn chưa có hệ thống, chưa có kế hoạch, các em còn lúng túng trong việclựa chọn biện pháp tự giáo dục Vì vậy, nhà giáo dục cần tổ chức cuộc sống và hoạt động tập thểphong phú, hấp dẫn, lôi cuốn các em vào hoạt động chung của tập thể, tổ chức tốt mối quan hệ giữangười lớn và các em…

3.5.2 Sự hình thành tình cảm của học sinh trung học cơ sở:

Tình cảm của học sinh trung học cơ sở sâu sắc và phức tạp hơn các em học sinh tiểu học:

- Đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng, tình cảm còn mangtính chất bồng bột, hăng say…Điều này do ảnh hưởng của sự phát dục và thay đổi một số cơ quannội tạng gây nên Nhiều khi còn do hoạt động thần kinh không cân bằng, hưng phấn mạnh hơn ứcchế đã làm cho các em không tự kiềm chế nổi

- Thiếu niên dễ có phản ứng mãnh liệt trước sự đánh giá, nhất là sự đánh giá thiếu công bằng củangười lớn

- Tâm trạng của thiếu niên thay đổi nhanh chóng, thất thường, có lúc đang vui nhưng chỉ là một cớ

gì đó lại sinh ra buồn ngay hoặc đang lúc bực mình nhưng gặp điều gì thích thú lại tươi cười ngay

Do đó, nên thái độ của các em đối với những người xung quanh cũng có nhiều mâu thuẫn

Rõ ràng, cách biểu hiện xuc cảm của thiếu niên mang tính chất độc đáo Đó là tính bồng bột, sôi nổi

dễ bị kích động và dễ thay đổi

*Kết luận

Trang 19

- Trong những giai đoạn phát triển của con người lứa tuổi thiếu niên có một ý nghĩa vô cùng quantrọng Đay là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, nhiều biến động nhất nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bịquan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này.

- Sự phát triển tâm lí của thiếu niên có chịu ảnh hưởng của thời kỳ phát dục Nhưng cái ảnh hưởngquyết định nhất đối với sự phát triển tâm lý chính là những mối quan hệ xung quanh, đặc biệt lànhững mối quan hệ giữa thiếu niên và người lớn

- Đây là lứa tuổi của các em không còn là trẻ con nữa, nhưng chưa hẳn là người lớn Ở lứa tuổi nàycác em cần được tôn trọng nhân cách, cần được phát huy tính độc lập nhưng cũng rất cần đến sựchăm sóc chu đáo và đối xử tế nhị

C.TÀI LIỆU HỌC TẬP

[1] Nguyễn Kế Hào(CB), Nguyễn Quang Uẩn - Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Bộ Giáo

dục và đào tạo,Dự án đào tạo giáo viên THCS LOAN No 1718 - VIE (SF)

[2] Lê Văn Hồng (Chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học

sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội 1997

[3] Vũ Văn Nho, Tâm lý học phát triển NXB ĐHQG Hà Nội 1998

[4] Phan Trọng Ngọ, Các lý thuyết phát triển tâm lý người NXB ĐHSP Hà Nội 2003

[5] Lê Văn Hồng, Tâm lý học sư phạm, NXB Giáo dục Hà Nội 1996

[6] Phan Trọng Ngọ, Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn tâm lý học lúa tuổi và

tâm lý học sư phạm - NXB ĐHSP Hà Nội

[7] Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1997

[8] Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1999

D.CÂU HỎI, BÀI TẬP, NỘI DUNG ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Câu hỏi

- Nêu một vài đặc điểm nổi bật về tâm lí và sinh lí của học sinh THCS ?

- Dựa vào đâu mà nhiều nhà khoa học nói rằng : “ Lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi chuyển từ trẻcon sang người lớn”

- Đặc điểm tình cảm của học sinh THCS?

- Tại sao nói, nhân cách của học sinh THCS là nhân cách đang hình thành ?

2 Bài tập

Bài tập 1: “Con Hà nhà tôi đã 13 tuổi rồi, chân tay thì dài ngoẵng ra mà làm gì thì “hậu đậu” ơi

là “hậu đậu”: Rửa bát thì bát vỡ, cắt bìa đậu thì nát cả đậu”- một bà mẹ than thở “Ồ, thế thì giống hệt con Thúy nhà tôi, nó học cùng lớp với con Hà đấy” Mẹ Thúy hưởng ứng”.

Những lời phàn nàn trên của hai bà mẹ là vì:

a) Tính cách cá nhân của lứa tuổi thiếu niên

b) Đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao của lứa tuổi thiếu niên

c) Sự phát triển cơ thể thiếu cân đối, hài hòa của thiếu niên

d) Hành vi chống đối người lớn

Bài tập 2: Hãy ghép các nguyên nhân (cột I) với các biểu hiện tâm lý biểu hiện tương ứng của lứa

tuổi thiếu niên (cột II):

Trang 20

“Mấy đứa trẻ này học đến cấp 2 rồi mà còn ăn nói cộc lốc, nhátgừng”

“Đã 14 tuổi rồi đấy, người thì dài ngoẵng như vậy nhưng lúc nàocũng mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu”

Tính độc lập được phát triển hơn trước

Quan tâm đén bạn khác giới

CHƯƠNG 4 Tâm lí học dạy học

Số tiết: 08 tiết ( Lý thuyết: 07tiết; Bài tập, thảo luận, thực hành: 01 tiết )

A MỤC TIÊU

– Xác định được bản chất và đặc điểm của hoạt động dạy và hoạt động học ở trường THCS Chỉ rađược sự thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong trường THCS và bản chất tâm lí họccủa quá trình lĩnh hội khái niệm, hình thành kĩ năng, kĩ xảo học tập Nêu được các nội dung, chỉ sốđánh giá, các giai đoạn của sự phát triển trí tuệ; chỉ ra được mối quan hệ giữa dạy học và sự pháttriển trí tuệ

– Vận dụng được các hiểu biết về hoạt động dạy và bản chất tâm lí học của quá trình lĩnh hội kháiniệm, hình thành kĩ năng, kĩ xảo vào việc tổ chức hoạt động học cho học sinh THCS Đưa ra đượccác kết luận sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phát triển cho học sinh THCS

– Có hứng thú đối với việc tìm hiểu hoạt động dạy học của người giáo viên THCS

Tích cực vận dụng những hiểu biết về hoạt động dạy học vào việc học tập và rèn luyện tay nghềtrong trường sư phạm

sự giúp đỡ, dẫn dắt của giáo viện

- Khái niệm tổ chức trong hoạt động dạy của người giáo viên là đưa học sinh vào quá trình thực hiệncác hành động học bằng hệ thống thao tác xác định thông qua những việc cụ thể như sau:

+ Đưa ra mục đích yêu cầu, nghĩa là xác định sản phẩm học tập và tiêu chuẩn ( Mẫu) của sản phẩm

đó, thường gọi là yêu cầu về kiến thức, kĩ năng , thái độ đối với mỗi tiết học, mỗi bài học…

Trang 21

+ Cung cấp phương tiện, điều kiện để học sinh thực hiện hoạt động học Đó chính là học liệu baogồm sách, vở , giấy, bút…phù hợp với nội dung dạy học.

+ Vạch ra trình tự thực hiện các hành động, thao tác, quy trình và những quy định chặt chẽ phải tuântheo khi thực hiện các hành động, các thao tác theo quy trình đó

+ Chỉ dẫn học sinh làm theo quy trình, quy phạm Đông thời giáo viên theo dõi, giúp đỡ trongtrường hợp học sinh gặp khó khăn

+ Đánh giá và hướng dẫn học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình

Đó là 5 bước chính của quá trình thực hiện hoạt động dạy cụ thể của giáo viên Trên thực tế, khôngphải môn học nào, tiết học nào cũng diễn ra như vậy, tùy thuộc vào nội dung, phương tiện cụ thể,hoạt động dạy của người giáo viên tiến hành theo những phương pháp khác nhau

- Xét vè phương pháp dạy học, theo L.X Vugotxki có hai kiểu dạy học tương ứng với

Hai kiểu định hướng khác nhau

+ Dạy học hướng vào mức độ hiện có của học sinh Đó là vừng phát triển hiện có của học sinh ( dạyhọc hướng vào tri thức, phương pháp học mà học sinh đã biết, đã nắm vững) Kiểu dạy học này,không đem lại cái mới cho học sinh mà chỉ củng cố lại cái dã có ở cac em Nghĩa là không tạo được

sự phát triển

+ Dạy học hướng vào vùng phát triển gần nhất Đó là vùng mà học sinh chưa biết, nhưng các em cóthể đạt được nhờ sự giúp đỡ của giáo viên và bằng con đường khác ( do người khác giúp đỡ hoặc tựhọc, tự tìm hiểu ) Dạ học kiểu này làm cho học sinh phát triển

- Nhìn một cách tổng thể thì hoạt động dạy của người giáo viên được cấu thành bởi 3 yếu tố chính:+ Nội dung

+ Phương pháp

+ Tổ chức

Trong đó nội dung dạy học, chương trình sách giáo khoa phải được xây dựng dựa trên nhữngnguyên tắc nhất định Trên thực tế, hệ thống nguyên tắc này có thể được quy về 3 nguyên tắc sauđây: Nguyên tắc phát triển, nguyên tắc chuẩn mực, nguyên tắc tối ưu

4.1.2 Hoạt động học:

4.1.2.1 hoat động học

Để lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, người ta có nhiều cách học khác nhau:

- Học một cách ngẫu nhiên:(học nhờ trải nghiệm trong cuộc sống)

Việc nắm tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cũng như các phương thức hành vi khác thông quaviệc thực hiện một hoạt động khác trong cuộc sống hàng ngày gọi là học một cách ngẫu nhiên Kếtquả của cách học này là:

+ Những kinh nghiệm lĩnh hội được không trùng với những mục đích trực tiếp của chính hành độnghay hành vi

+ Chỉ lĩnh hội được những gì liên quan trực tiếp đến nhu cầu, hứng thú, các nhiệm vụ trước mắt, còncác khái niệm khác thì bỏ qua

+ Chỉ mang lại những tri thức tiền khoa học, có tính chất ngẫu nhiên rời rạc và không hệ thống.+ Chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm hàng ngày trực tiếp mang lại

Học ngẫu nhiên có cả ở người và vật

- Học theo phương pháp nhà trường: Được tổ chức tự giác từ Nhà nước và xã hội, được thực hiện

Trang 22

4.1.2.2 Bản chất của hoạt động học:

-Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với nó.

-Hoạt động học là hoạt động hướng vào sự thay đổi chính mình

- Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức, nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo.Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới màcòn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động (phương pháp giành trithức- cách học)

- Nội dung của hoạt động học chính là đối tượng mà học sinh cần chiếm lĩnh: Lafheej thống tri thức,

hệ thống kĩ năng kĩ xảo thuộc các môn học

-Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh

4.1.2.3 Sự hình thành hoạt động học:

a Sự hình thành động cơ học tập:

-Hoạt động được thúc đẩy bởi những động cơ xác định và diễn ra trong một tình huống xác định.-Động cơ hoạt động của học sinh được hiện thân ở đối tượng của hoạt động học (tức là những trithức kỹ năng, kỹ xảo, thái độ mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ)

-Có hai loại động cơ: Động cơ hoàn thiện tri thức; Động cơ quan hệ xã hội

+ Động cơ hoàn thiện tri thức: Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ hoàn thiện tri thức, nóđòi hỏi phải có sự khắc phục khó khăn và những lỗ lực của ý

chí ->học sinh có lòng khát khao mở rộng tri thức, mong muốn có nhiều hiểu biết, say mê trong quátrình giải quyết các nhiệm vụ học tập

=> Đặc điểm của động cơ này là không chứa đựng những xung đột bên trong; chủ thể không cónhững căng thẳng tâm lý; là loại động cơ tối ưu theo quan điểm sư phạm

+Động cơ quan hệ xã hội: Là những mối quan hệ của cá nhân được hiện thân ở đối tượng học tập->gọi là “động cơ quan hệ xã hội”

 Động cơ học tập không có sẵn, không thể áp đặt Mà nó dược hình thành dần dần trong quátrình học sinh học tập(dưới sự hướng dẫn của thầy)-> Muốn phát động được động cơ họctập, cần khơi dậy ở các em nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập(nhu cầu

- Trong quá trình chiếm lĩnh đối tượng học tập luôn có sự chuyển hóa giữa mục đích và phương

Trang 23

tiện Mục đích cuối cùng được hình thành một cách tất yếu trong tiến trình thực hiện một hệ thốngcác hành động học tập.

=> Muốn hình thành mục đích học tập cho học sinh phải lấy hành động học tập của các em làm cơ

sở Thông qua việc thâm nhập vào đối tượng, học sinh sẽ nắm dược những dấu hiệu bản chất, nhữngmối quan hệ bên trong có tính qui luật của cac sự vật, hiện tượng dần dần thay đổi mức độ làm chủnhững khái niệm, những giá trị, những chuẩn mực, những qui luật, những phương thức hành vi,hành động

c Hình thành các hành động học tập:

Muốn tạo ra sự phát triển tâm lý của học sinh trong học tập phải lấy hành động học tập của các emlàm cơ sở (nghĩa là quá trình tạo ra sự phát triển tâm lýcủa chủ thể chỉ có thể có được thông qua cáchành động học tập)

- Hành động phân tích :

Nhằm phát hiện ra nguồn gốc xuất phát của khái niệm cũng như cấu tạo lôgic của nó

Trình độ phát triển của hành động phân tích gắn liền với trình độ nắm vững tri thức trước đó (việchình thành khái niệm trước đó chắc chắn bao nhiêu thì hành động phân tích được thuận lợi bấynhiêu)

- Hành động mô hình hóa:

Giúp con người diễn đạt lôgic khái niệm một cách trực quan dưới dạng mô hình và kí hiệu Trongdạy học có thể dùng các loại mô hình hóa sau :

+Mô hình hóa gần giống vật thật:

Ở mô hình hóa này tính trực quan cao Nhờ loại mô hình này học sinh có thể theo dõi toàn bộ quatrình hành động, vị trí của các yếu tố và mối quan hệ giữa chúng với nhau

+Mô hình hóa tượng trưng: Có tính trừu tượng cao, mô hình gần giống vật thật

Những cái không bản chất , không cần thiết được loại bỏ chỉ giữ lại những cái tinh túy nhất của đốitượng và được mô tả lại một cách trực quan

Vd: Dùng sơ đồ đoạn thẳng để mô tả quan hệ toán học trong một đầu đề toán

+Mô hình “mã hóa”: Mô hình mã hóa hoàn toàn có tính chất quy ước diễn đạt một cách thuần khiếtlôgic của khái niệm là những công thức hoặc kí hiệu

Vd: Công thức tính S▲=1/2a.h

Công thức tính S= a2

Trong loại mô hình này hầu như không có yếu tố trực quan, chỉ có mối quan hệ lôgic thuần khiết ->đòi hỏi phải có sự hoạt động của trí óc, phải có tư duy trìu tượng Đây là việc cần thiết trong hoạtđộng dạy học -> phát triển trí tuệ của học sinh

- Hành động cụ thể hóa: Giúp học sinh vậ dụng phương thức hành động chung vào việc giải quyếtnhững vấn đề cụ thể trong cùng một lĩnh vực.Hoạt động mô hình hóa giúp chúng ta diễn đạt mốiquan hệ tổng quát hình thức trực quan Hoạt động phân tích giúp chúng ta phát hiện mối quan hệtổng quát Hoạt động cụ thể hóa là hành động để đạt tới cái cụ thể (đi từ nhận thức tổng quát , trìutượng để đến cái cụ thể )

- Hành động kiểm tra và đánh giá: Hành động này có chức năng định hướng và điều chỉnh hànhđộng của học sinh hành động này, cũng có thể tạo nên động lực học tập cho học sinh, Vì thế yêucầu hành động này phải được tiến hành một cách khoa học, khách quan và chính xác cao

Trang 24

4.2.Sự lĩnh hội khái niệm

4.2.1 Khái niệm về khái niệm

- Khái niệm khoa học:

Khái niệm khoa học là một trong những hình thức phản ánh thế giới vào tư duy con người, nhờ đó

mà người ta nhận thức được bản chất của các sự vật, hiện tượng, các quá trình=> đó là sự nhận thứckhái quát về những mặt, những dấu hiệu cơ bản của sự vật, hiện tượng và quá trình mà con ngườiphản ánh nó

- Khái niệm kinh nghiệm:

Dùng để biểu thị sự hiểu biết đơn giản, sơ lược của con người về sự vật, hiện tượng Đó là sự phảnánh của con người ở cấp độ thấp và thường được gọi là “khái niệm kinh nghiệm” hay là “khái niệmthông tục” để phân biệt với khái niệm khoa học

- Khái niệm là sản phẩm của nhận thức đang phát triển trong lịch sử Khái niệm không có tính chấttĩnh, không tuyệt đối, không nhất thành bất biến, mà đang ở trạng thái phát triển theo hướng phảnánh hiện thực một cách thích hợp ->càng nghiên cứu học tập thì con người càng tiếp cận được kháiniệm và tích luỹ được càng nhiều khái niệm

- Khái niệm được ghi lại dưới hình thức ngôn ngữ này hoặc ngôn ngữ khác Vì vậy, mọi khái niệmđều trừu tượng và thoát li khỏi thực tiễn-> nhờ khái niệm mà con người có thể nhận thức hiện thựcsâu hơn, bằng cách tách ra và nghiên cứu những mặt cơ bản của hiện thực; cái cụ thể được phản ánhkhông đầy đủ trong những khái niệm riêng rẽ có thể tái tạo được với mức độ đầy đủ khác nhau nhờnhững khái niệm phản ánh toàn bộ những mặt khác nhau của nó

Tất cả những điều trình bày ở trên chính là khái niệm về khái niệm Mỗi khoa học đều sử dụngnhững khái niệm (hệ thống khái niệm) nhất định, trong đó tập trung những kiến thức mà khoa học

đã tích luỹ được

Tóm lại: Khái niệm vừa là sản phẩm, vừa là phương tiện của hoạt động học Mỗi lần học sinh lĩnh

hội thêm được một khái niệm mới là một lần tăng thêm sức mạnh tinh thần, bồi đắp thêm năng lực

“Dạy học là giúp học sinh lĩnh hội khái niệm, là tổ chức quá trình phát triển của các em”

4.2.2 Bản chất tâm lý của quá trình lĩnh hội khái niệm

- Khái niệm có 2 nơi “trú ngụ”: một là ở đối tượng; hai là ở trong đầu chủ thể

- Khái niệm ở trong đầu chủ thể là kết quả của sự hình thành bắt đầu từ bên ngoài chủ thể, bắt nguồn

có những hành động tương ứng để hình thành khái niệm

4.2.3 Dạy cho học sinh lĩnh hội khái niệm một cách vững chắc

-Để học sinh lĩnh hội vững chắc khái niệm, giáo viên tổ chức hoạt động học của các em theo 3 công

đoạn chính: Hình thành-> Luyện tập-> Sử dụng.Mỗi công đoạn được thực hiện như sau:

Ngày đăng: 18/03/2015, 15:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Kế Hào(CB), Nguyễn Quang Uẩn - Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Bộ Giáo dục và đào tạo,Dự án đào tạo giáo viên THCS LOAN No 1718 - VIE (SF) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
[2]. Lê Văn Hồng (Chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý họcsư phạm
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội 1997
[4]. Phan Trọng Ngọ, Các lý thuyết phát triển tâm lý người .NXB ĐHSP Hà Nội 2003 [5]. Lê Văn Hồng, Tâm lý học sư phạm, NXB Giáo dục Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết phát triển tâm lý người" .NXB ĐHSP Hà Nội 2003 [5]. Lê Văn Hồng, "Tâm lý học sư phạm
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội 2003 [5]. Lê Văn Hồng
[6]. Phan Trọng Ngọ, Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn tâm lý học lúa tuổi và tâm lý học sư phạm - NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn tâm lý học lúa tuổi vàtâm lý học sư phạm
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
[7]. Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1997 [8]. Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh, Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp sư phạm
Tác giả: Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

c.   Tự giáo dục 3. Hình thành tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN HỆ CAO ĐẲNG SƯ PHẠM KHOA CƠ BẢN)
c. Tự giáo dục 3. Hình thành tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w