Vai trò của sách giáo khoa đối với việc dạy học ở trờng phổ thông 1 – Quan niệm về sách giáo khoa Sách giáo khoa SGKlà tài liệu nhằm cụ thể hoá chơng trình môn học qua một hệ thống các b
Trang 1Tổ Khoa học tự nhiên Trờng THPT Sơn Động số 3
GV: Nguyễn quang hùng Dạy học tự chọn ở trờng THPT
Cùng với phân ban, dạy học tự chọn cũng là một hình thức phân hoá dạy học đợc thực hiện ở trờng THPT Hình thức dạy học này đợc thể hiện qua các chuyên đề tự chọn
Phân ban và dạy học tự chọn là hai hình thức phân hoá dạy học tồn tại lâu dài và bền vững trong việc thiết kế các chơng trình và kế hoạch dạy học ở bậc trung học của hầu hết các nớc trên thế giới
Dạy học tự chọn đã trở thành hình thức dạy học chính thức trong chơng trình THPT của ta hiện nay
1 – Mục tiêu của chơng trình tự chọn THPT
- Bổ sung và khai thác sâu chơng trình các môn học bắt buộc của các ban khác nhau, góp phần làm cho việc phân ban đợc đậm nét hơn, đồng thời cung cấp một số nội dung mới theo yêu cầu của ngời học và cộng đồng
- Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng học tập của các đối tợng HS khác nhau
- Tăng cờng rèn luyện tích cực, tự giác và nhất là khả năng tự học của HS
2 – Nguyên tắc xây dựng chơng trình tự chọn
Chơng trình tự chọn (CTTC) đợc xây dựng dới hình thức một tập hợp các “chuyên đề” Ngoài việc phải tuân thủ các nguyên tắc chung của việc xây dựng chơng trình các môn học bắt buộc, việc xây dựng CTTC còn phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Bảo đảm tính mục tiêu riêng biệt của dạy học tự chọn
- Bảo đảm tính liên thông giữa CTTC với chơng trình bắt buộc
- Có tính mềm dẻo cao để có thể vận dụng một cách linh hoạt cho các đối tợng khác nhau trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, có thể thay đổi theo các giai đoạn phát triển khác nhau của giáo dục và đào tạo
- Có tính thiết thực cao, gây đợc hứng thú cho HS
- Các chuyên đề có tính độc lập tơng đối với nhau để tạo điều kiện cho HS có thể dễ dàng lựa chọn tùy theo năng lực và nguyện vọng cá nhân
3 – Nguyên tắc xây dựng các chuyên đề: Có 3 loại chuyên đề chính sau đây:
a) Chuyên đề cơ bản: Giúp HS đạt mặt bằng chuẩn nắm đợc kiến thức và kĩ năng cơ bản nhất
của chơng trình THPT Chuyên đề cơ bản chủ yếu gồm các chuyên đề tổng kết, hệ thống hoá và củng cố kiến thức đã học, rèn kĩ năng vận dụng kiến thức để giải các bài tập Các chuyên đề này tập trung vào các nội dung khó, phức tạp và các nội dung trọng tâm của chơng trình mà HS cha nắm đợc qua các tiết học bắt buộc
Loại này dành cho các HS trung bình và dới trung bình
b) Chuyên đề nâng cao: Giúp HS hiểu rộng hơn, sâu hơn nội dung của CT bắt buộc, tạo điều
kiện cho HS có thể phát huy đợc năng lực của mình, chuẩn bị tiềm năng cho việc tiếp tục học lên theo những định hớng ngành nghề đã lựa chọn Loại này dành cho các HS trên TB
c) Chuyên đề ứng dụng: Đây là các chuyên đề cung cấp những nội dung mới, nhằm đáp ứng
yêu cầu của thực tiễn cuộc sống và nguyện vọng của cá nhân HS Những chuyên đề này có nội dung rất đa dạng, có thể gắn với một, hai hoặc nhiều môn học, có thể chỉ có tính hớng nghiệp nhng cũng
có thể có tính nghệ nghiệp cụ thể, có thể gắn với những đặc điểm của một vùng rộng lớn nhng cũng
có thể chỉ gắn với những đặc điểm của một địa phơng hẹp; có thể đề cập đến những vấn đề trớc mắt của cuộc sống, nhng cũng có thể đề cập đến những nội dung cần thiết cho tơng lai …
1
Trang 2Tổ Khoa học tự nhiên Trờng THPT Sơn Động số 3 Loại này dành cho mọi đối tợng HS
4 – Cấu trúc của một chuyên đề
Mỗi chuyên đề đều có các mục sau đây:
- Mục tiêu: Có địa chỉ rõ ràng cho từng loại chuyên đề
- Điều kiện học tập: Nêu rõ các điều kiện cần thiết để học chuyên đề, bao gồm ph ơng tiện và thiết bị cần chuẩn bị, tài liệu tham khảo ; thời gian dành cho việc học chuyên đề
- Hớng dẫn cách học: Trình bày các phơng pháp có thể dùng để học chuyên đề trong đó đề cao phơng pháp tự học
- Nội dung: Nội dung của chuyên đề có thể đợc trình bày theo cấu trúc
+ Cung cấp thông tin
+ Xử lí thông tin và rút ra kết luận
+ Vận dụng
- Tự đánh giá: Các bài tập và câu hỏi giúp HS tự đánh giá kết quả học tập
Vai trò của sách giáo khoa đối với việc dạy học ở trờng phổ thông
1 – Quan niệm về sách giáo khoa
Sách giáo khoa (SGK)là tài liệu nhằm cụ thể hoá chơng trình môn học qua một hệ thống các bài học
Đối với học sinh, SGK không chỉ có chức năng cung cấp những kiến thức, kĩ năng chuẩn mực
và cần thiết mà còn góp phần hớng dẫn phơng pháp học tập, củng cố những kiến thức đã học và tạo
điều kiện phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện t duy, logic, độc lập và sáng tạo
Đối với giáo viên, SGK là tài liệu thể hiện khối lợng và mức độ nội dung kiến thức, đồng thời góp phần hớng dẫn cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm đạt mục tiêu bài học
Đối với ngành giáo dục và cả xã hội thì SGK là căn cứ để đánh giá kết quả dạy học nói chung
và kết quả học tập thi cử nói riêng của học sinh
Đối với khoa học giáo dục và khoa học tâm lí, SGK là một đối tợng nghiên cứu quan trọng SGK
đ-ợc coi là công trình nghiên cứu khoa học giáo dục
Đối với thế giới, SGK là công cụ giao lu quốc tế trong thời đại toàn cầu hoá
2 – Vai trò của sách giáo khoa
SGK đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục, nó sẽ phát huy tác dụng tích cực thông qua hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của các điều kiện và phơng tiện dạy học
SGK các môn ở trờng phổ thông có những vai trò chủ yếu sau:
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng cơ bản, hiện đại, thiết thực và có hệ thống theo những qui định trong chơng trình
- Góp phần hình thành cho học sinh phơng pháp học tập tích cực, khả năng tự học, tự nghiên cứu môn học SGK là tài liệu quan trọng nhất để học sinh tự học, tự tiếp thu tri thức cần thiết cho bản thân
- Tạo điều kiện cho học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá kiến thức, kĩ năng, tự khẳng định khả năng của mình đối với môn học
- Góp phần chủ yếu trong nhiệm vụ giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và nhân cách cho học sinh
- Chuẩn bị và tạo điều kiện cho học sinh tiếp tục học lên hoặc vào các trờng học nghề hoặc trực tiếp vào đời tham gia các hoạt động của đời sống xã hội
3 – Chức năng của sách giáo khoa
Sách giáo khoa có những chức năng chủ yếu sau đây:
a) Đối với học sinh
- Cung cấp thông tin bao gồm những sự kiện, hiện tợng cụ thể, những khái niệm, những định luật, những qui tắc, những lí thuyết của bộ môn
2
Trang 3Tổ Khoa học tự nhiên Trờng THPT Sơn Động số 3
- Phát triển những kĩ năng làm bài tập, thực hành thí nghiệm, kĩ năng lao động … Hình thành và phát triển ở học sinh phơng pháp học tập, nghiên cứu khoa học, thu thập thông tin và xử lí thông tin …
- Củng cố, vận dụng những hiểu biết trong những tình huống khác nhau của thực tiễn, nhằm
đảm bảo sự bền vững và tính hiệu quả của kiến thức và kĩ năng cho bản thân
- Tra cứu, tham khảo: SGK đợc coi là một công cụ tin cậy, có tính thuyết phục cao đối với
HS, giúp cho HS tìm kiếm đợc những thông tin chính xác, phù hợp với lứa tuổi, với trình độ hiện tại của HS
- Về mặt văn hoá, xã hội nhằm hình thành, phát triển ở học sinh khả năng ứng xử, có hành vi văn minh, giúp họ ý thức đợc vị trí của mình trong gia đình, nhà trờng và xã hội
- SGK giúp học sinh liên kết những kiến thức kĩ năng đã học với cuộc sống và sản xuất nhằm nâng cao chất lợng cuộc sống cá nhân, gia đình và cộng đồng
b) Đối với giáo viên
- Qui định phạm vi và mức độ kiến thức kĩ năng mà giáo viên cần phải chuyển tải đến học sinh
- Giúp giáo viên có phơng hớng hành động trong việc tổ chức các hoạt động dạy học và khơi gợi, phát huy khả năng tự học của học sinh
- Hỗ trợ cho giáo viên trong việc thế kế giáo án, tiến hành bài học, tổ chức điều khiển lớp học, đánh giá học sinh
Nh vậy, SGK có tính chất đa năng, có tác dụng nhiều mặt Vì vậy SGK có vai trò chủ yếu và quan trọng nhất trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trờng PT
4 – Về sách giáo khoa đổi mới
SGK mới đã đợc biên soạn theo những định hớng sau:
- Góp phần vào việc thực hiện mục tiêu: đức, trí, thể, mĩ, các kĩ năng cơ bản, hớng nghiệp
- Góp phần đổi mới phơng pháp dạy học: Cách trình bày, cấu trúc bài học, cấu trúc SGK phải giúp học sinh biết cách tự học và hợp tác với bạn trong học tập tích cực, chủ động, sáng tạo trong phát hiện và giải quyết vấn đề để tự chiếm lĩnh tri thức mới, giúp học sinh biết tự đánh giá kết quả học sinh của bản thân
- Nội dung sách đã bảo đảm tính khoa học, cơ bản chính xác, tinh giản, thiết thực và cập nhật phù hợp với sự phát triển của khoa học – công nghệ, kinh tế – xã hội
- Có sự hài hoà và thống nhất cao giữa cấu trúc, nội dung, phơng pháp và hình thức trình bày với tính đa dạng linh hoạt ở các nội dung cụ thể nhằm giúp học sinh vừa thuận lợi trong việc sử dụng sách vừa phát triển đợc khả năng t duy sáng tạo
- Mức độ nội dung phải phù hợp với trình độ phát triển chung của số đông học sinh, bảo đảm tính khả thi trong điều kiện đa dạng của đất nớc
- Phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của từng ban và góp phần phát hiện, bồi d ỡng những học sinh có năng lực đặt biệt Đảm bảo yêu cầu phân hoá đối với các đối tợng học sinh
- Đảm bảo sự phát triển liên tục của các mảng kiến thức chủ yếu của môn học từ THCS đến THPT Sự phát triển đó có thể đi theo các cách hoặc là đồng tâm, đờng thẳng hoặc “xoáy trôn ốc” tùy theo yêu cầu mà chơng trình bộ môn đã qui định
- Tích hợp các kiến thức chứa đựng những vấn đề đang đợc quan tâm nh giáo dục bảo vệ môi trờng, giáo dục dân số và sức khoẻ sinh sản, giáo dục giới, giáo dục phòng chống tệ nạn ma tuý, giáo dục an toàn giao thông … theo nguyên tắc: gắn nội dung của SGK với thực tiễn cuộc sống nh
-ng khô-ng làm cho việc học tập trở nên nặ-ng nề
3
Trang 4Tổ Khoa học tự nhiên Trờng THPT Sơn Động số 3
- Đảm bảo yêu cầu về văn phong đặc trng của SGK Ngôn ngữ phải trong sáng, dễ hiểu (cho
HS ở mọi vùng, miền) Các câu, chữ đợc viết ở dạng chuẩn mực, đơn trị, tránh có thể hiểu theo các nghĩa khác nhau
- Coi trọng vai trò của phơng tiện dạy học Phơng tiện dạy học không chỉ dừng ở mức minh hoạ nội dung dạy học mà phải trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phân hữu cơ của phơng pháp
và nội dụng DH
tổ chức các hoạt động cho học sinh xây dựng những bài
toán mới từ những bài toán đã biết
GV: Lơng Đình Giáp
Trong quá trình dạy học phần lợng giác ở lớp 11 THPT, để phát huy đợc tính tích tích cực chủ động, khả năng ham tòm tòi học hỏi của học sinh thiết nghĩ giáo viên cần tổ chức các hoạt
động giúp cho học sinh xây dựng những bài toán mới từ những bài toán đã biết Học sinh thấy việc
đề ra một bài toán không còn là công việc quá bí ẩn, cao siêu, vợt khả năng của các em Có thể nêu
ra một ví dụ cụ thể sau:
* Ví dụ: Trong ABC ta có :
Sin 2 A + sin 2 B + sin 2 C
4
9
(I)
Từ bất đẳng thức (I), giáo viên có thể tổ chức các hoạt động cho học sinh để từ đó học sinh xây dựng đợc những bài toán mới hay và thú vị
+ GV: Sin2A, Sin2B, Sin2C có thể biểu diễn theo các công thức nào? Từ đó hãy xây dựng các bài toán mới?
+ HS : Hớng 1: Sin2A= 1- cos2A
Hớng 2: Sin2A=
2
A 2 cos
1
Hớng 3: SinA=
R 2 a
* Hớng 1: Sin2A= 1- cos2A
Từ (I) ta có : cos2A + cos2B + cos2C
4
3
*Hớng 2: Sin2A=
2
A 2 cos
1
Từ (I) ta có : cos2A+cos2B+cos2C
2
3
* Hớng 3: SinA=
R 2
a (định lí sin)
Từ (I) ta có: a2+b2+c2 9R2 (3)
+ GV: Từ bất đẳng thức (3) hãy xây dựng những bài toán mới (áp dụng các bất đẳng thức cổ điển, liên hệ với các bất đẳng thức quen thuộc)?
+ HS:
áp dụng bất đẳng thức Bunhiacopxki ta có:
(a+b+c)2 3(a2+b2+c2) 27R2 a b c 3 3 R (4)
Có bất đẳng thức : a2+b2+c2 ab+bc+ca abbcca9R2 (5)
+ GV: Vế trái của (3) a2+b2+c2 xuất hiện trong các bài toán nào của phần hệ thức lợng trong tam giác?
4
Trang 5Tổ Khoa học tự nhiên Trờng THPT Sơn Động số 3 + HS :
a2+b2+c2=
3
4 (ma2m2b m2c)
Từ định lí cotang ta có: a2+b2+c2= 4S (cotgA+cotgB+cotgC)
Từ đó ta có hai bài toán (6), (7)
c 2 b 2
4
27 m m
S 4
R 9 gC cot gB cot gA cot
2
+ GV: Từ (6) xây dựng tơng tự nh xây dựng (4), (5) ta có kết quả gì?
2
9 m m
4
R 27 m m m m m m
2 a
c c b b
+ GV: Vế trái của (9) có thể viết dới dạng
r R 4 2
R R 4 R
2
9
Vậy có dự đoán gì?
+ HS : Cho ABC.CMR: ma mb mc 4 R r (10)
Chứng minh (10) Xét ABC, trung tuyến AM, O là tâm đờng tròn
ngoài tiếp
Ta có
A cos R R COM cos
R R m OM
AO
Tơng tự ta có mb R cos C ; mc R R cos C
) C cos B cos A (cos R R 3 m
m
ma b c
Mặt khác cosA+cosB+cosC=1+
2
C sin 2
B sin 2
A sin 4
R
r
1
ma mb mc4R+r (đpcm)
+ GV: Vế trái của (I) sin2A+sin2B+sin2C còn xuất hiện trong bài toán nào?
+ HS: sin2A+sin2B+sin2C=2+2 cosA.cosB.cosC
Do đó ta có: cosA.cosB.cosC
8
1
+ HS: áp dụng bất đẳng thức Bunhiacopxki tacó:
2
3 3 C sin B
sin
A
sin
4
27 ) C sin B sin A (sin 3 ) C sin B
sin
A
(12)
+ GV: Hãy phát biểu bài toán (3)(4)(6)(8) bằng ngôn ngữ khác?
+ HS: bài toán (3)(4)(6)(8) thứ tự đợc phát biểu bằng ngôn ngữ hình học nh sau
Bài toán 1: Tìm tam giác nội tiếp đờng tròn cho trớc có tổng bình phơng độ dài các cạnh đạt giá trị lớn nhất
Bài toán 2: Tìm tam giác nội tiếp đờng tròn cho trớc có chu vi đạt giá trị lớn nhất
5
A
C
M
m
a
R
Trang 6Tổ Khoa học tự nhiên Trờng THPT Sơn Động số 3
Bài toán 3: Tìm tam giác nội tiếp đờng tròn cho trớc có tổng bình phơng độ dài các đờng trung tuyến đạt giá trị lớn nhất
Bài toán 4: Tìm tam giác nội tiếp đờng tròn cho trớc có tổng độ dài các đờng trung tuyến đạt giá trị lớn nhất
+ GV: Từ ví dụ trên hãy cho biết để xây dựng các bài toán mới từ các đẳng thức, bất đằng thức l ợng giác đã biết có thể đi theo các hớng nào?
+ HS:
1 Nhìn các đối tợng lợng giác có trong bài toán ban đầu dới nhiều khía cạnh khác nhau (chủ yếu là sử dụng các công thức khác nhau)
2 Liên hệ với các bài toán khác
3 Sử dụng các bất đẳng thức cổ điển: Cauchy, Bunhiacopxki, bất đẳng thức về hàm lồi…
4 Phát biểu bài toán dới dạng khác:
Từ một bài toán chứng minh bất đẳng thức , ta đa về bài toán
nhận dạng tam giác trong trờng hợp dấu bằng xảy ra ở bất đẳng thức
Phát biểu bài toán bằng ngôn ngữ hình học
5 Mở rộng bài toán đã biết (sử dụng thao tác t duy khái quát hoá)
6 Thu hẹp bài toán đã biết (sử dụng thao tác t duy đặc biệt hoá)
Nh vậy từ bất đằng thức rất cơ bản trong tam giác
4
9 C sin B sin A
Ta có thể tổ chức các hoạt động cho học sinh để các em có thể xây dựng đợc nhiều bài toán mới khác nữa ngoài 12 bài toán ở trên từ ví dụ (I) Các bài toán ở trên có thể đ ợc xây dựng từ các h-ớng khác ngắn gọn hơn Tuy nhiên với cách tổ chức các hoạt động nh trên học sinh sẽ rất thích thú bởi chúng luôn phải vận động suy nghĩ, phải biết móc lối các bài toán, các công thức lợng giác với nhau, nhìn nhận các đối tợng lợng giác dới khía cạnh khác nhau và quan trọng hơn là các bài toán đợc mở rộng một cách rất tự nhiên trên cơ sở kiến thức cơ bản.Vì vậy việc tổ chức các hoạt động cho học sinh xây dựng các bài toán mới là rất cần thiết, có nhiều cơ hội phát triển năng lực t duy sáng tạo cho học sinh Nhóm toán xin chân thành cảm ơn các thầy cô và mong đ
-ợc cùng các thầy cô trao đổi về vấn đề nhỏ vừa nêu ra ở đây
Một số yếu tố ảnh hởng tới tâm lý chán học tập của học sinh
Giáo Viên: Phạm Văn Lâm, Hoàng Văn Thanh_Nhóm Vật lý
6
Trang 7Tổ Khoa học tự nhiên Trờng THPT Sơn Động số 3 Hiện nay, sự
tích cực học tập
của học sinh, cụ
thể ở đây là học
sinh đang là vấn đề
đợc quan tâm
Qua thực tiễn
giảng dạy tại trờng
THPT một câu hỏi
đặt ra là: Có phải
là do cha thực sự
hứng thú học tập
hay là do một lý do
nào đó mà quả học
tập của học sinh
cha cao? Những
yếu tố nào ảnh
h-ởng đến tính tích
cực học tập của
học sinh Câu trả
lời không chỉ ở
phía học sinh mà
còn đặt ra cho cả
ngời giảng dạy
Ngời dạy phải làm
gì để tích cực hoá
học tập ở học sinh
Để làm sáng tỏ
vấn đề đã đặt ra thì
ta cần hiểu thêm về
tính tích cực hoá
Có thể nói: Tích
cực hoá biểu hiện ở
tính tích cực, tự
lực, tự giác và năng
động trong quá
trình học tập của
mình, là học tập có
động cơ học tập
Một số biểu
hiện tính tích
cực
- ở sự chú ý
trong bài học của
học sinh
- ở sự tích
cực, hăng hái tham
gia xây dựng bài
học (thể hiện ở chỗ
giơ tay phát biểu ý
kiến, ghi chép đầy
đủ của học sinh)
- ở sự chuẩn
bị bài của học sinh
trớc khi đến lớp
- ở việc tự
học ở nhà
- ở sự nắm
đợc nội dung bài
học và trình bày lại
nôi dung bài học
theo cách riêng của
mỗi học sinh
- ở ý thức
làm thêm các bài
tập khác hoặc tìm hiểu thêm ở các sách tham khảo khác của học sinh
- ở tốc độ tiếp thu kiến thức nhanh, chậm
- ở hứng thú học tập do bản thân hay vì một tác động nào đó mà phải học
- ở quyết tâm, ý chí vợt khó khăn trong học tập
- ở tính sáng tạo trong học tập
Một số yếu tố ảnh h - ởng tới tính tích cực học tập của học sinh:
- Do hổng kiến thức
- Do cha xác
định mục tiêu học tập
- Do sức khoẻ
- Do các bài giảng của giáo viên cha thực sự kích thích hứng thú học tập cho học sinh
- Do cha có cách học
đúng cũng
là nguyên nhân ảnh hởng khá
lớn đến hứng thú học tập của học sinh
- Tuy nhiên tôi nhận thấy: Yếu
tố chủ yếu ảnh h-ởng khá lớn đến hứng thú học tập của học sinh là xuất phát từ ngời học Bên cạnh đó nguồn tài liệu phục
vụ học tập của học sinh còn hạn chế cũng là nguyên nhân quan trọng và phơng pháp giảng dạy, lòng nhiệt tình trong nghề nghiệp
của thầy cô có mức
độ ảnh hởng hơn cả
Vì, tính tích cực học tập của học sinh còn xuất phát từ môn học Một ngời giáo viên có thể phát huy đợc hứng thú học tập cho học sinh phải là ngời giúp học sinh nhận thấy đợc giá trị mà
cụ thể là những ứng dụng cụ thể của môn học mình
đang giảng dạy trong thực tiẽn
Nguyên nhân để dẫn đến chán học của học sinh thì có vô vàn
lý do nh: học không tập trung,
không có hoặc rất ít tài liệu, lợng kiến thức lớn, Thì trong đó yếu tố phơng pháp giảng dạy và lòng nhiệt tình trong quá trình giảng dạy của ngời giáo viên đợc học sinh đề cập đến nhiều nhất Với cách dạy đơn điệu,
tẻ nhạt một chiều,
đơn giản chỉ là thầy đọc trò chép, không có sự trao
đổi giữa ngời dạy
và ngời học Còn các yếu tố gây hứng thú học tập ở học sinh thì rất ít
Ngoài ra học sinh có không
ít những điều mong đợi từ ngời giảng dạy mình:
Hiểu tâm lí học sinh, có phơng pháp giảng dạy có sáng tạo, trình độ chuyên môn của giáo viên cao tạo lòng tin cho học sinh; Hớng dẫn cách học cho học sinh; Lòng nhiệt tình khi giảng dạy;
Khơi gợi tính t duy, sáng tạo; Tạo không khí lôi cuốn trong giờ dạy
Trong số này yếu
tố mong đợi nhất
từ ngời giáo viên là phơng pháp giảng dạy
Để khắc phục yếu tố trên tôi mạnh dạn đ a ra ý kiến sau:
Phải có sự trao đổi hai chiều giữa giáo viên và học sinh là yếu tố cần thiết Yếu tố chính là học sinh phải tự học để có một vốn kiến thức nhất định thì từ đó mới có thể tiếp thu các kiến thức mới một cách dễ dàng Khi đó, ngời giáo viên sẽ phải làm cho học sinh nhận thức đợc tầm quan trọng của việc học
Để từ đó, học sinh
có nhận thức riêng
và tạo cho mình một động cơ, một mục đích học tập tốt Mặt khác giáo viên phải đa dạng hoá phơng pháp giảng dạy sao cho kích thích t duy,
khuyến khích học sinh chủ
động, tự tin hơn trong quá trình tiếp nhận kiến thức
Tiếp đến là ngời giáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của mình, kĩ năng, nghiệp vụ s phạm
Bên cạnh
đó, khi giảng dạy thì luôn với một thái độ nhiệt tình, quan hệ thân thiện, hợp tác, luôn quan tâm đến học sinh , tạo một không khí thoải mái (có đôi chút hài hớc) Điều
đó sẽ giúp thầy trò gần gũi nhau hơn
Đa dạng hoá hoạt động trên lớp với sự sáng tạo của ngời thầy và
sự tích cực của ngời trò, bằng các
7
Trang 8Tổ Khoa học tự nhiên Trờng THPT Sơn Động số 3 hình thức: phát
vấn (đa ra một số
câu hỏi mở) và
dành nhiều thời
gian để học sinh
đào sâu kiến thức
dới sự hớng dẫn
của thầy giáo
Tiếp cận vấn đề từ
đơn giản đến phức
tạp, từ cái đã biết
đến cái cha biết để
học sinh tin tởng
vào khả năng của
mình khi tiếp
nhận cái khó Liên
kết các khối kiến
thức với nhau để
kiến thức có hệ
thống Khi giảng
dạy, cần chú ý
xem phơng pháp
có phù hợp với số
đông không Luôn
liên hệ kiến thức
đó với thực tiễn
cuộc sống, có xuất
xứ từ những kiến
thức đang học
Nhanh chóng tiếp
thu các phản hồi
của học sinh một
cách liên tục, để
ngay tại lớp, tại
thời điểm đó thay
đổi ngay cách tiếp
cận
Còn khi
học sinh tỏ ra
chán môn học thì
ngời giáo viên phải
tìm hiểu nguyên
nhân: “Tiên trách
kỉ, hậu trách nhân”
xem lại bản thân
mình, xem lại
ph-ơng pháp giảng
dạy của mình có
phù hợp với số
đông hay không,
phơng pháp có quá
mới lạ, có quá sức
không, có nhàm
chán, đơn điệu hay
không? Dựa trên
một số tìm hiểu
nh vậy, từ đó có
thể đa ra một số
biện pháp giáo dục
thích hợp
Các biện
pháp cụ thể để
tích cực hoá
học tập rất
phong phú, nh -
ng nói chung
gồm một số nh
sau:
- Tăng cờng học nhóm và cá
nhân
- Bài giảng phải đảm bảo yêu cầu trực quan, sinh
động, đa dạng có liên hệ chặt chẽ với thực tiễn
- Sử dụng những phơng pháp dạy học thích hợp với ngời học và mục tiêu, nội dung học tập
- Tổ chức và khuyến khích các hoạt động thực hành, thực nghiệm, ứng dụng tri thức của học sinh trong học tập, và quan trọng hơn nữa cả
trong đời sống thực
tế, trong công việc hằng ngày ở trờng,
ở nhà, ở mọi nơi
- Huy động
và sử dụng kinh nghiệm sống, kinh nghiệm học tập của ngời học trong quá
trình học tập
- Tổ chức các tình huống dạy học linh động, đòi hỏi học sinh phải thực hiện nhiều quan hệ tơng tác hợp tác, tham gia và chủ
động suy nghĩ, hành động, tự kiểm tra, tự đánh giá
- Sử dụng trò chơi và những môi trờng học tập cởi
mở khác để nâng cao tính tự giác, tự nguyện, tự do của học tập, giảm nhẹ sự căng thẳng thể chất và tâm lí của ngời học
- Đánh giá
ngời học và kết quả học tập khách quan, công bằng,
cụ thể, kịp thời, kết hợp với việc tổ
khích ngời học tự
đánh giá quá trình
và kết quả học tập
của mình và đánh giá lẫn nhau
- Thu hút,
động viên học sinh hợp tác, tơng trợ, quan tâm lẫn nhau trong học tập
Tóm lại, mặc
dù các biện pháp tích cực hoá học tập vô cùng phong phú, nhiều hình nhiều vẻ, nhiếu cấp
độ, trên đây chỉ là
ý kiến cá nhân tôi
đa ra để bạn đọc tham khảo rất mong có sự đóng góp ý kiến của bạn
đọc
8
Trang 9Tæ Khoa häc tù nhiªn Trêng THPT S¬n §éng sè 3
BiÖn ph¸p gi¶ng d¹y giê thùc hµnh tin häc trong
D¹y lËp tr×nh THPT
GV: NguyÔn V¨n Trêng
Thực trạng không hiếm hiện nay là
giờ thực hành, giáo viên (GV) sau khi khởi
động máy tính lại phải đợi học sinh (HS) gõ
văn bản chương trình mất rất nhiều thời gian,
sau đó hướng dẫn sửa lỗi được 1, 2 nhóm là
hết giờ Trong khi đó các nhóm khác, HS
không biết phải làm gì, không biết khắc phục
lỗi như thế nào, thậm chí còn không biết là
mình có sai hay không? Đa số học sinh không
tự sửa được lỗi, nếu HS có hỏi, GV cũng
không đủ thời gian sửa lỗi cho tất cả các máy
Đặc biệt học sinh gặp khó khăn trong các
trường hợp mà bài tập thực hành chưa có
chương trình cụ thể mà mới được giáo viên
mô tả giải thuật và lúng túng không biết viết
các lệnh nhằm giao tiếp giữa người và máy
được dễ dàng
Một số HS không thể thực hành được
nhiệm vụ của giờ thực hành nên chán nản,
gây mất trật tự hoặc quay sang thực hiện các
thao tác ngoài nội dung bài học, do đó, các
giờ thực hành thường không đạt được mục
đích, yêu cầu đã đề ra
Để nâng cao chất lượng dạy học thì
một trong các biện pháp là phải thực hiện hiệu
quả các giờ thực hành trên phòng máy Cụ thể
trong giảng dạy, Tôi tiến hành các biện pháp
sau:
* Nhanh chóng giúp HS qua khỏi các bỡ ngỡ
ban đầu khi tiếp xúc với công việc soạn thảo,
soát lỗi và thực hiện một chương trình Trong
hai tiết thực hành đầu tiên, GV chuẩn bị nạp
sẵn vàp máy một số chương trình đơn giản chỉ
sử dụng các lệnh gán, tính toán, đổi chỗ,
Sau khi giới thiệu cho HS các thủ tục vào ra,
cách soạn thảo chương trình, cách soát lỗi,
thực hiện chương trình, với phần mềm TP
Pascal, GV cho HS gọi cá chương tình có sẵn
và yêu cầu HS thực hiện hai công việc:
- Từ văn bản chương trình trên màn hình yêu
cầu HS xác định phần tựa, phần khai báo,
phần thân chương trình Chỉ rõ ý nghĩa của
từng câu lệnh Qua đó, HS hiểu rõ hơn về cấu
trúc của một chương
- Thực hiện chương trình với các dữ liệu đầu
vào thay đổi và yêu cầu HS có nhận xét về
mối "quan hệ" kết quả thực hiện chương trình
(Output) với dữ liệu mà các em nhập từ bàn
phím (Input) Qua đó khắc sâu cho HS thấy được một chương trình để giải quyết một lớp các bài toán tương tự
* Đối với các bài tập mẫu đã chữa trên lớp thì
GV chuẩn bị sẵn chương trình (để hạn chế thời gian HS dành cho gõ văn bản) Trong chương trình cài một số lỗi thường gặp (các lỗi 11, 20, 35, 37, và từ 85 đến 95, ), sau đó
là một lỗi ở mức độ khó hơn (các lỗi 21, 41,
42, 74, 135, ) GV yêu cầu HS đối chiếu với bảng thông báo các lỗi trong TP Pascal treo trong phòng máy để xác định lỗi đó là lỗi nào? Nguyên nhân dẫn đến lỗi đó là do dòng lệnh thứ bao nhiêu trong văn bản chương trình, cách khắc phục? Và ghi các thông tin
đó vào vở bài tập
Các biện pháp này rất có hiệu quả Bên cạnh việc tránh cho HS không biết phải làm từ đâu, phải làm như thế nào trong các giờ thực hành đầu tiên GV cho HS làm quen với việc thực hiện một giải thuật cụ thể trên máy Mặt khác, GV còn chuẩn bị các bảng
mô tả giải thuật mà HS đang thực hiện và yêu cầu HS đối chiếu từng bước của giải thuật với các câu lệnh thực hiện các bước đó tên máy tính Như vậy HS có thể "vào guồng" ngay từ những tiết thực hành đầu tiên
* Trong các giờ thực hành tiếp theo, Tôi tiến hành các hoạt động theo nhóm Nhóm ở đây
là các HS cùng sử dụng một chiếc máy tính, các em cùng chuẩn bị bài tập ở nhà, cùng tiến hành soạn thảo chương tình và thực hiện chương trình đó Có nhiều tiêu chí trong nhóm học tập, song tôi phân chia nhóm chủ yếu theo địa bàn (vì một trong những đặc điểm của HS miền núi là địa bàn cư trú rộng)
Để tránh hiện tượng trong cả giờ thực hành chỉ có một hoặc hai HS thực sự làm việc còn các HS khác chỉ quan sát thì trong mỗi giờ thực hành, phân công công việc chi tiết thành
2 hoặc 3 phần (vì số máy tính có hạn nên một nhóm thực hành thường có 2 đến 3 HS) và tuỳ nhận thức của HS mà yêu cầu cụ thể với mỗi thành viên của nhóm phải hoàn thành công việc nào trong các công việc trên Trong đánh giá, GV dựa trên kết quả của từng công việc của tưng HS và kết quả chung của các thành viên trong nhóm
9
Trang 10Tæ Khoa häc tù nhiªn Trêng THPT S¬n §éng sè 3 + Đối với các bài tập GV giao cho, HS tự xác
định thuật giải và lập trình thì có thể HS chỉ
cần thấy chương trình không còn lỗi cú pháp
là cho rằng đã hoàn thành nhiệm vụ mà không
hề hoặc không xác định kết quả có đúng hay
không? Do đó, GV chuẩn bị một bộ dữ liệu
tối thiểu đủ để Test tất cả các khả năng có thể
có Ví dụ khi ra bài tập: Lập trình giải bất
phương trình bậc nhất một ẩn: ax + b > 0 thì
bộ dữ liệu test có thể là ({a = 2, b = 3, {a = 2,
b = 4}, {a = 0, b = 1}, {a = 0, b = 0}) Có như
vậy HS sẽ tự mình kiểm tra được tính đúng
đắn của chương trình
* Sau mỗi giờ thực hành, vào tiết học tiếp
theo, GV dành ra ít phút nhận xét về giờ thực
hành, các lỗi mà HS thường gặp trong giờ
thực hành đó Có khen, chê rõ ràng, đặc biệt
phân tích đánh giá, so sánh giữa các chương
trình của các em Ví dụ, khi lập trình giải
phương trình bậc 2, HS có hai thuật giải như
sau:
a Khai báo biến và gán giá trị chio delta
(delta = sqr(b) - 4*a*c) b Viết biểu thức:
"sqr(b) - 4*ac" trong biểu thức điều kiện câu
lệnh IF THEN hoặc trong các biểu thức tính
nghiệm GV chỉ rõ các phép toán mà mỗi
chương trình phải thực hiện và HS tự nhận xét
về mặt hình thức chương tình a sử dụng nhiều
câu lệnh và nhiều biến hơn nhưng lại tối ưu
hơn chương trình b, vì máy phải tính thức
delta có một lần Qua đó, HS ý thức được
rằng không những chỉ dừng ở mức độ giải
quyết bài toán mà phải tiến đến tìm những
thuât toán "tối ưu"
* Trong giờ thực hành, tuỳ thuộc nhận thức
của học sinh mà hoạt động giữa thầy và trò
trong giờ thực hành được chia thành nhiều
cấp độ
Cấp độ 1: Đối với nhóm HS yếu, các em chỉ
gõ lại các chương trình có sẵn một cách máy
móc Biện pháp đối với nhóm HS này là GV
phân tích, giúp học sinh hiểu các câu lệnh trong chương trình, cùng HS sửa các lỗi nếu
có và giúp HS thực hiện chương trình của GV đưa ra
Cấp độ 2: Đối với nhóm HS khá, trung bình,
GV phân tích yêu cầu bài tập, HS tự viết chương trình và chạy thử dưới sự kiểm soát
và hướng dẫn chặt chẽ của GV Cấp độ 3: Đối với HS giỏi, HS phải độc lập trong giờ thực hành, GV chỉ gợi ý, bổ sung các yêu cầu mới,
để HS phát huy được tính sáng tạo hoặc phân tích bài toán, giúp HS có thể làm mịn chương trình và đánh giá thuật toán, chẳng hạn số byte bộ nhớ phải sử dụng, số phép toán phải thực hiện
Lời kết: Qua thực tế đã khẳng định giờ thực
hành không chỉ đơn thuần là HS gõ chương trình có sẵn hoặc chỉ là mã hoá một thuật giải
đã có Muốn để giờ thược hành có hiệu quả,
HS phải chuẩn bị bài tập ở nhà, viết chương trình trên giấy, chuẩn bị bộ test kiểm tra kết quả, trước khi tiến hành thực hành tại phòng máy Việc làm bài tập có tác dụng rất quan trọng về mặt rèn luyện tư duy giải thuật lẫn
kỹ năng lập trình cho HS
Để nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ lập trình Pascal, đòi hỏi trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải biết kết hợp cân đối, hài hoà giữa truyền thụ lý thuyết, làm bài tập trên lớp với việc chuẩn bị bài tập ở nhà của HS và thực hành ở pòng máy Chất lượng học tập của học sinh phụ thuộc một cách tổng thể vào chất lượng của các giai đoạn đó
Trên đây là một vài biện pháp mà chúng tôi đã áp dụng trong các giờ thực hành với ngôn ngữ lập trình Pascal cho đối tượng
HS miền núi Các biện pháp này chưa phải tối
ưu cho các đối tượng khác, song cũng xin trình bày để mong muốn được trao đổi kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp
10