1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài lớn thương mại 1

15 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 28,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU NỘI DUNG I. Khái quát chung về pháp sản doanh nghiệp Khái niệm phá sản: Khái niệm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán II. Một số điểm mới của Luật phá sản 2014 so với Luật Phá sản 2004 1. Phạm vi áp dụng của Luật Phá sản 2. Thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 3. Các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 4. Thẩm quyền của Tòa án 5. Cơ chế thương lượng giữa các bên 6. Quy định về Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản 7. Thông báo doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán 8. Quy định về tiền lãi đối với các khoản nợ 9. Thứ tự phân chia tài sản KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hướng dẫn môn học Luật Thương mại 1 – NXB Lao Động 2. Luật Phá sản 2004 3. Luật Phá sản 2014

Trang 1

MỞ ĐẦU

Phá sản là hiện tượng phổ biến, là hệ quả tất yếu của quá trình cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên hậu quả mà nó mang lại cho các chủ thể có liên quan khá nặng nề vì khi này các doanh nhiệp, hợp tác xã không còn khả năng để thanh toán các khoản nợ của mình Luật phá sản ra đời nhằm hạn chế mức thấp nhất hậu quả do phá sản để lại, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp gặp rủi ro trong quá trình kinh doanh Luật Phá sản 2014 mới có hiệu lực đầu năm 2015 thay thế cho Luật Phá sản

2004 đã bổ sung, sửa đổi một số quy định để phù hợp hơn với thực tiễn Để hiểu

rõ hơn về những quy định này em xin giải quyết đề 11: “Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Phá sản năm 2014 so với Luật Phá sản năm 2004”

NỘI DUNG

I Khái quát chung về pháp sản doanh nghiệp

- Khái niệm phá sản:

Phá sản được nhìn nhân dưới hai góc độ là góc độ kinh tế và góc độ pháp lý Dưới góc độ kinh tế: thuật ngữ phá sản được bắt nguồn từ chữ “ruin” trong trong tiếng La Tinh, có nghĩa là “sự kháng tận” Khái niệm này dùng để chỉ

sự mất cân đối giữa thu và chi của chủ thể kinh doanh mà biểu hiện trực tiếp cảu việc này là tình trạng mất khả năng thanh toán khi các khoản nợ đến hạn Dưới góc độ pháp lý: phá sản được nhìn nhận là một trình tự, thủ tục tố tụng;

là toàn bộ các bước các giai đoạn của việc giải quyết các yêu cầu tuyên bố phá sản đối với chủ thẻ mắc nợ

Trang 2

Khoản 2 Điều 4 Luật phá sản 2014 quy định: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.” Như vậy khái niệm phá sản được hiểu cả dưới góc độ kinh tế và dưới góc độ pháp lý Theo đó một doanh nghiệp, hợp tác xã chỉ được coi là phá sản khi bị Tòa án ra quyết định phá sản Đây cũng là quy định mới bổ sung cho thiếu sót của Luật Doanh nghiệp 2004 khi không đưa ra khái niệm về phá sản

- Khái niệm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán

Khoản 1 Điều 4 LPS 2014 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”

LPS 2014 đã đề cập đến khái niệm DN, HTX mất khả năng thanh toán thay

vì lâm vào tình trạng phá sản của luật 2004: Doanh nghiệp, hợp tác xã không

có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản

Việc thanh toán các khoản nợ khi đến hạn là căn cứ để Tòa án mở hay không

mở thủ tục phá sản Vì thế cần xác định rõ DN, HTX đó đã mất khả năng

thanh toán hay chưa LPS 2004 quy định DN, HTX không có khả năng thanh

toán được các khoản nợ đến hạn tức là khi mà tất cả các khoản nợ của DN,

HTX đó đến hạn mà chưa trả được thì họ lâm vào tình trạng phá sản Theo đó việc phát hiện các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản muộn sẽ dẫn đến việc khó phục hồi kinh doanh của DN, HTX Một mặt ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích của những người liên quan LPS 2014 quy định về DN, HTX mất khả năng thanh toán khi mà họ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán Như vậy chỉ đối với một khoản nợ bất kỳ mà khi đến hạn, DN, HTX không trả được nợ thì những người có quyền và nghĩa vụ phải thông báo có thể thông báo lên cơ quan có

Trang 3

thẩm quyền về việc này để từ đó xác định DN, HTX mất khả năng thanh toán

và giải quyết kịp thời nhằm khắc phục hậu quả xảy ra

II Một số điểm mới của Luật phá sản 2014 so với Luật Phá sản 2004

1 Phạm vi áp dụng của Luật Phá sản

Khoản 1 Điều 3 LPS 2014 quy định: “Luật phá sản được áp dụng khi giải

quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Đây là quy định mới về phạm vi áp

dụng luật được sửa đổi để thay thế cho quy định tại LPS 2004: “Luật này áp

dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã …được thành lập

và hoạt động theo quy định của pháp luật.”

Theo quy định tại LPS 2004 tất cả các DN, HTX được thành lập và hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam đều có thể áp dụng pháp luật phá sản đối với DN, HTX mình Tuy nhiên, trường hợp có những DN nước ngoài có hoạt động ở VN, nhưng lại không có tài sản, không có trụ sở đạt tại Việt Nam nên đến khi DN đó không có khả năng thanh toán các khoản nợ của mình thì không thể áp dụng pháp luật phá sản cảu Việt Nam để giải quyết

Đến khi LPS 2014 có hiệu lực, phạm vi áp dụng luật đã thu hẹp lại, chỉ áp

dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập trên lãnh thổ Việt

Nam Quy định này mang tính thực tế và khả năng áp dụng cao hơn so với

LPS cũ Sở dĩ như vậy là vì trong điều kiện để thành lập DN, HTX theo LDN

2014 phải có: địa chỉ trụ sở; tên DN, HTX; ngành nghề kinh doanh; vốn điều

lệ;… Ví thế, khi các DN, HTX đến hạn mà không thanh toán được các khoản

nợ cho chủ nợ thì cơ quan có thẩm quyền có thể dễ dàng áp dụng LPS để giải

quyết Việc thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã ở quy định này cũng nhằm

tạo điều kiện để quản lý các hoạt động và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành thủ tục phá sản cho DN, HTX

Trang 4

2 Thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Khoản 1 Điều 4 LPS 2014 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”

Điều này gia hạn về khoảng thời gian 03 tháng để DN, HTX có thể khi không

có khả năng thanh toán có thể tìm các phương pháp để thanh toàn các khoản

nợ của mình trước khi bị coi là lâm vào tình trạng phá sản Quy định này phù hợp với kinh nghiệm lập pháp của một số nước khi cho phép con nợ có thời hạn trễ hạn thanh toán sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ, đồng thời khắc phục tình trạng lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ như quy định cũ Từ quy định này, luật cho phép các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Và Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp

cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa

vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán

Đây là một điểm tiến bộ hơn so với quy định thời hạn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại LPS 2004: “DN, HTX không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản” Theo đó có thể hiểu DN, HTX đã bị xem là mất khả năng thanh toán khi không có khả năng thanh toán các khoản nợ khi đến hạn Và theo luật này, chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần sẽ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi đến hạn thanh toán nợ, doanh nghiệp, hợp tác

xã không có khả năng thanh toán và khi đến hạn thanh toán lương mà doanh nghiệp, hợp tác xã nhận thấy không thanh toán được thì người đại diện người lao động hoặc đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Trang 5

Việc chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để nhằm thu hồi lại khoản tín dụng của mình Trước đó họ thường yêu cầu thanh toán trước nợ khi đến hạn đã thỏa thuận trước đó để thúc giục DN, HTX trả nợ đúng hạn Tuy nhiên không phải DN, HTX nào cũng trả nợ đúng trước khi đến hạn Vì thế các chủ nợ muốn đảm bảo mình thu lại các khoản nợ thì thường nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng việc này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của DN, HTX đó

Vì vậy, LPS 2014 quy định rõ về thời điểm trong vòng 3 tháng đã tạo điều kiện cho DN, HTX có một khoảng thời gian hợp lý để tiến hành thu xếp cũng như thỏa thuận với chủ nợ về thanh toán khoản nợ để giảm thiểu số DN, HTX

bị phá sản Điều này cũng có lợi cho các chủ nợ, người lao động, vì nếu trong thời gian 03 tháng mà DN, HTX có thể trả nợ, trả lương thì có thể đảm bảo thực thực hiện trả nợ, trả lương đầy đủ Quy định này cho thấy pháp luật có sự dung hòa về lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ phá sản, bảo vệ quyền

và lợi ích chính đáng giữa các bên

3 Các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

LPS 2014 quy định về người có quyền nộp đơn yêu mở thủ tục phá sản gồm có: chủ nợ có đảm bảo, chủ nợ có đảm bảo một phần; người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên cơ sở…; người đại diện theo pháp luật của

DN, HTX; chủ DNTN, CT HĐQT,…; cổ đông CTCP

- Người lao động:

LPS 2004 quy định về chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

ở khoản 1 Điều 14: “…người lao động cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó.” Theo đó người lao động phải nộp đơn thông qua người đại diện

Trang 6

Quy định về người lao động phải nộp đơn thông qua người đại diện gây khó khăn trong việc thực thi Vì:

+ Nộp đơn thông qua người đại diện phải được quá nữa số lao động trong

DN, HTX tán thành Đối với DN, LHHTX có những đơn vị trực thuộc thì người được cử làm người đại diện phải được quá nửa sự đồng ý của người đại diện từ các đơn vị trực thuộc tán thành Quy định như vậy phức tạp, khó thực thi và voo hình chung đã hạn chế quyền nộp đơn của người lao động

+ Người lao động là nhưng người làm công ăn lương vì thế họ chỉ biết được việc DN không trả lương đúng hạn nhưng không thể biết được thực trạng tài chính của DN mình Vì thế họ không thể phát giác được doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán

So sánh với quy định của luật 2004, LPS 2014 đã quy định theo hướng mở rộng phạm vi và tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền này để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình: “Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản …” Người lao động có thể trực tiếp nộp đơn yêu cầu của mình mà không cân phải thông qua người đại diện

- Cổ đông công ty cổ phần

Trước đây luật quy định tại Điều 17: “…cổ đông hoặc nhóm cổ đông có

quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của điều lệ công ty; nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơn được thực hiện theo nghị quyết của đại hội cổ đông Trường hợp điều lệ công ty không quy định mà không tiến hành được đại hội cổ đông thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty cổ phần đó.”

Theo đó, cổ đông công ty cổ phần chỉ được nộp đơn theo điều lệ, theo nghị quyết của đại hội cổ đông nhưng đồng thời phải sỡ hữu 20% cổ phần liên tục

Trang 7

6 tháng thì mới được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Quy định này rõ ràng hạn chế quyền được nộp đơn của các cổ đông đặc biết là những cổ đông

có cổ phần nhỏ và chỉ đảm bảo quyền lợi cho những cổ đông có nhiều cổ phần trong công ty Việc công ty

phá sản cũng đảm bảo đến lợi ích của họ nên quy định như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích của các cổ đông trong công ty

Đến LPS 2014 đã sửa đổi, bổ sung quyền nộp đơn cho cổ đông công ty cổ

phần: “Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở

lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục

ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định.”

Quy định về nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu vẫn được luật giữ nguyên nhưng đã bổ sung quyền nộp đơn cho các cổ đông có cổ phần ít hơn 20% nếu điều lệ công ty có quy định Theo đó quyền lợi của các cổ đông nhỏ

đã được đảm bảo hơn và tránh việc phụ thuộc vào các cổ đông lớn trong việc gửi đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

- Thành viên HTX, người đại diện của HTX, thành viên liên hiệp HTX

LPS 2014 đã quy định thêm về chủ thể trong HTX có thể nộp đơn yêu cầu đó

là thành viên của HTX chứ không chỉ riêng người đại diện hợp pháp của HTX như LPS 2004 Theo đó bất kỳ thành viên nào trong HTX nhận thấy HTX mình mất khả năng thanh toán các khoản nợ đều có thể nộp đơn yêu cầu Nhìn chung LPS 2014 đã cụ thể hóa những chut thể có thẩm quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Quy định này nhằm phát hiện nhanh chóng tình

Trang 8

trạng mất khả năng thanh toán của DN, HTX để cơ quan có thẩm quyền kịp thời giải quyết

4 Thẩm quyền của Tòa án

LPS 2014 đã bổ sung cho Tòa án cấp huyện thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu phá sản đối với DN, HTX Trước đây Tòa án huyện chỉ có quyền giải quyết đơn yêu cầu của HTX

Theo LPS 2004 thì DN, HTX do cơ quan nào cấp đăng ký kinh doanh thì do Tòa án cấp đó giải quyết, do đó “Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại

cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó.” Căn cứ vào thẩm quyền đăng ký kinh doanh để quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án có thể dẫn đến tình trạng đồn đống đơn yêu cầu không được giải quyết

Khắc phục những khiếm khuyết đó, Luật Phá sản năm 2014 quy định theo hướng loại trừ, tức là trừ những vụ việc phá sản có tình tiết đặc biệt (có yếu tố nước ngoài, có địa điểm ở nhiều quận huyện khác nhau, hoặc tòa cấp tỉnh lấy lên giải quyết) thì còn lại, Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với DN, HTX có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

đó (Điều 8) Việc mở rộng quyền xuất phát từ thực tiễn thi hành luật và phù hợp với cải cách 49 – NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách Tư pháp đến năm 2020

Để đảm đảm bảo tính khách quan, Luật Phá sản mới bổ sung quy định về trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thẩm phán trong quá trình giải quyết

Trang 9

phá sản Đồng thời, Luật cũng bỏ quy định “Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó” Vì theo quy định hiện hành, tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng và hoạt động trong khuôn khổ luật doanh nghiệp Tòa án cấp huyện đương nhiên có thẩm quyền giải quyết vụ việc phá sản của doanh nghiệp này, trừ khi nó có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài

5 Cơ chế thương lượng giữa các bên

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên cùng bàn bạc, giàn xếp nhằm loại bỏ tranh chấp Ưu điểm của phương thức này là việc giữ bí mật của các bên, chi phí thấp và đảm bảo thể hiện thiện chí

Đây là quy định mới được LPS 2014 quy định tại Điều 37: “Trong thời hạn

03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có quyền đề nghị bằng văn bản gửi Tòa

án nhân dân để các bên thương lượng việc rút đơn…” Theo đó các bên có

thể thỏa thuận với nhau để rút đơn yêu cầu Nếu việc thỏa thuận thành công thì Tòa án trả lại đơn yêu cầu, trường hợp các bên không thương lượng thành công hoặc hết thời hạn thương lượng thì Tòa án nhân dân thông báo cho người nộp đơn nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tòa án ấn định thời gian thương lượng nhưng không quá 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ Trong thực tế cũng có nhiều trường hợp sau khi thương lượng giữa DN, HTX thì người nộp đơn đã xin rút đơn yêu cầu của mình

Trang 10

Qua việc thương thượng giữa chủ nợ với DN, HTX quy định này tạo điều kiện cho DN, HTX thoát khỏi nguy cơ phá sản Đây là quy định mà LPS 2004 chưa đề cập đến

6 Quy định về Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

LPS 2014 đã thay đổi chế định Tổ quản lý, thanh lý tài sản bằng chế định Quản tài viên; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản Đây là điểm mới mang tính đột phá của LPS 2014

- Quản tài viên

Quản tài viên là người đảm bảo các điều kiện quy định tại điều 12 Luật Phá sản: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan; Có chứng chỉ hành nghề Quản tài viên

Những người được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên gồm: Luật sư; Kiểm toán viên;Người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có kinh nghiệm 05 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo

LPS 2004 quy định thành phần của Tổ quản lý, thanh lý tài sản: Một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm Tổ trưởng; Một cán bộ của Toà án; Một đại diện chủ nợ; Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã

bị mở thủ tục phá sản; Trường hợp cần thiết có đại diện công đoàn, đại diện người lao động, đại diện các cơ quan chuyên môn tham gia Tổ quản lý, thanh

lý tài sản thì Thẩm phán xem xét, quyết định

Qua thực tiễn thực thi pháp luật phá sản có thể thấy một số hạn chế của Tổ quản lý, thanh lý tài sản:

+ Chất lượng hoạt động chưa đạt yêu cầu do: các thành viên của Tổ quản lý, thanh lý tài sản hầu hết là thanh viên kiêm nhiệm nên hiệu quả công việc bị hạn chế; hoạt động phụ thuộc chủ yếu vào Chấp hành viên; các thanh viên

Ngày đăng: 06/09/2016, 22:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w