1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

đề kháng KS trong cộng đồngng và BV

5 335 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 362,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VÀ VIÊM PHỔI BỆNH VIỆN TẠI VIỆT NAM VÀ HƯỚNG DẪN XỬ TRÍ BAN ĐẦU THÍCH HỢP Trần Văn Ngọc * THỰC TRẠNG ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH TẠI VIỆT NAM Đề kháng kháng sinh trong viêm phổi cộng đồng

Trang 1

VÀ VIÊM PHỔI BỆNH VIỆN TẠI VIỆT NAM VÀ HƯỚNG DẪN XỬ TRÍ 

BAN ĐẦU THÍCH HỢP 

Trần Văn Ngọc  *   

THỰC  TRẠNG  ĐỀ  KHÁNG  KHÁNG 

SINH TẠI VIỆT NAM 

Đề  kháng  kháng  sinh  trong  viêm  phổi 

cộng đồng 

VPCĐ  là  nguyên  nhân  nhiễm  khuẩn  hàng 

đầu và nguyên nhân chết hàng thứ 6 tại Mỹ.  

Gần  1  triệu  trường  hợp  VPCĐ  trên  bệnh 

nhân  >  65  tuổi/  năm  và  500.  000  trường  hợp 

nhập viện mỗi năm 45. 000 chết/ năm. (1) 

Thất bại điều trị VPCĐ hiện nay khoảng 10 ‐

15%, khi điều trị thất bại Æ tỉ lệ tử vong tăng 5 

lần.  Nguyên  nhân  thất  bại  điều  trị  là  do  vi 

khuẩn kháng thuốc hoặc nhiễm trùng do những 

tác nhân hiếm gặp. Yếu tố nguy cơ của thất bại 

điều  trị  thường  do  bệnh  nặng  từ  đầu,  có  bệnh 

đồng  thời,do  vi  khuẩn  gây  bệnh  có  độc  lực 

mạnh  hay  do  điều  trị  KS  ban  đầu  không  thích 

hợp.  

Tử  vong  do  viêm  phổi  trên  toàn  thế  giới 

không giảm từ khi Penicilline được sử dụng đến 

nay.  

Tỉ lệ tử vong đối với bệnh nhân ngọai trú < 

1%  

Bệnh nhân nội trú khoảng 10%‐14%  

Bệnh nhân nhập ICU từ 30%‐40%. (2) 

Phế cầu kháng thuốc:  

Phế  cầu  kháng  PNC:  Tại  Việt  Nam:  VPCĐ 

nguyên  nhân  thường  gặp  nhất  trong  các  bệnh 

nhiễm  trùng.  Sử  dụng  KS  không  hợp  lý,  VK 

kháng thuốc ngày càng tăng. Trong các quốc gia 

Châu  á,  ViệT  Nam  có  tỉ  lệ  kháng  PNC  V  cao 

nhất với 71% (MIC ≥4mg/l). Khi phế cầu kháng 

PNC  sẽ  kháng  các  kháng  sinh  khác  như 

macrolide,  bactrim,  cycline…  Trong  một  công 

trình nghiên cứu đa trung tâm trên 204 chủng vi 

khuẩn S. pneumoniae phân lập từ các bệnh phẩm 

lấy trên các bệnh nhân nhiễm khuẩn hô hấp cấp 

cho  thấy,  có  đến  80%  vi  khuẩn  S.  pneumoniae 

kháng  penicillin (7,14,8).  Trong  công  trình  nghiên  cứu  Song  JH  và  cộng  sự  nhận  thấy  phế  cầu  kháng  ceftriaxone  vùng  Châu  á  là  8,6%  và  Việt  Nam là 4,4%. (7) 

Phế cầu kháng macrolide: Hiện cũng rất cao 

trên  khắp  thế  giới,  đặc  biệt  tại  các  quốc  gia  Châu  á  như  Việt  nam,  Đài  loan,  Hàn  quốc,  Nhật, Hongkong. Kết quả nghiên cứu cũng ghi 

nhận  tỷ  lệ  S. pneumoniae đề  kháng  khá  cao  với 

macrolides:  89.  7%  erythromycin  (72%),  azithromycin  (76%)  và  clarithromycin  (86%). 

(2,7,16) 

Phế  cầu  kháng  quinolone:  Tỉ  lệ  kháng  còn  thấp tại Châu á (2,4%). Chưa ghi nhận đề kháng  tại  Việt  Nam,  Nhật,  Ấn  độ,  Malaysia (5,8,16).  Khi 

kháng  FQ,  phế  cầu  đều  kháng  PNC  và  liều  lượng levofloxacine phải tăng lên 750 mg / ngày  mới đạt hiệu quả diệt khuẩn. (2,16) 

Hemophilius  influenzae  và  M.  catarrhalis 

kháng thuốc:  

Là  hai  tác  nhân  rất  thường  gặp  gây  VPCĐ.  Sản  xuất  beta‐lactamase  được  phát  hiện  trong 

56%  H.  influenzae  và  gần  tất  cả  M.  catarrhalis. 

Khoảng  30%  H.  influenzae  kháng  với 

azithromycin  nhưng  tất  cả  M.  catarrhalis  còn 

nhậy  với  kháng  sinh  nầy.  Tại  Việt  Nam,  trong  công  trình  nghiên  cứu  đa  trung  tâm  trên  248 

chủng  vi  khuẩn  H.  influenzae  cho  thấy  có  đến 

49%  vi  khuẩn  tiết  được  men  β‐lactamse  kháng 

được  ampicillin.  H.  influenzae  còn  nhậy  cao  đối 

với  kháng  sinh  amoxicillin/clavulanic  acid  (100%), azithromycin (92%) và các cephalosporin 

* Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh 

Trang 2

(6,12) 

ĐỀ  KHÁNG  KHÁNG  SINH  CỦA  VI 

KHUẨN  GÂY  VIÊM  PHỔI  BỆNH  VIỆN 

VÀ VIÊM PHỔI THỞ MÁY 

Hiện  nay  nhiều  công  trình  nghiên  cứu  trên 

thế  giới  và  tại  Việt  nam,  vi  khuẩn  đa  kháng 

kháng sinh ngày càng gia tăng nhanh chóng đặc 

biệt tại ICU, gây khó khăn trong điều trị và gia 

tăng  tỉ  lệ  tử  vong  và  tăng  thời  gian  nằm  viện, 

tăng chi phí điều trị lên gấp nhiều lần.  

Nguyễn  Thanh  Bảo  và  cs,  trên  một  nghiên 

cứu đa trung tâm từ một số  bệnh  viện  ở  thành 

phố  Hồ  Chí  Minh  (Chợ  Rẫy,  Nhân  dân  Gia 

Định, Thống Nhất, bệnh viện 175 và Đại Học Y 

Dược) trên tổng số 785 chủng phân lập được từ 

nhiễm  khuẩn  bệnh  viện,  nhận  thấy  tỉ  lệ  viêm 

phổi bệnh viện do vi khuẩn gram âm chiếm đa 

số  (87,4%),  trong  đó  cao  nhất  là  Klebsiella  spp 

(32,99%),  Acinetobacter  spp  (25,9%),  Pseudomonas 

spp  (12,48%)  và  E.  coli  (8,79%).  Vi  khuẩn  gram 

dương  chỉ  chiếm  12,6%,  chủ  yếu  là  S.  aureus 

(4,9%)  và  S.  coagulase  âm  (4,3%).  Tuy  nhiên  số 

liệu thu được cũng thể hiện nhiều khác biệt giữa 

các trung tâm tham gia nghiên cứu (12).  

Cao  xuân  Minh  và  cs  (2010)  nghiên  cứu  về 

VPBV  do  A. baumannii    nhận  thấy  A. baumannii 

là  tác  nhân  thường  gặp  nhất  tại  khoa  Nội  thần 

kinh (28,6%), tiếp đến là khoa Hô hấp (27,7%) và 

ICU (13,9%). Tỉ lệ tử vong 45,45% (3).  

Các yếu tố nguy cơ gây VPBV với vi khuẩn 

kháng đa kháng sinh bao gồm 

Điều trị KS trong 90 ngày trước  

Nhập viện ≥ 5 ngày  

Tần suất kháng KS cao trong cộng đồng hay 

trong BV 

Có yếu tố nguy cơ VPBV 

Nhập viện ≥ 2 ngày trong 90 ngày trước  

Cư trú trong viện điều dưỡng hay trung tâm 

chăm sóc 

Điều trị truyền dịch tại nhà (bao gồm kháng 

sinh)  

Lọc máu trong vòng 30 ngày   Chăm sóc vết thương tại nhà   Thành viên gia đình có VK đa kháng kháng  sinh. 

Bệnh / hay điều trị suy giảm miễn dịch(1) 

Acinetobacter và Pseudomonas aeruginosa 

Hiện  nay  Acinetobacter  được  xem  là  vi 

khuẩn  hàng  đầu  gây  VPBV  tại  những  bệnh  viện  lớn  trong  nước  và  kháng  với  hầu  hết  kháng sinh kể cả  những  kháng  sinh  phổ  rộng  mạnh  nhất  hiện  nay.  Phần  lớn  những  kháng  sinh  sử  dụng  thường  xuyên  hiện  nay  đã  bị  kháng  như  ceftriaxone  70%,  ceftazidime  64%,  ciprofloxacine 55% và trở thành tác nhân hàng 

đầu  kháng  tòan  bộ  kháng  sinh  cùng  với  P.  aeruginosa gây rất nhiều khó khăn cho công tác  điều  trị.  A.  baumannii  cũng  là  nguyên  nhân 

hàng đầu gây viêm phổi bệnh viện tại BV Bạch  Mai  và  viêm  phổi  thở  máy  tại  bệnh  viện  Chợ  Rẫy  (42‐  61%).  Trong  nghiên  cứu  của  tác  giả  phạm Hùng Vân năm 2006, tình hình đề kháng  của  VK  BV  với  những  kháng  sinh  phổ  rộng  cũng  ở  mức  báo  động,  nhiều  kháng  sinh  phổ 

rộng  bị  kháng  ở  mức  rất  cao.  Hiện  nay  A.  baumannii  đề  kháng  rất  cao  với  carbapenem, 

đặc biệt tại ICU (50‐80%)(4,3,9,16,18,20,19). 

Vi  khuẩn  sinh  beta  lac  tamase  phổ  rộng  (ESBL) 

Sự  đề  kháng  liên  quan  đến  sản  xuất  betalactamase  phổ  rộng  (ESBL)  ngày  càng  gia  tăng  một  cách  đáng  quan  tâm  gây  đề  kháng  nhiều loại kháng sinh. Những vi khuẩn thường 

sinh  ESBL  như  Klebsiella  pneumoniae,  Escherichia  coli,  Enterobacter  là  những  vi  khuẩn  rất  thường 

gặp trong viêm phổi bệnh viện, làm gia tăng khả  năng thất bại điều trị gấp đôi so với nhiễm trùng 

do  những  tác  nhân  không  sinh  ESBL.  Theo  thống  kê  của  Bộ  Y  tế  Việt  Nam  năm  2004  tỉ  lệ 

Klebsiella sản xuất ESBL là 24% và Enterobacter là 

20% và gia tăng nhanh chóng trong những năm  gần  đây.  Tình  hình  tương  tự  cũng  xảy  ra  trên  toàn thế giới. Tại các đơn vị ICU trên cả nước vi 

khuẩn E. coli và Klebsiella sinh ESBL là 77%(1,9,11,16). 

Trang 3

MRSA trong VPBV và VPTM là 80%. Không 

những  thế  MIC  của  vancomycin  với  S.  aureus 

ngày  càng  gia  tăng  đồng  nghĩa  với  cơ  hợi  điều 

trị khỏi nhiễm trùng do vi khuẩn nầy càng ít đi 

và  chọn  lựa  những  thuốc  thay  thế  khác  như 

teicoplanin, linezolid là vấn đề thực tế hiện nay. 

Nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy và Bạch 

mai  trên  100  chủng  MRSA  cũng  có  kết  quả 

tương tự. Có đến 46 % MIC 90 ≥ 2 mg/L và 93% 

≥  1.  5  mg/L,  gây  mất  hiệu  quả  điều  trị  của 

vancomycine  mặc  dù  kháng  sinh  đồ  trên  đĩa 

thạch vẫn còn nhậy với kháng sinh nầy. (16,17) 

HƯỚNG  DẪN  ĐIỀU  TRỊ  KHÁNG  SINH 

BAN ĐẦU THÍCH HỢP 

Mục tiêu điều trị 

Đạt Hiệu quả lâm sàng cao, giảm tử vong và 

tránh  kháng  thuốc.  Nhiều  hướng  dẫn  phân 

nhóm  bệnh  nhân  dựa  vào  yếu  tố  nguy  cơ  vi 

khuẩn  kháng  thuốc,  bệnh  đồng  mắc  và  khả 

năng  vi  khuẩn  gây  bệnh  và  mức  độ  nặng  của 

bệnh.  

Điều trị viêm phổi cộng đồng:  

Điều  trị  kháng  sinh  ban  đầu  theo  kinh 

nghiệm nên hướng đến những tác nhân thường 

gặp  ngoài  cộng  đồng  như  S.  pneumoniae,  H. 

influenzae  và  M.  catarrhlis.  Kháng  sinh  có  hiệu 

quả  là  betalactam  /  ức  chế  betalactamase  +/‐ 

macrolide  hay  quinolone  hô  hấp  (levofloxacin, 

moxifloxacin).  

Bệnh nhân VPCĐ nặng nhập viện nên lưu 

ý tác nhân đường ruột gram âm (lưu ý bao gồm 

P.  aeruginosa  nếu  có  yếu  tố  nguy  cơ  nhiễm  tác 

nhân nầy) và điều trị nên bao phủ luôn tác nhân 

không  điển  hình.  Nên  dùng  kháng  sinh  đường 

tiêm  betalactam/ức  chế  betalactamase  kết  hợp 

macrolide hay quinolone(2,16). 

Điều trị VPBV, VPTM và VPCSYT  

Hiện  nay  việc  điều  trị  VPBV  đang  trở  nên 

khó  khăn  do  vi  khuẩn  đề  kháng  với  các  kháng 

sinh  đang  sử  dụng  trong  khi  thuốc  kháng  sinh 

mới được phát minh rất ít.  

Phương pháp tiếp cận điều trị hiện nay là sử  dụng  kháng  sinh  phổ  rộng,  thích  hợp  ngay  từ  đầu. Sau khi bệnh nhân cải thiện lâm sàng và có  kết quả vi sinh, điều trị kháng sinh sẽ thu hẹp lại  nhằm  tránh  kháng  thuốc,  giảm  chi  phí  (liệu  pháp xuống thang). Nguyên nhân gây VPBV đa  dạng  và  tình  hình  đề  kháng  cũng  rất  thay  đổi  tùy từng cơ sở điều trị nên một hướng dẫn điều  trị  cụ  thể  là  rất  khó  áp  dụng  chính  xác.  Cần  có  những nghiên cứu để có các dữ kiện vi sinh tại  chỗ, thường xuyên, để trên cơ sở này xây dựng  các phác đồ điều trị phù hợp(1,4,16). 

Những điểm cần lưu ý lựa chọn kháng sinh  điều trị VPBV, VPTM và VPCSYT(1,16). 

Tác nhân gây bệnh: cần biết  

Vi khuẩn chủ yếu tại bệnh viện, khoa phòng 

và tính kháng thuốc của những tác nhân nầy 

Tỉ lệ vi khuẩn đường ruột sinh ESBL  

Tỉ lệ MRSA   Những  tác  nhân  khác  (nấm,  Legionella,  kỵ  khí…).  

Cần thực hiện cấy định lượng trước khi bắt  đầu sử dụng kháng sinh.  

Bệnh nhân 

Tình trạng dinh dưỡng  Nguy  cơ  tạo  khúm  vi  khuẩn  nội  tại  hay  ngoại  lai  (dụng  cụ  điều  trị,  nội  khí  quản,  catheter, dây máy thở…) 

Kháng sinh đã dùng trước đây  Tác dụng phụ của kháng sinh   Bệnh đi kèm.  

Xem xét những điểm lưu ý kể trên sẽ giúp  chọn  kháng  sinh  phù  hợp,  giúp  giảm  tỉ  lệ  tử  vong,  giảm  chi  phí  điều  trị  và  giảm  thời  gian  nằm  viện.  Cần  phối  hợp  điều  trị  kháng  sinh  cho  những  trường  hợp  nghi  ngờ  nhiễm  trùng 

do  những  tác  nhân  đa  kháng  hoặc  cho  các  trường hợp VPBV nặng. Chọn lựa kháng sinh  cần xem xét tình hình đề kháng kháng sinh cụ  thể tại chỗ(1,4,16). 

LN Kính và cs năm 2010 nhận thấy chỉ định  kháng  sinh  ở  một  số  đơn  vị  ICU  Việt  Nam 

Trang 4

thường  là  không  thích  hợp  và  tình  trạng  này 

tăng lên nếu tác nhân gây bệnh là A. baumannii (9) 

Chọn kháng sinh thích hợp: là lựa chọn các 

kháng sinh còn nhậy cảm, sớm, đủ liều, tuân thủ 

dược động học. 

Các số liệu nghiên cứu tại các bệnh viện lớn 

tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đã công 

bố trong thời gian qua có thể sẽ là những thông 

tin  tham  khảo  về  tình  hình  kháng  thuốc  của  vi 

khuẩn gây bệnh phổ biến. Sau đây là một số gợi 

ý sử dụng kháng sinh còn nhậy cảm được tóm 

tắt từ các số liệu nói trên:  

A. baumannii: Kháng  với  hầu  hết  các  kháng 

sinh  phổ  rộng  hiện  nay  ngoại  trừ  Polymyxins,  Sulbactam. Điều trị cần phối hợp 2‐3 kháng sinh  như colistin, Sulbactam và Carbapenem  

P.  aeruginosa:  Piperacilline/tazobactam,  Cefoperazone/sulbactam  và  Carbapenem  phối  hợp Ciprofloxacin hay Levofloxacin  

Enterobacteriacae  sinh  ESBL:  Kháng  sinh 

Piperacillin/tazobactam  MRSA:  Vancomycine,  Teicoplanin,  Linezolide. (4,3,9,,11,16,18,20,19) 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sơ đồ 1: Tiếp cận bệnh nhân và điều trị kháng sinh kinh nghiệm ban đầu  (2,16)  

Ở Việt nam chưa có các nghiên cứu với kết 

quả  vi  sinh  đáng  tin  cậy  về  sự  khác  nhau  giữa 

VPBV  sớm  và  muộn.  Trong  một  nghiên  cứu 

phân tích đặc điểm vi khuẩn gây bệnh trên hai 

nhóm bệnh nhân VPBV khởi phát sớm và muộn 

tại  ICU,  Ibrahim  và  cs  nhận  thấy  tác  nhân  gây 

bệnh  của  hai  nhóm  không  khác  nhau,  đa  số  là 

do P. aeruginosa, Enterobacter spp. Kết quả này có 

lẽ là do bệnh nhân đã được điều trị kháng sinh 

trước.  Cả  hai  nhóm  VPBV  đều  có  tỉ  lệ  tử  vong 

cao hơn (37,9% do VPBV sớm và 41,1% do VPBV  muộn)  so  với  nhóm  bệnh  nhân  không  VPBV  (13,1%) (p= 0,001) (19).  

ATS 2005 cũng cho thấy rằng các trường hợp  VPCSYT là những trường hợp có yếu tố nguy cơ  nhiễm  vi  khuẩn  đa  khaqng  thuốc  (MDR)  nên  phải điều trị bằng phác đồ điều trị theo nhóm có  nguy  cơ  MDR  (phác  đồ  thứ  hai).  Đặc  điểm  vi  khuẩn  gây  bệnh  trong  nhóm  điều  trị  phác  đồ  thứ nhất giống như viêm phổi cộng đồng nặng, 

Bệnh nhân VPBV, VPTM , VPCSYT

Cần đánh giá:

- Nguy cơ nhiễm vi khuẩn đa kháng (MDR)

- Dữ kiện đề kháng tại địa phương

- Tình trạng bệnh nhân và bệnh đồng mắc

- Nhuộm Gram và cấy định lượng chất tiết hô hấp dưới

- Khả năng dung nạp thuốc

- Giá thành

Chọn kháng sinh kinh nghiệm cho trị liệu ban đầu

Trang 5

trong  khi  đó  phác  đồ  thứ  hai  cần  hướng  tới  P. 

aeruginosa,  K.  pneumoniae  (ESBL+),  Acinetobacter 

species,  Methicillin‐resistant  Staphylococcus 

(MRSA)  và  Legionella  pneumophila.  Theo  ATS 

(2005), phác đồ thứ nhất dựa trên đơn trị liệu với 

các kháng sinh là Ceftriaxone, Fluoroquinolone, 

Ampicillin/sulbactam,  Ertapenem.  Phác  đồ  thứ 

hai  dựa  trên  sự  kết  hợp  của  một  trong  các 

Betalactam  kháng  Pseudomonas  (như 

Cephalosporin:  Cefepime,  Ceftazidime; 

Carbapenem:  Imipenem,  Meropenem; 

Betalactam/kháng  betalactamase: 

Piperacillin/tazobactam)  với  hoặc 

Fluoroquinolon  kháng  Pseudomonas,  hoặc 

Aminoglycoside  và  với  kháng  sinh  kháng 

MRSA(1)

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 American Thoracic Society Documents (2005). Guidelines for 

the management of adults with hospital‐acquired, ventilator‐

asscociated,  and  healthcare‐asscociated  pneumonia. 

American  Journal  of  respiratory  and  Critical  Care  Medicine 

Vol 171. 

2 American Thoracic Society Documents (2007). Guidelines for 

the  management  of  community  acquired  pneumonia. 

American Journal of respiratory and Critical Care Medicine  

3 Cao  Xuân  Minh,  Cao  Xuân  Thục,  Trần  văn  Ngọc,  Phạm 

Hùng Vân (2010). Đặc điểm lâm sàng và mối liên quan giữa 

kiểu  gen  và  tính  kháng  thuốc  của  vi  khuẩn  Acinetobacter 

baumannii trong viêm phổi BV tại BV CR. Y học thành phố 

Hồ Chí Minh‐ Hội nghị KHKT ĐH YD TP Hồ Chí Minh lần 

thứ 27 – tập 14‐phụ bản số 1: 128‐134 

4 Cao Xuân Thục, Cao Xuân Minh, Lê Thị Huyền Trang, Trần 

Văn  Ngọc  (2010).  Đánh  giá  điêu  trị  kháng  sinh  thích  hợp 

trong viêm phổi nặng tại khoa hô hấp BVCR Y học thành phố 

Hồ Chí Minh‐ Hội nghi KHKT ĐH YD TP Hồ Chí Minh lần 

thứ 27 ‐ tập 14‐ phụ bản số 1: 142‐ 

5 Cheong  HS,  Kang  C‐I,  Wi  YM,  et  al.  (2008)  Inappropriate 

initial  antimicrobial  therapy  as  a  risk  factor  for  mortality  in 

patients  with  community‐onset  Pseudomonas  aeruginosa 

bacteraemia. Eur J Clin Microbiol Infect Dis;27: 1219–1225.  

6 Critchley,  et  al  (2002).  Antimicrobial  Resistance  among 

Respiratory  Pathogens  Collected  in  Thailand  during  1999‐

2000. J Chemother; 14: 147‐154  

7 Kang  CI ,   Song  JH  (2013).  Risk  factors  and  pathogenic 

significance  of  bacteremic  pneumonia  in  adult  patients  with 

community‐acquired  pneumococcal  pneumonia.  Journal  of 

Infection 66, 34‐40 

8 Kim SH, Song JH, Chung DR, et al (2013) Changing Trends in 

Antimicrobial  Resistance  and  Serotypes  of  Streptococcus 

pneumoniae Isolates in Asian Countries: an Asian Network for 

Surveillance of Resistant Pathogens (ANSORP) Study.  

9 Lý Ngọc Kính, Ngô thị Bích Hà (2010). Tìm hiểu thực trạng sử  dụng kháng sinh trong nhiễm khuẩn bệnh viện tại các đơn vị  điều trị tích cực ở một số cơ sở khám, chữa bệnh.  

10 Nguyễn  Thanh  Bảo  và  cs.  (2012).  Chọn  lưa  kháng  sinh  ban  đầu  trong  điều  trị  nhiễm  khuẩn  bệnh  viện  tại  một  số  bệnh  viện. TP HCM. Y học TP HCM – HNKHKT –ĐHYD TP HCM  lần thứ 29. tr 206‐214.  

11 Phạm Hùng Vân và cs. (2009). Nghiên cứu đa trung tâm khảo  sát  tình  hình  đề  kháng  các  kháng  sinh  của  các  trực  khuẩn  Gram  (‐)  dễ  mọc  gây  nhiễm  khuẩn  bệnh  viện  phân  lập  từ  1/2007 đến 5/2008. Y Học TP. Hồ Chí Minh. Tập 13: Phụ bản 

Số 2.  

12 Pham  HV,  et  al  (2007).  Haemophilus  pneumonia  with  beta‐ lactamase – Results from the multicenter study on 248 strains 

isolated  from  Viet  Nam.  Hochiminh  City  Medicine.  11: 

Supplement 3, 47‐55  

13 Pham HV, et al (2007). The multicenter study in Vietnam on  the antibiotic resistance S. pneumonia – The results from 204 

clinical isolates. Hochiminh City Medicine. 11: Supplement 3, 67‐

77  

14 Song  JH  and  ANSORP  members  (2004).  High  Prevalence  of 

Antimicrobial  Resistance  among  Clinical  Streptococcus 

pneumonia Isolates in Asia (an ANSORP Study). Antimicrobial  Agents and Chemotherapy 2004; 48(6): 2101–2107  

15 Song JH and ANSORP members (2004). Macrolide resistance 

and  genotypic  characterization  of  Streptococcus  pneumonia  in 

Asian  countries:  a  study  of  the  Asian  Network  for 

Surveillance  of  Resistant  Pathogens  (ANSORP).  Journal  of 

Antimicrobial Chemotherapy 2004; 53: 457–463  

16 Torres  A,  Mendez  R  (2008).  Community‐Acquired  Pneumonia. Strategies for Management. Wiley Blackwell.  

17 Trần Thị Thanh Nga và cs (2009). Kết quả khảo sát nồng độ 

ức  chế  tối  thiểu  của  vancomycin  trên  100  chủng  staphylococcus  aureus  được  phân  lập  tại  BV  Chợ  Rẫy  từ  tháng 5‐8/2008. Y Học TP HCM, tập 13, phụ bản của số 1 tr  295‐299.  

18 Trần  Văn  Ngọc,  Cao  Xuân  Minh,  Cao  Xuân  Thục,  Lê  Thị  Huyền  Trang  (2010)    Đánh  giá  hiệu  quả  của  cephalosporin  thế hệ 3 trong điều trị viêm phổi nặng tại khoa hô hấp BVCR‐ 

Y học thành phố Hồ Chí Minh‐ Hội nghi KHKT ĐH YD TP 

Hồ Chí Minh lần thứ 27 – tập 14‐phụ bản số 1 

19 Võ Hữu Ngoan (2010). Nghiên cứu tình hình Viêm phổi liên quan 

đến thở máy tại khoa săn sóc bặc biệt bệnh viện Chợ Rẫy. Luận văn  cao học Hướng dẫn xử trí các bệnh nhiễm trùng hô hấp dưới 

không do lao. Hội Lao và Bệnh Phổi VN. First edition.  Nhà 

Xuất bản Y học. 

20 Vũ  Quỳnh  Nga  (2011).  Đặc  điểm  lâm  sàng  của  nhiễm  Acinetobacter  baumannii  ở  bệnh  nhân  viêm  phổi  thở  máy.  Luận văn thạc sỹ y học –ĐHYD TP HCM 

 

Ngày nhận toàn văn: 01/11/2013  Ngày đăng báo: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 04/09/2016, 12:21

w