1/ Bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của nhà thơ:Khổ 1: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấ
Trang 21 Tác giả Huy Cận: ( 1919 – 2005 )
-Tên thật là Cù Huy Cận ,sinh ra trong một gia đình nhà nho tại làng Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
- Học trung học ở Huế, học cao đẳng canh nông ở Hà Nội
-Là một trong những nhà thơ lãng mạng sớm đi với Cách
mạng, thành đạt trong sáng tác thi ca và trên con đường
phụng sự Tổ Quốc.
* Tác phẩm tiêu biểu: sgk
- Trước Cách mạng tháng Tám: thơ Huy Cận thấm đẫm một nỗi buồn Nhà thơ thường khắc hoạ những cảnh lụi tàn, bơ
vơ, hoang vắng, chia lìa
* Phong cách thơ Huy Cận :
Trang 3Chân dung của Huy Cận theo thời gian
Trang 42 Bài thơ Tràng Giang:
a.Xuất xứ Trích trong tập Lửa thiêng, 1940
b.Hoàn cảnh sáng tác :
- Theo tác giả, bài thơ được viết vào một buổi chiều mùa thu năm
1939 , khi tác giả đứng ở bờ Nam bến Chèm nhìn cảnh sông Hồng
mênh mông sóng nước
d.Bố cục: 2 đoạn
+ Đoạn 1: gồm 3 khổ đầu
Bức tranh thiên nhiên trên sông, bên sông nỗi cô đơn, hòa chung nỗi
Trang 61/ Bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của nhà thơ:
Khổ 1:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Trang 7* Không gian sông nước mênh mông:
những kiếp người nhỏ bé bơ vơ
cảm giác về sự cô đơn, lẻ loi của con người trong trời
Trang 8Với cách sử dụng từ láy và nghệ thuật đối uyển
chuyển, linh hoạt, âm điệu thơ nhịp nhàng, trầm
buồn,vần gieo gián cáchBức tranh sông nước tràng
giang mênh mông, bát ngát, mang đậm màu sắc cổ
điển, gợi nỗi buồn mênh mang trong lòng ngườinỗi
buồn của nhà thơ lan tỏa khắp sông nước, tâm hồn thi
sĩ đã nhập cảnh trọn vẹn.
Trang 9Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
* Khổ 2:
Trang 10* Cảnh sông:
-Không gian: cồn nhỏ lơ thơ
gió đìu hiu
gợi lên cái vắng lặng ,lạnh lẽo cô đơn đến rợn ngợp -Âm thanh: tiếng chợ chiều →gợi sự tàn tạ,vắng vẻ
-Hình ảnh: nắng xuống >< trời lên
sâu chót vót từ ngữ lạ hóa
→gợi chiều dài (sông), rộng (trời), cao, sâu (trời lên)
ngút ngàn của không gian
-Sông dài, trời rộng > < bến cô liêu
(mênh mông, vô cùng) ( nhỏ bé)
→làm tăng thêm sự vắng vẻ, lẻ loi, cô độc
Trang 11Với cách sử dụng từ độc đáo, âm hưởng
trầm bổng,Huy Cận như muốn lấy âm thanh
để xoá nhoà không gian buồn tẻ hiện hữu
nhưng không được, nỗi buồn chiếm cả
không gian, đất trời , vũ trụ
Trang 12* Khổ 3:
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Trang 13- Không gian: Bèo Dạt
Bờ xanh bãi vàng Lặng lẽ
- Câu hỏi: “về đâu”
- Phủ định từ: “không”
khao khát tình người, tình đời
cảnh vật nổi trôi vô định lại hiu hắt vắng lặng đến
tận cùng
đẩy sự cô đơn, lẻ loi lên đến đỉnh điểm
Nỗi buồn trước cảnh vật của nhà thơ luôn song hành
và gắn chặt với nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn trước cảnh quê hương đất nước
Trang 14**Tóm lại: Ba khổ thơ biểu hiện cho niềm tha
thiết với thiên nhiên tạo vật Đó là một bức tranh
thiên nhiên thấm đượm tình người, mang nặng
nỗi buồn bâng khuâng, nỗi bơ vơ của kiếp
người, và đằng sau nỗi buồn về sông núi là nỗi
buồn của người dân thuộc địa trước cảnh giang
sơn bị mất chủ quyền
Trang 15Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Trang 17-Tâm trạng thi nhân :
Lòng quê dợn dợn Không khói… nhớ nhà
Trang 19-Tâm trạng thi nhân :
Lòng quê dợn dợn Không khói… nhớ nhà
→nỗi buồn,nhớ quê hương da diết, sâu lắng
âm hưởng Đường thi nhưng có sự sáng tạo
Đằng sau nỗi buồn,nỗi sầu trước không gian và
vũ trụ là tâm sự yêu nước thầm kín của một trí
thức bơ vơ,bế tắc trước cuộc đời
Trang 201.Nội dung: Nỗi buồn trước cảnh trời rộng sông dài,tâm trạng bơ vơ,bế tắt của thi nhân trước cđ,lòng yêu nước thầm kín
2.Nghệ thuật:
-Thể thơ thất ngôn,thủ pháp tương phản,từ láy,biên
pháp tu từ
-Vẻ đẹp cổ điển, âm điệu trầm buồn,dư ba sâu lắng
-Màu sắc hiện đại trong cách thể hiện tâm trạng và dùng thi liệu
III.TỔNG KẾT:
Trang 21•YOUR SUBTOPIC GOES HERE
Một chiều thu 1939, tôi đi dạo trên bờ sông Cái (sông Hồng), bằng xe đạp, có đoạn dắt xe đi bộ, thấy buổi chiều trên đê và trên sông đẹp quá: Nắng chiều
đã nhạt, mây đùn phía núi xa và man mác một nỗi
buồn khó tả, nửa như gần gũi, nửa như xa vời quạnh hiu Tôi dừng ở quãng bến Chèm (bây giờ là chân cầu
Thăng Long) và vang lên trong tâm tưởng mấy câu lục
bát:
Tràng Giang sóng gợn mênh mông Thuyền trôi xuôi mái, nước song song buồn
Rêu trôi luồng lại nối luồng
Về đâu bèo dạt, mây lồng núi xa
Trang 22là Chiều trên sông
• Nhưng đạp xe về nhà (ở số 40 Hàng Than) lại vang trong
đầu nhạc điệu của thơ bảy chữ, âm hưởng Đường luật như quyến rũ tai tôi, cổ họng tôi và tôi liền chuyển mấy câu đầu sang thể bảy âm, bắt được ngay hai câu đầu:
• Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
• Con thuyền xuôi mái nước song song
• Hai câu đầu này sẽ đứng vững nguyên cho đến bản thảo cuối cùng
• Rồi tôi viết tiếp câu thứ 3 không khó, nhưng
đến câu thứ 4 thì thôi xao
• Một chiếc bèo đơn lạc giữa dòng
Trang 23cành trôi khô lạc mấy dòng vừa tự nhiên vừa hàm
khô hơn hẳn chữ đơn, vì cái ý cô đơn sẽ toát lên từ
toàn bài.
• Đoạn 2 cũng phải tìm, nhưng có sẵn cảnh trước
mắt: Các cồn nhỏ giữa sông gió hiu hiu và lại
có trong tâm trí 2 câu của Chinh phụ ngâm,
• Non Kỳ lặng lẽ trăng treo
• Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gờ
• Cho nên tôi viết ngay được câu Lơ thơ cồn nhỏ gió
đìu hiu nhờ bà Đoàn Thị Điểm gà cho nửa câu
Trang 24bài Thu hứng của Đỗ Phủ (bản dịch của Nguyễn Công Trứ) Mặt đất mây đùn cửa ải xa Và tôi viết Lớp lớp
hơnThôi Hiệu nên mới hạ 2 câu:
Lòng quê dờn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Nhớ câu Yên ba giang thượng sử nhân
sầu cốt để nói mình buồn hơn, cần gì phải có khói,
sóng mới nhớ nhà.
Bài thơ không phải tả cảnh mà tả tâm
hồn, trạng thái tâm hồn, hay nói đúng hơn là mượn
cảnh để nói lòng mình, hồn mình Nói đúng hơn nữa