1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lịch sử triết học phạm thị châu hồng

124 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng hợp với các quan niệm khác tạo thành hệ thống phạm trù ựạo ựức của phái này: nhân, nghĩa, lễ, trắ, tắn, dũngẦ - Quan niệm về nhân: Nhân ựược coi là nguyên lý ựạo ựức cơ bản qui ự

Trang 1

Vấn ựề 1 LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ, TRUNG đẠI

I đIỀU KIỆN LỊCH SỬ RA đỜI VÀ PHÁT TRIỂN CÁC đẶC đIỂM CƠ BẢN

1 điều kiện lịch sử ra ựời và phát triển

Trung Hoa là một ựất nước rộng lớn thuộc vùng đông Á Trên lãnh thổ Trung Hoa

có hai con sông lớn chảy qua: sông Hoàng Hà ở phắa bắc và sông Trường Giang ở phắa nam Lúc mới lập quốc, tức vào thế kỷ XXI TCN, Trung Hoa chỉ là một vùng nhỏ ở trung lưu sông Hoàng Hà Dần dần, lãnh thổ ựược mở rộng, ựến thế kỷ XVIII về cơ bản ựược xác ựịnh như hiện nay

Dân tộc chủ yếu của Trung Hoa hiện nay là dân tộc Hán, mà tiền thân của nó có nguồn gốc Mông Cổ, ựược gọi là Hoa Hạ (hay Hoa / Hạ), sống du mục, thắch săn bắn và chinh phục Còn cư dân phắa nam Trường Giang là các dân tộc Bách Việt, chủ yếu sống bằng nông nghiệp, ựịnh canh, ựịnh cư, có nền văn hóa riêng, nhưng sau này, dần dần bị dân tộc Hán ựồng hóa

Lịch sử Trung Hoa cổ ựại ựầy biến ựộng nhưng có thể khái quát như sau:

Theo truyền thuyết, vào thời thái cổ, Trung Quốc là một xã hội thanh bình do những thủ lĩnh tài ựức dắt dẫn là Phục Hy, Thần Nông, Toại Nhân (thời Tam hoàng) đến nửa ựầu thiên niên kỷ III TCN, ở vùng Hoàng Hà xuất hiện một thủ lĩnh bộ lạc họ Cơ, hiệu là Hiên viên, mà người Trung Hoa tôn gọi là Hoàng đế và coi là thuỷ tổ của mình Tiếp theo Hoàng đế, Chuyên Húc, đế Cốc, đường Nghiêu, Ngu Thuấn và Hạ Vũ cũng là những thủ lĩnh tốt (thời Ngũ ựế) Khi Hạ Vũ mất, con là Khải ựược tôn lên làm vua Trung Hoa bước vào xã hội có nhà nước Thời cổ ựại của Trung Quốc bắt ựầu từ vương triều nhà Hạ, và trải qua 2 vương triều nhà Thương và nhà Chu

Vương triều Hạ (~thế kỷ XXI - thế kỷ XVI TCN) do Hạ Vũ ựặt nền móng, tồn tại tới

thời vua Kiệt thì bị diệt vong Thời này, người Trung Quốc chỉ mới biết dùng ựồng ựỏ, chữ viết chưa có, dân cư sống phân tán chịu sự chi phối bởi những thế lực tự nhiên và ma thuật

Vương triều Thương (còn gọi là Ân, thế kỷ XVI - thế kỷ XII TCN) do Thành Thang

thành lập, tồn tại tới thời vua Trụ thì bị diệt vong Thời này, người Trung Quốc sống ựịnh canh, ựịnh cư; biết dùng ựồng thau, khai khẩn ruộng ựất và thực hiện ựường lối tỉnh ựiền1;

ma thuật ựược thay bằng tắn ngưỡng thờ phụng tổ tiên và thần xã Ờ tắc; ý tưởng về lực

lượng siêu nhiên hình thành qua biểu tượng đế (Thượng ựế hay Trời); chữ viết ựã xuất

hiện

Vương triều Chu (~thế kỷ XII - 221 TCN) do Văn Vương thành lập, tồn tại hơn 8 thế

kỷ trải qua thời Tây Chu ựóng ựô ở Cảo Kinh, trước 771 TCN và thời đông Chu ựóng ựô

ở Lạc Ấp Thời Tây Chu, ựất nước Trung Quốc tương ựối ổn ựịnh Nhưng sang thời đông

Chu, khi ựồ sắt ựược dùng phổ biến, chế ựộ sở hữu tư nhân về ruộng ựất ựược hình thành

thay thế cho chế ựộ ruộng ựất tĩnh ựiền trước ựó ựã làm nảy sinh một loạt những thế lực chắnh trị mới đó là tầng lớp ựịa chủ mới ựang lấn át và xung ựột gay gắt với tầng lớp quý tộc cũ Do vậy, xã hội rơi vào tình trạng rối ren; các giá trị, chuẩn mực cộng ựồng bị ựảo lộn Sự tranh giành ựịa vị xã hội của các thế lực chắnh trị ựã ựẩy xã hội Trung Hoa cổ ựại

1 Ruộng ựất ựược chia làm 9 phần ( #), phần giữa là ựất công 8 nhà xung quanh cùng canh tác, 8 phần còn lại xung quanh

Trang 2

4

vào tình trạng chiến tranh khốc liệt Thời này bao gồm hai thời kỳ nhỏ là Xuân thu

(722-481 TCN) và Chiến quốc (403-221 TCN) Thời Xuân thu, ñất nước loạn lạc với hơn 400 cuộc chiến lớn nhỏ làm cho 160 nước ban ñầu sau hơn hai thế kỷ ñánh nhau chỉ còn lại có

5 nước lớn là Tề, Tấn, Tần, Tống, Sở (cục diện Ngũ bá) Sau ñó, xuất hiện hai nước nữa là Ngô và Việt (cục diện Thất hùng) Vào thời Chiến quốc, những cải cách hiệu quả ñã làm

cho nhà Tần ngày càng mạnh Với sự lãnh ñạo của Tần Thủy Hoàng, nhà Tần ñã tiêu diệt các nước khác, thống nhất giang sơn, xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ñầu tiên của xã hội Trung Quốc…

2 Các ñặc ñiểm cơ bản

Mặc dù xã hội ñầy biến ñộng nhưng trong sự biến ñộng ñó, nhân dân Trung Hoa ñã

tạo nên một nền văn hóa rất rực rỡ, ñã tạo nên nhiều hệ thống triết học nhằm ñưa ra

những phương cách giải quyết khác nhau cho những vấn ñề thực tiễn chính trị - ñạo ñức -

xã hội mà thời ñại ñặt ra

Từ thế kỷ XV TCN ñến thời Xuân Thu, những tư tưởng triết học ít nhiều ñã xuất hiện, nhưng về cơ bản, chúng vẫn chưa thể hiện như một hệ thống Thế giới quan thần thoại - tôn giáo chi phối mạnh ñời sống tinh thần của người Trung Quốc Dù vậy, trong

chương Hồng phạm của kinh Thư vẫn nổi bật bởi tư tưởng Cửu trù, tức 9 phép trị nước:

ngũ hành, ngũ sự, bát chính, ngũ kì, hoàng cực, tam ñức, kế nghi, thứ trung, ngũ phúc - lục cực; trong ñó, ngũ hành, ngũ sự, bát chính thể hiện rõ triết lý về vũ trụ và nhân sinh –

xã hội Còn trong kinh Dịch, nổi bật bởi tư tưởng về Âm dương, Bát quái Chúng không

chỉ ñược người Trung Quốc dùng ñể bói toán mà nó thể hiện triết lý của họ về vũ trụ, xã hội và con người

Tư tưởng triết học có tính hệ thống ñược hình thành trong thời Xuân Thu – Chiến Quốc ðây là thời ñại tư tưởng ñược giải phóng, tri thức ñược phổ cập, nhiều học giả ñưa

ra học thuyết của mình nhằm góp phần biến ñổi xã hội, khắc phục tình trạng loạn lạc bấy lâu nay Có hàng trăm học giả với hàng trăm tác phẩm ra ñời, cho nên, thời này còn ñược

gọi là thời Bách gia chư tử Trong hàng trăm học phái ñó có 6 học phái lớn là Âm dương

gia, Nho gia, ðạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Danh gia

Sang thời kỳ phong kiến hưng thịnh, Nho gia ñã vươn lên vai trò thống trị Năm 136,

Hán Vũ ðế chấp nhận kiến nghị của ðổng Trọng Thư nên ñã ra lệnh bãi truất bách gia,

ñộc tôn Nho thuật Mặc dù ñược ñề cao, nhưng ñể giữ vai trò thống trị lâu dài, Nho gia

phải hấp thụ các tư tưởng có giá trị của các trường phái khác ðiều này ñưa ñến sự phát

triển ñan xen, thâm nhập lẫn nhau của các trường phái triết học Trung Hoa Nhìn chung,

triết học Trung Hoa cổ ñại có những ñặc ñiểm cơ bản sau:

Một là, triết học Trung Hoa cổ ñại là một hệ thống ñồ sộ, bao quát nhiều vấn ñề triết

học, nhưng nó chủ yếu tập trung giải quyết những vấn ñề do thực tiễn ñạo ñức - chính trị -

xã hội của thời ñại ñặt ra

Hai là, triết học Trung Hoa cổ ñại bàn nhiều về vấn ñề con người, ñặc biệt là nguồn gốc, số phận, bản tính… của con người, nhằm mang lại cho con người một quan niệm nhân sinh vững chắc, giúp con người ñịnh hướng hoạt ñộng trong ñiều kiện xã hội phức

tạp và ñầy biến ñộng

Ba là, triết học Trung Hoa cổ ñại cũng bị chi phối bởi cuộc ñấu tranh giữa chủ nghĩa

duy vật và chủ nghĩa duy tâm; nhưng ñó là cuộc ñấu tranh xung quanh vấn ñề con người;

vì vậy, vấn ñề về quan hệ giữa Con người với Trời, ðất (Thiên - Nhân – ðịa) là vấn ñề

mang tính xuất phát và xuyên suốt qua toàn bộ nền triết học này

Trang 3

Bốn là, trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các trường phái triết học Trung

Hoa cổ ựại không chỉ phê phán, xung ựột nhau mà còn biết hấp thụ những tư tưởng của

nhau ựể bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chắnh mình và chịu ảnh hưởng ắt nhiều bởi tư tưởng biện chứng trong kinh Dịch

II CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC

1 Âm dương gia

Tư tưởng về Âm dương và tư tưởng về Ngũ hành là hai luồng tư tưởng xuất hiện rất

sớm từ thời nhà Thương đó là hai cách giải thắch khác nhau về về bản nguyên, về cấu tạo, về tắnh biến dịch của thế giới - vũ trụ, vạn vật và con người Sang thời Chiến quốc, Trâu Diễn ựã thống nhất hai luồng tư tưởng ựó với nhau dưới tên gọi Âm dương gia

a) Lý luận Âm dương

Từ thực tế cuộc sống, người Trung Quốc cổ ựại cho rằng, bản thân vũ trụ, cũng như vạn vật trong nó, ựược tạo thành nhờ vào sự tác ựộng lẫn nhau của hai cái (lực lượng) ựối

lập nhau là âm và dương Và mọi tai họa trong vũ trụ sở dĩ xảy ra cũng là do sự không

ựiều hòa ựược hai lực lượng ấy Nội dung cơ bản của lý luận Âm dương chủ yếu thể hiện

trong nguyên lý Âm dương

Âm là một phạm trù ựối lập với dương, phản ánh những yếu tố (sự vật, hiện tượng,

tắnh chất, quan hệẦ) và khuynh hướng như: giống cái, ựất, mẹ, vợ, nhu, thuận, tối, ẩm,

phắa dưới, bên phải, số chẵn , tĩnh, tiêu cựcẦ

Dương là phạm trù ựối lập với âm, phản ánh những yếu tố (sự vật, hiện tượng, tắnh

chất, quan hệẦ) và khuynh hướng như: giống ựực, trời, cha, chồng, cương, cường, sáng,

khô, phắa trên, bên trái, số lẻ , ựộng, tắch cựcẦ

Âm và dương không chỉ phản ánh hai loại yếu tố (lực lượng) mà còn phản ánh hai

loại khuynh hướng ựối lập, không tách rời nhau, ôm lấy nhau, xoắn vào nhau; vì vậy,

trong âm có dương, và trong dương có âm đó cũng là sự thống nhất giữa cái ựộng và cái tĩnh; trong ựộng có tĩnh, và trong tĩnh có ựộngẦ; nghĩa là, trong âm và trong dương ựều

có tĩnh và có ựộng; và chúng chỉ khác ở chỗ, bản tắnh của dương là hiếu ựộng, còn bản tắnh của âm là hiếu tĩnhẦ

Do thống nhất, giao cảm với nhau mà âm và dương có ựộng; mà ựộng thì sinh ra

biến; biến tới cùng thì hóa ựể ựược thông; có thông thì mới tồn vĩnh cữu ựược Như vậy,

sự thống nhất và tác ựộng của hai lực lượng, khuynh hướng ựối lập âm và dương tạo ra sự sinh thành biến hóa của vạn vật; nhưng, vạn vật khi biến tới cùng thì quay trở lại cái ban ựầu

Tóm lại, nội dung nguyên lý Âm dương ựược khái quát và tóm tắt như sau:

Một là, âm và dương thống nhất, giao hòa lẫn nhau; trong âm có dương và trong

dương có âm

Hai là, âm và dương tác ựộng, chuyển hóa lẫn nhau; dương cực thì âm sinh, dương

tiến thì âm lùi, dương thịnh thì âm suyẦ; và ngược lại

Nội dung nguyên lý Âm dương có thể diễn ựạt bằng biểu tượng Thái cực, - vòng

tròn khép kắn, trong ựó ựược chia thành nửa ựen, nửa trắng; trong nửa ựen có chấm trắng,

và trong nửa trắng có có chấm ựen Trong biểu tượng Thái cực có phần trắng là dương, phần ựen là âm, chúng nói lên âm và dương thống nhất: trong âm có dương và trong dương có âm; trong thái dương có thiếu âm, và trong thái âm có thiếu dương Thiếu dương trong thái âm phát triển ựến cùng thì có sự chuyển hóa thành thiếu âm trong thái

Trang 4

6

Thái cực là cội nguồn của mọi sự biến hĩa trong vũ trụ, nĩ thống nhất trong mình hai lực lượng đối lập âm và dương (Lưỡng nghi) Lưỡng nghi giao cảm, biến hĩa lẫn nhau tạo thành Tứ tượng (thái dương thiếu dương, thái âm, thiếu âm)… Khi chưa cĩ chữ

viết, âm được ký hiệu bằng vạch đứt (−−−), và dương được ký hiệu bằng vạch liền () Khi lấy dương chồng lên dương, lấy âm chồng lên dương, lấy âm chồng lên âm, lấy

dương chồng lên âm ta lần lượt được thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm (các biểu tượng của Tứ tượng) Khi lấy dương, rồi sau đĩ lấy âm chồng lần lượt lên Tứ tượng ta

được 8 biểu tượng của Bát quái: càn, ly, cấn, tốn, đồi, chấn, khơn, khảm Mỗi quẻ (quái)

cĩ ba hào (1 vạch đứt hay liền) xuất hiện dần từ dưới lên là hào 1, hào 2, hào 3 Bát quái

được xếp lại thành từng cặp đối lập là: càn – khơn, chấn – tốn, cấn – đồi, khảm – ly Trong vũ trụ, Tứ tượng tượng trưng cho Mặt Trời, Mặt Trăng, hành tinh, định tinh Cịn Bát quái tượng trưng cho 8 yếu tố vật chất tạo thành vũ trụ đối lập nhau lần lượt là:

trời - đất, sấm - giĩ, núi - hồ, nước - lửa Ngồi ra, Bát quái cịn tượng trưng cho quan hệ

gia đình: cha – mẹ, con trai cả – con trai giữa, con gái giữa – con gái út, con trai út – con

gái cả; cho tính khí cá nhân: tính kiên nghị – tính ghen tuơng, tính phản trắc - tính lừng khừng, tính tháo vát - tính hay chê, tính hay lo - tính hoạt bát; cũng như các hiện tượng,

thuộc tính, quan hệ khác v.v

Bát quái chỉ là 8 quẻ đơn (quẻ cĩ 3 vạch) Khi 8 quẻ đơn này chồng lên nhau ta được

64 quẻ kép (quẻ cĩ 6 vạch) hay cịn được gọi là Trùng quái Nếu sự phối hợp giữa quẻ

đơn trên và quẻ đơn dưới thành quẻ kép sao cho chúng tạo ra sự giao cảm lẫn nhau thì quẻ kép đĩ là quẻ tốt (cát), cịn nếu khơng tạo ra sự giao cảm thì quẻ kép đĩ là quẻ xấu (hung) Ví dụ, quẻ Thái được tạo thành bởi quẻ khơn ở trên và quẻ càn ở dưới, tức đất ở trên trời Quẻ này nĩi rằng, khi khí dương phải thăng lên và khí âm phải hạ xuống thì

chúng sẽ giao cảm với nhau làm thay đổi vị trí, dẫn đến sự biến hĩa (phát triển); vậy, quẻ

Thái là quẻ tốt Ngược lại, quẻ Bỉ được tạo thành bởi quẻ càn ở trên và quẻ khơn ở dưới, tức trời ở trên đất Quẻ này nĩi rằng, khi khí dương phải thăng lên và khí âm phải hạ

xuống thì chúng sẽ khơng giao cảm được với nhau, khơng dẫn đến sự biến hĩa (phát

triển); vậy, quẻ Bỉ là quẻ xấu

Nguyên lý Âm dương giải thích quá trình biến dịch từ cái duy nhất thành đa dạng của

vạn vật trong vũ trụ theo lơgích đơn giản sau đây:

Thái cực → Lưỡng nghi → Tứ tượng → Bát quái → Trùng quái → Vạn vật

Như vậy, lý luận Âm dương phản ánh quan niệm duy vật chất phác về tự nhiên, thể hiện tư tưởng biện chứng sơ khai của người Trung Hoa về cội nguồn và quá trình biến hĩa xảy ra trong tự nhiên, trong đời sống xã hội và con người

b) Lý luận Ngũ hành

Từ thực tế cuộc sống, người Trung Quốc cổ đại khái quát cho rằng, bản thân vũ trụ

cũng như vạn vật trong nĩ được tạo thành từ 5 yếu tố luơn vận động (Ngũ hành) là kim,

mộc, thủy, hỏa, thổ Nội dung cơ bản của lý luận Ngũ hành thể hiện trong quy luật Ngũ

hành tương sinh – tương khắc

Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là phạm trù phản ánh những sự vật, hiện tượng hay thuộc

tính, quan hệ như:

Mộc: gỗ, mùa xuân, phương đơng, màu xanh, vị chua…

Hỏa: lửa, mùa hạ, phương nam, màu đỏ, vị đắng…

Thổ: đất, giữa hạ và thu, trung ương, màu vàng, vị ngọt…

Kim: kim khí, mùa thu, phương tây, màu trắng, vị cay…

Thuỷ: nước, mùa đơng, phương bắc, màu đen, vị mặn…

Trang 5

Sự sinh hoá cho nhau và chế ước lẫn nhau của Ngũ hành xảy ra theo trình tự:

Một là, tương sinh: thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa

mộc, hỏa Theo chiều kim ựồng hồ trên ựường tròn thể hiện quá trình tương sinh Còn

theo các cạnh hình ngôi sao (cũng tiến theo chiều kim ựồng hồ) thể hiện quá trình tương khắc

Âm dương gia cho rằng không chỉ các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên mà cả hoạt

ựộng của con người và ựời sống xã hội ựều tuân theo quy luật Ngũ hành tương sinh -

tương khắc

đến thời Tây Hán, quan niệm về Âm dương Ờ Ngũ hành ựã ựược đổng Trọng Thư

phát triển theo tinh thần Nho giáo và lợi ắch chắnh trị của giai cấp phong kiến mới giành lấy vai trò thống trị xã hội Trung Quốc Nhờ vậy mà cả Nho giáo lẫn các quan niệm về

Âm dương - Ngũ hành ựã có ựiều kiện chắnh trị thuận lợi ựể ảnh hưởng lâu dài trong nền triết học Trung Quốc

Tóm lại, bằng lý luận Âm dương và lý luận Ngũ hành, Âm dương gia ựã ựứng trên

quan ựiểm duy vật chất phác ựể giải thắch một cách máy móc sự phát triển của thế giới Chúng có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và mục ựắch luận trong quan niệm về tự nhiên, xã hội và con người Ngoài ra, chúng còn góp phần tạo nên cơ sở lý luận dẫn tới những phát minh về thiên văn, lịch pháp, y học trong lịch sử Trung Hoa cổ trung ựại

2 Nho gia

Nho gia là một trường phái triết học lớn ựược hoàn thiện liên tục và có ảnh hưởng sâu rộng, lâu dài ựến nền văn hóa tinh thần của Trung Hoa nói riêng, của nhiều quốc gia phương đông nói chung

a) Sơ lược sự hình thành và phát triển Nho gia

+ Khổng Tử (551-479 TCN) là người sáng lập ra Nho giáo vào cuối thời Xuân Thu

Khổng Tử tên Khâu, hiệu Trọng Ni, người nước Lỗ (Sơn đông) là một nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn và ựầu tiên của Trung Quốc Ông có làm một số chức quan ở nước Lỗ trong mấy năm, nhưng phần lớn thời gian trong cuộc ựời của mình, ông chu du nhiều nước ựể trình bày chủ trương chắnh trị của mình, và sau ựó mở trường dạy học Tương truyền, số học trò của ông có ựến 3000 người, trong ựó có nhiều người thành ựạt mà sử sách gọi là

thất thập nhị hiền Khổng Tử không chỉ dạy học mà còn chỉnh lý các sách (san Thi, dịch Thư, tán Dịch, ựịnh Lễ, bút Xuân Thu) Lý luận của ông là một hệ thống triết lý sâu sắc về

ựạo ựức - chắnh trị Ờ xã hội, ựược học trò chép lại thành sách Luận ngữ

Khổng Tử rất quan tâm ựến các vấn ựề ựạo ựức Ờ chắnh trị Ờ xã hội Ông coi hoạt

ựộng ựạo ựức là nền tảng của xã hội, là công cụ ựể gìn giữ trật tự xã hội và hoàn thiện

nhân cách cá nhân cho con người Lý luận về nhân, nghĩa, lễ, trắ, tắn, dũngẦ tạo nên nội

dung quan ựiểm về ựạo ựức của ông Trong hoạt ựộng chắnh trị Ờ xã hội, ông chủ trương

dùng ựức trị 2 và thực hành chắnh danh 3 ựể xây dựng một xã hội ựại ựồng4, - xã hội có

2

Khổng Tử cho rằng: Cai trị dân mà dùng mệnh lệnh, ựưa dân vào khuôn phép mà dùng hình phạt thì dân có thể tránh ựược tội lỗi nhưng không biết liêm sỉ Cai trị dân mà dùng ựạo ựức, ựưa dân vào khuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm sỉ và

Trang 6

8

trật tự trên - dưới, mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại ựến thứ dân ựều dựa trên ựịa vị của mình mà làm tròn bổn phận ựược xã hội giao cho; xã hội có vua sáng tôi hiền, cha từ con thảo, trong ấm ngoài êmẦ

Nội dung ựường lối ựức trị của Khổng Tử hướng ựến thực hiện 3 ựiều là: dân ựông,

kinh tế phát triển, dân ựược học hành Biện pháp ựể thi hành ựường lối ựức trị là: thận trọng trong công việc, gìn giữ chữ tắn, tiết kiệm trong tiêu dùng, thương người, sử dụng

sức dân hợp lýẦ để xây dựng xã hội ựại ựồng, Khổng Tử chủ trương dựa vào sự nghiệp

giáo dục ựể uốn nắn nhân cách, bồi dưỡng ựào tạo nhân tài theo hai phương châm: tiên

học lễ, hậu học văn và học ựi ựôi với hành, học ựể vận dụng vào thực tế để học tốt, ông

yêu cầu học trò phải có tinh thần khiêm tốn và cầu tiến, biết suy tư và luôn tắch cực trong học tậpẦ

đến thời Chiến Quốc, Nho gia bị chia thành 8 phái, trong ựó có phái của Tuân Tử và

phái của Mạnh Tử là mạnh nhất Tuân Tử (315-230 TCN) phát triển Nho gia theo xu hướng duy vật, còn Mạnh Tử (372-298 TCN) phát triển Nho gia theo xu hướng duy tâm

Họ bất ựồng nhau trong việc lý giải bản tắnh con người Tuy nhiên, Mạnh Tử ựã có nhiều

ựóng góp ựáng kể cho sự phát triển của Nho gia nguyên thủy

+ Mạnh Tử là người nước Trâu (Sơn đông), học trò của Khổng Cấp Cũng như Khổng Tử, Mạnh Tử tin tưởng sâu sắc vào sự tồn tại Thiên mệnh và cho rằng, mọi việc ở

trên ựời ựều do Trời quyết Ông lý giải bản tắnh thiện của con người thông qua lý luận về

nhân, lễ, nghĩa và trắ, trong ựó nhân - nghĩa là quan trọng, và từ lý luận này ông khẳng

ựịnh: Nhân chi sơ tắnh bản thiện Mạnh Tử chủ trương thực hành ựường lối ựức trị dựa

trên tinh thần quý dân5, nhân chắnh và thống nhấtẦ Mạnh Tử ựã khép lại một giai ựoạn

quan trọng, - giai ựoạn hình thành Nho gia; vì vậy, Nho gia Khổng - Mạnh còn ựược gọi

là Nho gia nguyên thủy hay Nho gia tiên Tần

+ Sang thời Tây Hán, đổng Trọng Thư (179-104 TCN) ựã dựa trên lợi ắch giai cấp phong kiến thống trị, khai thác lý luận Am dương Ờ Ngũ hành, ựưa ra thuyết trời sinh vạn vật và thiên nhân cảm ứng ựể hoàn chỉnh thêm Nho gia trong việc giải thắch vạn vật, con

người và xã hội Ông ựã hệ thống hóa kinh ựiển Nho gia thành Tứ thư và Ngũ kinh, ựồng

thời ựưa ra quan niệm Tam cương6, Ngũ thường7Ầ, Tam tòng8, Tứ ựức9Ầ ựối với phụ

nữ Những quan niệm này ựã nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn ựạo ựức và nền tảng tư

tưởng xã hội, tức trở thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến thống trị Trung Quốc

Nho gia không dừng lại với tư cách một trường phái triết học vươn lên thành hệ tư tưởng

xã hội mà còn ựược mở rộng thành một hệ thống niềm tin, tắn ngưỡng Ờ nghi thức ựược

phổ biến trong toàn xã hội Nho giáo xuất hiện và Khổng Tử ựược suy tôn làm Giáo chủ của ựạo Học

+ Cũng từ ựời Hán, Phật giáo bắt ựầu truyền vào Trung Quốc và đạo giáo ra ựời Từ

ựó, có nhiều nhà Nho cho rằng, triết học của Nho cần ựược bổ sung thêm một số tư tưởng của hai học thuyết kia Nho gia phát triển tiếp tục đặc biệt, sang thời nhà Tống, Nho giáo

3

Khổng Tử cho rằng: Danh không chắnh thì ngôn chẳng thuận, ngôn chẳng thuận thì việc không thành, việc không thành thì

lễ - nhạc bất hưng, lễ - nhạc bất hưng thì hình phạt không trúng lý, hình phạt không trúng lý thì dân biết bám vắu vào ựâu? Người quân tử quan niệm ựược danh thì nói ựược, nói ựược thì làm ựược

Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử

9 Công, dung, ngôn, hạnh

Trang 7

phát triển rất mạnh Chắnh Chu đôn Di (1017-1073) và Thiệu Ung (1011-1077) là những người ựã khởi xướng lý học trong Nho giáo Với thuyết Thái cực ựồ, Chu đôn Di cho

rằng: Nguồn gốc của Vũ trụ là Thái cực; Thái cực có thể ựộng và thể tĩnh; động sinh ra

dương, ựộng cực rồi lại tĩnh, và ngược lại Am dương tác ựộng sinh ra Ngũ hành, rồi sinh

ra vạn vật Ngoài ra, thời này còn có hai anh em họ Trình - Trình Hạo (1032-1085), Trình Di (1033-1107), và Chu Hy (1130-1200)Ầ là những nhà lý học xuất sắc Họ ựã nêu ra thuyết cách vật trắ tri 10Ầ

Nho giáo tiếp tục chi phối ựời sống tư tưởng xã hội Trung Quốc qua các triều ựại tiếp

theo, nhưng nói chung, Nho giáo trong thời Minh Ờ Thanh không có phát triển mới Càng

ngày, Nho giáo càng khắc khe và bảo thủ Sang thế kỷ XIX, Nho giáo ựã thật sự trở nên già cổi, nên không còn sức sống nữa

Với tắnh cách là hệ tư tưởng chỉ ựạo ựường lối trị nước ở Trung Quốc trên 2000 năm, Nho giáo ựã ựóng góp lớn vào sự nghiệp tổ chức và quản lý xã hội, vào sự phát triển văn hóa và giáo dục, vào quá trình rèn luyện ựạo ựức cá nhân, ựào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho ựất nước Nhưng ựến cuối thời ựại phong kiến, do tắnh phục cổ, bảo thủ của nó mà Nho giáo ựã tạo ra tình trạng trì trệ kéo dài của xã hội Trung Quốc, làm cho Trung Quốc không bắt kịp trào lưu văn minh của thế giới

Ớ Kinh ựiển của Nho gia gồm bộ Ngũ kinh và bộ Tứ thư

Bộ Ngũ kinh bao gồm 5 quyển kinh: Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu Kinh Thi là sách

sưu tập thơ ca dân gian với chủ ựề chắnh là tình yêu nam nữ; Khổng Tử muốn dùng nó ựể

giáo dục tình cảm lành mạnh cho con người Kinh Thư là sách ghi lại cách tổ chức hành

chắnh nhà nước, những truyền thuyết, biến cố xảy ra ở ựời trước nhằm làm gương cho các

ựời sau Kinh Lễ là sách ghi chép những lễ nghi ựời trước dùng làm phương tiện duy trì và

ổn ựịnh trật tự xã hội, giáo dục ựạo ựức cho con người Kinh Dịch là sách bàn về những biến ựổi của trời, ựất, con người và xã hội Kinh Xuân Thu là sách viết về lịch sử biến

ựộng chắnh trị thời Xuân Thu

Bộ Tứ Thư bao gồm 4 quyển sách: Luận ngữ, đại học, Trung dung, Mạnh Tử Luận

ngữ là sách ghi lại các lời giảng, dạy, luận bàn của Khổng Tử, do các học trò tập hợp chép

lại sau khi ông mất đại học là sách dạy cách làm người quân tử, do Tăng Tử - học trò xuất sắc của Khổng Tử soạn ra Trung dung là sách dạy cách sống dung hòa, không thiên lệch do Khổng Cấp - cháu nội của Khổng Tử, học trò của Tăng Tử viết Mạnh Tử là sách

bàn về tắnh thiện, về ựạo nhân nghĩa do Mạnh Tử - học trò của Khổng Cấp soạn

b) Một số tư tưởng triết học cơ bản của Nho giáo nguyên thủy

Nho giáo nguyên thủy là triết lý của Khổng Tử và Mạnh Tử về ựạo làm người quân

tử và cách thức trở thành người quân tử, cách cai trị ựất nước Nó ựược trình bày trong

một hệ thống các tư tưởng về ựạo ựức Ờ chắnh trị Ờ xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau

Nho gia nguyên thủy cho rằng, nền tảng của xã hội, cơ sở của gia ựình không phải

là những quan hệ kinh tế - xã hội, mà là những quan hệ ựạo ựức - chắnh trị, ựặc biệt là 3

quan hệ vua Ờ tôi, cha Ờ con, chồng - vợ Các quan hệ này ựược Nho gia gọi là ựạo Khi

các quan hệ này chắnh danh, nghĩa là: vua ra vua, tôi ra tôi; cha ra cha, con ra con; chồng

ra chồng, vợ ra vợ thì xã hội ổn ựịnh, gia ựình yên vui; và ngược lại Xã hội thời Xuân thu

Ờ Chiến quốc loạn lạc, luân thường ựạo lý suy ựồi, kỷ cương phép nước lõng lẽo là do 3

quan hệ này rối loạn, do danh - thực oán trách nhau, nghĩa là, vua chẳng ra vua, tôi chẳng

ra tôi; cha chẳng ra cha, con chẳng ra con; vợ chẳng ra vợ, chồng chẳng ra chồng Vì

Trang 8

vậy, muốn cải loạn thành trị, muốn thực hiện xã hội ựại ựồng thì phải chấn chỉnh lại 3

quan hệ ựó để chấn chỉnh lại 3 quan hệ ựó, Nho gia nguyên thủy lấy giáo dục ựạo ựức

làm cứu cánh

Khổng Tử ắt quan tâm ựến các vấn ựề nguồn gốc của vũ trụ nên quan ựiểm của ông

về trời - ựất, quỷ - thần không rõ ràng11 Tuy nhiên, ựể tìm chỗ dựa vững chắc cho lý luận

ựạo ựức của mình, Khổng Tử và cả Mạnh Tử ựều xây dựng thuyết Thiên mệnh Xuất phát

từ vũ trụ quan của kinh Dịch, Khổng Tử cho rằng, vạn vật không ngừng biến hóa theo một

trật tự không gì cưỡng lại ựược, mà nền tảng tận cùng của trật tự ựó là Thiên mệnh Còn

sự hiểu biết ựược Thiên mệnh là ựiều kiện tiên quyết ựể trở thành con người hoàn thiện12

Xuất phát từ quan ựiểm Thiên mệnh, hai ông tìm kiếm sự thống nhất giữa trời, ựất, người

và vạn vật, ựặc biệt là trên bình diện ựạo ựức Ờ chắnh trị - xã hội, chứ không ựể ý ựến khắa

cạnh sinh học - tự nhiên trong con người

+ Dựa trên thuyết thiên mệnh, Khổng Tử cho rằng: Thiên mệnh chi vị tắnh, xuất tắnh chi vị ựạo, tu ựạo chi vị giáo, và Tắnh tương cận, tập tương viễn điều này có nghĩa

là: Con người có tắnh người, tắnh người do trời phú, sự phú cái tắnh ấy về cơ bản là ựồng ựều ở mỗi con người Nhưng trong cuộc sống, do ựiều kiện, hoàn cảnh, môi trường khác

nhau, do những tập quán, tập tục không giống nhau mà người này khác xa người kia Vậy, tập là nguyên nhân làm biến tắnh ở mỗi con người, làm cho con người không giữ ựược tắnh do trời phú cho, làm cho con người trở nên vô ựạo; rồi cả nước, cả thiên hạ vô

ựạo Vì vậy, muốn giữ ựược tắnh cho con người phải lập ựạo; nghĩa là phải làm (giáo dục)

cho cả nước, cả thiên hạ hữu ựạo

đạo phải có giáo mới sâu sắc, vững chắc và rộng khắp Còn mục ựắch của giáo là

làm cho mọi người, mọi nhà, cả thiên hạ hữu ựạo Hữu ựạo là thể hiện ựược mối quan hệ giữa người và người, giữa người và trời ựất - vạn vật một cách ựúng ựắn, nghĩa là phù

hợp với thiên mệnh13 Khổng Tử cho rằng, nếu lập ựạo của trời, nói về âm và dương; lập ựạo của ựất, nói về cương và nhu; thì lập ựạo của người, phải nói về nhân và nghĩa Quan

niệm về nhân và nghĩa là quan niệm trung tâm của ựạo ựức Nho gia nguyên thủy Chúng

hợp với các quan niệm khác tạo thành hệ thống phạm trù ựạo ựức của phái này: nhân, nghĩa, lễ, trắ, tắn, dũngẦ

- Quan niệm về nhân: Nhân ựược coi là nguyên lý ựạo ựức cơ bản qui ựịnh bản tắnh

con người, chi phối mọi quan hệ giữa người với người trong xã hội, và nó ựược hiểu rất

rộng Khổng Tử cho rằng, nhân là lòng thương người (ái nhân); còn Mạnh Tử thì cho rằng, nhân là lòng trắc ẩn Nói chung, nhân là cách ựối xử của con người với con người,

ựể tạo ra người Muốn thực hiện ựạo làm người, tức muốn thực hiện ựức nhân cần phải:

điều gì mà mình không muốn thì cũng ựừng ựem áp dụng cho người khác; Mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân, mình muốn thành ựạt thì cũng giúp người khác thành ựạt; Khống chế mình theo ựúng lễẦ Người có ựức nhân thì bên ngoài xã hội luôn cung, khoan, tắn, mẫn, huệ (cung kắnh, khoan hòa, tắn nhiệm, nhạy bén, rộng rãi)Ầ, bên

trong gia ựình luôn hiếu, ựễ (hiếu thảo, nhường nhịn)Ầ

Quan niệm về nhân của Khổng Tử có nội dung giai cấp rõ ràng, ông cho rằng chỉ có người quân tử, tức kẻ cai trị, mới có ựược ựức nhân, còn người tiểu nhân, tức nhân dân lao

Khổng Tử cho rằng: Không hiểu mệnh trời thì không trở thành người quân tử đã biết có mệnh trời thì phải sợ và thuận

mệnh đó là cái ựức của người quân tử; Sống chết có mệnh, giàu sang tại trờiẦ

13 Thực chất là làm theo các nguyên tắc, phương châm cơ bản của Nho gia

Trang 9

ñộng, không thể có ñược ñức nhân Nghĩa là, ñạo nhân chỉ là ñạo của người quân tử, của

giai cấp thống trị

- Quan niệm về nghĩa: Theo Nho gia, nếu nhân là lòng thương người, ñức nhân dùng

ñể ñối xử với người và tạo ra người, thì nghĩa là dạ thủy chung, ñức nghĩa dùng ñể ñối xử

với chính mình và tạo ra ta ðức nhân thể hiện trong quan hệ với người khác; còn ñức

nghĩa thể hiện trong quan hệ với mình, khi tự vấn lương tâm mình về ñiều mình nên nói,

về việc mình nên làm Khi nói một ñiều gì ñó hay khi làm một việc gì ñó mà ta cảm thấy thỏa mái, thảnh thơi, hứng thú trong lương tâm thì ñó là ta nói ñiều nghĩa, ta làm việc

nghĩa Vậy, nghĩa ñược hiểu là những gì hợp ñạo lý mà con người phải làm, bất kể làm

ñiều ñó có ñem lại cho người thực hiện nó ích lợi gì hay không Khổng Tử cho rằng, con người muốn sống tốt phải biết lấy nghĩa ñể ñáp lại lợi, chứ không nên lấy lợi ñáp lại lợi, vì lấy lợi ñáp lại lợi sẽ sinh ra oán trách…

Song, do hạn chế bởi lập trường giai cấp, mà Khổng Tử cho rằng, bậc quân tử tinh

tường về việc nghĩa, kẻ tiểu nhân rành rẽ về việc lợi Như vậy, tiểu nhân và quân tử là hai

loại người ñối lập nhau không phải chủ yếu về ñịa vị xã hội mà chủ yếu là về phẩm chất ñạo ñức

- Quan niệm về lễ: ðể ñạt ñược nhân, ñể lập lại trật tự, khôi phục lại kỷ cương cho xã

hội Khổng Tử chủ trương phải dùng lễ, ñặc biệt là lễ của nhà Chu Vì lễ có thể: xác ñịnh

ñược vị trí, vai trò của từng người; phân ñịnh trật tự, kỷ cương trong gia ñình và ngoài xã hội; loại trừ những tật xấu và tạo ra những phẩm chất cá nhân mà xã hội ñòi hỏi Do nhận

thấy tác dụng to lớn của lễ mà Khổng Tử ñã dốc sức san ñịnh lại lễ Ở Khổng Tử, trước hết, lễ ñược hiểu là lễ giáo phong kiến như những phong tục tập quán; những qui tắc, qui

ñịnh về trật tự xã hội; thể chế, pháp luật nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn, tế lễ, luật lệ,

hình pháp…; sau ñó, lễ ñược hiểu là luân lý ñạo ñức như ý thức, thái ñộ, hành vi ứng xử,

nếp sống của mỗi con người trong cộng ñồng xã hội trước lễ nghi, trật tự, kỷ cương phong kiến Nhân và lễ có quan hệ rất mật thiết Nhân là nội dung bên trong của lễ, còn lễ là hình thức biểu hiện nhân ra bên ngoài Nhân giống như cái nền tơ lụa trắng tốt mà trên ñó

người ta vẽ lên những bức tranh tuyệt ñẹp Khổng Tử cho rằng, trên ñời không hề tồn tại người có nhân mà vô lễ Vì vậy, ông khuyên chớ xem ñiều trái lễ, chớ nghe ñiều trái lễ,

chớ nói ñiều trái lễ và chớ làm ñiều trái lễ

Ngoài quan niệm về nhân, nghĩa, lễ, Nho gia còn bàn ñến: trí – tức là sự sáng suốt

nhận thức thấu ñáo mọi vấn ñề, hiểu ñạo trời, ñạo người, hiểu cả thiên hạ, biết sống hợp

với nhân; tín – tức là lòng ngay dạ thẳng, lời nói và việc làm nhất trí với nhau, dũng – tức

là sức mạnh tinh thần, lòng can ñảm, biết xấu hổ vì cái sai cái xấu ñể vứt bỏ chúng mà làm theo nhân nghĩa… Chúng là các nguyên tắc cơ bản của ñạo ñức Nho giáo 14 Khổng Tử

còn cho rằng, người quân tử có ñủ trí, nhân, dũng Do có trí nên người quân tử không

nhầm lẫn, do có nhân nên người quân tử không buồn phiền, do có dũng nên người quân

tử không có gì phải kinh sợ

Nếu Khổng Tử chỉ chú trọng ñến Tam ñức (nhân, trí, dũng) thì sang thời Chiến quốc, Mạnh Tử bỏ dũng thay vào ñó lễ và nghĩa thành Tứ ñức (nhân, lễ, nghĩa, trí)15

14

Khổng Tử nói: Muốn nhân mà không muốn học thì bị cái ngu che mờ Muốn trí mà không muốn học thì bị cái sai trái che

mờ Muốn cương trực mà không muốn học thì bị cái ương ngạnh che mờ Muốn dũng mà không muốn học thì bị cái loạn che mờ… Người ham học gần với ñức trí, người ham làm gần với ñức nhân, người biết hổ ngươi gần với ñức dũng Ai biết

ba ñiều ấy tất biết phép tu thân Biết phép tu thân tất biết phép trị nhân Biết phép trị nhân tất biết phép tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

Trang 10

+ Cũng dựa trên thuyết Thiên mệnh, nhưng Mạnh Tử cho rằng nhân chi sơ tắnh bản thiện; bởi vì, khi sinh ra mỗi con người ựều có ựủ nhân, lễ, nghĩa, trắ Do có nhân nên ai

cũng có lòng trắc ẩn, do có nghĩa nên ai cũng có lòng u tố, do có lễ nên ai cũng có lòng

cung kắnh, do có trắ nên ai cũng biết lẽ thị phi Chúng toát ra từ tâm Là người ai cũng có

cái tâm Tâm là cội nguộn của tắnh thiện trong con người Vì vậy, con người cần phải

trường kỳ tâm dưỡng kỳ tắnh, Ờ tức gìn giữ cái tâm thiện ấy Dù bản tắnh con người là

thiện, nhưng trong cuộc sống của con người vẫn có cái ác Cái ác ấy xuất hiện là do kỷ cương xã hội rối loạn, luân thường ựạo lý bị ựảo ựiên để vãn hồi tắnh thiện ở con người

thì phải lập lại trật tự kỷ cương cho xã hội trên cơ sở thực hành ựường lối nhân nghĩa16

Như vậy, Khổng Tử và Mạnh Tử ựều nhất trắ coi chuẩn mực ựạo ựức là tiêu chuẩn của người quân tử, và muốn trở thành người quân tử cần phải tu thân để tu thân cần phải

ựạt ựạo - con ựường phải theo, quan hệ mà con người phải biết ựể ứng xử trong cuộc sống

-, mà trước hết là ựạo quân Ờ thần, phụ Ờ tử, phu Ờ phụ17 cần phải ựạt ựức - phẩm chất tốt

ựẹp của con người cần phải thể hiện trong cuộc sống -, và phải biết thi, thư, lễ, nhạc Tóm lại, quan ựiểm ựạo ựức Ờ chắnh trị Ờ xã hội của Khổng Ờ Mạnh là xây dựng mẫu

người quân tử Muốn trở thành người quân tử không chỉ có tu thân, dù tu thân là gốc mà

phải biết hành ựộng tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Muốn hành ựộng hiệu quả người quân

tử phải thực hành ựường lối nhân trị - cai trị bằng tình người, bằng sự yêu người, coi người như bản thân mình -, và chắnh danh, - cai trị sao cho vua ra vua, tôi ra tôi; cha ra

cha, con ra con; chồng ra chồng, vợ ra vợ Chỉ có như vậy thì người quân tử, tức giai cấp

cai trị, mới xây dựng ựược một xã hội ựại ựồng

Nho giáo nguyên thủy khao khát cải biến xã hội thời Xuân thu Ờ Chiến quốc từ loạn thành trị là một khao khát thầm kắn của cả thiên hạ lúc bấy giờ Nó thể hiện tắnh nhân bản sâu sắc đòi hỏi của Nho giáo nguyên thủy về người cai trị - người quân tử không thể là dân võ biền mà phải là người có một vốn văn hóa toàn diện là một ựòi hỏi chắnh ựáng Nhưng chủ trương xây dựng một xã hội ựại ựồng của Nho giáo hoàn toàn không dựa trên các quan hệ kinh tế Ờ xã hội, không xuất phát từ việc xây dựng nền sản xuất vật chất, không dựa vào quần chúng nhân dân bị trị, tức ỘbọnỢ tiểu nhân, mà chỉ dựa trên các quan

hệ ựạo ựức Ờ chắnh trị Ờ xã hội, xuất phát từ việc giáo dục, rèn luyện nhân cách cá nhân cho tầng lớp thống trị và chỉ dựa duy nhất vào tầng lớp thống trị là một chủ trương duy

tâm, ảo tưởng, xa rời thực tế cuộc sống bấy giờ Ý tưởng về xã hội ựại ựồng cho dù ựã

làm lay ựộng trái tim và khối óc của biết bao con người, nhưng nó mãi mãi chỉ là một lý tưởng chắnh trị rất cao ựẹp của tầng phong kiến thống trị xã hội Trung Quốc Do không phù hợp với ước vọng của quần chúng nhân dân, vì vậy, nó mãi mãi chỉ là một lý tưởng

Nho gia nguyên thủy Khổng - Mạnh chứa ựựng nhiều giá trị nhân bản và toát lên

tinh thần biện chứng sâu sắc điều này không có trong Nho giáo hậu Tần Nho gia

nguyên thủy ựã làm nổi bật khắa cạnh xã hội của con người; tuy nhiên, khắa cạnh xã hội

của con người ựã bị hiểu một cách hạn chế và duy tâm đây là ựiểm khác so với quan ựiểm của đạo gia Ờ trường phái triết học nhấn mạnh bản tắnh tự nhiên của con người

3 đạo gia

đạo gia ựược Lão Tử (khoảng thế kỷ VI TCN), còn gọi là Lão đam, tên Lý Nhĩ,

người nước Sở, có thời làm quan sử giữ kho sách ở Lạc Ap, sáng lập ra; và sau ựó, Trang

Tử (369-286 TCN), người nước Tống phát triển thêm vào thời Chiến quốc

16

Tuân Tử cho rằng, bản tắnh con người là ác; vì vậy, ông chủ trương không chỉ dùng nhân, nghĩa, lễ, nhạc mà phải dùng

hình luật ựể giải hòa tắnh ác, cải biến cái ác thành cái thiện

17

Sau này, đổng Trọng Thư gọi là Tam cương, và mở rộng Tam cương thành Ngũ Luân (quân Ờ thần, phụ Ờ tử, phu Ờ phụ,

huynh Ờ ựệ, bằng Ờ hữu)

Trang 11

Kinh ñiển của ðạo gia chủ yếu ñược tập trung lại trong bộ ðạo ñức kinh và bộ Nam

hoa kinh ðạo ñức kinh có khoảng 5000 từ do Lão Tử soạn, nó gồm hai thiên nói về ðạo

và ðức Nam hoa kinh gồm các bài do Trang Tử và một số người theo phái ðạo gia

viết… Những tư tưởng triết học cơ bản của trường phái ðạo gia ñược thể hiện chủ yếu

trong lý luận về ñạo và ñức Lý luận này thể hiện quan niệm biện chứng về thế giới, và là

cơ sở ñể Lão Tử xây dựng thuyết vô vi

a) Lý luận về ðạo và ðức

+ ðạo là phạm trù triết học vừa ñể chỉ bản nguyên vô hình, phi cảm tính, phi ngôn

từ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật, vừa ñể chỉ con ñường, quy luật chung của mọi sự

sinh thành, biến hóa xảy ra trong thế giới

ðạo ñược tạm hiểu như là cái tự nhiên tĩnh mịch, yên lặng, mộc mạc, hỗn ñộn, mập

mờ, thấp thoáng, không có ñặc tính, không có hình thể; là cái mắt không thấy, tai không

nghe, tay không nắm bắt, ngôn ngữ không thể diễn ñạt, tư duy không nhận thức ñược; là

cái năng ñộng tự sinh sôi, nảy nở, biến hóa…

Theo Lão Tử, ñạo vừa là cái có trước vừa là cái nằm trong bản thân sự vật; nhưng khi có sự can thiệp của con người thì ñạo không còn là ñạo nữa Ông viết: Có một vật hỗn

mang thành tựu trước trời ñất, yên lặng, mênh mông, một mình ñộc lập, tản mác khắp nơi, không ngừng ở ñâu, coi như mẹ của thế gian… Cái hỗn mang chưa có tên nên tạm gọi là

ñạo… ðạo mà ta có thể gọi ñược không phải là ñạo; Danh mà ta có thể gọi ñược không

phải là danh Không tên là gốc của trời ñất, có tên là mẹ của vạn vật…

+ ðức là phạm trù triết học dùng ñể thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của ñạo, là cái hình thức nhờ ñó vạn vật ñược ñịnh hình và phân biệt ñược với nhau, là cái lý sâu sắc ñể nhận

biết vạn vật

Theo Lão Tử, ñạo sinh ra vạn vật, ñức nuôi nấng, bảo tồn vạn vật Vạn vật nhờ ñạo

mà ñược sinh ra, nhờ ñức mà thể hiện, và khi mất ñi là lúc vạn vật quay trở về với ñạo

ðạo sinh ra Một (khí thống nhất), Một sinh ra Hai (âm, dương ñối lập), Hai sinh ra Ba

(trời, ñất, người), Ba sinh ra vạn Vật

Tóm lại, ñạo không chỉ là nguồn gốc, bản chất mà còn là quy luật của mọi cái ñã,

ñang và sẽ tồn tại trong thế giới ðiều này cho phép hiểu ñạo như nguyên lý thống nhất - vận hành của vạn vật - nguyên lý ðạo pháp tự nhiên (Nhân pháp ñịa, ñịa pháp thiên,

thiên pháp ñạo, ñạo pháp tự nhiên) ðạo vừa mang tính khách quan (vô vi) vừa mang tính

phổ biến; vì vậy, trong thế giới, không ñâu không có ñạo, không ai không theo ñạo Như vậy, quan niệm về ñạo của trường phái ðạo gia ñã thể hiện một trình ñộ khái

quát cao của tư duy về những vấn ñề bản nguyên thế giới ñược xem xét trong tính chỉnh thể thống nhất của nó

b) Quan niệm biện chứng về thế giới

Trong triết học của Lão Tử, quan niệm biện chứng về thế giới gắn liền với quan niệm

về ñạo – ñức Nhờ ñức mà ñạo nằm trong vạn vật luôn biến hóa ðạo là cái vô Cái vô sinh ra cái hữu Cái hữu sinh ra vạn vật…

Lão Tử cho rằng bất cứ sự vật nào cũng ñều là thể thống nhất của hai mặt ñối lập

Chúng ràng buộc, bao hàm lẫn nhau Ông viết: Ai cũng biết ñẹp là ñẹp tức là có xấu; hai

mặt dài ngắn tựa vào nhau, mới có hình thể; hai mặt cao thấp liên hệ với nhau, mới có chênh lệch; và, trong vạn vật, không vật nào không cõng âm, bồng dương Trong vạn vật,

các mặt ñối lập không chỉ thống nhất mà chúng còn xung ñột, ñấu tranh, chuyển hóa lẫn nhau tạo ra sự thay ñổi, biến hoá không ngừng của vạn vật trong vũ trụ Tuy nhiên, theo

Trang 12

mà là theo vòng tuần hoàn khép kín Ông nói, họa là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ náu

của họa; cái gì cong thì lại thẳng, trũng lại ñầy, cũ thì lại mới

Lão Tử khẳng ñịnh càng tách xa ñạo, xã hội càng chứa nhiều mâu thuẫn Mâu thuẫn

là tai họa của xã hội Ông viết: Khi ñạo lớn bị phá bỏ thì xuất hiện nhân – nghĩa; khi trí

tuệ ra ñời thì sinh ra giả dối; khi nước loạn mới xuất hiện tôi trung… Vì vậy, ñể xoá bỏ

tai họa cho xã hội, phải thủ tiêu mâu thuẫn trong xã hội

Theo Lão Tử, mâu thuẫn trong xã hội ñược thủ tiêu bằng cách ñẩy mạnh một trong

hai mặt ñối lập ñể tạo ra sự chuyển hóa theo quy luật phản phục (quay trở lại cái ban ñầu), hay cắt bỏ một trong hai mặt ñối lập ñể làm cho mặt ñối lập kia tự mất ñi theo quy luật quân bình (cân bằng nhau) Ông viết: Không tôn trọng người hiền thì dân không

tranh nhau, không coi trọng của cải quý báu thì dân không có trộm cắp

Như vậy, phép biện chứng của Lão Tử mang tính chất máy móc Vạn vật chỉ vận ñộng tuần hoàn, lặp ñi lặp lại một cách buồn tẻ mà không có sự ra ñời của cái mới, nghĩa

là không có sự phát triển

c) Thuyết vô vi

Khi xuất phát từ nguyên lý ðạo pháp tự nhiên và mở rộng quan niệm về ñạo vào

lĩnh vực ñời sống xã hội, Lão Tử xây dựng thuyết vô vi ñể trình bày quan ñiểm của mình

về các vấn ñề nhân sinh và chính trị - xã hội

Vô vi là sống và hành ñộng theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, không gò ép

trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên; là từ bỏ tính tham lam, vị

kỷ ñể không làm mất ñức Chỉ khi nào từ bỏ ñược thói tư lợi thì mới nhận thấy ñạo; và chỉ

khi nhận thấy ñạo mới có thể vô vi ñược

ðối lập với vô vi là hữu vi Hữu vi là sống và hành ñộng không theo lẽ tự nhiên, là

ñem áp ñặt ý chí của mình vào sự vật, là can thiệp vào ñất trời Lão Tử phản ñối mọi chủ

trương hữu vi, vì ông cho rằng hữu vi chỉ làm xáo trộn trật tự tự nhiên vốn mang tính ñiều hòa, làm mất bản tính tự nhiên của con người, dẫn ñến sự xa lánh và làm mất ñạo

Về ñường lối trị nước an dân, quan ñiểm của Lão Tử hoàn toàn ñối lập với quan

ñiểm của Khổng Tử Lão Tử cho rằng hành ñộng hay nhất là ñừng can thiệp ñến việc ñời;

nhưng, nếu ñời cần ta phải làm thì ta hãy làm cái không làm một cách kín ñáo, khéo léo Ông coi ñây là giải pháp an bang tế thế Ông viết: Chính phủ yên tĩnh vô vi thì dân sẽ biến

thành chất phác, chính phủ tích cực làm việc thì dân ñầy tai họa

Nếu Khổng Tử ñòi hỏi người trị vì thiên hạ phải là bậc Thánh nhân với các phẩm

chất ñạo ñức như nhân, lễ, nghĩa, trí…; thì Lão Tử chủ trương bậc Thánh nhân trị vì thiên

hạ phải bằng lẽ tự nhiên của ñạo vô vi Nếu Khổng Tử chủ trương xây dựng xã hội ñại

ñồng, thì Lão Tử chủ trương xóa bỏ hết mọi ràng buộc về mặt ñạo ñức, pháp luật ñối với con người ñể trả lại cho con người cái bản tính tự nhiên vốn có của nó Lão Tử mơ ước ñưa xã hội trở về thời ñại nguyên thủy chất phác, mơ ước cô lập cá nhân với xã hội ñể hòa

tan con người vào ñạo (tự nhiên) Ông chủ trương xây dựng nước nhỏ, dân ít, có thuyền xe

nhưng không ñi, có gươm giáo nhưng không dùng, bỏ văn tự, từ tư lợi, không học hành

Dân hai nước ở cạnh nhau, dù cách nhau bởi một bờ dậu nhỏ hay một con mương cạn, cùng nghe tiếng chó sủa tối, tiếng gà gáy sáng… nhưng ñến già, ñến chết họ không bao

giờ qua lại thăm nhau Từ thuyết vô vi, Lão Tử ñã rút ra nghệ thuật sống dành cho con người là: Từ ái, cần kiệm, khiêm nhường, khoan dung

Tóm lại, những tư tưởng sâu sắc và ñộc ñáo về ñạo, về ñức, về phép biện chứng, về

vô vi trong hệ thống triết học của Lão Tử ñã nâng ông lên vị trí những nhà triết học hàng

ñầu trong nền triết học Trung Hoa cổ ñại Chúng là mạch suối nguồn làm phát sinh nhiều

Trang 13

tư tưởng triết học ựặc sắc của nền triết học phương đông nói chung và triết học Trung

Hoa nói riêng Tuy nhiên, sang thời Chiến Quốc, Trang Tử ựã biến các yếu tố biện chứng trong triết học của Lão Tử thành chủ nghĩa tương ựối và thuyết ngụy biện Từ ựó,

ông xây dựng quan niệm nhân sinh thoát tục Ờ vị ngã Ờ toàn sinh ựầy tắnh duy tâm, tiêu

cực trong trường phái đạo gia

Xuất phát từ quan niệm của Lão Tử coi vạn vật ựều do ựạo sinh ra, Trang Tử cho

rằng, trời ựất và ta cùng sinh ra, vạn vật với ta ựều là một, mà ựã là một thì cần chi phân

biệt cái này với cái kia làm gì Từ ựây, ông cho rằng, ựúng - sai, trên - dưới, sang - hèn, bần Ờ tiệnẦ ựều là như nhau; mà nếu chúng là như nhau thì cần loại bỏ chúng ra một bên

ựể tiến vào vương quốc tiêu dao, coi sống chết bằng nhau, quên vật quên ta, trời ựất với ta

là một; coi ựời là một cuộc giải trắ, một cõi mộng mơ mà khi tĩnh dậy không biết ta hóa bướm hay bướm hóa ta

Do thoát tục mà phải sống trong trần tục nên Trang Tử chủ trương, phải toàn sinh và

vị ngã, nghĩa là phải yên theo thời mà ở thuận, vì cái tự nhiên nào cũng hợp lý cả; không

nên Ộbuộc ựầu ngựa xỏ mũi trâuỢ, không khen chê phải Ờ trái, tốt - xấu làm gì, phải lánh nạn ựể bảo toàn sinh mạng; hay can thẳng mà họ không nghe thì ta nên lui chớ cãiẦ, bởi

vì, một người quân tử chết vì nghĩa và một kẻ tiểu nhân chết vì của cải, thì hai cái chết ựó như nhau

Cách sống dững dưng, thoát tục, vị ngã của trường phái đạo gia là một phản ứng tiêu cực trước sự bế tắc của thời cuộc bấy giờ

4 Mặc gia

Trường phái Mặc gia do Mặc Tử (479-381 TCN) tên địch, người nước Tống, sáng

lập Tư tưởng của phái này ựược trình bày trong sách Mặc Tử; nó phản ánh nguyện vọng

của tầng lớp dân cư tự do, sản xuất nhỏ, tiểu chủ

Mặc gia phát triển trải qua hai giai ựoạn: giai ựoạn Mặc Tử và giai ựoạn Hậu Mặc Vào cuối thời Chiến quốc, các triết gia Hậu Mặc (Tướng Lý, Tướng Phu, đặng LongẦ)

ựã khắc phục khá triệt ựể yếu tố thần bắ, phát triển khá ựầy ựủ các yếu tố duy vật trong các quan niệm về tự nhiên và về nhận thức của Mặc Tử Từ ựó, phái Hậu Mặc ựã xây dựng một lý luận nhận thức vượt lên trên các lý luận nhận thức của các trường phái khác ựương thời Tuy nhiên, sang thời Tần Ờ Hán, phái Mặc gia suy yếu và dần dần mất ựi

Quan ựiểm của Mặc Tử không chỉ khác với đạo gia mà còn ựối lập với Nho gia cả

về nội dung bản thể luận triết học và triết lý về ựạo ựức Ờ chắnh trị Ờ xã hội lẫn nhận thức luận Cụ thể:

a) Về bản thể luận và triết lý về ựạo ựức Ờ chắnh trị Ờ xã hội

Xuất phát từ thế giới quan duy tâm, Mặc Tử không chỉ tin có Trời mà còn tin có quỷ thần, Ờ những thế lực ựầy quyền uy, thiêng liêng, luôn giám sát chặt chẽ mọi hành vi của con người ựể khen thưởng những việc làm nhân nghĩa hay trừng phạt những hành ựộng

ựộc ác của họ một cách công minh Dù tin có Trời, nhưng Mặc Tử chống lại thuyết Thiên

mệnh của Nho gia và ựưa ra thuyết Thiên ý Ờ minh quỷ Theo ông, ý trời luôn muốn mọi

người cùng thương yêu nhau, cùng làm lợi cho nhau; chứ không muốn con người ghét

nhau, làm hại nhau Sự giàu - nghèo, thọ - yểu, hạnh phúc - bất hạnh không phải do thiên mệnh mà là do nhân tạo Nếu con người luôn nổ lực làm việc, biết thực hành tiết kiệm tiền của thì nhất ựịnh sẽ giàu có, và sớm thoát ựược cảnh nghèo ựói

Do coi thiên ý Ờ minh quỷ sáng láng, công minh luôn là khuôn phép, mực thước cho

hành vi ựạo ựức của con người mà Mặc Tử chống lại cách hiểu nhân Ờ nghĩa, chống lại

Trang 14

Theo Mặc Tử, kiêm cũng là nghĩa, ñối lập với biệt; còn ái cũng là nhân, ñối lập với

ố Kiêm ái cũng chính là nhân nghĩa Kiêm ái không chỉ là yêu hết thẩy mọi người (không

phân biệt người thân – sơ, trên – dưới, làng mình - làng người, nước mình - nước ngoài)

như thể yêu mình mà còn là loại bỏ sự chia rẽ, phân biệt, thù ghét; Kiêm ái là làm lợi, trừ

hại cho mọi người… Nếu Nho gia ñối lập nghĩa với lợi, thì Mặc gia coi nghĩa là danh, lợi

là thực; chúng hoàn toàn thống nhất với nhau Việc làm không có lợi là việc làm bất nghĩa

Ông phản ñối ñường lối lễ trị, và ñòi hỏi thực hiện thượng ñồng, thượng hiền, tiết

dụng, tiết táng, phi nhạc, thiên chí – minh quỷ, kiêm ái, phi công Thượng ñồng có nghĩa

là thống nhất tư tưởng và hành ñộng của mọi người trong xã hội, tán ñồng từ dưới lên

trên, trên dưới tình ý thông nhau Thượng hiền có nghĩa là tiến cử và sử dụng người tài

giỏi trong việc công Ai tài thì ñược làm quan Quan dốt kém thì bị phế bỏ, mà không kể thuộc giai cấp nào…

Sang thời Chiến quốc, thuyết kiêm ái bị các trường phái khác phê phán mạnh mẽ Nho gia, Pháp gia coi thuyết kiêm ái của Mặc gia là không nhận có cha, không nhận có

vua, vì vậy, con người chẳng khác gì cầm thú

b) Quan niệm về nhận thức luận

Xuất phát từ chủ nghĩa duy cảm, Mặc Tử cho rằng cái gì lỗ tai, con mắt không cảm

thấy là không có Từ ñây, ông bác bỏ thuyết thiên mệnh và ñưa ra thuyết Tam biểu Theo thuyết này, muốn xác ñịnh một cái gì ñó ñúng hay sai, cần phải: một là, xem nó có cái gốc

(căn cứ lịch sử) như thế nào; hai là, xem nó có cái nguồn (ý kiến của trăm họ) ra sao; và

ba là, xem nó có cái dụng (có lợi cho nhà nước, cho trăm họ) hay không

Thuyết Tam biểu thể hiện lý luận phản ánh của chủ nghĩa duy vật chất phác; tuy

nhiên do chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa duy giác mà quan ñiểm về nhận thức của Mặc Tử

ñã ngã về phía chủ nghĩa duy tâm, rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm cực ñoan Ông ñã coi thường nội dung khách quan của kinh nghiệm con người

Tóm lại, những giá trị của thuyết Kiêm ái, thuyết Tam biểu … ñã nâng Mặc Tử lên

hàng triết gia lớn vào thời Chiến quốc, và triết học của ông ñã ảnh hưởng tích cực ñến sinh hoạt của xã hội Trung Hoa cổ ñại Tuy nhiên, thái ñộ của ông ñối với tín ngưỡng, tôn giáo lại mang tính chất thỏa hiệp Nó thể hiện bản tính nhu nhược của tầng lớp tiểu tư hữu ñang bị phá sản dưới chế ñộ chiếm hữu nô lệ ñang suy tàn trong xã hội Trung Hoa cổ ñại

Vì vậy, từ thời Tần – Hán trở ñi, không chỉ tư tưởng của riêng Mặc Tử mà của cả trường phái Mặc gia không thể lấn át ñược các tư tưởng của các trường phái khác trên diễn ñàn tư tưởng của xã hội phong kiến ổn ñịnh và phát triển

5 Pháp gia

Pháp gia là trường phái triết học có ảnh hưởng lớn ñến sự nghiệp thống nhất về tư tưởng và chính trị trong xã hội Trung Hoa cổ ñại Từ thời nhà Chu, người ta áp dụng hai

phương pháp trị dân cho hai tầng lớp xã hội khác nhau: một là, dùng lễ ñể chi phối cách

cư xử của tầng lớp quí tộc thống trị - quân tử, và hai là, dùng hình ñể trấn áp tầng lớp thứ dân bị trị - tiểu nhân Từ ñó ñã hình thành nguyên tắc: Lễ không xuống tới thứ dân, hình

không lên ñến ñại phu

Dù xuất thân là một nhà Nho, nhưng Quản Trọng (?-645 TCN) chủ trương không

dùng nhân nghĩa mà dùng hình pháp ñể cai trị ñất nước Ông là người ñầu tiên bàn về

pháp luật như một cách trị nước, và chủ trương công bố pháp luật rộng rãi trong công

chúng ðối với ông, người trị nước phải coi trọng luật, lệnh, hình, chính Tùy theo thời thế

và ý của dân mà ñưa ra pháp một cách rõ ràng; phải chỉ cho dân biết rõ pháp rồi mới thi

Trang 15

hành, và khi hành pháp phải giữ cho ựược lòng tin với dân Như vậy, có thể coi Quản

Trọng là người khởi xướng Pháp gia

Sang thời Chiến quốc, tư tưởng pháp trị ựược tiếp tục phát triển bởi Thận đáo

(370-290 TCN), Thân Bất Hại (401-337 TCN) và Thương Ưởng Trong phép trị nước, Thận

đáo chủ trương dùng thế, Thân Bất Hại chủ trương dùng thuật, còn Thương Ưởng lại chủ

trương dùng pháp Cuối thời Chiến quốc, tư tưởng pháp trị ựược Hàn Phi Tử (280-233

TCN) hoàn thiện Ông ựã tổng hợp ba quan ựiểm về pháp, thế, thuật của 3 nhà triết học trên thành một học thuyết có tắnh hệ thống và trình bày trong sách Hàn Phi Tử Mặt khác, Hàn Phi còn kết hợp 3 học thuyết Nho, Lão, Pháp lại với nhau, trong ựó, Nho gia ựược coi

là Ộvật liệu ựể xây dựng xã hộiỢ, đạo gia là Ộkỹ thuật thi côngỢ, còn Pháp gia là Ộbản thiết kếỢ

Xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu - Chiến Quốc là xã hội nô lệ suy tàn ựang chuyển sang xã hội phong kiến Lúc ựó, trật tự cương thường xã hội bị ựảo lộn, ựạo ựức suy ựồi

để cải tạo xã hội ựó, nếu Nho gia chủ trương dùng nhân nghĩa, Mặc gia chủ trương dùng

kiêm ái, đạo gia chủ trương dùng vô vi thì Pháp gia lại chủ trương pháp trị Pháp trị của Hàn Phi Tử dựa trên những luận cứ sau ựây:

Một là, thừa nhân tắnh qui luật của những lực lượng khách quan mà ông gọi là lý Lý

chi phối mọi sự vận ựộng của tự nhiên và xã hội Ông yêu cầu con người phải nắm lấy cái

lý của vạn vật luôn luôn biến hóa mà hành ựộng cho phù hợp

Hai là, thừa nhận sự biến ựổi của ựời sống xã hội Do không có chế ựộ xã hội nào

bất di bất dịch nên không có khuôn mẫu chung cho mọi xã hội Theo ông, người thống trị phải căn cứ vào nhu cầu khách quan của lịch sử, dựa vào ựặc ựiểm của thời thế mà lập ra

chế ựộ, ựặt ra chắnh sách, vạch ra cách trị nước sao cho thắch hợp Ông cho rằng, không có

một thứ pháp luật nào luôn luôn ựúng với mọi thời ựại Pháp luật mà biến chuyển ựược theo thời ựại thì thiên hạ trị, còn thời thế thay ựổi mà phép trị dân không thay ựổi thì thiên

hạ loạn

Ba là, do bản tắnh con người là ác và do trong xã hội người tốt cũng có nhưng ắt, còn

kẻ xấu thì rất nhiều nên muốn xã hội yên bình, không nên trông chờ vào số ắt, mong chờ

họ làm việc thiện (thực hành nhân nghĩa trị), mà phải xuất phát từ số ựông, ngăn chận không cho họ làm ựiều ác (thực hiện pháp trị)

Phép trị quốc của Hàn Phi Tử là một học thuyết có nội dung hoàn chỉnh ựược tổng

hợp từ pháp, thế và thuật; trong ựó, pháp là nội dung của chắnh sách cai trị, thế và thuật

là phương tiện ựể thực hiện chắnh sách ựó Cả ba pháp, thế, thuật ựều là công cụ trị nước

của bậc ựế vương

Pháp ựược hiểu là qui ựịnh, luật lệ có tắnh chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã

hội phải tuân theo; là tiêu chuẩn khách quan ựể ựịnh rõ danh phận, trách nhiệm của con người trong xã hội Ông ựòi hỏi, bậc minh chủ sai khiến bề tôi, không ựặt ý ngoài pháp,

không ban ơn trong pháp, không hành ựộng trái pháp

Thế ựược hiểu là ựịa vị, thế lực, quyền uy của người cầm ựầu chắnh thể địa vị, thế

lực, quyền uy ựó của người trị vì phải là ựộc tôn (Tôn quân quyền) Theo Hàn Phi Tử, thế

quan trọng ựến mức có thể thay thế vai trò của bậc hiền nhân Muốn thi hành ựược pháp thì phải có thế Pháp và thế không tách rời nhau

Thuật là phương pháp, thủ thuật, cách thức, mưu lược khiển việc, khiến người ta

triệt ựể thực hiện mệnh lệnh mà không hiểu người sai dùng họ như thế nào Thuật bao

gồm 3 mặt là bổ nhiệm, khảo hạch và thưởng phạt Hàn Phi Tử ựòi hỏi vua phải dùng

pháp như trời, dùng thuật như quỷ Và nếu pháp ựược công bố rộng rãi trong dân, thì

Trang 16

ñã ñược các học phái khác hấp thụ ñể bổ sung, hoàn chỉnh quan ñiểm của mình

Trang 17

Vấn ựề 2 LỊCH SỬ TRIẾT HỌC ẤN đỘ CỔ, TRUNG đẠI

I đIỀU KIỆN LỊCH SỬ RA đỜI VÀ PHÁT TRIỂN CÁC đẶC đIỂM CƠ BẢN

1 điều kiện lịch sử ra ựời và phát triển

Ấn độ cổ là một ựất nước rộng lớn thuộc bán ựảo Nam Á, bao gồm cả nước Pakixtan, Bănglaựét và Nêpan ngày nay Khắp vùng từ đông Bắc ựến Tây Bắc của Ấn

độ cổ ựại núi non trùng ựiệp với dãy Himalaya nổi tiếng kéo dài 2600 km Dãy núi Vinựya phân chia Ấn độ thành hai miền: Bắc và Nam Miền Bắc có hai con sông lớn là sông Ấn ở phắa Tây và sông Hằng ở phắa đông, chúng tạo nên hai ựồng bằng màu mỡ - cái nôi của nền văn minh cổ Ấn độ Trước khi ựổ ra biển, sông Ấn chia làm 5 nhánh, và biến lưu vực của mình thành ựồng bằng Pungiáp đối với người Ấn độ, sông Hằng là dòng sông linh thiêng có thành phố Varanadi (Bênarét) bên bờ; nơi ựây, từ ngàn xưa, người Ấn độ cử hành lễ tắm truyền thống mang tắnh chất tôn giáoẦ Cư dân Ấn độ rất

ựa dạng và phức tạp với nhiều bộ tộc khác nhau, nhưng về chủng tộc, có hai loại chắnh là người đraviựa cư trú chủ yếu ở miền Nam, và người Arya chủ yếu sống ở miền Bắc

Từ trong nền văn minh sông Ấn của người bản ựịa đraviựa xa xưa, nhà nước Ấn

độ cổ ựại ựã xuất hiện; nông nghiệp, thủ công, thương nghiệp ựã hình thành Tuy nhiên, ựến thế kỷ XVII TCN, thiên tai (lũ lụt trên sông AnẦ) ựã làm cho nền văn minh này sụp

ựổ Vào khoảng thế kỷ XV TCN, các bộ lạc du mục Arya ở Trung Á xâm nhập vào Ấn

độ Họ ựịnh canh, ựịnh cư và tiến hành quá trình nô dịch, ựồng hóa, hỗn chủng với các

bộ lạc bản ựịa đraviựa Kinh tế tiểu nông nghiệp kết hợp với thủ công nghiệp gia ựình mang tắnh tự cung, tự cấp lấy gia ựình, gia tộc của người Arya làm cơ sở, ựã tạo nền tảng

vững chắc cho các công xã nông thôn ra ựời và sớm ựược khẳng ựịnh

Trong mô hình công xã nông thôn, toàn bộ ruộng ựất ựều thuộc quyền sở hữu nhà

nước của các ựế vương; nhà nước kết hợp với tôn giáo thống trị nhân dân và bóc lột nông nô công xã; tôn giáo bao trùm mọi mặt ựời sống xã hội; con người sống nặng về

tâm linh tinh thần và khao khát ựược giải thoát Cũng trong mô hình này ựã hình thành 4 ựẳng cấp với sự phân biệt hết sức khắc nghiệt và dai dẳng đó là: Tăng lữ - ựẳng cấp

cao quắ nhất trong xã hội - bao gồm những người hành nghề tế lễ; Quắ tộc - ựẳng cấp thứ hai trong xã hội - bao gồm vua chúa, tướng lĩnh; Bình dân tự do - ựẳng cấp thứ 3 trong

xã hội - bao gồm những người có chút ắt tài sản, ruộng ựất; Tiện nô hay nô lệ - ựẳng cấp

thấp nhất và ựông ựảo nhất - bao gồm những người tận cùng không có quyền lợi gì trong

xã hội Ngoài sự phân biệt ựẳng cấp như trên, xã hội Ấn độ cổ ựại còn có sự phân biệt

về chủng tộc, dòng dõi, tôn giáo, nghề nghiệp

Những sự phân biệt này ựã tạo ra những xung ựột ngấm ngầm trong xã hội nhưng

bị kìm giữ bởi sức mạnh vật chất và tinh thần của nhà nước Ờ tôn giáo Xã hội vận ựộng,

phát triển một cách chậm chạp và nặng nề Tuy vậy, nhân dân Ấn độ vẫn ựạt ựược những thành tựu văn hóa tinh thần khá rực rỡ

Về văn hóa, chữ viết ựã ựược người Ấn độ sáng tạo từ thời văn hóa Haráppa, sau

ựó chữ Kharosthi (thế kỷ V TCN) ra ựời; chữ Brami ựược dùng rộng rãi vào thời vua

Axôca, sau cùng, nó ựược cách tân thành chữ đêvanagari ựể viết tiếng Xanxcrit Văn

Trang 18

học có các bộ Vêña 18; các bộ sử thi (Mahabarata, Ramayana…) Nghệ thuật nổi bật là

nghệ thuật tạo hình như kiến trúc, ñiêu khắc ñược thể hiện trong các cung ñiện, ñền chùa, tháp, lăng tẩm, trụ ñá… (tháp Xansi [Sanchi], trụ ñá Xácna [Sarnath], lăng Taj Mahan, các tượng phật và tượng thần…

Về khoa học tự nhiên, người Ấn ðộ ñã làm ra lịch pháp, phân biệt ñược 5 hành

tinh và một số chòm sao; ñã phát hiện ra chữ số thập phân, số π, xây dựng môn ñại số học; ñã biết cách tính diện tích các hình ñơn giản và xác ñịnh ñược quan hệ giữa các cạnh của một tam giác vuông; ñã ñưa ra giả thuyết nguyên tử… Người Ấn ðộ cũng có nhiều thành tựu trong y dược học

Về tôn giáo Ấn ðộ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo, trong ñó quan trọng nhất là

ñạo Bàlamôn (về sau là ñạo Hinñu) và ñạo Phật; ngoài ra còn có các tôn giáo khác như ñạo Jaina, ñạo Xích…

Tạo nên và nuôi dưỡng các thành tựu ñó là lịch sử Ấn ðộ cổ và trung ñại Lịch sử này gồm 4 thời kỳ19:

Thời kỳ văn minh Sông Ấn (từ giữa thiên niên kỷ III ñến giữa thiên niên kỷ II

TCN) Nền văn minh này ñược biết ñến qua sự phát hiện hai thành phố bị chôn vùi

Haráppa và Môhenjô ðarô ở lưu vực sông Ấn vào năm 1920 nên còn ñược gọi là văn

hoá Haráppa

Thời kỳ văn minh Vêña (từ giữa thiên niên kỷ II ñến thế kỷ VII TCN) Nét nổi bật

của nền văn minh này là sự thâm nhập của người Arya từ Trung Á vào khu vực của người người bản ñịa ðraviña ở vùng lưu vực sông Hằng, sự xuất hiện của 4 bộ kinh Vêña sớm phản ánh sinh hoạt của họ, và sự pha trộn giữa 2 nền văn hóa - tín ngưỡng của hai chủng tộc khác nhau Chế ñộ ñẳng cấp và ñạo Bàlamôn xuất hiện góp phần hình

thành một nền văn hóa mới của người Ấn ðộ - văn hóa Vêña

Thời kỳ các vương triều ñộc lập (từ thế kỷ VI TCN ñến thế kỷ XII) ðây là thời kỳ

có những biến ñộng lớn về kinh tế, chính trị - xã hội, tư tưởng - văn hóa… với sự ra ñời của các quốc gia và sự hình thành các trường phái triết học - tôn giáo lớn của Ấn ðộ Từ

thế kỷ VI TCN, ở Ấn ðộ có 16 nước nhỏ, trong ñó, nước mạnh nhất là Magaña nằm ở

vùng hạ lưu sông Hằng Năm 327 TCN, sau khi diệt ñược ñế quốc Ba Tư rộng lớn, quân

ñội Makêñônia do Alếchxăngñrơ chỉ huy ñã tiến chiếm Ấn ðộ Nhưng do quá mệt mõi

mà họ không ñủ sức tấn công nước Magaña Alếchxăngñrơ cho quân rút lui Khi quân

ñội Makêñônia rút lui, thủ lĩnh Sanñragupta, biệt hiệu Môrya (Chim công) lãnh ñạo

phong trào ñấu tranh giải phóng, ñánh ñuổi quân Makêñônia ra khỏi An ðộ, làm chủ vùng Pungiáp, và sau ñó, tiến quân về phía ñông giành lấy ngôi vua Magaña, lập nên

vương triều Môrya – vương triều huy hoàng nhất trong lịch sử Ấn ðộ cổ ñại Vào thời

vua Axôca (273-236), vương triều Môrya cực thịnh, với ñạo Phật phát triển rực rỡ Sau

ñó, vương triều suy yếu dần và bị diệt vong vào năm 28 TCN Nước Ấn ðộ bị chia cắt ðến thế kỷ I, bộ tộc Cusan (cùng huyết thống với người Tuốc) từ Trung Á tràn vào và

chiếm lấy vùng Tây Bắc lập nên nước Cusan Vào thời vua Canixca (78-123), nước

Cusan phát triển rực rỡ, ñạo Phật lại hưng thịnh, rồi sau ñó suy yếu dần, lãnh thổ thu hẹp

18

Vêña là thần thoại diễn ca truyền khẩu ñược sáng tác trong một quãng thời gian dài hơn 1000 năm; sau ñó, nó ñược ghi lại

thành giáo lý của ñạo Bàlamôn Vêña vốn có nghĩa là hiểu biết; nó là nền tảng tư tưởng tôn giáo - triết học – chính trị của

An ðộ cổ ñại Vêña bao gồm 4 tập Vêña sớm dưới dạng thơ (Rích Vêña, Xama Vêña, Atácva Vêña và Yagiva Vêña) và 3 tập Vêña muộn dưới dạng văn xuôi (Brátmana, Araniaca, Upanisát) Những tác phẩm Vêña muộn, ñặc biệt là Upanisát, có ý nghĩa triết học rõ nét

19 Do tính ñặc thù của “phương thức sản xuất châu Á” mà ở An ðộ không có sự phân chia rõ thời cổ ñại với thời trung ñại

Trang 19

lại trong vùng Pungiáp, và cuối cùng, bị diệt vong vào thế kỷ V Dù bị chia cắt, nhưng

vào năm 320, vương triều Gupta ựã ựược thành lập ở miền Bắc và một phần miền

Trung Ấn độ Từ năm 500 ựến năm 528, miền Bắc Ân độ bị người Eptalil chiếm ựống Năm 535, vương triều này bị diệt vong Năm 606, vua Hácsa lập nên vương triều Hácsa

hùng mạnh ở miền Bắc, năm 648, ông mất, vương triều cũng tan rã Ngay từ ựầu thế kỷ

XI, các vương triều Hồi giáo ở Apganixtan luôn tấn công An độ; ựến năm 1200, miền Bắc Ấn độ ựã bị sáp nhập vào Apganixtan

Thời kỳ các vương triều lệ thuộc (từ thế kỷ XIII ựến giữa thế kỷ XIX) Năm 1206,

Viên Tổng ựốc của Apganixtan ở miền Bắc Ấn độ ựã tách miền Bắc Ấn độ ra thành lập

một nước riêng, tự mình làm Xuntan (vua), ựóng ựô ở đêli và gọi tên nước là Xuntan đêli (1206-1526)Ầ Trải qua năm vương triều do người Hồi giáo ngoại tộc cai trị, ựến

năm 1526, dòng dõi người Mông Cổ ở Trung Á, bị Tuốc hóa, theo ựạo Hồi tấn công và

chiếm lấy Ấn độ lập nên vương triều Môgôn Năm 1849, thực dân Anh bắt ựầu chinh

phục Ấn độ Năm 1857, vương triều Môgôn bị diệt vong Ấn độ trở thành thuộc ựịa của thực dân AnhẦ

2 Các ựặc ựiểm cơ bản

Từ trong hoàn cảnh lịch sử và truyền thống Vêựa, triết học Ấn độ cổ ựại ựã hình

thành và phát triển Chắnh Upanisát - tác phẩm Vêựa xuất hiện muộn nhất Ờ ựã thể hiện

rõ những triết lý sâu sắc của người Ấn độ Những triết lý này tạo thành những mạch suối ngầm làm phát sinh ra nhiều dòng chảy tư tưởng triết học Ờ tôn giáo của Ấn độ Upanisát cố lý giải những vấn ựề về bản thể Ờ nhân sinh, về sự sống Ờ cái chếtẦ, nó ảnh hưởng sâu ựậm ựến ựời sống tinh thần của người dân Ấn độ nói riêng, của nhiều dân tộc phương đông nói chung

Dù cùng ựược hình thành và phát triển từ trong truyền thống Vêựa, nhưng các trường phái triết học Ấn độ cổ ựại lại luôn xung ựột lẫn nhau, và sự xung ựột này kéo dài cho ựến hết thời trung ựại Tuỳ thuộc vào việc có thừa nhận hay không quyền uy, sức mạnh của Vêựa mà các trường phái triết học Ấn độ cổ - trung ựại ựược chia thành hệ

thống chắnh thống và hệ thống không chắnh thống Hệ thống triết học chắnh thống bao gồm 6 trường phái thừa nhận uy quyền của Vêựa là Vêựanta, Samkhya, Mimansa, Yôga,

Niaja và Vaisêsika Hệ thống triết học không chắnh thống bao gồm 3 trường phái không

thừa nhận uy quyền của Vêựa là Lokayatta, đạo Jaina, đạo Phật Mặc có nhiều trường

phái, hệ thống khác nhau nhưng nhìn chung, triết học An độ cổ - trung ựại có những ựặc ựiểm cơ bản sau:

Thứ nhất, do chịu ảnh hưởng bởi tinh thần Vêựa mà triết học Ấn độ cổ ựại không

thể phân chia rõ ràng thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phép biện chứng và

phép siêu hình (như triết học phương Tây), mà chủ yếu ựược chia thành các hệ thống

chắnh thống và các hệ thống không chắnh thống Trong các trường phái triết học cụ thể

luôn có sự ựan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện chứng

và phép siêu hình với nhau

Thứ hai, do chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng tôn giáo mà triết học Ấn độ

cổ ựại thường là một bộ phận lý luận quan trọng tạo nên nội dung giáo lý của các tôn giáo lớn Tuy nhiên, tôn giáo của Ấn độ không có xu hướng "hướng ngoại" ựể tìm kiếm sức mạnh nơi Thượng ựế (như các tôn giáo phương Tây) mà có xu hướng "hướng nội" ựi sâu tìm hiểu ựời sống tâm linh, tinh thần ựể phát hiện ra sức mạnh của linh hồn cá nhân con người; vì vậy, triết học Ấn độ cổ - trung ựại mang nặng tắnh chất duy tâm chủ quan

Trang 20

Thứ ba, triết học Ấn ðộ cổ ñại ñã ñặt ra nhiều vấn ñề, song nó rất quan tâm ñến

việc giải quyết các vấn ñề thuộc về lĩnh vực nhân sinh, nhằm tìm kiếm con ñường giải

thoát chúng sinh ra khỏi thực tế khắc nghiệt của cuộc sống do chế ñộ ñẳng cấp tạo ra

II MỘT SỐ TƯ TƯỞNG, TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC

A TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRONG UPANISÁT

Upanisát cho rằng, trong thế giới, tồn tại brátman (ñại ngã) và átman (tiểu ngã)

cùng mang bản chất thần thánh, nhưng khác hình thức biểu hiện Brátman là linh hồn vũ trụ hay thực thể tinh thần tối cao, là căn nguyên của vạn vật Nó tồn tại tuyệt ñối, vĩnh viễn sản sinh ra mọi cái, và cũng là ñích cuối cùng của mọi cái Atman là linh hồn con người, là sự biểu hiện cụ thể, cá biệt của brátman Nó là cái nhỏ bé nhưng cũng là cái vĩ ñại, bất diệt như brátman Tuy nhiên, do gắn bó với thể xác và thông qua thể xác mà

átman luôn bị lôi cuốn vào dục vọng; vì vậy, nó phải chịu nghiệp báo, luân hồi và phải trải qua số kiếp ðể thoát ra khỏi nghiệp báo, luân hồi, số kiếp, átman phải toàn tâm,

toàn ý tự giác ngộ bản chất thần thánh nơi chính mình (tu luyện) ñể ñược giải thoát quay

về với brátman

Cũng như Brátman – cơ sở giáo lý của ñạo Bàlamôn và ñạo Hinñu, Upanisát luôn

bảo vệ chế ñộ ñẳng cấp mà thực chất là bảo vệ các ñặc quyền của giới tăng lữ Bàlamôn

“Vì sự phồn vinh của cả thế giới mà từ mồm, tay, ñùi, và bàn chân của mình, Ngài (Brátman) ñã tạo ra tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và nô lệ” “Do sinh ra từ bộ phận cao quý nhất từ thân thể của brátman, do sinh ra sớm nhất, do hiểu biết Vêña mà tăng lữ

có quyền làm chúa tể của các tạo vật ấy” (Luật Manu)

Upanisát cho rằng tồn tại hai hình thức nhận thức là thượng trí (chiêm nghiệm tâm

linh) và hạ trí (trực quan cảm tính, hay dựa vào trực quan cảm tính) Thượng trí là hình

thức nhận thức cho phép vượt lên trên cái hữu hình, cảm tính, cái thay ñổi ñể nắm bắt cái vô hình, bất biến, cái thực tại tuyệt ñối, duy nhất ẩn mình ñằng sau cái hữu hình, cảm

tính, thay ñổi; nghĩa là nhận thức ñược brátman Hạ trí là hình thức nhận thức bị giới

hạn trong cái hữu hình, cảm tính, thay ñổi; nghĩa là nhận thức các sự vật vật chất xung quanh ta

B HỆ THỐNG CHÍNH THỐNG

1 Trường phái Vêñanta

Trường phái Vêñanta (Kết thúc Vêña) xuất hiện vào thế kỷ II TCN, do Badarayana

khởi xướng và Sankara phát triển Là một trường phái triết học - tôn giáo, Vêñanta tiếp nối các tư tưởng của Upanisát, ñưa ra các kiến giải siêu hình và duy tâm về nguyên nhân

hình thành thế giới (vũ trụ và vạn vật) Những tư tưởng triết học cơ bản của nó là:

Một là, thừa nhận sự tồn tại của brátman – linh hồn vũ trụ là thực tại tinh thần tối

cao, là bản chất, là nguồn sống vĩnh hằng, là cội nguồn chi phối mọi sự sinh thành và hủy diệt của mọi cái trong thế giới

Hai là, coi átman – linh hồn cá nhân - là hiện thân của brátman nơi thể xác trần tục

của con người và bị vây hãm, ràng buộc bởi những ham muốn nhục dục của thể xác ðể giải thoát átman khỏi sự vây hãm ràng buộc này, con người (átman) phải dốc lòng tu

luyện, suy tư, chiêm nghiệm tâm linh ñể nhận ra bản tính thần thánh của mình mà quay

về với Brátman

Ba là, coi thế giới vật chất chỉ là ảo ảnh do vô minh của con người mang lại

Trang 21

Phái Vêñanta chịu sự phê phán mạnh mẽ của các trường phái khác, vì vậy, nó ñã

không ñứng vững trước lập trường duy tâm nhất nguyên của mình Sang thời trung ñại,

nó ñã chuyển dần sang lập trường nhị nguyên Dù vậy, nó vẫn là cơ sở triết học của giáo

lý ñạo Bàlamôn - Hinñu

2 Trường phái Samkhya

Trường phái Samkhya (Số luận) do Kapila (~350-250 TCN) khởi xướng, và sau ñó, Isvarakrisna phát triển thêm Lý luận cơ bản của phái này là học thuyết duy vật về bản

nguyên của thế giới Những tư tưởng triết học cơ bản của nó là:

Một là, không thừa nhận sự tồn tại của brátman và thần thánh, mà thừa nhận bản

nguyên của thế giới là prakriti - vật chất ñầu tiên, tiềm ẩn, không hình dạng, không giới

hạn, không thể nhận biết ñược bằng cảm tính

Hai là, thừa nhận vạn vật chỉ là thể thống nhất, tác ñộng và chuyển hóa lẫn nhau

giữa 3 yếu tố là sativa (nhẹ nhàng, thuần khiết), razas (tích cực, năng ñộng) và tamas

(nặng, ỳ)

Ba là, thừa nhận tồn tại luật nhân quả chi phối mọi sự chuyển hóa trong thế giới

vật chất [vật chất tri năng ngũ giác (thị, thính, khứu, vị, xúc giác) → trí tuệ (năng

lực nhận thức); vật chất ngũ quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, da) và ngũ quan tác ñộng (cuống họng, bàn tay, bàn chân, cơ quan bài tiết, cơ quan sinh dục); vật chất

ngũ hành (không khí, lửa, nước, ñất và ête); vật chất linh hồn hay tinh thần

(purusa)] Purusa không phải là linh hồn thế giới như Vêña quan niệm mà chỉ là nguyên

lý phổ quát, bất biến của cá tính trong các sinh vật Nó giúp thực hiện việc truyền sinh

khí, ñẩy mạnh sự biến hóa của các yếu tố vật chất

Phái Samkhya chịu sự phê phán mạnh mẽ của các trường phái khác, vì vậy, nó ñã

không ñứng vững trước lập trường duy vật nhất nguyên của mình mà chuyển dần sang lập trường nhị nguyên vào thời trung ñại Khi thừa nhận sự tồn tại song hành hai yếu tố

ñầu tiên là prakriti và purusa, Isvarakrisna coi vạn vật chỉ là thể thống nhất, tác ñộng, chuyển hóa của chúng; mà cụ thể là, sự tác ñộng giữa thể tinh và thể thô Là trung tâm của nghiệp, thể tinh bao gồm trí tuệ, giác quan và các yếu tố gắn liền với chúng cũng như cảm giác về cái tôi, về bản thân chủ thể; nó luôn ñi theo Purusa khi nào còn chưa

ñược giải thoát Thể thô gắn liền với các yếu tố vật chất và chết ñi cùng với các yếu tố

vật chất

3 Trường phái Yôga

Trường phái Yôga xuất hiện vào thế kỷ II TCN, do ñạo sĩ Patanjali sáng lập Tư

tưởng triết học cốt lõi của phái này là sự thừa nhận nguyên lý hợp nhất của vũ trụ nơi mỗi cá thể; và thông qua các phương pháp yôga mà mỗi cá thể có thể tập luyện ñể khai thác ñược sức mạnh vũ trụ tiềm ẩn trong mình ñể làm chủ mình, tiến tới làm chủ môi trường, và sau cùng, vươn tới sự giải thoát Phương pháp yôga ñòi hỏi sự kiên trì, tính

tích cực tự giác kết hợp giữa rèn luyện thể xác và rèn luyện tư duy qua tám nguyên tắc

cơ bản (Bát bảo tu pháp) là: cấm chế (giữ ñúng ñiều răn); khuyến chế (thanh tịnh trong

học tập kinh ñiển); tọa pháp (giữ ñúng vị trí thân thể); ñiều tức (ñiều chỉnh hơi thở hợp lý); chế cảm (chế ngự, kiểm soát, làm chủ cảm giác); chấp trì (tập trung tư tưởng, trí tuệ vào một chỗ); thiền ñịnh (giữ tâm thống nhất); tuệ (trạng thái xuất thần làm bừng sáng tư

duy hoà nhập vào ñại ngã)

Trang 22

4 Trường phái Mimansa

Trường phái Mimansa xuất hiện vào thế kỷ II TCN, do Gaimini khởi xướng và

được nhiều người gĩp phần phát triển vào thời trung đại Là một trường phái triết học - tơn giáo, Mimansa đưa ra các kiến giải nhằm biện hộ, củng cố và tuyên truyền cho các

nghi thức được đề cặp đến trong Vêđa nĩi chung, trong giáo lý đạo Bàlamơn – Hinđu

nĩi riêng Tư tưởng chủ đạo của nĩ là:

Một là, coi cảm giác là nguồn gốc duy nhất của nhận thức; và do cảm giác khơng

nhận thấy được thần linh, vì vậy, trong thế giới khơng cĩ thần linh

Hai là, coi bản thân những nghi thức, lời kinh tự chúng đã cĩ sức mạnh huyền bí

đối với người tu hành để giúp họ trên con đường hành đạo, vì vậy, khơng cần đến thần linh nữa

Ba là, muốn giải thốt khỏi trạng thái hiện hữu phải thực hiện đúng mọi nghi thức

được nêu ra trong Vêđa, trong giáo lý Bàlamơn – Hinđu, phải thực hiện mọi nghĩa vụ, bổn phận mà trật tự xã hội quy định

Phái Mimansa chịu sự phê phán mạnh mẽ của các trường phái khác, vì vậy, nĩ đã

khơng đứng vững trước lập trường vơ thần của mình mà chuyển dần sang lập trường hữu thần vào thời trung đại

5 Trường phái Niaja

Trường phái Niaja xuất hiện vào thế kỷ III TCN, do Gơtama sáng lập và được Vátsiaiana (thế kỷ IV) và Yđiatakara (thế kỷ VII) phát triển Lý luận cơ bản của phái

này bao gồm ba bộ phận là nguyên tử luận, lơgích học và lý luận về nhận thức

Về nguyên tử luận, phái này cho rằng, nguyên tử (Anu) là bản nguyên duy nhất tạo

nên vạn vật trong thế giới Nguyên tử là những hạt vật chất bé nhỏ, khơng đồng nhất, bất biến, vĩnh hằng, khác nhau về chất lượng, khối lượng, hình dạng và cách thức kết hợp

Khi kết hợp lại với nhau chúng tạo thành 4 thực thể vật lý là đất, nước, giĩ và lửa Các thực thể này tồn tại trong một mơi trường ête, trong khơng gian và thời gian Khi phối hợp với nhau thì chúng tạo nên vạn vật đa dạng nhưng nhất thời – thế giới vật chất…

Bên cạnh việc thừa nhận sự tồn tại của nguyên tử, phái này cịn thừa nhận sự tồn tại của

các linh hồn (Ya) Linh hồn thể hiện qua những ước vọng, ý chí, vui, buồn, giận hờn ;

chúng cĩ thể tồn tại tự do nhưng cũng cĩ thể tồn tại trong trạng thái gắn kết vào nguyên

tử Bên cạnh Anu và Ya, phái này cho rằng tồn tại thần Isvara với vai trị điều phối sự

kết hợp, tác động của các linh hồn hay giải thốt linh hồn ra khỏi nguyên tử

Về lơgích học, phái này đã xây dựng ngũ đoạn luận (suy luận với 5 mệnh đề: luận

đề, nguyên nhân, ví dụ, suy đốn, kết luận) Xét về thực chất, thì đây là một biến tướng

của tam đoạn luận (suy luận với 3 mệnh đề: đại tiền đề, tiểu tiền đề, kết luận) Bởi vì, trong ngũ đoạn luận, hai mệnh đề đĩng vai trị luận đề và nguyên nhân được lập lại trong

suy đốn và kết luận Thí dụ, với ngũ đoạn luận: Trên đồi cĩ lửa; vì trên đồi cĩ khĩi; ở đâu cĩ khĩi là ở đĩ cĩ lửa; trên đồi đang cĩ khĩi; vậy, trên đồi cĩ lửa Cịn với tam

đoạn luận: Ở đâu cĩ khĩi là ở đĩ cĩ lửa; trên đồi đang cĩ khĩi; vậy, trên đồi cĩ lửa

Về nhận thức luận, phái này thừa nhận đối tượng nhận thức tồn tại khách quan;

cịn cảm giác, kết luận, tương tự và bằng chứng là 4 phương thức nhận thức đáng tin cậy Phái này cũng đề cao vai trị của kinh nghiệm trong nhận thức, đồng thời cho rằng

nhận thức là đúng khi nĩ phù hợp với bản chất của đối tượng và giúp con người đạt được mục đích đề ra; cịn nếu ngược lại, thì đĩ là nhận thức sai lầm

Trang 23

Phái Niaja chịu sự phê phán mạnh mẽ của các trường phái khác, vì vậy, sau này, nó

liên kết với trường phái Vaisêsika Tuy nhiên, sang thời trung ựại chúng ựã không ựứng

vững trên lập trường vô thần của mình mà chuyển dần sang lập trường hữu thần, - coi thần ựã dùng nguyên tử ựể tạo nên thế giới

6 Trường phái Vaisêsika

Trường phái Vaisêsika xuất hiện vào thế kỷ II TCN, do Kanaựa sáng lập và ựược Parasatapaựa (thế kỷ V) phát triển Lúc ựầu, quan ựiểm của phái này và phái Niaja có

nhiều ựiểm giống nhau Cũng như phái Niaja, tư tưởng chủ ựạo của phái Vaisêsika tập

trung trong nguyên tử luận, lôgắch học và nhận thức luận

Về nguyên tử luận, phái này cho rằng, nguyên tử là bản nguyên duy nhất tạo nên

vạn vật trong thế giới Nguyên tử là những hạt vật chất bé nhỏ, không ựồng nhất, bất biến, vĩnh hằng, khác nhau về chất lượng, khối lượng, hình dạng và cách thức kết hợp

Khi kết hợp lại với nhau chúng tạo thành 9 thực thể là ựất, nước, gió, lửa, ête, thời gian,

không gian, linh hồn và trắ tuệ 5 thực thể ựầu là thực thể vật lý mang tắnh cảm giác

ựược; còn các thực thể còn lại là thực thể phi cảm giác Khi kết hợp với nhau thì chúng tạo nên vạn vật ựa dạng, nhất thời Ờ thế giới vật chất Phái này thừa nhận sự tồn tại của

một lực lượng vô hình không cảm giác ựược ựiều khiển sự kết hợp ựó

Về lôgắch học, phái này ựã xây dựng lý luận về phạm trù Họ nêu ra 7 phạm trù cơ

bản ựể phản ánh sự tồn tại của thế giới là: thực thể, quan hệ, hoạt ựộng, tắnh phổ biến,

tắnh ựặc thù, tắnh vốn có và cái hư vô

Về nhận thức luận, phái này ựưa ra lý luận về tắnh tin cậy của nhận thức Phái này

coi ựối tượng nhận thức tồn tại khách quan và nhận thức chỉ tin cậy ựược khi nó phản ánh trung thành với bản thân ựối tượng; coi thực tiễn là thước ựo ựộ tin cậy của tri thức

(chân lý) Có 4 hình thức nhận thức không ựáng tin cậy là ký ức, nghi ngờ, sai lầm và

giả thuyết

C HỆ THỐNG KHÔNG CHÍNH THỐNG

1 Trường phái Lokayata

Trường phái Lokayata xuất hiện khá sớm trong phong trào ựấu tranh chống lại

truyền thống Vêựa và chế ựộ ựẳng cấp ở đông An Tương truyền rằng, Brihaspati là người sáng lập ra trường phái Lokayata ựầy tắnh duy vật, vô thần, khoái lạc này

Phái Lokayata cho rằng, vạn vật (kể cả con người) ựều ựược tạo thành từ 4 yếu tố là

ựất, nước, lửa, gió (Tứ ựại) Tắnh ựa dạng của vạn vật là do sự kết hợp khác nhau của

các yếu tố ấy mà thành Còn linh hồn (ý thức) chỉ là một thuộc tắnh của cơ thể, do thể

xác (vật chất) sinh ra, vì vậy, nó khả tử Hơn nữa, phái Lokayata phủ nhận cả thuyết

luân hồi, nghiệp báo; chế giễu quan niệm giải thoátẦ; ựồng thời khẳng ựịnh con người

chỉ sống có một lần trên thế gian; vì vậy, con người cần phải sống cho chắnh cuộc ựời này chứ không phải cho cuộc ựời nào khác

Phái Lokayata coi cảm giác, kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của nhận thức, họ phủ nhận tắnh xác thực của nhận thức suy lý gián tiếp đặc biệt, họ lên án mạnh mẽ những suy luận trong Vêựa hay những kết luận ựược rút ra từ Vêựa Việc phủ nhận thần thánh, thiên ựường, ựiạ ngục và cuộc sống sau khi chếtẦ ựã ựưa phái này ựến với những quan niệm ựạo ựức khoái lạc, ựể từ ựó, họ chủ trương giải phóng con người ra khỏi những kìm chế ham muốn, kêu gọi con người nên tận hưởng ựầy ựủ những gì mà mình mong muốn thỏa mãn

Trang 24

Do xa lạ với truyền thống tôn giáo và chế ựộ ựẳng cấp của Ấn độ mà phái Lokayata bị công kắch dữ dội, nó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn

2 Trường phái Jaina

Trường phái Jaina (Kỳ na giáo) là một trường phái triết học - tôn giáo xuất hiện

vào khoảng thế kỷ V TCN Theo truyền thuyết, người sáng lập ra ựạo Jaina là một người ựàn ông xuất thân từ ựẳng cấp thứ hai trong xã hội, sinh ra ở ngoại thành Vaixali thuộc tỉnh Biha ngày nay, sống cùng thời với Phật Thắch Ca Năm 30 tuổi, do bị chấn ựộng bởi

sự kiện cha mẹ nhịn ăn tự tử vì lòng tin tôn giáo mà ông ựã từ bỏ tất cả (gia ựình, tiện nghi, quần áoẦ) ựi lang thang tu khổ hạnh khắp miền Tây Bengan Sau khi ựắc ựạo, ông

ựược người ựời kắnh phục, ựặt biệt hiệu là Mahavira (đại anh hùng) và ựược tôn làm

Jina (Người khắc phục ựược mọi ham muốn) Ông ựã lập ra ựạo Jaina

Tư tưởng triết học cơ bản của ựạo Jaina là thuyết về cái tương ựối Thuyết này cố dung hòa quan niệm về thực thể bất biến (trong Upanisát) với quan niệm vô thường (trong Phật giáo) và cho rằng, thực thể ựầu tiên là bất biến, nhưng vạn vật Ờ các dạng tồn

tại cụ thể của nó thì biến chuyển không ngừng Thế giới, vạn vật là sự thống nhất của cái

bất biến và cái biến ựổi Thực thể có hai trạng thái cơ bản là jiva (sống) và ajiva (không

sống) Jiva bao gồm quỷ, thần, người, chim, thú, cây, cỏẦ mang lý trắ, có linh hồn Ajiva bao gồm không gian, thời gian, vận ựộng, vật chấtẦ Jiva và ajiva luôn liên kết tác ựộng lẫn nhau Phái Jaina coi linh hồn là lực lượng toàn năng và tồn tại ựa dạng, nhưng năng lực của chúng bị hạn chế bởi thân xác mà nó liên kết Muốn giải phóng và phát huy sức mạnh của linh hồn cần phải tu luyện một cách máy móc theo giới luật của ựạo Jaina;

cụ thể là thực hành: bất sát sinh, bất bạo lực, không hại sinh linh, sống khổ hạnh, không

của riêng, ăn chay trường, không dùng vải che thânẦ

3 Trường phái Phật giáo

Phật giáo là một trường phái triết học - tôn giáo lớn của nền văn hóa Ấn độ cổ ựại

Nó ảnh hưởng rộng rãi và lâu dài ựến ựời sống tinh thần của nhiều dân tộc trên thế giới, trong ựó có Việt Nam

a) Sơ lược sự hình thành và phát triển Phật giáo

Theo truyền thuyết, người sáng lập ra Phật giáo là Xắtựácta Gôtama (Siddhartha

Gautama, 563-483 TCN), con vua Sutựôựana (Suddhodana), thuộc bộ tộc Thắch ca

(Shakya) của nước Capilavaxtu, - một nước nhỏ ở miền đông - Bắc Ấn độ, nằm dưới chân dãy Himalaia, nay thuộc ựất Nêpan

Năm 29 tuổi, Thái tử Xắtựácta xuất gia ựi tu ựể tìm kiếm con ựường cứu vớt những

nỗi khổ của loài người Nhưng qua 7 năm, theo các bậc chân tu khổ hạnh của truyền thống tu luyện Ấn độ mà Ngài vẫn chưa tìm ra chân lý Cuối cùng, Ngài lang thang ựến cánh rừng thiêng Uravela (Gaya, thuộc tỉnh Bihar, miền Bắc Ấn độ) và ngồi thiền dưới

gốc cây bồ ựề Sau 3 ngày ựêm suy ngẫm, Ngài phát hiện ra bản tắnh vô ngã, vô thường

của thế giới Ngài tiếp tục ngồi dưới gốc cây bồ ựề thêm 49 ngày nữa ựể chiêm nghiệm tâm linh và giải thắch thấu ựáo bản chất của tồn tại, nguồn gốc của mọi khổ ựau Ngài cho rằng mình ựã tìm ựược con ựường cứu vớt chúng sinh Từ ựó trở ựi, người ta gọi

Ngài là Phật (Buddha), nghĩa là người ựã giác ngộ - thấu hiểu chân lý Sau khi thành Phật, Ngài xây dựng Giáo ựoàn Phật giáo ựể rao giảng giáo lý của mình và ựược ựệ tử tôn xưng là Thắch Ca Mâuni, nghĩa là bậc hiền triết của dòng tộc Thắch Ca

Sau khi Phật tịch, ựạo Phật ựược truyền bá nhanh chóng ở miền Bắc Ấn độ để chấn chỉnh giáo lý, giáo luật và tổ chức, từ thế kỷ V-III TCN, ựạo Phật ựã triệu tập 3

Trang 25

cuộc ựại hội ở nước Magaựa Từ nửa sau thế kỷ III TCN, ựạo Phật truyền sang Xri Lanca, rồi sau ựó truyền ựến Myanma, Thái Lan, InựônêxiaẦ đầu thế kỷ I, ựạo Phật

triệu tập ựại hội 4 ở nước Cusan ựể thông qua giáo lý của ựạo Phật cải cách gọi là đại

thừa, còn giáo lý của ựạo Phật cũ gọi là Tiểu thừa

Kinh ựiển của Phật giáo có khoảng 5000 quyển, chia thành Tam tạng Tạng Kinh

ghi lại những lời giảng của Phật Thắch ca nhằm giúp chúng sinh loại trừ phiền não và ựạt

ựến niết bàn Tạng Luật ghi lại những giới luật mà giáo ựoàn Phật ựề ra ựòi hỏi các ựệ tử phải tuân theo ựể cho thân - tâm thanh tịnh Tạng Luận ghi lại những lời luận bàn của

các bậc cao tăng, trưởng lão nhằm làm sáng rõ ý nghĩa của những lời kinh, ựể giúp

người ựời phân biệt ựược phải - trái, chắnh - tà Tam tạng lại chia làm hai loại là đại

thừa và Tiểu thừa 20

Tiểu thừa như là một cỗ xe nhỏ, con ựường cứu vớt hẹp Phái tiểu thừa cho rằng:

Chỉ có một Phật duy nhất là Phật Thắch Ca, và chỉ có Phật Thắch Ca mới cứu ựộ chúng sinh ựược; chỉ có những người xuất gia ựi tu mới ựược Phật Thắch Ca cứu vớt ựưa ựến Niết bàn - cảnh giới yên tĩnh gắn liền với giác ngộ sáng suốt, không có phiền não khổ ựau

đại thừa như là cỗ xe lớn, con ựường cứu vớt rộng Phái ựại thừa cho rằng: Phật

Thắch Ca là Phật cao nhất, ngoài ra còn có các Phật khác như Phật A Di đà Ờ vị Phật hiện ựang giáo hóa ở cõi cực lạc phương Tây, Phật Di Lặc - vị Phật tương lai sẽ nối nghiệp Phật Thắch Ca ựể giáo hóa cõi ựời này (cõi Tabà), Phật đại Dược Sư - vị Phật hiện ựang giáo hóa ở cõi cực lạc phương đông (cõi Tĩnh lưu li); Không chỉ có những người tu hành mà cả những người trần tục quy y Phật pháp cũng ựều có thể ựược cứu vớt ựưa ựến niết bàn21, nghĩa là có thể thành Phật - ựó là các vị Bồ tát như: Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Am, địa TạngẦ, dù ựã thành Phật nhưng họ tự nguyện ở lại cõi trần ựể cứu ựộ chúng sinh Phái ựại thừa ựề cao tầng lớp tăng ni Ờ người trung gian giữa tắn ựồ

và Bồ tát, coi trọng nghi thức cúng bái và chủ trương thờ tượng Phật

Sau ựại hội lần thứ 4, các nhà sư ựược khuyến khắch ra nước ngoài truyền ựạo Từ

Ấn độ, Phật giáo ựại thừa lan truyền vào các nước Trung Á và đông Á như Tây Tạng, Trung Hoa, Mông Cổ, Nhật Bản (cả Bắc Việt Nam)Ầ Trong khi ựó, Phật giáo nguyên thủy - Phật giáo tiểu thừa vẫn tồn tại phổ biến ở các nước đông Nam Á như Xri Lanca, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Nam Việt Nam Ngày nay, sự chia rẽ giáo lý tiểu thừa và ựại thừa ựã ựược Phật giáo thống nhất ra sức khắc phục

b) Một số tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo nguyên thủy

Tư tưởng triết học của Phật giáo nguyên thủy - tức tư tưởng của Phật Thắch Ca Ờ chủ yếu nói về thế giới quan và nhân sinh quan của Phật Thắch Ca, và ựược trình bày trong bộ Kinh

Ớ Thế giới quan: Thế giới quan của Phật giáo nguyên thủy ựược phản ánh trong

thuyết duyên khởi và ựược làm sáng tỏ qua phạm trù vô ngã và vô thường

+ Duyên khởi là nói tắt câu ỘChư pháp do nhân duyên nhi khởiỢ có nghĩa là các

pháp ựều do nhân duyên mà có Pháp là tất cả mọi sự vật, bao gồm cả vật chất và tinh

thần, kể cả giáo lý Còn nhân duyên là nguyên nhân và ựiều kiện Duyên giúp cho nhân biến thành quả Phật giáo cho rằng mọi sự vật, hiện tượng ựều do nhân duyên hòa hợp

20

Chữ ỘthừaỢ có nghĩa là giáo lý của Phật có công năng như một chiếc xe ựưa chúng sinh từ nơi cõi trần ựầy ựau khổ, luân

hồi ựến cõi Niết bàn

Trang 26

mà thành Duyên khởi từ tâm mà ra Tâm là cội nguồn của vạn vật Từ ñây, Phật giáo nguyên thủy chủ trương vô tạo giả tức không có vị thần linh tối cao nào tạo ra thế giới Quan niệm vô tạo giả gắn liền với quan niệm vô ngã, vô thường

+ Vô ngã là không có một thực thể tối thượng tồn tại vĩnh hằng nào cả Trong thế

giới, vạn vật và con người ñược cấu tạo từ các yếu tố sắc, tức vật chất như ñất, nước,

lửa, gió và danh, tức tinh thần như thụ, tưởng, hành, thức mà không có ñại ngã hay tiểu ngã gì cả

+ Vô thường là không có cái gì trường tồn và vĩnh cửu cả Trong thế giới, sự xuất

hiện của vạn vật, kể cả con người cũng chỉ là kết quả hội tụ tạm thời giữa sắc và danh;

khi sắc và danh tan ra, chúng sẽ mất ñi ðiều này có nghĩa là, vạn vật luôn nằm trong

chu trình sinh – trụ – dị – diệt; chúng luôn bị cuốn vào dòng biến hóa hư ảo vô cùng theo luật nhân quả Nhân nhờ duyên mới sinh ra quả, quả nhờ duyên mà thành nhân mới, nhân mới lại nhờ duyên mà thành quả mới ; cứ như thế, vạn vật biến ñổi, hợp –

tan, tan – hợp mà không có nguyên nhân ñầu tiên và kết quả cuối cùng nào cả

Như vậy, thế giới quan của Phật giáo nguyên thủy mang tính vô thần, nhị nguyên luận ngả về phía duy tâm chủ quan và có chứa những tư tưởng biện chứng chất phác

• Nhân sinh quan: Nhân sinh quan là nội dung chủ yếu của triết lý Phật giáo

nguyên thủy Nó thể hiện cô ñộng trong câu nói của Phật Thích Ca: Hỡi chúng sinh, ta

chỉ dạy cho các người chỉ có một ñiều, ñó là ñiều khổ và diệt khổ; Nếu nước biển có một

vị là vị mặn thì học thuyết của ta cũng có một vị là vị giải thoát Nhân sinh quan của

Phật giáo ñược trình bày trong thuyết Tứ diệu ñế 22 với bốn bộ phận là: khổ ñế, tập ñế,

diệt ñế và ñạo ñế

+ Khổ ñế là lý luận về những nỗi khổ rõ ràng ở thế gian Theo Phật có 8 nỗi khổ

(bát khổ) trầm luân bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu là: sinh khổ, lão khổ, bệnh

khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ (yêu thương mà phải chia ly), sở cầu bất ñắc khổ (muốn mà

không ñược), oán tăng hội khổ (ghét nhau mà phải sống với nhau), ngũ uẩn khổ (sự hội

tụ và xung ñột của ngũ uẩn - sắc, thụ, tưởng, hành, thức)

+ Nhân ñế là lý luận về những nguyên nhân dẫn ñến nỗi khổ nơi cuộc sống con

người Phật giáo cho rằng con người còn chìm ñắm trong bể khổ khi không thoát ra khỏi dòng sông luân hồi Mà luân hồi là do nghiệp tạo ra Sở dĩ có nghiệp là do lòng ham

muốn, tham lam (ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang…), do sự ngu dốt và si mê, nói

ngắn gọn là do Tam ñộc (tham, sân, si) gây ra Ngoài ra, nhân ñế ñược diễn giải một

cách lôgích và cụ thể trong thuyết Thập nhị nhân duyên (12 nguyên nhân dẫn ñến bể

khổ): vô minh, hành, thức, danh – sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão - tử Trong 12 nguyên nhân ấy thì vô minh là nguyên nhân thâu tóm tất cả, vì vậy, diệt trừ vô

minh là diệt trừ tận gốc sự ñau khổ nhân sinh

+ Diệt ñế là lý luận về khả năng tiêu diệt ñược nỗi khổ nơi cuộc sống thế gian ñể

ñạt tới niết bàn Khi vô minh ñược khắc phục thì tam ñộc sẽ biến mất, luân hồi sẽ chấm dứt…, tâm sẽ thanh thản, thần sẽ minh mẫn, niết bàn sẽ xuất hiện… Diệt ñế bộc lộ tinh thần lạc quan của Phật giáo ở chỗ nó vạch ra cho mọi người thấy cái hiện tại ñen tối, xấu

xa của mình, ñể cải ñổi, kiến tạo lại nó thành một cuộc sống xán lạn, tốt ñẹp hơn Phật giáo thể hiện khát vọng nhân bản, muốn hướng con người ñến cõi hạnh phúc "tuyệt ñối", muốn hướng khát vọng chân chính của con người tới chân – thiện - mỹ

22 Bốn chân lý kỳ diệu về ñời sống nhân sinh của con người, không phân biệt ñẳng cấp

Trang 27

+ ðạo ñế là lý luận về con ñường diệt khổ, giải thoát Nội dung cơ bản của nó thể

hiện trong thuyết Bát chính ñạo (tám con ñường ñúng ñắn) ñưa chúng sinh ñến niết bàn,

ñó là: chính kiến (hiểu biết ñúng), chính tư duy (suy nghĩ ñúng), chính ngữ (lời nói chân thật), chính nghiệp (hành ñộng ñúng ñắn), chính mệnh (sống một cách chân chính),

chính tinh tấn (thẳng tiến mục ñích ñã chọn), chính niệm (ghi nhớ những ñiều hay lẽ

phải), chính ñịnh (tập trung tư tưởng vào một ñiều chính ñáng) Chung quy, bát chính ñạo là suy nghĩ, nói năng, hành ñộng ñúng ñắn… ; nhưng về thực chất, thực hành bát chính ñạo là khắc phục tam ñộc bằng cách thực hiện tam học (giới, ñịnh, tuệ) Trong ñó,

tham ñược khắc phục bằng giới (chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh); sân ñược khắc

phục bằng ñịnh (chính tinh tấn, chính niệm, chính ñịnh); si ñược khắc phục bằng tuệ

(chính kiến, chính tư duy)

Ngoài ra, Phật giáo còn khuyên chúng sinh thực hành Ngũ giới (không sát sinh,

không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không ẩm tửu); rèn luyện Tứ ñẳng (từ, bi,

hỉ, xả)… Phật giáo phản ñối chế ñộ ñẳng cấp, tố cáo xã hội bất công, ñòi bình ñẳng công

bằng xã hội, khuyên chúng sinh luôn suy nghĩ về ñiều thiện và làm ñiều thiện…

Như vậy, dù nhân sinh quan của Phật giáo nguyên thủy mang tính nhân bản sâu sắc; nhưng, nó cũng chứa ñầy tính chất duy tâm chủ quan thể hiện qua các quan niệm bi

quan yếm thế, không tưởng về ñời sống xã hội, và thần bí về ñời sống con người

Trang 28

Vấn ựề 3 LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM

I Hoàn cảnh ra ựời và ựặc ựiểm tư tưởng triết học Việt Nam

tổ chức theo lối công xã nông thôn Nghĩa là:

+ Công xã này ựược tổ chức theo lối gia ựình tự cấp tự túc bị trói buộc bởi những xiềng xắch nô lệ của các quy tắc cổ truyền Từ ựó làm cuộc sống của con người trở nên cô lập và lý trắ của con người bị hạn chế bởi những khuôn khổ chật hẹp và ựôi khi trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tắn

+ Công xã này chủ yếu làm cho con người phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài chứ không nâng con người lên làm chủ những hoàn cảnh ấy điển hình là con người thờ cúng thiên nhiên 1 cách thái quá: thờ cúng con bò, con khỉẦ và coi ựó là những vị thần thay vì con người phải làm chủ thiên nhiên

+ Công xã nông thôn này là cơ sở bền vững cho chế ựộ chuyên chế quân chủ

ở Phương đông

+ Do lực lượng sản xuất bạc nhược, cơ sở hạ tầng yếu kém, bởi vậy mỗi hình thái kinh tế - xã hội hiện ựại, nó bảo lưu giữa lại những tàn tắch dấu vết của các hình thái kinh tế trước ựó và tạo nên những lớp chồng chéo lên nhau như những lớp ngói nhưng lớp sau không hề che lấp lớp trước

Tất cả những ựiều trên ựược C.Mác gọi ựó là: ỘPhương thức sản xuất Châu ÁỢ

- Về chế ựộ sở hữu, chủ yếu dựa trên sở hữu pháp lý của nhà nước về ruộng ựất

và tài nguyên thiên nhiên, có sự phân cấp quản lý cho các ựịa phương làng xã, chưa có

sự phân hóa giai cấp sâu sắc Cho mãi ựến cuối thời nhà Lý, chế ựộ tư hữu về ruộng ựất mới bắt ựầu phát triển

- Tổ chức làng xã có tắnh ổn ựịnh và khép kắn

- Hơn một nghìn năm bị ngoại bang ựô hộ và những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Trong thời kỳ ựộc lập cũng phải tập trung trắ tuệ và sức lực vào công cuộc bảo về Tổ quốc

- Trình ựộ tri thức còn mang tắnh chất kinh nghiệm gắn với lao ựộng sản xuất thủ công Tri thức tiếp thu ựược từ nước ngoài (Trung Quốc, Ấn độ) chủ yếu là về chắnh trị, ựạo ựức, tôn giáo

Mãi cho ựến cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp áp ựặt chế ựộ thực dân cũ, cơ chế kinh tế, xã hội, tri thức Việt Nam mới bắt ựầu có những biến ựổi nhất ựịnh

2 đặc ựiểm tư tưởng triết học Việt Nam

- đặc ựiểm của quá trình hình thành và phát triển :

Kết hợp giữa hai xu hướng: xu hướng tự thân phát triển và xu hướng tiếp thu, cải biến tư tưởng nước ngoài, trước hết là từ Ấn độ và Trung Quốc, sau ựó là

các nước phương Tây

Trang 29

Nếu triết học Phương Tây gắn với thành tựu khoa học (ựặc biệt là khoa học), triết học Ấn độ gắn với tôn giáo, triết học Trung Quốc gắn với chắnh trị, ựạo ựức thì triết học Việt Nam gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ ựất nước Khi phản ánh hiện thực

ựó, triết học Việt Nam hướng tới vấn ựề nhân sinh ựạo lý làm người mà tư tưởng trung tâm là yêu nước

- đặc ựiểm về nội dung:

Do ựặc ựiểm nổi bật của lịch sử Việt Nam là chống ngoại xâm, giành và bảo vệ

ựộc lập, chủ quyền dân tộc, do ựó tư tưởng về cố kết cộng ựồng, ựộc lập và chủ quyền

quốc gia là tư tưởng trung tâm, cốt lõi

+ Giống như triết học Phương đông, triết học Việt Nam cũng ựi từ nhân sinh quan ựến thế giới quan, ựiều này ựược quy ựịnh bởi phương thức sản xuất Châu Á + Tư tưởng Việt nam phát triển từ ý niệm thô sơ chất phát về nhân sinh quan, thế giới quan của dân tộc nên thiếu tắnh chặt chẽ và thường cải biến nội dung các học thuyết từ ngoài vào nhằm mục ựắch xây dựng và bảo vệ ựất nước

- đặc ựiểm về hình thành thể hiện tư tưởng triết học Việt Nam:

Ngoài hình thức trước tác, còn có nhiều hình thức ựa dạng phong phú khác như

trong các phong trào chắnh trị-xã hội, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, trong kho tàng

ca dao, tục ngữ

+ Vấn ựề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì ở triết học Việt Nam ựiều này rất mờ nhạt Cuộc ựấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không trải ra trên khắp mọi vấn ựề nhưng nhìn chung thì khuynh hướng mang tắnh chất duy tâm tôn giáo vẫn nổi trội hơn so với tắnh chất duy vật vô thần

+ Nếu triết học Phương Tây nghiêng về duy vật, hướng ngoại Ờ lấy ngoài ựể giải thắch trong thì triết học Việt Nam lại nghiêng về duy tâm, hướng nội Ờ tức là lấy trong ựể giải thắch ngòai

Vắ dụ: Nguyễn Du có câu: ỘNgười buồn cảnh có vui ựâu bao giờỢ

+ Nếu biện chứng trong triết học Phương Tây nghiêng về ựấu tranh thì triết học Việt Nam ngả về thống nhất Nếu vận ựộng phát triển trong triết học Phương Tây ựi lên theo con ựường xoáy trôn ốc thì vận ựộng phát triển của triết học Việt Nam theo con ựường vòng tròn tuần hoàn

Như vậy, với một cơ sở xã hội ựầy phức tạp và luôn luôn biến ựộng ựã làm cho triết học Việt Nam có những ựặc ựiểm rất riêng mang phong cách, tư duy sáng tạo của con người Việt Nam Song bên cạnh những ựặc ựiểm riêng biệt ựó, triết học Việt Nam cũng không thoát khỏi tư duy của triết học Phương đông, con người Phương đông; ựặc biệt

là triết học Trung Quốc và triết học Ấn độ: ựó là tắnh hướng nội và duy tâm thần bắ

II Những nội dung cơ bản của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

1 Tư tưởng chắnh trị-xã hội

- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

+ Yêu nước là phẩm chất cao quý nhất, ựứng hàng ựầu trong bảng giá trị tinh thần Việt Nam

+ Yêu nước là trách nhiệm của mọi người không phân biệt ựẳng cấp, giới tắnh ỘQuốc gia lâm nguy, thất phu hữu tráchỢ

Trang 30

+ Việt Nam là một quốc gia ựộc lập, có chủ quyền, ngang hàng với Trung quốc Những tư tưởng này có thể tìm thấy trong bài thơ ỘNam quốc sơn hà ẦỢ của Lý Thường Kiệt, bài thơ Ộđoạt sáo Chương dương ựộỢ của Trần Quang Khải, tác phẩm ỘBình Ngô đại cáoỢ của Nguyễn Trãi

+ Tư tưởng tự hào về nguồn gốc dân tộc (Huyền thoại ỔCon rồng, cháu tiênỢ) + Chăm lo xây dựng nhà nước ựộc lập, luôn luôn giữ vững ựịa vị của một nhà nước ựộc lập

+ Giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, phong tục, tập quán, chống lại âm mưu ựồng hóa của Trung quốc (Tư tưởng của Nguyễn Huệ: ựánh cho dài tóc, ựánh ựể răng ựen)

- Vấn ựề ựộng lực và phương thức giành và bảo vệ ựộc lập dân tộc

+ đại ựoàn kết toàn dân tộc Truyền thuyết Ộtrăm trứngỢ nói lên tình ựoàn kết dân tộc, không phân biệt chủng tộc của tất cả các dân tộc trong ựại gia ựình dân tộc Việt Nam

+ Quan hệ vua-tôi, nhà nước và nhân dân: Vua tôi ựồng lòng, quân dân hợp sức Khoan thứ sức dân ựể làm kế bền gốc sâu rễ (Trần Hưng đạo)

+ Toàn dân kháng chiến, trường kỳ kháng chiến, lấy ắt ựánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn Phát huy vai trò trò của ựịa thế và các phương tiện ựánh giặc, giữ nước

+ Vừa ựánh bại ý chắ xâm lược, vừa mở ựường cho giặc rút khỏi nước ta Thực

hiện ựường lối ngoại giao mềm dẽo, khôn khéo ựể giữ vững ựộc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia

2 Quan niệm về ựạo làm người

Chủ nghĩa nhân ựạo Việt Nam thể hiện ở:

- Tình thương yêu, ựùm bọc, giúp ựỡ mọi người

ỘThương người như thể thương thânỢ

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giànỢ

- Lòng nhân ựạo khoan dung ựối với những người lầm ựường lạc lối ựã ăn năn hối cải đối xử nhân ựạo với kẻ thù ựã ựầu hàng

Ộđánh người chạy ựi, không ựánh người chạy lạiỢ

- Lối sống nặng tình nghĩa, coi trọng ựạo lý Hiếu thảo với cha mẹ Thờ cúng tổ tiên Chăm sóc phần mộ tổ tiên Thương yêu con cháu, ắt phân biệt nam nữ

- Giữ vững lối sống trong sạch:

ỘGiấy rách phải giữ lấy lềỢ

Ộđói cho sạch, rách cho thơmỢ

3 Những tư tưởng thể hiện lập trường duy tâm và duy vật

- Chủ nghĩa duy tâm và tư tưởng tôn giáo là tư tưởng thống trị trong lịch sử xã

hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám Tư tưởng duy tâm thể hiện ở việc vào số mệnh, nghiệp, kiếp

Ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, người Việt Nam coi mệnh trời là lực lượng quyết

ựịnh sự thành bại của con người:

như : ỘMưu sự tại nhân thành sự tại thiênỢ, hoặc ựoạn thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: ỘCho hay muôn sự tại trời ẦỢ

Trang 31

Tư tưởng về Mệnh Trời ựược sử dụng một mặt ựể bảo vệ ựộc lập, chủ quyền quốc gia chống xâm lược của các thế lực ngoại bang

(Thắ dụ, bài ỘNam quốc sơn hà Nam ựế cưỢ của Lý Thường Kiệt)

Bên cạnh ựó các thế lực phong kiến cũng không bỏ lỡ cơ hội sử dụng mệnh trời

ựể chứng minh, bảo vệ ựịa vị thống trị của mình

đối lập với Nho giáo, Phật giáo không tin ở mệnh trời quyết ựịnh số phận con người, mà trái lại nhấn mạnh yếu tố chủ quan tức là hậu quả của hành vi kiếp trước quy ựịnh số phận hiện tại của mỗi người

đó là quan niệm về ỘnghiệpỢ, ỘkiếpỢ

Ộđã mang lấy nghiệp vào thân,

Thì ựừng trách lẫn trời gần, trời xaỢ (Truyện Kiều)

Hoặc: Ộđời cha ăn mặn, ựời con khát nướcỢ

Ngoài ra, còn có một số biểu hiện duy tâm khác, như tin rằng cuộc sống của mỗi người bị quy ựịnh bởi năm sinh tháng ựẻ, nơi chôn cất mồ mả tổ tiên, ựiều kiện phong thủy của nhà ở, v.v

Ngoài thế lực ỘTrờiỢ, người Việt Nam còn tin ở các thế lực quỷ thần vô hình ở

bên cạnh con người, thường xuyên có ảnh hưởng ựến sức khỏe, bệnh tật, sự thành bại của cuộc sống và hoạt ựộng con người

- Các quan ựiểm duy vật lẻ tẻ, không thành hệ thống thường xuyên phản

kháng lại quan ựiểm duy tâm:

+ Bên cạnh tư tưởng tin ở mệnh trời cũng có tư tưởng ựề cao vai trò con người

hơn mệnh trời:

ỘXưa nay nhân ựịnh thắng thiên cũng nhiềuỢ

+ Có quan ựiểm coi trọng thời, thế hơn mệnh Con người phải sống và hành ựộng

phù hợp với thời thế

ỘGặp thời thế thế thời phải thếỢ

+ Bác bỏ nguồn gốc thần thánh của vua, của dòng dõi quý tộc

Ộđược làm vua, thua làm giặcỢ

+ Vạch trần thực chất của tệ mê tắn bói tóan:

ỘBói ra ma, quét nhà ra rácỢ

ỘSố cô không giàu thì nghèo

Ba mươi Tết có thịt treo trong nhà

Số cô có mẹ có cha,

Mẹ cô ựàn bà, cha cô ựàn ông

Số cô có vợ có chồng,

Sinh con ựầu lòng không gái thì traiỢ

+ Vạch trần sự giả trá của thầy bói, thầy ựịa lý:

ỘTử vi ựoán số cho người

Số thầy thì ựể cho ruồi nó buỢ

ỘHòn ựất mà biết nói năng

Thì thầy ựịa lý hàm răng chẳng cònỢ

III Sự truyền bá những hệ tư tưởng nước ngoài vào Việt Nam

- Nho gia truyền vào từ thời Bắc thuộc trước Công nguyên Hai thái thú Giao

Chỉ và Cửu Chân là Nhâm Diên và Tắch Quang ựã khởi xướng việc dạy học ở nước ta Nhiều sĩ phu Trung quốc sang ta mở trường dạy Nho học Mục ựắch truyền bá Nho học vào nước ta là nhằm ựào tạo những người làm việc cho chắnh quyền Trung Quốc Tuy

Trang 32

- đạo gia cùng với Nho gia cũng ựược truyền vào Việt Nam và trở thành một bộ

phận trong quan niệm tư tưởng của người Việt đạo gia tuy ựối lập với Nho gia nhưng cũng ựược nhiều tri thức Trung Quốc và Việt Nam chấp nhận ở khắa cạnh lối sống nhàn

hạ, hòa nhập với thiên nhiên, xa lánh vòng danh lợi Nó trở thành lối sống của một số trắ thức bị thất thế hay ựã hoàn thành trách nhiệm ựối với xã hội Một biến tướng của đạo gia cũng ựược truyền vào nước ta dưới hình thức tắn ngưỡng, mê tắn ở quần chúng (đạo giáo thờ nhân vật Lão Tử)

- Phật giáo cũng ựược truyền vào Việt Nam rất sớm bằng hai con ựường: từ Ấn

độ và từ Trung Quốc

Thời Tiền Lê, Lý, Trần, ựạo Phật ựược coi là quốc giáo, có vai trò tắch cực trong dựng nước và bảo vệ Tổ quốc Nhiều nhà sư nổi tiếng ựược tham gia quốc sự, giúp nhà vua trong công việc ựối nội và ựối ngoại Các vua Lý, Trần chịu ảnh hưởng Phật giáo rất sâu sắc Nhiều tác phẩm Phật học ựược viết ra; nhiều môn phái Phật giáo ựược thành lập Quan niệm ựạo ựức Phật giáo với lòng Ộtừ biỢ, Ộcứu khổ, cứu nạnỢ có ảnh hưởng sâu ựậm trong ựời sống tinh thần của người Việt Nam

Từ thời Hậu Lê, sau khi ựường lối ỘLấy ựại nghĩa thắng hung tàn, ựem chắ nhân thay cường bạoỢ ựã thực sự góp phần giành ựộc lập dân tộc thì hệ tư tưởng Nho gia bắt ựầu giữ vai trò thống trị trong ựời sống chắnh trị và tinh thần ở nước ta Nho, Lão, Phật ựược coi là ỘTam giáoỢ và ựược ựưa vào chương trình giảng dạy và học tập ở nước ta trong thời kỳ phong kiến

- Kitô giáo bắt ựầu ựược truyền bá vào Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ XVI

Từ cuối thế kỷ XVI ựến giữa thế kỷ XVII nhiều giáo ựoàn thuộc Dòng Phranxit, Dòng Giêxut (Dòng Tên) và Dòng đa Minh (Dòng đôminit) thuộc Bồ đào Nha và Tây Ban Nha liên tiếp vào Việt Nam thu hút ựược 50.000 người theo ựạo Cuối thế kỷ XVII, quyền truyền giáo ở Việt Nam ựược giao cho người Pháp đến năm 1850 cả nước có khoảng 500.000 tắn ựồ

Các vua triều Nguyễn từ Minh Mạng, Tự đức, ựưa ra nhiều chỉ dụ cấm ựạo, nhưng không ngẳn cản ựược việc truyền ựạo Trong thời kỳ Pháp thuộc ở Việt Nam có khoảng 1,5 triệu tắn ựồ Kitô giáo

IV Hồ Chắ Minh với việc phát triển tư tưởng triết học Việt Nam

1 Hồ Chắ Minh với việc vận dụng sáng tạo và phát triển triết học Mác-Lênin trong ựiều kiện cách mạng Việt Nam

- Sự bế tắc trong tư tưởng và ựường lối cách mạng Việt Nam trước khi Hồ Chắ Minh ựi tìm ựường cứu nước

Các hệ tư tưởng ựã có ở Việt Nam không ựáp ứng ựược những ựòi hỏi của cách mạng Việt Nam trong thời ựại mới

- Hồ Chắ Minh ựi tìm ựường cứu nước, ựến với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Lênin Người ựã tìm tòi ở chủ nghĩa Mác-Lênin con ựường cứu nước và xây dựng xã hội

Trang 33

Mác-Việt Nam Người ựã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam

2 Tư tưởng Hồ Chắ Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo truyền thống tư tưởng yêu nước và nhân ựạo dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hóa của nhân loại, các học thuyết Nho, Phật, ựặc biệt là chủ nghĩa Mác-Lênin

Văn kiện đại hội ựại biểu toàn quốc lần thứ IX của đảng Cộng sản Việt Nam ựã khẳng ựịnh:

ỘTư tưởng Hồ Chắ Minh là một hệ thống các quan ựiểm toàn diện và sâu sắc về

những vấn ựề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào ựiều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt ựẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại đó là tư tưởng về giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về ựộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời ựại; về sức mạnh của nhân dân, của khối ựại ựoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân Ầ về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao ựời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, về ựạo ựức cách mạng, cần kiệm, liêm, chắnh, chắ công vô tưẦ Ợ

Trang 34

Vấn ựề 4 LỊCH SỬ TRIẾT HỌC HI LẠP VÀ LA MÃ CỔ đẠI

I đIỀU KIỆN LỊCH SỬ RA đỜI VÀ PHÁT TRIỂN CÁC đẶC đIỂM CƠ BẢN

1 điều kiện lịch sử ra ựời và phát triển

Hy Lạp cổ ựại là một quốc gia có khắ hậu ôn hòa và rộng lớn bao gồm miền Nam bán ựảo Bancăng, miền ven biển phắa tây Tiểu Á và nhiều hòn ựảo ở biển Êgiê Miền lục ựịa

Hi Lạp chia thành 3 khu vực: Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những ựồng bằng trù phú với những thành phố quan trọng như Aten (Athènes) Nam bộ là bán ựảo Pêlôpôngnedơ (Péloponnèse) với nhiều ựồng bằng rộng lớn phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt Vùng bờ biển phắa ựông của bán ựảo Bancăng khúc khủy tạo nên nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải phát triển Các ựảo trên biển Êgiê là nơi trung chuyển cho việc ựi lại, buôn bán giữa Hi Lạp với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi Còn vùng ven biển Tiểu Á là ựầu mối thông thương giữa Hi Lạp và các nước phương đông Với ựiều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy nên Hi Lạp cổ ựại sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công - thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú ựa dạng Lịch sử Hy Lạp cổ ựại trải qua 4 thời kỳ: thời

kỳ Cờrét Ờ Myxen (Crète Ờ Mycens), thời kỳ Hôme (Homère), thời kỳ thành bang, thời kỳ Maxêựôin (Macédoine)

+ Thời kỳ Cờrét Ờ Myxen (ựầu thiên niên kỷ III - thế kỷ XII TCN): Dựa trên công

cụ ựồng thau, ở vùng Cờrét và Myxen ựã hình thành các nhà nước hùng mạnh Năm 1194

- 1184 TCN, Myxen ựã tấn công và tiêu diệt thành Tơroa (Troie) ở Tiểu Á; nhưng sau ựó, người đôriêng với vũ khắ bằng sắt tiến xuống và tiêu diệt các quốc gia ở Cờrét và Myxen

+ Thời kỳ Hôme23 (thế kỷ XI-IX TCN): đây là thời kỳ Hi Lạp cổ ựại bước vào xã hội chiếm hữu nô lệ với sự xuất hiện và nhanh chóng khẳng ựịnh của chế ựộ sở hữu tư nhân kéo theo sự phân hóa giàu nghèo, sự ra ựời và xung ựột giai cấp diễn ra mạnh mẽ

+ Thời kỳ thành bang (thế kỷ VIIIỜVI TCN): đây là thời kỳ quan trọng nhất trong

lịch sử Hi Lạp cổ ựại Lúc bấy giờ ựồ sắt ựược dùng phổ biến, năng xuất lao ựộng tăng nhanh, sản phẩm thặng dư dồi dào, chế ựộ sở hữu tư nhân ựược củng cốẦ Xã hội bị phân hóa ra thành hai giai cấp xung ựột nhau là chủ nô và nô lệ Lao ựộng bị phân hóa thành lao ựộng chân tay và lao ựộng trắ óc đất nước bị phân chia thành nhiều nước nhỏ; mỗi nước lấy một thành phố làm trung tâm, trong ựó, Xpát (Sparte) và Aten là hai thành bang hùng mạnh nhất, làm nồng cốt cho lịch sử Hi Lạp cổ ựại

Nằm ở phắa Nam bán ựảo Pêlôpôngnedơ, thành bang Xpát bảo thủ về chắnh trị, lạc hậu về kinh tế Ờ văn hóa, nhưng lại mạnh về quân sự, do ựó nó ựã chi phối các thành bang lân cạnh Năm 530 TCN, Xpát ựã cầm ựầu ựồng minh Pêlôpôngnedơ tranh quyền bá chủ

ở Hi Lạp

Do phát triển mạnh về công - thương nghiệp và trải qua nhiều lần cải cách dân chủ nên thành bang Aten có chế ựộ dân chủ và nền kinh tế Ờ văn hóa phát triển rực rỡ nhất lúc bấy giờ Năm 490 TCN, quân Ba Tư xâm lược Hi Lạp, nhưng sau ựó, năm 479 TCN, ựã

bị quân ựội Aten ựánh bại trên cánh ựồng Maratông Vào năm 478 TCN, nhờ sức mạnh của mình mà Aten ựã quy tụ 200 thành bang khác thành lập ựồng minh đêlốt (Délos)

23 Nhà thơ mù, tác giả của hai tập sử thi Iliade và Odyssée, phản ánh ựời sống của người Hi Lạp trong thời kỳ này

Trang 35

Do thực hành ựường lối chắnh trị Ờ kinh tế khác nhau mà vào năm 431 TCN, cuộc chiến tranh giữa hai ựồng minh Pêlôpôngnedơ và đêlốt ựã xảy ra ở Pêlôpôngnedơ Năm

404 TCN, cuộc chiến kết thúc với sự thất bại hoàn toàn của ựồng minh đêlốt Do lúc bấy giờ không có thành bang nào ựủ mạnh ựể làm bá chủ nên Hi Lạp cổ ựại lại rơi vào một cuộc tranh giành quyền lực mới

Thời kỳ Maxêựôin24: Năm 337 TCN, nhờ giành ựược chiến thắng quyết ựịnh mà vua Philắp II (382 Ờ 336 TCN) của xứ Maxêựôin triệu tập hội nghị toàn Hi Lạp thông qua quyết ựịnh giao cho Maxêựôin quyền chỉ huy quân ựội toàn Hi Lạp ựể tấn công Ba Tư Năm 336 TCN, Philắp II mất, con là Alécxănựrơ (Alexandre, 356-323 TCN) lên ngôi Từ năm 334 ựến 325 TCN, Alécxănựrơ ựã chinh phục cả một vùng rộng lớn Ba Tư, Tây An

độ, Bắc Phi và lập nên ựế quốc Maxêựôin ựóng ựô ở Babilon Năm 323 TCN, do Alécxănựrơ chết ựột ngột mà các tướng lĩnh ựã ựánh nhau ựể tranh giành quyền lực Sang thế kỷ III TCN, ựế quốc này bị chia thành 3 nước lớn (Maxêựôin - Hi Lạp, Ai Cập và Xini) và vài nước nhỏ

Vào lúc này, ở phắa tây Hi Lạp, La Mã ựã trở thành một ựế quốc hùng mạnh, nó ựang theo ựuổi mưu ựồ chinh phục phắa ựông địa Trung Hải Năm 168 TCN, Maxêựôin bị La

Mã tiêu diệt Năm 146, Hi Lạp bị nhập vào La Mã, và sau ựó, ựế quốc này chinh phục dần các quốc gia phương đông khác

Chế ựộ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ ựại kéo dài cho tới thế kỷ thứ IV Trong thời ựại này, người Hi Lạp ựã xây dựng một nền văn minh vô cùng xán lạn với những thành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau Chúng là cơ sở hình thành nên nền văn minh phương Tây hiện ựại Vì vậy, Angghen ựã nhận xét: ỘKhông có cơ sở văn minh Hi Lạp và

ựế quốc La Mã thì cũng không có châu Au hiện ựại ựượcỢ Về văn học, người Hi Lạp ựã

ựể lại một kho tàng thần thoại rất phong phú, những tập thơ chứa chan tình cảm, những vở kịch hấp dẫnẦ phản ánh cuộc sống sôi ựộng, lao ựộng bền bỉ, cuộc ựấu tranh kiên cường

chống lại những lực lượng tự nhiên Ờ xã hộiẦ của người Hi Lạp cổ ựại Về nghệ thuật, người Hi Lạp ựã ựể lại các công trình kiến trúc, ựiêu khắc, hội họa có giá trị Về luật

pháp, người Hi Lạp ựã sớm xây dựng một nền pháp luật và ựược thực hiện khá nghiêm tại

thành bang Aten Về khoa học tự nhiên, các thành tựu toán học, thiên văn, vật lýẦ ựược

các nhà khoa học tên tuổi như Talét, Pytago, Ácximét, ƠclắtẦ sớm phát hiện ra đặc biệt,

người Hi Lạp cổ ựại ựã ựể lại một di sản triết học ựồ sộ và sâu sắc

Chế ựộ chiếm hữu nô lệ ựã tạo cơ sở cho sự phân hóa lao ựộng và ựề cao lao ựộng trắ

óc, coi thường lao ựộng chân tay điều này thúc ựẩy sự hình thành tầng lớp tri thức biết

xây dựng và sử dụng hiệu quả tư duy lý luận ựể nghiên cứu triết học và khoa học Triết

học và khoa học ựã ra ựời và phát triển mạnh mẽ Nền triết học Hi Lạp cổ ựại cũng trải qua giai ựoạn hình thành, phát triển và suy tàn cùng với lịch sử Hi Lạp cổ ựại

2 Quá trình phát triển của triết học Hi ỜLa cổ ựại

2.1 Giai ựoạn sơ khai

Là thời kỳ triết học Hi ỜLa ra ựời, thay thế thần thoại; lý trắ thay thế sự tưởng tượng trong việc giải ựáp các vấn ựề thế giới quan, bản thể luận Lúc này các thị quốc ựầu tiên bắt ựầu hình thành Chế ựộ chiếm hữu nô lệ cũng dần thay thế cho chế ựộ thị tộc Cách giải thắch thế giới của thần thoại không còn ựược tin tưởng mà con người muốn tìm kiếm một lời giải ựáp nghiêm túc, hợp lý cho những vấn ựề của sự tồn tại và nhận thức Tiêu biểu cho thời kỳ này là các nhà triết học của các trường phái như: Milet, Pithagore, Héraclite, EléeẦ Vì có những tri thức về khoa học nên các nhà triết học thời kỳ này ắt

Trang 36

chịu ảnh hưởng của thế giới quan thần thoại và trở thành những người ñầu tiên bước vào con ñường chinh phục thế giới, lí giải và khám phá nguồn góc sự sống một cách khoa học hơn Tuy mới hình thành song ñã có tính hệ thống và sự phân cực trong quá trình giải ñáp các vấn ñề chung nhưng vẫn còn ngay thơ, chất phát và ấu trĩ Dù còn ở mức ñộ sơ khai, song triết học Hi Lạp thời kỳ này cũng bộc lộ những quan ñiểm trái ngược nhau, thể hiện cuộc ñấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa biện chứng và siêu hình

2.2 Giai ñoạn cực thịnh

Thời kỳ rực rỡ nhất của triết học Hi Lạp cổ ñại cũng là thời kỳ rực rỡ của nền dân chủ Athene Giai ñoạn này Hi Lạp xuất hiện những nhà triết học vĩ ñại có ảnh hưởng sâu rộng ñến toàn bộ quá trình phát triển của triết học Hi Lạp và của cả châu Âu sau này như Socrate, Démocrite, Platon, Aristote Họ quan tâm nghiên cứu một khía cạnh gần gũi ñó là con người Con người có vị trí như thế nào trong thế giới? Số phận của họ rồi sẽ ra sao? Ý nghĩa về sự tồn tại của họ? Họ có năng lực và phương tiện nào ñể nhận thức? Có vai trò gì trong tiến trình phát triển của lịch sử? Mối quan hệ của họ với thế giới xung quanh? Rất nhiều câu hỏi liên quan ñến con người ñã ñược các nhà triết học ñặt ra và ñi tìm câu trả lời Vì thế, chủ nghĩa duy tâm ra ñời, triết học Hi –La cổ ñại bước vào một cuộc tranh luận mới: cuộc tranh luận giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Và ñã trở thành hiện tượng phổ biến trong lịch sử phát triển của triết học

Tư tưởng của các triết gia thời kỳ này phản ánh sâu sắc sự biến ñổi, khủng hoảng của

xã hội ðại diện cho triết học thời kỳ này là Epicure và Zénon

ðến năm 259, trường phái Platon chính thức bị ñóng cửa Thời kỳ triết học Hi –La

cổ ñại hoàn toàn chấm dứt

II Những ñặc ñiểm cơ bản của triết học Hi – La cổ ñại

1 Thế giới quan và hệ tư tưởng giai cấp chủ nô ñang thống trị lúc bấy giờ

Nội dung cơ bản của sự phát triển ở Hi-La cở ñại là cuộc ñấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phản ánh cuộc ñấu tranh giữa tầng lớp chủ nô dân chủ tiến bộ trong những ñiều kiện lịch sử thời ñó và tầng lớp chủ nô quý tộc Triết học Hi-La

cổ ñại cũn phản ánh cuộc ñấu tranh gia cấp giữa chủ nô và nô lệ Chế ñộ nô lệ là hình thức áp bức tàn nhẫn, vô nhân ñạo nhất so với tất cả mọi hình thức áp bức, bóc lột Người nô lệ là tải sản sở hữu của chủ nô; họ là những “công cụ” biết nói, bị ñối xử như xúc vật, không có một thứ quyền hạn nào, không ñược tham gia vào các hoạt ñộng xã hội, chính trị và văn hoá Bị áp bức, những người nô lệ ñã ñứng lên ñấu tranh ñòi quyền lợi, nhưng chưa có sự thắng lợi nào Tuy nhiên, chế ñộ áp bức, bóc lột nô lệ cũng là cơ

sở kinh tế trên con ñường phát triển của Hi-La cổ ñại Có chế ñộ ñó, giai cấp chủ nô Hi Lạp mới có thể thoát li ñược cuộc ñời lao ñộng chân tay vất vả ñể xây dựng triết học, khoa học và nghệ thuật Ăngghen ñã cho rằng, phải có những khả năng của chế ñộ nô

lệ mới xây dựng ñược một quy mô phân công lao ñộng lớn lao hơn trong nông nghiệp và

Trang 37

công nghiệp, mới xây dựng ựược nước Hi Lạp cổ giàu có Nếu không có chế ựộ nô lệ thì cũng không có quốc gia Hi Lạp, không có khoa học và nghệ thuật Hi Lạp

Hêracrắt ựứng trên lập trường của phái chủ nô quý tộc chống lại phải chủ nô dân chủ ông coi chiến tranh là một hiện tượng vĩnh viễn Nhờ chiến tranh mới có thần tượng, có một số người ựược tự do, một số người trở thành nô lệ Ông ựứng trên lập trường giai cấp không tiến bộ Hêracrắt chống lại mọi cuộc ựấu tranh ựòi quyền dân chủ đêmôcrắt ủng hộ chế ựộ nô lệ Ông coi chế ựộ nô lệ hoàn toàn hợp ựạo lý, cần phải

sử dụng những người nô lệ như các bộ phận trên cơ thể con người Nhưng ngược lại với Hêracrắt, đêmôcrắt ựứng trên lập trường của phái chủ nô dân chủ chống lại phái chủ nô quý tộc

đêmôcrắt giải thắch nguồn gốc của sự vận ựộng : chắnh sự va chạm của nguyên tử với nhau làm cho các sự vật vận ựộng Vận ựộng của nguyên tử theo chiều hướng thẳng ựứng điều này quy ựịnh tắnh tất nhiên, quy luật trong sự vận ựộng của các sự vật Và từ

ựó, theo ông , khoa học tự nhiên ựã phản ánh trật tự xã hội, ựó là trật tự của xã hội theo chế ựộ chiếm hữu nô lệ

Cũng như Hêracrắt, Platôn ựứng trên lập trường của phái chủ nô quý tộc chống lại phái chủ nô dân chủ Quan ựiểm chắnh trị của ông thể hiện mô hình xây dựng nhà nước

lắ tưởng Nhà nước lắ tưởng theo ông là nhà nước xây dựng bằng ba ựẳng cấp trong xã hội Mỗi ựẳng cấp tương ứng với một bộ phận trong linh hồn con người Ông phê phán tất cả các loại hình nhà nước ựã từng tồn tại trong lịc sử như: nhà nước vua chua hay nhà nước quân chủ mang tắnh tước ựoạt; nhà nước quân phiệt mang tắnh ựàn áp; nhà nước dân chủ, quyền lợi thuộc về số ựông, là ựầu mối của mọi sự rối loạn Ông xoá bỏ chủ nghĩa tư nhân nhưng vẫn duy trì các ựẳng cấp trong xã hội điều này là mâu thuẫn Như Hêracrắt và Platôn, Arixtốt cũng ựứng trên lập trường của chủ nghĩa quý tộc chống lại chủ nô dân tộc, ủng hộ chiếm hữu nộ lệ, ựề cao lợi ắch của giai cấp chủ nô Ông cho con người về bản chất phải thuộc về nhà nước, nếu vượt ra ngoài khuôn khổ nhà nước, con người không phải là con người phát triển về ựạo ựức hoặc ựó là ựộng vật hoặc ựó là Thượng đế Dân cư ựều thuộc về nhà nước, nhưng không phải mọi dân cư Những người nô lệ không thuộc nhà nước mà chỉ là những công cụ biết nói mà thôi Những quan ựiểm triết học của các nhà suy vật như đêmôcrắt chẳng hạn gắn với quan ựiểm chắnh trị là cơ sở lắ luận cho hoạt ựộng xã hội của những người tiến bộ trong giai cấp chủ nô dân chủ Trái lại, những quan ựiểm chắnh trị của phái chủ nô quý tộc và ựược dùng làm cơ sở lì luận cho hoạt ựộng của phái này

2 Tắnh chất bao trùm trong triết học Hi-La cổ ựại là phép biện chứng tự phát, ngây thơ, mộc mạc

Triết học Hi-La cổ ựại có tắnh chất biện chứng sơ khai, tự phát Những mà triết học ựầu tiên của Hi- La cổ ựại là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh Họ mới chỉ dựa vào phỏng ựoán và trực giác thiên tài về sự vận ựộng và phát triển của tự nhiên chứ chưa

lắ giải ựược những quy luật vận ựộng và phát triển một cách khoa học Mặt khác, do khoa học kĩ thuật thời kì ựó còn lạc hậu nên họ chưa thể giải thắch rõ ràng từng lĩnh vực riêng biệt của tự nhiên Xét về mặt lịc sử , tắnh chất biện chứng trong triết học Hi ỜLa cổ ựại là một thành tựu vĩ ựại song nó vẫn là biện chứng ngây thơ Ngây thơ vì các nhà triết học cổ ựại không chỉ nghiên cứu phép biện chứng

đời sống chắnh trị của Hi Ờ La thời bấy giờ sôi ựộng, những quan hệ thương mại với nhiều nước khác nhau trên địa Trung Hải, sự tiếp xúc với ựiều kiện sinh hoạt và những tri thức muôn vẻ của nhân dân các nước ấy, sự quan sát các hiện tượng tự nhiên

Trang 38

khoa học ựã góp phần quy ựịnh và làm phát triển thể giới duy vật tự phát và biện chứng

sơ khai của Hi lạp cổ ựại Ăngghen nhận xét: Ộ Khi chúng ta dùng tư duy ựể xem xét giới tự nhiên, lịch sử loài người, hay hoạt ựộng tinh thần của bản thân chúng ta, thì trước nhất chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ

và những tác ựộng qua lại trong ựó không có cái gì ựứng nguyên, không thay ựổi, mà tất

cả ựều vận ựộng biến hoá, phát sinh và mất ựi Cái thế giới quan ban ựầu, ngây thơ nhưng thức chất thì ựúng là thế giới quan của các nhà triết học Hi ỜLa cổ ựại Ợ

Talét cho rằng nước là cơ sở của mọi vận ựộng, phát triển, là cơ sở chyển hoá của các mặt ựối lập Có thể nói, lần ựầu tiên Talét ựã có tư tưởng về các mặt ựối lập, về mâu thuẫn Nhưng ựây cũng là tư tưởng biện chứng tự phát, ngây thơ

Anaximăngựrơ có tư tưởng biện chứng khi ông giải quyết cụ thể mối quan hệ giữa cái toàn thể và bộ phận Theo ông, cái toàn thể là bất biến, cái bộ phận luôn biến ựổi Ông muốn khẳng ựịnh tổng thể vật chất thì không ựổi, còn cái bộ phận trong thế giới vật chất thì luôn biến ựổi

Pácmênắt cho rằng, không thể có cái không tồn tại Bởi vì, thông qua cái không tồn tại con người không thể hiểu nó là cái gì cả Hơn nữa, bất kỳ một cái gì ựó phải ựược sinh ra từ cái gì ựó, chứ không phải từ hư không Cái mất ựi cũng không thể không ựể lại dấu vết Ai ựó cho rằng có cái không tồn tại, ựó chỉ là sự ngu dốt Tồn tại là duy nhất, là bất biến, là thuần khiết và ựồng nhất với chắnh bản thân nó Khởi nguyên của thế giới là tồn tại Thế giới thống nhất ở tắnh tồn tại của nó đến ựây ta thấy có chỗ giống với ựịnh nghĩa về vật chất của Lênin

Dênông tiếp tục quan ựiểm của Pácmênắt bằng các nghịch lắ (Apôria) Ông còn phủ nhận tắnh hiện thực của vận ựộng Thuyết về các Apôria Ộphân ựôiỢ, Ộmũi tên bayỢ Ầ của ông thoạt nhìn tưởng ông là siêu hình, nhưng thực ra ông ựã ựặt ra tắnh biện chứng của vận ựộng Vận ựộng là một phạm trù biện chứng, ựầy mâu thuẫn, ựầy nghịch lắ điều này chúng ta cũng dễ dàng nhận ra trong thuyết Mác-Lênin: Thế giới vừa ựứng im vừa vận ựộng , vừa ựa dạng vừa thống nhất , vừa liên tục vừa gián ựoạnẦ

Theo Lơxắt, sự kết hợp của nguyên tử ựã hình thành nên sự vật, nguyên tử phân tán báo hiệu sự tan rã của sự vật đêmôcrắt cũng giải thắch: chắnh sự vận ựộng của nguyên tử làm cho sự vật sinh ra hoặc mất ựi (tiếp cận ựược với sự vận ựộng, nhưng chưa chỉ ra ựược ựộng lực bên trong sự vật Ờ chắnh là mâu thuẫn) ; chắnh sự va chạm của các nguyên tử với nhau làm cho sự vật vận ựộng đêmôcrắt là người ựầu tiên ựưa ra giả thuyết về sự hình thành vũ trụ Vũ trụ ựược hình thành từ các nguyên tử Từ sự va cham giữa các nguyên tử tạo nên lực nguyên tử, rồi gây nên cơn lốc nguyên tử Cơn lốc ựẩy nguyên tử nặng vào trong, nhẹ ra ngoài theo lực li tâm Từ ựó, các vì sao, hành tinh ựược hình thành Ông lại quan niệm: không gian là một khoảng trống rộng lớn, trong ựó chứa ựựng các vật thể luôn luôn vận ựộng, phát triển không ngừng đây là một quan ựiểm rất biện chứng

Anaximen lại cho không khắ vận ựộng theo hia hướng: loãng ra trở thành lửa, ête; ựặc lại trở thành gió, mây, ựất, ựá Chắnh sự thay ựổi của trạng thái không khắ là nguyên nhân nguồn gốc bên trong của mọi sự vận ựộng đây là tắnh chất tự thân vận ựộng của vật chất ( chúng ta tìm thấy ựiều này trong triết học Mác-Lênin sau này) Tuy nhiên, hạn chế của Anaximen là chưa thấy ựược ựộng lực của sự vận ựộng là mâu thuẫn

Có thể nói, người sáng lập ra phép biện chứng là Hêracrắt Hêracrắt cho rằng lửa là bất sinh, bất diệt: ỘTất cả ựều trao ựổi với lửa và lửa trao ựổi với tất cả như vàng thành hàng hoá và hàng hoá thành vàngỢ Lửa vận ựộng theo hai hướng: ựi lên, lửa trở thành ựất, ựất thành nước, nước thành không khắ, không khắ thành nước; ựi xuống ngược lại

Trang 39

Giống như các nhà triết học tiền bối, Hêracrắt ựứng trên lập trường của duy vật cổ ựại Theo ựánh giá của nhà kinh ựiển Mác-Lênin thì Hêracrắt là người xây dựng phép biện chứng trên lập trường duy vật Mác và Ăngghen coi ông là ựại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hi Lạp cổ ựại Ăngnghen viết về Hêracrắt: Ộquan niệm về thế giới một cách nguyên thuỷ, ngây thơ nhưng cơ bản là ựúng ựắnẦ ( )Ợ

Hêracrắt ựã khẳng ựịnh một cách biện chứng rằng: không thể tắm hai lần trên một dòng sông Tức là sự vật luôn luôn biến ựổi Ông phỏng ựoán về sự phân ựôi của một thể thống nhất thành các mặt ựối lập, bài trừ, chuyển hoá, thâm nhập, phủ ựịnh, nương tựa vào nhau đây là quy luật ựấu tranh thống nhất của các mặt ựối lập Ông viết: Ộnước biển vừa sạch vừa không sạchỢ và ỘTất cả là thống nhất: cái phân chia ựược và cái không phân chia ựược, cái ựược sinh ra và cái không ựược sinh ra, cái chết và cái không chết, cái toàn bộ và cái không toàn bộ, cái quy tụ và cái phân tán, cái ựộng và cấi bất ựộng.Ợ Ở thời cổ ựại, xét trong nhiều hệ thống thống triết học khác không có tư tưởng biện chứng như vậy Dưới con mắt trực quan người ta không thể hiểu ựược tất cả ựều vừa tồn tại vừa không tồn tại Vì vậy người ta gọi triết học Hêracrắt là triết học tối

ỘnghĩaỢ Nhưng chắnh tư tưởng biện chứng sơ khai của ông sau này ựã ựược các nhà biện chứng cổ ựiển đức kế thừa, và các nhà triết học mác xắt ựánh giá cao Mâu thuẫn là cội nguồn của sức sống, ựộng lực của sự phát triển Căn nguyên của sự vận ựộng và phát triển của thế giới là sự thay ựổi của nước và lửa

Quan ựiểm của Hêracrắt có ựiểm giống quan ựiểm tự thân vận ựộng của vật chất trong triết học Mác Ờ Lênin Ông cho sự vận ựộng và phát triển thế giới theo logos khác quan Sự vận ựộng và phát triển của tư tưởng theo logos chủ quan Logos khách quan phải phù hợp với logos chủ quan, nhưng biểu hiện ở từng người là khác nhau Người nào càng tiếp cận tới logos khách quan bao nhiêu thì thông thái bấy nhiêu Như vậy, chắnh ông ựã tiếp cận ựến quy luật biện chứng, quy luật của tư duy và tồn tại đó là quy luật của thế giới khác quan điều này chúng ta cũng tìm thấy trong quan ựiểm của Ăngghen

về mối quan hệ của tư duy và tồn tại

Theo Platon, vật chất nói chung tồn tại vĩnh viễn, nó là căn nguyên tạo ra chất liệu

cụ thể của sự vật, làm cho chúng ựa dạng biến ựổi không ngừng; các ý niệm là bản chất chung của mọi sự vật, là cơ sở thống nhất của toàn vũ trụ, là linh hồn ựem lại sinh khắ cho toàn vũ trụ; còn các con số là một dạng bản chất ựộc lập ựặc biệt chiếm vị trắ trung gian ở giữa ý niệm và sự vật cảm tắnh, sự khác nhau giữa các sự vật là do khác nhau về quan hệ toán học, do những con số quyết ựịnh Platôn ựã dung phương pháp ựialéctắc (phương pháp biện chứng) ựối lập những ý kiến, những khái niệm theo từng cập ựể nhận thức chân lắ ý niệm thông qua những khái niệm ựối lập, thông qua phương pháp ựối chiếu những mặt ựối lập Nhưng ựó là biện chứng duy tâm - biện chứng của cá khái niệm, tách rời hiện thực, từ bỏ cảm giác, chỉ nhận thức bằng tư duy thuần tuý

Arixtốt cũng ựã có tư tuởng về ba quy luật cơ bản của phép biện chứng Quy luật mâu thuẫn là ựộng lực của sự phát triển, vừa thống nhất, thâm nhập, vừa bài trừ, phủ ựịnh, chuyển hoá cho nhau Quy luật lượng - chất ựược ông xác ựịnh, lượng bao gồm số lượng và ựại lượng, số lượng mang tắnh rời rạc còn ựại lượng mang tắnh liên tục, lượng

và chất thống nhất với nhau ở một giới hạn nhất ựịnh, ở ựó lượng ựổi nhưng chất không ựổi Ờ cơ sở ựể hình thành ựộ sau này, nhưng ông chưa nói tới phạm trù bước nhảy Về quy luật phủ ựịnh của phủ ựịnh, ông mới chỉ phỏng ựoán mà thôi

Arixtốt cũng ựã ựề cập ựến cái chung và cái riêng Nhận thức cái chung trong những cái riêng là thực chất của nhận thức biện chứng

Trang 40

Nếu học thuyết Platon không cắt nghĩa ựược một thuộc tắnh của vật chất là vận ựộng (bởi vì thế giới ý niệm là bất biến, tuyệt ựối, vĩnh viễn) thắ Arixtốt lại khẳng ựịnh: các vật thể luôn luôn vận ựộng, vận ựộng không thể bị tiêu diệt Ông ựưa ra sáu hình thức vận ựộng ựó là: tăng, giảm, thay ựổi vị trắ, thay ựổi trạng thái, phát sinh, tiêu diệt đây là tư tưởng biện chứng về sự vận ựộng của thế giới

3 đặc trưng của triết học Hi ỜLa cổ ựại là ựề cao vai trò của lắ tắnh

Có thể nói, bản chất của triết học là chất trắ tuệ, là trừu tượng, khái quát Ăngghen nhận xét về Pácmênắt rằng: từ Pácmênắt trở ựi triết học mới thực sự ựược bắt ựầu điều này có nghĩa là triết học của Pácmênắt ựã ựạt ựến trình ựộ trừu tượng, khái quát hết sức cao

Khi phát biểu quan ựiểm triết học của mình, Anaximăngdrơ ựã ựưa ra một dạng vật chất có tên là Apâyrôn, và theo ông con người chỉ có thể nhận thức ựược Apâyrôn bằng trắ tuệ điều này cũng thể hiền trình ựộ trừu tượng, khái quát cao của Anaximăngdrơ Và cũng có thể nói rằng ông là một trong những người ựề cao vai trò của lắ tắnh, tư duy Tương tự, Dênông phủ nhận tắnh hiện thực của vận ựộng Theo ông, bằng cảm tắnh, thấy rằng có vận ựộng, nhưng lắ tắnh thì vận ựộng là vô lắ Ông ựã ựưa ra Apôria

ỘđikhôtômiaỢ(phân ựôi ), Apôria Ộ mũi tên bay Ợ, Apôria ỘAsin và con rùaỢ ựể chứng minh không thể dùng trực giác cảm tắnh ựể nhận thức sự vật, mà phải dùng tư duy trừu tượng mới thấy ựược thực chất sự vật là gì

Pitago lại ựề cao lắ tắnh bằng các con số của mình

Hêracrắt cho rằng, nhận thức ựược bắt nguồn từ cảm giác điều này là ựúng ựắn, Lê-nin cho rằng: cảm giác là Ộcửa ngõỢ của nhận thức Hêracrắt coi trọng nhận thức cảm tắnh nhưng ông không tuyệt ựối hoá giai ựoạn này Ông viết: Ộ Thị giác thường bị lừa bởi Ộtự nhiên thắch giấu mìnhỢ nên khó nhận thức Nhiệm vụ của nhạn thức là phải ựạt tới nhận thức Ộ logosỢ của sự vật, nghĩa là phải tìm ra ựược cái bản chất, quy luật của sự vật đó chắnh là nhận thức lắ tắnh

Xênôphan chia nhận thức làm hai cấp ựộ: nhận thức lắ tắnh và nhận thức cảm tắnh Ông không tin vào nhận thức cảm tắnh vì nó dễ mắc sai lầm, còn nhận thức lắ tắnh thì ựỡ hơn

Học thuyết của Pacmênắt cho rằng có hai cách nhìn thế giới, cách nhìn cảm tắnh: thông qua ựó con người thấy ựược tắnh ựa dạng của thế giới, không thấy ựược bản chất của thế giới; cách nhìn trì tuệ: ựây là cách nhìn triết học, thông qua ựó con người thấy ựược bản chất của thế giới Như vậy, Pácmênắt không những ựề cao lắ trắ, trắ tuệ mà ông còn ựề cao cả triết học nữa

Trong nhận thức luận của mình, đêmôcrắt hoàn toàn ựứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật Ông cho rằng có hai loại nhận thức, nhận thức kiến giải (còn gọi là nhận thức cảm tắnh, nhận thức mờ tối) và nhận thức lắ tắnh Nhận thức ựi từ cảm tắnh ựến lắ tắnh Ông còn ựưa ra cách ựịnh nghĩa và chứng minh bằng quy nạp đêmôcrắt quan niệm: hạnh phúc là thể hiện năng lực trắ tuệ, sống không có trắ tuệ là cuộc sống không xấu nhưng ựó là cuộc sống chết dần chết mòn Rõ ràng, đêmôcrắt rất quan tâm ựến vấn

ựề nhận thức của con người, ựặc biệt là nhận thức lắ tắnh

Xôcrát ựề cao vai trò trắ tuệ con người Luận ựiểm của ông là: Tôi chỉ biết một ựiều

là không biêt gì Luận ựiểm này kêu gọi mọi người nâng cao trình ựộ hiểu biết của mình Theo ông, khám phá ra chân lắ ựắch thực về bản chất sự vật tức là phải hiểu nó ở mức ựộ khái niệm Nếu không có khái niệm coi như không có tri thức Ông thừa nhận nhận thức con người và tri thức thống nhất là một: Ộ mỗi ựiều thiện ựó là tri thức, có mỗi ựiều ác ựó

là sự dốt nátỢ để phát hiện ra cái thiện phổ biến, phải có phương pháp tìm ra chân lắ

Ngày đăng: 27/08/2016, 08:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w