Với dân tộc Việt Nam và mỗi công dân nước Việt Nam, việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học nhân loại càng trở thành vấn đề bức thiết bởi chúng ta vẫn là đất nước và những con người v
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học
Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - nơi đã trang
bị cho tôi thêm những kiến thức khoa học trong quá trình học tập nâng cao trình độ và nghiên cứu khoa học của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS,TS Đinh Ngọc Thạch - người đã thường xuyên hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, khích lệ và bao dung tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện luận án này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện Trung tâm Đại học quốc gia - Thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh; và các tác giả của các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài luận án tôi thực hiện Đây là nơi cung cấp cho tôi những tư liệu quan trọng trong quá trình tôi thực hiện đề tài luận
án của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi tới gia đình, cơ quan công tác, đồng nghiệp và bạn bè lời biết ơn sâu sắc đã luôn tạo mọi điều kiện, khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án này
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019 Tác giả
ĐOÀN THỊ MAY
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS Đinh Ngọc Thạch Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này
Người làm luận án
ĐOÀN THỊ MAY
Trang 5
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI IỀ ĐỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN Ư ƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA P HOLBACH 16
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA P HOLBACH 16 1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội hình thành tư tưởng triết học của P.Holbach 16 1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng triết học P Holbach 26
1.2 KHÁI QUÁT CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂ Ư ƯỞNG TRIẾT
1.2.1 Khái quát các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng triết học của P Holbach 45
1.2.2 Khái quát tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ của P Holbach 53
Kết luận chương 1 72 Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC P HOLBACH TRONG TÁC PHẨM "HỆ THỐNG CỦA TỰ NHIÊN” 74
2.1 QUAN ĐIỂM CỦA P HOLBACH VỀ THẾ GIỚI TRONG TÁC PHẨM "HỆ THỐNG CỦA TỰ NHIÊN" 74
2.1.1 Quan điểm của P Holbach về tính thống nhất vật chất của thế giới trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ 74 2.1.2 Quan điểm của P Holbach về mối quan hệ giữa vật chất và thức trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ 82 2.1.3 Quan điểm của P Holbach về tính quy luật của tự nhiên trong tác phẩm
―Hệ thống của tự nhiên‖ 88
2.2 QUAN ĐIỂM CỦA P HOLBACH VỀ CON NGƯỜI, ĐẠO ĐỨC, CH NH TRỊ –
Trang 62.2.2 Quan điểm của P Holbach về đạo đức trong tác phẩm ―Hệ thống
của tự nhiên‖ 112
2.2.3 Quan điểm của P Holbach về chính trị – xã hội trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ 121
2.2.4 Quan điểm của P Holbach về tôn giáo trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ 128
Kết luận chương 2 134
Chương 3: GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PAUL HOLBACH TRONG TÁC PHẨM "HỆ THỐNG CỦA TỰ NHIÊN" 138
3.1 GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC P.HOLBACH TRONG TÁC PHẨM "HỆ THỐNG CỦA TỰ NHIÊN" 138
3.1.1 Giá trị của tư tưởng triết học P Holbach trong tác phẩm "Hệ thống của tự nhiên" 138
3.1.2 Hạn chế của tư tưởng triết học P Holbach trong tác phẩm "Hệ thống của tự nhiên" 152
3.2 Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC P.HOLBACH TRONG TÁC PHẨM “HỆ THỐNG CỦA TỰ NHIÊN” 162
3.2.1 Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng triết học P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ đối với lịch sử triết học phương Tây 162
3.2.2 Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng triết học P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ với đời thời đại ngày nay 170
Kết luận chương 3 185
KẾT LUẬN CHUNG 187
TÀI LIỆU THAM KHẢO 191
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 199
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học nhân loại là phương thức không thể thay thế để một dân tộc và mỗi con người có thể chiếm lĩnh đỉnh cao khoa học và tự phát triển nhờ nâng cao năng lực tư duy khoa học, tư duy l luận hay
sự phản tư triết học Với dân tộc Việt Nam và mỗi công dân nước Việt Nam, việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học nhân loại càng trở thành vấn đề bức thiết bởi chúng ta vẫn là đất nước và những con người vốn không có truyền thống triết học với đúng nghĩa của một khoa học – khoa học triết học và thêm nữa, là lối tư duy trọng tình hơn trọng lý, nặng kinh nghiệm hơn l luận
Việt Nam hiện nay đang thực hiện đổi mới toàn diện đất nước, với đột phá khẩu là đổi mới tư duy l luận, mỗi người dân nước Việt, nhất là giới nghiên cứu và giảng dạy lý luận, việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học nhân loại để qua đó, nâng tầm tư duy l luận càng trở thành vấn đề bức thiết,
có tầm quan trọng và nghĩa lớn lao
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học nhân loại, chúng ta không thể
không nghiên cứu tư tưởng triết học của nhà triết học Pháp gốc Đức - Paul Henri Thiery, Baron d’Holbach (1723 – 1789), nhà bách khoa thư, nhà văn,
nhà triết học duy vật – vô thần, thành viên danh dự của Viện Hàn lâm khoa học Saint-Petersburg Bởi lẽ, P Holbach với tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên, hay các quy luật của thế giới vật chất và thế giới tinh thần‖ (1770) đã được lịch sử triết học vinh danh với tư cách đại diện tiêu biểu của triết học Khai sáng Pháp và chủ nghĩa duy vật vô thần ―chiến đấu‖ thế kỷ XVIII, là
―Thánh kinh‖ của chủ nghĩa duy vật Tây Âu, chủ nghĩa duy vật Anh – Pháp thế kỷ XVII – XVIII Hơn nữa, P Holbach còn là người đưa ra quan niệm coi tự nhiên là cái mang lại cho con người những nhu cầu và phẩm chất như
nhau và ánh sáng tự nhiên của lý tính là cái đóng vai trò khai sáng cho đời
Trang 8sống xã hội, mang lại sự bình đẳng tự nhiên cho con người và xã hội loài người, góp phần tạo dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, tiến bộ mà ở
đó, ―tự do, bình đẳng, bác ái‖ là những giá trị vĩnh hằng Và, trong tác phẩm
―Hệ thống của tự nhiên‖ với quan niệm tự nhiên là thực thể vật chất duy nhất, tồn tại vĩnh cửu và sản sinh ra mọi sự vật, hiện tượng, là nguyên nhân
của vạn vật, nguyên nhân của chính mình và do vậy, nó là tự nhiên sáng tạo
và nó cũng chính là tự nhiên được sáng tạo Ngay dòng đầu tiên trong Lời tựa của tác phẩm, ông đã viết: ―Con người bị bất hạnh chỉ vì con người tách
khỏi tự nhiên‖ Tên gọi tác phẩm cho thấy mối quan tâm và vấn đề cơ bản là
tự nhiên P Holbach chính là người buộc chúng ta phải nhớ lại lời cảnh báo của F Engels: ―không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì, cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta‖ (Mác, C và Ăngghen, Ph, 2004e, trang 654) F Engels đã đưa ra lời cảnh báo khoa học rằng con người phải chung sống hài hòa với tự nhiên, đối xử với tự nhiên một cách có văn hóa, đừng quá tự hào về năng lực chinh phục tự nhiên để tự nhiên trả thù như một tội
ác khi mà giờ đây, vấn đề bảo vệ môi trường sống, tạo dựng môi trường sinh thái bền vững, bảo vệ và chung sống hài hòa với tự nhiên, chủ động phòng, chống biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu Do đó, tự nhiên không phải là vấn đề duy nhất Tác phẩm còn bàn đến
sự vận dụng sáng tạo h th ng của tự nhiên vào việc luận giải con người
như một bộ phận của tự nhiên, từ đó làm nổi bật các giá trị của con người, các chuẩn mực, l tưởng cuộc sống
Bên cạnh đó, trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ với quan niệm coi tự nhiên là vật chất đang vận động, tự vận động, là tất cả những gì tác động lên giác quan của con người và vận động là phương thức tồn tại của vật chất, P Holbach đã trở thành tiền bối của L Feuerbach, còn L Feuerbach với
Trang 9chủ nghĩa duy vật nhân bản của ông đã trở thành tiền bối của K Marx và F Engels và là tiền đề lý luận trực tiếp để K Marx và F Engels xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng Đó là l do vì sao chúng ta khẳng định tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển triết học Marx – Lenin với tư cách cơ sở lý luận nền tảng, hệ tư tưởng cho công cuộc đổi mới của chúng ta, chúng ta cần phải nghiên cứu tư tưởng triết học trước Marx với tư cách tiền đề của triết học Marx, học thuyết Marx
Cũng chính trong giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam bên cạnh những thành tựu phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội, cũng bộc lộ những mặt hạn chế trái với bản chất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, tạo nên tâm l hoài nghi đối với chế độ xã hội mà chúng ta đã lựa chọn, hoài nghi giá trị của hệ tư tưởng Marx – Lenin Việc quay trở lại với tư tưởng triết học duy vật trước Marx, đánh giá về giá trị, hạn chế của nó cũng là cách gián tiếp khẳng định giá trị, tính đúng đắn của thế giới quan duy vật Marxist Hiểu được đầy đủ giá trị và nghĩa của tác phẩm "Hệ thống của tự nhiên‖, thông qua đó hiểu được đóng góp của P Holbach đối với thời kỳ khai sáng Pháp, góp phần hoàn thiện bức tranh chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học Tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ còn có nghĩa to lớn đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật, là biểu hiện sinh động và triệt để của chủ nghĩa duy vật thế
kỷ XVIII; một số luận điểm của nó đã đến gần hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy vật, tức chủ nghĩa duy vật biện chứng
Thêm vào đó, việc nhận thấy sự thiếu thốn tài liệu, nhất là các tài liệu bằng tiếng Việt về các nhà triết học phi Marxist ở nước ta hiện nay – một trong những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giáo dục – đào tạo, đặc biệt là đào tạo
chuyên ngành Triết học Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Tư tưởng triết học Paul Holbach trong tác phẩm “Hệ thống của tự nhiên” – giá trị và ý nghĩa lịch sử” làm đề tài nghiên cứu
Trang 102 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tư tưởng Khai sáng Pháp nói chung và tư tưởng của P Holbach nói riêng là đối tượng đã và đang thu hút nhiều ngành khoa học nghiên cứu trong các thế kỷ qua cho tới hiện nay, như triết học, văn học, văn hóa học, sử học, tôn giáo học, đạo đức học Vấn đề này ngày càng được quan tâm hơn trong nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học phương Tây Vì vậy, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến tư tưởng của P Holbach khá nhiều, thể hiện rất đa dạng, phong phú, sâu sắc với nhiều hướng tiếp cận khác nhau Có
thể khái quát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ―Tư tưởng triết học Paul Holbach trong tác phẩm “H th ng của tự nhiên”– giá trị v ngh a lịch s ” thành các nhóm cơ bản sau đây:
Nhóm thứ nhất, c c c ng tr nh nghiên cứu khái quát về tư tưởng triết học P Holbach trong lịch s triết học phương Tây
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học Holbach của các tác giả người nước ngoài:
Công trình “The friends of Voltaire” (tạm dịch: Những người bạn của
Voltaire) của Evelyn Beatrice Hall, xuất bản năm 1906 tại London Với nội dung gần 300 trang, chia thành 10 chương, mỗi chương tác giả đã giới thiệu
về một người bạn của F Voltaire như J d’Alembert, D Diderot, C Helvétius… Trong đó, tác giả dành 31 trang (trang 118 đến trang 149), chương V để giới thiệu một cách khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và những vấn đề liên quan đến các tác phẩm của P Holbach Tác giả đã dùng những từ ngữ ―có cánh‖ để giới thiệu P Holbach như một vị chủ nhà hào phóng và thân thiện, đầy nhiệt huyết với tinh thần của thời đại
Công trình của O’Connor, D J (1985), A critical history of Western Philoshophy (tạm dịch: Sự phê phán lịch s của triết học phương Tây), nhà
xuất bản Free Press U.S.A đã phân tích khá kỹ tư tưởng triết học của các nhà
Trang 11triết học phương Tây thời kỳ khởi thủy đến chủ nghĩa hiện sinh, đồng thời rút
ra những lời nhận xét về tư tưởng của các nhà triết học ở từng giai đoạn Cụ thể, từ trang 275 đến trang 295, tác giả đã đưa ra những đánh giá về mặt giá trị cũng như hạn chế của chủ nghĩa duy vật Pháp thế kỷ XVIII
Công trình của Jonathan I Isracl (2006), Enlightenment Contested: Philosophy, Modernity, and the Emancipation of Man 1670 – 1752 (tạm dịch: Thời kỳ Khai sáng tranh luận về triết học, thời hi n đại và giải phóng con người 1670 – 1752), Nxb Oxford University Press, NewYork với nội
dung đồ sộ gồm 6 phần, 1009 trang Phần 1 từ trang 3 đến trang 62, tác giả giới thiệu khái quát giai đoạn đầu của thời kỳ Khai sáng với các nhà tư tưởng như B Spinoza, J Locke, D Hume Phần 2 từ trang 63 đến trang 215, tác giả khái quát tình hình lịch sử xã hội ở châu Âu, trong đó nổi lên là cuộc khủng hoảng về tôn giáo Nội dung ở phần này, tác phẩm làm sáng tỏ nguồn gốc của Khai sáng với các đại diện tiêu biểu cho giai đoạn đầu là các nhà tư tưởng lớn như F Voltaire, J Locke, P BayLe, B Spinoza Nổi bật lên là các vấn đề về dung nạp tư tưởng từ J Locke đến P Bayle, vấn đề tự do lương tâm của P BayLe, vấn đề tự do tư tưởng và biểu hiện của nó của B Spinoza, vấn đề cuộc tranh luận học thuyết khoan dung của J Locke, P Bayle, B Spinoza, vấn đề về chủ nghĩa vô thần ở Đức và Tây Âu và cuộc tranh luận học thuật giữa khoa học, triết học và tôn giáo Phần 3 từ trang 225 đến trang 396 xoay quanh các vấn đề nguồn gốc của nền cộng hòa dân chủ lúc bấy giờ, so sánh nền cộng hòa cổ đại với nền cộng hòa dân chủ, chế độ quân chủ thế tục so với cộng hòa quý tộc, các vấn đề về tư tưởng chính trị của P Bayle, Radical
và vấn đề về nền chính trị Pháp với l tưởng xây dựng một chế độ quân chủ hỗn hợp của các nhà triết học Pháp của thế kỷ XVIII Phần 4 từ trang 409 đến trang 537 thể hiện thành công kết quả của việc phục hồi triệt để các giá trị tư tưởng của Hy Lạp cổ đại, những cống hiến vĩ đại của D Diderot và các nhà
Trang 12triết học Khai sáng Pháp trong lịch sử tư duy nhân loại Phần 5 từ trang 545 đến trang 692 ngoài việc bàn về các vấn đề về xã hội như: giáo dục, tự do, bình đẳng, tôn giáo và khoan dung tôn giáo, nội dung còn có thực hiện việc
so sánh, đối chiếu tư tưởng triết học giữa B Spinpza với tư tưởng triết học của Khổng tử và nền triết học cổ điển Trung Quốc, giữa G Leibniz và thần học Trung Quốc, giữa F Voltaire, C Montesquieu và nền triết học Trung Quốc Đặc biệt, ở phần này, tác giả thể hiện rõ quan điểm của các nhà vô thần
là tách đạo đức ra khỏi thần học, liệu tôn giáo có cần thiết cho xã hội hay không? Phần 6 từ trang 699 đến trang 803 bàn về các quan điểm triết học trước khi những bức thư của F Voltaire được công bố, các vấn đề về con người, giới vô sinh, giới hữu sinh của nền tư tưởng triết học Pháp thời kỳ
trước khi xuất hiện phái B ch khoa to n thư của D Diderot Xuyên suốt toàn
bộ nội dung của tác phẩm, tư tưởng triết học của P Holbach và các nhà Khai sáng Pháp được xem như một bước đột phá, thể hiện tư tưởng cấp tiến của thời đại
Công trình của Jonathan I Israel (2011), Democratic Enlightenment: Philosophy, Revolution, and Human Rights 1750 – 1790 (tạm dịch: Khai sáng Dân chủ: triết học, cách mạng và nhân quyền 1750 – 1790), Nxb
Oxford University Press, NewYork gồm 5 phần, dài 1083 trang chứa đựng một khối lượng lớn kiến thức về vấn đề dân chủ ở châu Âu thời Khai sáng của các nhà tư tưởng lớn như J Rousseau, F Voltaire, D Hume, D Diderot,
P Holbach Đặc biệt, ở phần 4 và phần 5 từ trang 633 đến trang 1031 bàn về vấn đề dân chủ, hướng đến dân chủ hiện đại về chủ quyền của con người, sự khai sáng và cách mạng trong khoa học Sự ra đời của tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ của P Holbach như một tiếng vang lớn, mang tính đột phá về một xã hội của những người vô thần, hướng đến một xã hội dân chủ, công bằng và tự do Kết thúc tác phẩm, tác giả khẳng định cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 là cuộc cách mạng trí tuệ
Trang 13Về các tác phẩm dịch sang tiếng Việt, gồm có:
Công trình của Crane Brinton (2007), Con người v tư tưởng phương Tây, Nguyễn Kiên Trường biên dịch, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội viết về
con người trong truyền thống phương Tây đã từng và đã đang hàm chứa vấn
đề lớn – vấn đề vũ trụ học, liệu con người có khả năng hiểu được vũ trụ hay không, và nếu có khả năng hiểu thì sẽ hiểu như thế nào; cũng như các vấn đề đạo đức, liệu chúng ta có thật sự muốn nói đến điều thiện và điều ác, đến cái đẹp và cái xấu chăng… từ thời văn hóa Hy Lạp đến thế kỷ XX
Công trình của Bernaed Morichère và nhóm Giáo sư triết học các
trường Đại học Pháp (2010), Triết học Tây phương từ khởi thủy đến đương đại, Phan Quang Định dịch, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội giới thiệu tính
đa dạng của triết lý một cách rộng rãi từ khởi thủy cho đến đương đại Trong
đó, nhà triết học P Holbach được các tác giả giới thiệu một cách khái quát quan điểm triết học của ông về tự nhiên, sinh vật, siêu nhiên
Công trình của Jean Wahl (2006), Lược s triết học Pháp, do Nguyễn Hải
Bằng, Đào Ngọc Phong, Trần Nhật Tân dịch, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội hóa thông tin, Hà Nội thể hiện quan điểm của P Holbach về vật chất và thượng
đế, vấn đề về đạo đức Bên cạnh đó, còn có sự so sánh về quan điểm tôn giáo của P Holbach và các nhà triết học J Metrie, D Diderot, C Helvetius…
Ở Vi t Nam, có nhiều tác giả cũng viết về triết học Khai sáng Pháp
như: Đinh Ngọc Thạch, Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Tấn Hùng, Nguyễn Tiến Dũng, Hà Thúc Minh… Trong đó, có nhiều công trình nghiên cứu về triết học của Holbach như là:
Đinh Ngọc Thạch, Doãn Chính (đồng chủ biên, 2018), Lịch s triết học phương Tây, tập 1 bao gồm lịch sử triết học phương Tây từ triết học cổ
đại đến triết học cổ điển Đức, được bố cục thành 5 phần với 18 chương thể hiện sự phát triển của lịch sử triết học qua các thời kỳ với những đặc trưng
Trang 14của nó thông qua các triết gia tiêu biểu Đặc biệt, ở phần thứ 4: triết học Tây
Âu thế kỷ XVII – XVIII, tư tưởng triết học của triết gia P Holbach được nhắc đến như một đại biểu cuối cùng của chủ nghĩa duy vật vô thần thời kỳ Khai sáng Pháp Các tác giả đã dành 22 trang để phân tích hết sức khái quát
tư tưởng triết học của P Holbach về các vấn đề triết học tự nhiên, lý luận nhận thức, tư tưởng nhân bản, đạo đức, chính trị
Đỗ Minh Hợp (2014), Lịch s triết học phương Tây, tập 2, Nxb Chính
trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội nghiên cứu toàn diện sự phát triển của tư tưởng triết học phương Tây từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX Đây chính là bước chuyển biến tư tưởng quan trọng trong dòng chảy lịch sử triết học, bắt nguồn
từ triết học cổ đại đến triết học phương Tây hiện đại Đặc biệt, trong chương
II, tiếp cận triết học Khai sáng như một kiểu thế giới quan và triết học đặc biệt, đặc trưng cho đời sống văn hóa châu Âu thế kỷ XVII, tác giả đã phân tích trào lưu này một cách hệ thống ở các nước Pháp, Mỹ và Đức Ở mỗi nền triết học, tác giả bắt đầu trình bày khái niệm chung, cội nguồn của các tư tưởng khai sáng…Thông qua đó, chúng ta có thể tìm hiểu và khám phá những luận điểm, tư tưởng triết học của các nhà triết học đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử triết học phương Tây, trong đó có P Holbach
Nguyễn Tiến Dũng (2006), Lịch s triết học phương Tây, Nxb Thành
phố Hồ Chí Minh dài 545 trang bàn về triết học phương Tây từ những trường phái triết học đầu tiên của Hy Lạp cho đến đại diện cuối cùng của triết học cổ điển Đức Chỉ với 8 trang nhưng tác giả lại khái quát được tư tưởng triết học của P Holbach và đưa ra lời nhận định rất riêng về P Holbach Tác giả đã nhận định rằng: ―có lẽ trong các nhà triết học duy vật thời kỳ cận đại thì định nghĩa vật chất của P Holbach có thể xem là có tính khái quát nhất‖ (Nguyễn Tiến Dũng, 2006, tr 364)
Trang 15Nguyễn Tấn Hùng (2012), Lịch s triết học phương Tây từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà
Nội đã trình bày một cách khái quát toàn bộ nền triết học phương Tây từ cổ đại đến triết học cổ điển Đức Đặc biệt, trong chương IX: Triết học khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, tác giả đã trình bày khái quát phong trào khai sáng Pháp và tư tưởng triết học của một số nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII như C Montesquieu, J Mettrie, J Rousseau, D Diderot, P Holbach P Holbach được tác giả giới thiệu sơ lược về cuộc đời, tác phẩm và tư tưởng của ông: trong vũ trụ chỉ có vật chất đang vận động, con người là một tác phẩm của tự nhiên, sự dốt nát và lo sợ đẻ ra thần thánh Tất cả những tư tưởng này phần lớn được thể hiện trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ của P Holbach Cuối chương IX, tác giả đã đưa ra lời nhận xét chung về triết học Khai sáng Pháp
Nhìn chung, tất cả các công trình trên đều là những thành quả đáng trân trọng của sự dày công nghiên cứu của các tác giả Các tác giả đã trình bày khoa học và hết sức hợp lý, chặt chẽ những luận điểm triết học của các triết gia, các trường phái triết học Hầu hết các tác giả đã quán triệt quan điểm khách quan, toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể khi nghiên cứu tư tưởng triết học của P Holbach, đặt tư tưởng triết học của ông vào trong bối cảnh của xã hội Pháp đầu thế kỷ XVIII để đánh giá đúng những công lao của P.Holbach Nhưng do lượng tri thức truyền tải quá rộng lớn so với phạm vi nghiên cứu của một công trình cụ thể nên các tác giả cũng chỉ dừng lại ở những nét khái quát nhất Chính vì thế có rất ít những nhận định, đánh giá của các tác giả dành cho tư tưởng triết học của P Holbach Tuy nhiên, những công trình kể trên đã góp phần rất lớn vào việc định hướng cho quá trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh Để tìm hiểu kỹ hơn về tư tưởng triết học của
P Holbach, nghiên cứu sinh cũng đã kết hợp các công trình vừa nêu trên với những công trình nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng triết học của P.Holbach
Trang 16Nhóm thứ hai, c c c ng tr nh nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng triết học P.Holbach trong tác phẩm “H th ng của tự nhiên”
Vào thời kỳ đầu tiên của sự hình thành chủ nghĩa Marx, triết học của P.Holbach được nhắc đến trong một số bài viết và tác phẩm của các nhà kinh điển Đáng chú có bài ―Những bức thư từ London‖ (1843) của F Engels, tác phẩm ―Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh‖ của F Engels (1844 – 1845), tác phẩm viết chung của K Marx và F Engels ―Gia đình thần thánh‖ (1845)… Trong những tác phẩm và bài viết này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx dù chỉ phác thảo vài nét về thực chất, giá trị, nghĩa của chủ nghĩa duy vật Pháp thế kỷ XVIII, mà P Holbach là một trong những đại diện tiêu biểu, song đó là những chỉ dẫn khoa học để đánh giá một cách khách quan tư tưởng triết học của P Holbach
Công trình ―Baron d’Holbach: A study of Eightenth Century Radicalism
in France‖ (tạm dịch: Baron d’Holbach: thuyết cấp tiến của thế kỷ XVIII tại
Pháp) của Max Pearson Cushing, xuất bản năm 1914 tại New York gồm có ba chương Nội dung của chương 1 là những bức thư đầu tiên P Holbach gửi cho J Wilkes, là sự khái quát về gia đình của P Holbach, đề cập đến mối quan hệ giữa
P Holbach với D Diderot, J Rousseau, D Hume và những nhân vật quan trọng khác cùng thời Bên cạnh đó, trong nội dung của chương 1, tác giả cũng thể hiện
sự đánh giá của mình về con người và tính cách của P Holbach Chương 2, tác giả giới thiệu những công trình của P Holbach, lần lượt từ những công trình được dịch từ nhiều thứ tiếng khác nhau đến những công trình tư tưởng triết lý đầu tay của P Holbach Đặc biệt, trong chương 3, bên cạnh việc giới thiệu tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ cùng với những quan điểm của F Voltaire, Goethe’s, những lời chỉ trích và sự bác bỏ, tác giả đã trình bày quan điểm triết học của P Holbach về tự nhiên, xã hội, con người, tôn giáo…
Công trình của Alan Charles Kors (2017), D’Holbach’s Coterie: an
Trang 17Enlightenment in Paris (tạm dịch: Phe phái của Holbach: thời kỳ Khai sáng ở
Paris), xuất bản tại University Press, U.S.A gồm có 3 phần, thể hiện tính đa dạng về các vấn đề tư tưởng chính trị, xã hội, triết học của các thành viên trong phe phái của P Holbach ở đêm trước cách mạng Đặc biệt ở phần 3 từ trang 262 đến trang 347, tác giả đã khái quát những dấu ấn của các nhà tư tưởng tiến bộ thời kỳ khai sáng Pháp về một xã hội của những người vô thần, cần phải đấu tranh chống lại nhà thờ và tôn giáo Có thể nói, nội dung của cuốn sách là một bức tranh sinh động về cuộc đời, mối quan hệ của P.Holbach với các nhà tư tưởng lớn cùng thời ở châu Âu, về những nét chính
của tư tưởng triết học P Holbach, nhất là tư tưởng triết học trong ―H th ng của tự nhiên‖ Qua đó, giúp người đọc có cái nhìn khách quan hơn về toàn bộ
tư tưởng triết học của P Holbach
Một số tác phẩm và bài viết của các nhà nghiên cứu Liên Xô trước đây (I
B Akulov, S Ph Vasiliev, V P Volgin, P N Kusnetsov…) về triết học P Holbach đã phân tích khá sâu sắc nội dung của triết học P.Holbach qua các tác
phẩm, nhất là ―H th ng của tự nhiên” Một trong số đó là: Akulov I B Paul Holbach – nh phê b nh c c tín điều tôn giáo (Акулов И Б., Малюк О П.Поль
Гольбах — критик религиозных догматов Из истории свободомыслия и атеизма / ИНА АОН при ЦК КПСС - Серия: «Из истории свободомыслия
и атеизма» - М.: «Мысль»,1975 (tạm dịch: Akulov I.B, Maliuk O P Paul Holbach – Nhà phê phán tín điều tôn giáo Từ lịch sử tự do tư tưởng và chủ
nghĩa vô thần/ INA AON thuộc BCH TƯ ĐCS Liên Xô, Moscow, Nxb ―Tư tưởng‖) Trong tác phẩm này sự kết hợp chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần P.Holbach trong ―Hệ thống của tự nhiên‖ được tìm hiểu khá chi tiết, làm nổi bật hình ảnh nhà duy vật ―chiến đấu‖ P Holbach
Ở Việt Nam, trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4, năm 2007, công
trình ―Tôn giáo từ cách nhìn của Paul Holbach” của Lê Công Sự đã trình
Trang 18bày quan điểm của P.Holbach về nguồn gốc và bản chất của tôn giáo, sự phê phán của P Holbach về các quan điểm chứng minh cho sự tồn tại của Thượng đế Cuối cùng tác giả đi đến kết luận: hạn chế của P Holbach trong quan điểm về tôn giáo là không nhìn thấy nguồn gốc xã hội của tôn giáo
Công trình ―Con người qua lăng kính triết gia” của Lê Công Sự, Nxb
Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012 góp phần giới thiệu tư tưởng của các triết gia, trong đó có tư tưởng của P Holbach về vấn đề con người, giúp người đọc có cái nhìn tham chiếu hiện đại để ―luận cổ suy kim‖ Tuy nhiên những đánh giá của tác giả Lê Công Sự về triết học P Holbach chỉ là những nét sơ lược Nói chung, việc nghiên cứu chuyên sâu về triết học P.Holbach, nhất là tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ còn nhiều khoảng trống, cần được khai thác tiếp tục
Tóm lại, những tài liệu mà nghiên cứu sinh thu thập được để phục vụ
cho quá trình nghiên cứu là khá đa dạng, bởi chúng được lấy từ nhiều nguồn, nhiều tác giả, được tiếp cận dưới nhiều phương pháp và có góc nhìn
đa chiều Mỗi một công trình nghiên cứu đều có giá trị khoa học, tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót bởi những lý do khách quan và chủ quan Những giá trị vô cùng to lớn mà các công trình nói trên mang lại
sẽ là cơ sở khoa học để nghiên cứu sinh thực hiện luận án Trong luận án, nghiên cứu có kế thừa những quan điểm của các bậc tiền bối, đồng thời bổ sung những quan điểm của riêng mình về việc nhận định và đánh giá tư tưởng triết học của P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ Qua đó, nghiên cứu sinh khái quát các công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học của P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ thành hai nhóm cơ bản Nhóm thứ nhất là các công trình nghiên cứu khái quát tư tưởng triết học P.Holbach trong lịch sử triết học phương Tây Nhóm thứ hai
là các công trình nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng triết học của P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖
Trang 193 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án
Luận án làm rõ nội dung cơ bản, những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖, từ đó rút ra nghĩa lịch
sử của nó đối với lịch sử triết học phương Tây và đối với thời đại ngày nay
Nhi m vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trình bày và phân tích làm rõ điều kiện lịch sử - xã hội, tiền đề
lý luận hình thành và phát triển tư tưởng triết học của P Holbach; làm sáng tỏ cuộc đời, sự nghiệp và các giai đoạn phát triển tư tưởng triết học của P.Holbach
Thứ hai, trình bày và phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng
triết học P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖
Thứ ba, từ những nội dung tư tưởng của tư tưởng triết học P Holbach
trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖, luận án đánh giá chỉ ra những giá trị, hạn chế và rút ra nghĩa lịch sử của nó đối với lịch sử triết học phương Tây và đối với thời đại ngày nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
Đ i tượng nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu tư tưởng triết học
P.Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ trên các bình diện bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan
Phạm vi nghiên cứu: luận án nghiên cứu tác phẩm ―Hệ thống của tự
nhiên‖, những đánh giá về tác phẩm đó từ các tác giả trong và ngoài nước trong thời gian từ lúc tác phẩm ra đời đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài luận án
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Để thực hiện đề tài luận án, nghiên cứu sinh còn sử dụng hệ thống các
Trang 20phương pháp như: văn bản học, phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, logic và lịch sử, so sánh, đối chiếu… để nghiên cứu và trình bày luận án Các phương pháp được nghiên cứu sinh sử dụng linh hoạt ở từng nội dung cụ thể trong luận án để phù hợp với mục đích, yêu cầu cụ thể của từng chương Trong
đó, phương pháp văn bản học được sử dụng xuyên suốt luận án để đảm bảo sự liên hệ, gắn kết các vấn đề, nội dung trong luận án theo một trình tự, bố cục nhất quán để đạt được mục đích, yêu cầu đã xác định cho luận án
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
Về ngh a khoa học: Trên cơ sở trình bày có hệ thống những nội dung
cơ bản trong triết học của P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖, giá trị và nghĩa lịch sử của nó, giúp người đọc có sự hiểu biết một cách có hệ thống, cơ bản và sâu sắc hơn những tri thức về lịch sử tư tưởng triết học phương Tây nói chung và tư tưởng triết học P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ nói riêng
Về ngh a thực tiễn: Việc nghiên cứu tư tưởng triết học của P
Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ một cách hệ thống cả về nội dung, giá trị và nghĩa lịch sử của nó, giúp chúng ta thấy rõ sự ảnh hưởng của tư tưởng triết học thời kỳ Khai sáng Pháp nói chung và tư tưởng triết học của P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ nói riêng đối với thời đại hiện nay Đó là cách gián tiếp khẳng định giá trị, tính đúng đắn của thế giới quan duy vật biện chứng, chưa kể, điều đó cũng giúp chúng ta khai thác được những giá trị tham khảo có thể vận dụng vào thực tiễn của đất nước Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu
và giảng dạy của các cá nhân và tổ chức có liên quan
7 Cái mới của đề tài luận án
Đề tài ―Tư tưởng triết học của Paul Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ – Giá trị và nghĩa lịch sử‖ được tập trung nghiên cứu trong
Trang 21tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ có liên hệ, đối chiếu với một số tác phẩm khác để đưa ra một số cái mới như sau:
Thứ nhất, luận án đã trình bày làm rõ một cách có hệ thống tư tưởng triết
học của P Holbach trong một tác phẩm điển hình là ―Hệ thống của tự nhiên‖
Thứ hai, luận án đã phân tích làm rõ những giá trị, hạn chế và rút ra ý
nghĩa lịch sử của tư tưởng triết học P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của
tự nhiên‖, qua đó góp thêm một tưởng về mối liên hệ lịch sử và tầm ảnh hưởng của P Holbach đối với quá trình phát triển lịch sử tư tưởng triết học phương Tây, trong đó có sự ra đời của triết học Marx
8 Kết cấu của đề tài luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết
Trang 22Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA P HOLBACH
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA P HOLBACH
1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội hình thành tư tưởng triết học của
P Holbach
Nước Pháp ngày nay có diện tích 551.602 km2
và có khí hậu ôn đới Dân
số của Pháp vào khoảng 64.300.000, đứng thứ 2 trong EU (sau Đức) Phần lãnh thổ Pháp tại châu Âu trải dài từ Địa Trung Hải đến eo biển Manche và biển Bắc, và từ sông Rhin đến Đại Tây Dương, có bờ biển dài
(Luxembourg), phía Đông giáp với Đức và Thụy Sĩ, phía Đông Nam giáp với
Ý và Mô-na-cô (Monaco), phía Tây Nam giáp với Tây Ban Nha và An-đô-ra (Andorra) Trải qua quá trình phát triển của nước Pháp, đặc biệt là cuối thời
kỳ Trung cổ đến thời Cận đại với bao cuộc chiến trong và ngoài nước nhằm củng cố và gia tăng quyền lực chuyên chế của quân chủ Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển các vấn đề về kinh tế - xã hội, về chính trị - xã hội và về văn hóa – tư tưởng của nước Pháp thế kỷ XVIII
Sự ảnh hưởng của điều ki n kinh tế nước Ph p đến vi c h nh th nh tư tưởng triết học của P Holbach
Ở Tây Âu, ngay từ thế kỷ XVI, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã được định hình và phát triển mạnh mẽ Nguyên nhân chính dẫn đến những thay đổi quan trọng này là do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật Hàng loạt những phát minh khoa học đã được ứng dụng trực tiếp vào trong quá trình
Trang 23sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời như dệt sợi, luyện kim, khai thác, chế biến… Các công trường thủ công liên tiếp ra đời theo hướng sản xuất tư bản dần dần thay thế chế độ phường hội Sự phân công lao động ngày càng được chi tiết hóa, công cụ lao động không ngừng được cải tiến, số lượng sản phẩm lao động dồi dào, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước
về chất lượng cũng như mẫu mã, chủng loại Kỹ thuật la bàn phát triển tạo ra những phát kiến địa lý liên tiếp làm cho không gian thương mại được mở rộng trên toàn thế giới, kích thích tinh thần thương mại, giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học kỹ thuật Chính sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất dẫn đến những biến đổi quan trọng trong các quan hệ xã hội, nhất là trong quan hệ sản xuất Thế kỷ XVI, cuộc cách mạng tư sản bắt đầu diễn ra ở Hà Lan, sau đó đến Anh Đặc biệt ở Anh, giữa thế kỷ XVII, cuộc cách mạng tư sản nổ ra đã lật đổ chế độ phong kiến bảo thủ, lỗi thời, lập nên chế độ mới, chế độ tư bản chủ nghĩa Giai cấp tư sản đại diện cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa giữ vai trò thống trị xã hội Nhà nước quân chủ lập hiến Anh với cơ cấu bao gồm hai bộ phận quyền lực hoạt động độc lập và phối hợp có hiệu quả, quyền làm chủ của nhân dân được thừa nhận
Tuy nằm ngay trung tâm của khu vực đang sục sôi khí thế cách mạng, song vào thời của P Holbach - đầu thế kỷ XVIII, nước Pháp vẫn còn là một quốc gia phong kiến với nền kinh tế lạc hậu và nền chính trị bảo thủ, trì trệ Trong nông nghiệp, trong khi nước Anh vào thế kỷ XVIII đang đi trên con đường công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa thì nền kinh tế nước Pháp với nông nghiệp lạc hậu Nước Pháp lúc bấy giờ với 90% dân số (khoảng 22 triệu người) sống bằng nghề nông nghiệp, với phương tiện canh tác rất thô sơ, lạc hậu; một phần ba đất canh tác bị bỏ hoang, năng suất thu nhập hàng năm thấp Tình trạng này chính là hậu quả của việc duy trì chế độ phong kiến - chế độ ăn sâu vào những vùng nông thôn nước Pháp và nó ngày càng trở nên lỗi thời
Trang 24Vào thời kỳ này, đất đai đều thuộc quyền sở hữu của nhà vua, nhà vua lấy ruộng đất này chia cho quần thần, quý tộc phong kiến và cho cả nhà thờ
Những đất đai này được sử dụng theo hai hình thức: thứ nhất, theo chế độ lĩnh
canh, lãnh chúa phong kiến giữ lấy một phần nhỏ làm lãnh địa, rồi chia thành những mảnh nhỏ, phát canh cho nông dân để thu tô theo chế độ chia đôi hay một phần sản phẩm thu hoạch được Bên cạnh đó, họ còn phải chịu nhiều thứ
tô khác dưới hình thức siêu kinh tế Với hình thức này, người nông dân khi hết
thời gian sử dụng đất theo quy định thì phải trả đất lại cho lãnh chúa; thứ hai,
ngoài lãnh địa, phần lớn đất đai được canh tác theo chế độ vĩnh điền nông nô, người nông dân canh tác trên mảnh đất của mình nhưng không có quyền sở
hữu, mà họ phải nộp cho lãnh chúa một thứ thuế nhất định, gọi là thuế cens
(địa tô) và phải phục tùng mọi quyền lực của lãnh chúa Nếu người nông dân đóng thuế đầy đủ thì mảnh đất này vĩnh viễn ở trong tay họ và đời con cháu họ với điều kiện sau khi họ chết con cháu họ vẫn phải nộp thuế đầy đủ
Như vậy, có thể nói rằng, nguồn sống chủ yếu của cung đình, quý tộc, nhà thờ chính là dựa vào sự bóc lột những người sản xuất nhỏ - nông dân lĩnh canh
và nông dân vĩnh điền Tầng lớp quý tộc Pháp vẫn khư khư ôm lấy phương thức bóc lột cũ kỹ bằng những đặc quyền phong kiến Điều này làm cho nền kinh tế nông nghiệp Pháp ngày càng suy sụp, nông dân phải đi lang thang để kiếm sống, nạn đói liên tiếp diễn ra Do đó, vấn đề giải phóng nhân dân thoát khỏi ách
áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến là vấn đề hết sức cấp thiết
Thời kỳ này, nền công thương nghiệp của Pháp phát triển tản mạn, có
sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn Ở những vùng nông thôn, người nông dân phải gánh vác ―nghĩa vụ‖ của mình chẳng hạn như nộp địa tô, thuế cho nhà thờ… Tất cả đều được tính ra tiền nhưng quan hệ tiền tệ trong nông thôn vẫn chưa thực sự phá vỡ tính chất kinh tế tự nhiên của nông nghiệp Nông dân sản xuất ra nông sản chỉ để dùng chứ không phải để bán thị trường
Trang 25Họ chỉ bán sản phẩm làm ra khi cần tiền nộp thuế cho nhà nước Chính vì vậy, hàng hóa công nghiệp Pháp sản xuất ra không thể bán được nhiều ở những vùng nông thôn, ngay cả sản xuất hàng hóa tiêu dùng thông thường cũng không phát triển vì số đông người dân sống trong cảnh bần hàn, sức mua không có Trái lại, ở khu vực thành thị, công thương nghiệp phát triển khá mạnh, tạo sự phồn vinh cho một số thành phố lớn của nước Pháp Đại diện cho ngành công nghiệp Pháp lúc bấy giờ là những công trường thủ công chủ yếu tập trung sản xuất những mặt hàng cao cấp như thảm hoa, len dạ, tơ lụa, nước hoa, mỹ phẩm, thủy tinh… dành cho giới quý tộc, vương thất Tuy nhiên, do chế độ phong kiến áp dụng những quy chế khắt khe như siêu cao, thuế năng, sự kiểm soát chặt chẽ khi lưu thông hàng hóa qua các tỉnh, sản xuất theo khuôn mẫu bắt buộc, bị hạn chế số lượng sản phẩm và nhân công…
đã ảnh hưởng nhiều đến sản xuất công nghiệp nước Pháp, nó kìm hãm sự tự
do kinh doanh và cải tiến sản xuất
Trong hoàn cảnh nền nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp phát triển tản mạn thì ngành thương nghiệp ở Pháp lại phát triển nhanh chóng Chính sự phát triển của ngoại thương mới làm giàu cho nước Pháp, thị trường buôn bán được mở rộng nhờ những cuộc phát kiến địa lí Thế lực kinh tế của tầng lớp thương nhân mạnh lên, họ chiếm địa vị chủ chốt trong xã hội Ngay từ đầu thế kỷ XVI, Paris là trung tâm công thương nghiệp toàn quốc có tới ba mươi vạn dân, là thành thị đông dân nhất châu Âu thời bấy giờ Đến thế kỷ XVIII, Pháp có quan hệ buôn bán với hầu hết các nước châu Mĩ, châu Âu và phương Đông Việc buôn bán với các thuộc địa chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng đối với nước Pháp Pháp xuất khẩu lúa mì, gia súc, rượu vang, len
và các hàng xa xỉ phẩm khác; nhập khẩu đường, thuốc lá, cà phê… Ngành nội thương cũng bước đầu phát triển nhưng còn vấp phải nhiều khó khăn bởi chế độ phong kiến
Trang 26Nhìn chung, vào thế kỷ XVIII, nền kinh tế của nước Pháp, nhất là trong lĩnh vực công thương nghiệp đã từng bước phát triển, manh nha xuất hiện các yếu tố của chủ nghĩa tư bản Nhưng chế độ phong kiến đã kìm hãm
sự phát triển đó Cho nên, việc xóa bỏ sợi dây ràng buộc của chế độ phong kiến đối với ngành công thương nghiệp đã trở thành một yêu cầu mang tính khách quan và tất yếu của lịch sử
P Holbach cùng một số nhà triết học bấy giờ, với tư tưởng cấp tiến của mình trong xu hướng phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Âu, ông nhận thấy rằng, chính sự trì tệ của quan hệ sản xuất lỗi thời đã mâu thuẫn với những nhân tố mới của lực lượng sản xuất, cộng với chính sách ngu dân hà khắc của triều đình phong kiến, nhất là tình trạng mất cân đối trong sự phát triển về kinh tế của một đất nước dẫn đến sự phân cực, sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay… đã thúc đẩy sự phản kháng của các tầng lớp xã hội bị áp bức, bị kiềm kẹp Nói cách khác, những mâu thuẫn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã nhen nhóm trên đất Pháp ở đêm trước của những chuyển biến cách mạng đòi hỏi phải được giải quyết Chính điều này đã góp phần hình thành nên thế giới quan và nhân sinh quan của P Holbach
Sự ảnh hưởng của điều ki n chính trị - xã hội nước Ph p đến vi c h nh
th nh tư tưởng triết học của P Holbach
Cùng với những vấn đề về mặt kinh tế - xã hội thì những vấn đề về mặt chính trị - xã hội của nước Pháp thời bấy giờ cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hình thành những tư tưởng lý luận - ngọn cờ tiên phong trong phong trào cách mạng vô sản Pháp - của những nhà Khai sáng
Pháp, trong đó có P Holbach
Xã hội phong kiến Pháp vào thế kỷ XVIII được chia thành ba đẳng cấp: đẳng cấp thứ nhất là tăng lữ, đẳng cấp thứ hai là quý tộc và đẳng cấp thứ ba
Trang 27là tất cả các tầng lớp còn lại (tư sản, trí thức, công nhân, nông dân, bình dân thành thị…) Trong đó, đẳng cấp thứ nhất và đẳng cấp thứ hai hoàn toàn không phải chịu bất cứ nghĩa vụ nào với quốc gia, họ chỉ dùng lời ―cầu nguyện‖ và
―lưỡi kiếm‖ để phụng sự cho đức vua Nhưng họ lại là những người có đặc quyền, giữ mọi vị trí quan trọng trong triều đình, trong quân đội và trong nhà thờ Mọi quyền hành đều tập trung vào tay nhà vua Nhà vua giữ quyền tuyệt đối trong các chính sách đối nội lẫn đối ngoại, thường tự cho rằng ý muốn của mình chính là luật pháp và quyền lực của mình chính là do Trời ban cho để cai trị quốc gia, cai trị thần dân Chính vì thế, từ khi lên ngôi, vua Louis XV (1710
- 1774) vẫn tiếp tục giữ chính sách cai trị độc đoán, chuyên quyền, tạo nên bầu không khí chính trị ngột ngạt và tình trạng bất mãn trong các tầng lớp nhân dân Nhà vua sử dụng quân đội, cảnh sát và nhà thờ để làm công cụ thống trị nhân dân Không những thế, tổ chức hành chính trong nước cũng bị vua thâu tóm, vua nắm trong tay chính quyền từ trung ương đến địa phương bằng cách cho những người thân tín của mình giữ những chức vụ chủ chốt nhất trong bộ máy chính quyền Đó là những người thay mặt nhà vua giải quyết mọi việc, hết sức độc đoán và hà khắc, họ tha hồ bóc lột quần chúng nhân dân bằng thuế khóa, giá cả, luật lệ… làm cho cuộc sống của nhân dân vô cùng khó khăn mà không phải chịu bất kỳ sự trừng phạt hay cấm đoán nào Họ sống dựa vào thuế khóa và sự bóc lột người lao động Còn đẳng cấp thứ ba chiếm 99% dân số, phải chịu mọi nghĩa vụ và đóng thuế, bị áp bức và bóc lột bởi hai đẳng cấp trên, và dĩ nhiên là họ không có một chút đặc quyền nào trong xã hội, bị tước mọi quyền chính trị, không được tham gia vào các cơ quan nhà nước mà còn bị phụ thuộc và phải phục dịch cho giới tăng lữ và quý tộc Cho nên, mâu thuẫn giữa đẳng cấp thứ ba với hai đẳng cấp trên ngày càng gay gắt Từ những xung đột giữa các đẳng cấp đã biến thành những cuộc cách mạng ở những qui mô khác nhau diễn ra trên khắp cả nước
Trang 28Vào thời kỳ này, cùng với sự phát triển của công thương nghiệp giai cấp
tư sản dần dần trở thành một giai cấp có thế lực trong kinh tế, nắm giữ trong tay tài sản khổng lồ với những công trường thủ công, xí nghiệp công thương nghiệp, thương nghiệp trong và ngoài nước… Trong khi đó, giới quý tộc, vương thất mải mê ăn chơi dẫn đến thiếu tiền, phải vay nợ các nhà tư sản này
và triều đình trở thành con nợ của họ Lợi dụng điều này, giai cấp tư sản - những người vừa giàu vừa có học - đòi hỏi quyền lợi chính trị Họ muốn tham gia vào bộ máy chính quyền của nhà nước, xóa bỏ mọi luật lệ hà khắc của nhà nước quân chủ chuyên chế, mở đường cho công thương nghiệp phát triển Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của đại đa số quần chúng nhân dân Chính vì thế, họ trở thành người đại diện cho đẳng cấp thứ ba Còn về phương diện kinh tế, họ là người đại diện cho phương thức sản xuất mới nên họ sẽ là người lãnh đạo phong trào cách mạng tư sản sau này
Tuy nhiên, việc tự do buôn bán, tự do sản xuất đều bị chính quyền ngăn cản bằng cách lập nên những hàng rào thuế quan Nhà nước tìm cách can thiệp sâu vào trong các hoạt động kinh tế của giai cấp tư sản với mục đích kìm hãm sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản cùng các lực lượng xã hội tiến bộ khác với chế độ phong kiến ngày càng trở nên sâu sắc và không thể dung hòa Trong tình thế
đó, P Holbach cùng với một bộ phận của giai cấp tư sản, là những nhà tri thức có tư tưởng tiến bộ, muốn thay đổi về quan điểm chính trị, họ dùng ngòi bút của mình để công kích chế độ quân chủ phong kiến, chống lại nhà thờ và tín đồ tôn giáo, đòi cải cách xã hội theo hình thức tư bản chủ nghĩa, hướng đến tự do, dân chủ làm xuất hiện một trào lưu tư tưởng mới Phong trào Khai sáng ra đời chính là sự phản kháng lại trật tự chuyên chế hiện hành, đòi hỏi một hình thức cai trị hợp l , đề cao trí tuệ, sự thông thái trong cách vận hành; một nền chính trị dựa trên trí tuệ và phẩm hạnh, về thể chế chính trị dân chủ
Trang 29và thực thi pháp luật trong quản lý xã hội, tôn trọng đề cao con người cá nhân, quyền tự nhiên của con người, hướng đến tự do, dân chủ của công dân
Và dĩ nhiên, tư tưởng của họ bị giới tăng lữ và quý tộc đàn áp, bắt tù đày, những tác phẩm của họ bị tiêu hủy… nên họ phải bỏ trốn hoặc thay tên đổi họ
Sự ảnh hưởng của văn hóa v khoa học đến vi c h nh th nh tư tưởng triết học của P Holbach
Có thể nói rằng ngay từ thế kỷ XVI, những thành tựu đáng kể của khoa học tự nhiên như những phát minh của N.Copernic (1473 - 1543), G Galilei (1564 - 1642), G Bruno (1584 - 1600)… trở thành chiến thắng vĩ đại của lý trí con người trong bối cảnh hệ tư tưởng tôn giáo tồn tại rất lâu Con người đã khôi phục lại niềm tin vào lý trí của chính mình và đưa l trí lên đỉnh cao Với thuyết Nhật tâm, N Copernic đã xác lập bức tranh vật lý mới về thế giới Tiếp tục với tinh thần của N Copernic, nhà triết học người Italia, G Bruno
bổ sung thêm rằng, xung quanh Trái Đất có một bầu không khí cùng xoay với Trái Đất và Mặt Trời cũng đổi chỗ với các vì sao Ông đã chứng minh được tính thống nhất vật chất của thế giới Với học thuyết này, G Bruno đã bác bỏ quan điểm về sự tồn tại của thế giới bên kia của tôn giáo - thế giới các thần linh Hay, G Galilei, bằng phát minh ra quy luật vận động, ông đã chứng minh thế giới vận động là do nguyên nhân nội tại của chính bản thân nó chứ không phải là do bàn tay của Thượng đế… Như vậy, các phát minh này là cơ
sở khoa học cho sự phê phán và hoài nghi về chân l vĩnh cửu, sự giáo điều
và những chuẩn mực đạo đức khắt khe của Giáo hội Thiên Chúa giáo, mở ra một thời đại mới cho lịch sử loài người - thời kỳ Khai sáng
Đến thế kỷ XVII - XVIII khoa học tự nhiên phát triển rực rỡ đến mức đây còn gọi là thời đại của khoa học, với những thành tựu hết sức to lớn, đặc biệt trong các ngành Thiên văn học, Vật lý học, Hóa học và Y học Với sự bùng phát mạnh mẽ của khoa học, l trí được tiếp thêm nguồn lực để phát
Trang 30triển và lý trí trở thành chuẩn mực, thành vị quan tòa công minh, xét đoán mọi hành vi của con người Người ta không chỉ đề cao lý trí trong tìm tòi, sáng tạo mà còn xem l trí như cán cân để thẩm định, kiểm tra mọi chân lý, chống lại nền chuyên chính tinh thần và trật tự chính trị phi lý của nhà nước chuyên chế Với việc phát hiện ra sự tuần hoàn máu của W Harvey (1578 - 1687) đã kích thích tinh thần tìm hiểu, khám phá cơ thể con người, khẳng định sức mạnh trí tuệ của con người, chứng minh rằng không có gì con người không thể làm được Nhà hóa học kiêm vật lý học người Anh, R Boyle (1627 - 1691), bằng sự phân tích hóa học, ông đã trình bày vấn đề nghiên cứu thành phần của các vật thể nói riêng và kết cấu của vật chất nói chung, giúp con người đi sâu vào việc nghiên cứu bí ẩn của vũ trụ Tất cả những điều nói trên cho thấy rằng, việc nghiên cứu tự nhiên không chỉ mục đích chứng minh cho sự tồn tại của tạo hóa mà còn khẳng định quyền lực của con người Sự phục hồi khát vọng khám phá thế giới đồng nghĩa với việc phục hồi sức mạnh của l trí Chính quan điểm này đã làm sụp đổ hoàn toàn chân l tưởng chừng như bất di bất dịch của nhà thờ, làm lung lay tận gốc nền chuyên chính tinh thần của nó, làm thức tỉnh l trí, đồng thời cũng dự báo trước một cuộc cách mạng sẽ nổ ra trong lĩnh vực các quan hệ xã hội
Lúc này, tri thức khoa học không còn dừng lại ở vị trí ―tri thức thuần túy‖, mà dần dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và thiết chế xã hội đặc trưng, nghĩa là những thành quả của khoa học, với sự tổ chức chặt chẽ (những trung tâm khoa học, dưới hình thức các viện, các hội khoa học) và khả năng ứng dụng kịp thời không chỉ làm thay đổi cuộc sống con người, cải tạo tự nhiên, mà còn góp phần vào tiến bộ xã hội Bản thân nhà khoa học cũng tích cực tham gia vào các họat động chính trị, xã hội, vạch ra những dự
án phát triển đất nước dựa trên kinh nghiệm sống và năng lực trí tuệ sâu sắc của họ Mặt khác, với tính ứng dụng hiệu quả của mình, đáp ứng nhu cầu giải
Trang 31phóng sức lao động, tri thức khoa học dần dần giúp con người vượt qua tín điều, phục hồi và tôn vinh hình ảnh ―con người l trí‖, xuất phát từ truyền thống Hy Lạp - La Mã cổ đại
Khoảng thời gian mà lí luận khoa học ảnh hưởng đến gần như toàn bộ sinh hoạt tri thức được gọi là ―Thời đại Lý trí‖ Đây là thời đại mà nhiều nhà
tư tưởng lớn khảo sát luật pháp, hiến pháp, chế độ chính trị, tôn giáo… xem chúng có còn phù hợp với quy luật của tự nhiên hay không Và có thể nói, đỉnh cao của cuộc Cách mạng tri thức là trào lưu tư tưởng Khai sáng
Như vậy, có thể thấy rằng, thế kỷ XVIII, ngay trong lòng chế độ phong kiến Pháp đã xuất hiện những mầm mống của văn hóa tiến bộ, khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ, những thành tựu của nó được con người áp dụng vào trong sản xuất và đời sống, thu được những kết quả to lớn Điều này đã làm thay đổi những quan điểm đương thời Người ta nhận ra rằng, sự sáng tạo bắt nguồn từ kinh nghiệm và lý trí của con người chứ không xuất phát từ bất
cứ đấng siêu nhiên nào Những vấn đề liên quan đến khoa học ngày càng được giới tri thức đón nhận, nghiên cứu một cách hăng say Những đề tài khoa học trở thành trung tâm của những cuộc nói chuyện trong phòng khách, trong những cuộc tranh luận ở các trường đại học Nhờ biết bám sát vào những thành tựu của khoa học tự nhiên và trình độ nhận thức chung của xã hội, những nhà triết học đã xác lập bức tranh vật lý mới về thế giới, nắm bắt những tính quy luật khách quan của nó, đào sâu một số vấn đề bản thể luận,
về phương pháp nhận thức mà trước đây chưa từng nhắc đến Điều này có tác động tích cực trong quá trình thức tỉnh l trí, khơi dậy sáng tạo để phân tích thực trạng và triển vọng sự vận động xã hội Và, P Holbach thuộc về nhóm các nhà Khai sáng Pháp đã biết kế thừa tất cả những thành quả khoa học đó của nhân loại, xây dựng nên hệ thống triết học của mình với tính thống nhất vật chất của thế giới, giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, đưa ra quan điểm
Trang 32cụ thể về bản chất và quyền con người trong xã hội, góp phần xây dựng hệ thống chính trị - xã hội với những hệ giá trị mang tính nhân văn trong phong trào Khai sáng Pháp
Tóm lại, bối cảnh kinh tế, chính trị - xã hội tại Pháp thế kỷ XVIII là cơ
sở thực tiễn xã hội của phong trào Khai sáng Pháp nói chung và của triết học
P Holbach nói riêng Sự lớn mạnh của giai cấp tư sản cùng với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự khởi sắc trong đời sống xã hội sau đêm trường trung cổ mở ra khả năng phát triển khoa học, kỹ thuật… là những tác nhân gây nên sự bùng nổ các phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nước Pháp trở thành vũ đài của các cuộc luận chiến giữa tư tưởng tự do với chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa thần quyền để xác lập những giá trị, chuẩn mực phù hợp với thời đại đang biến đổi nhanh chóng Phong trào Khai sáng Pháp đã ra đời trong xu thế ấy mà P Holbach là một trong những đại biểu kiệt xuất của nó Và, việc phân tích tiền đề kinh tế, chính trị - xã hội cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật của nước Pháp thế kỷ XVIII đã giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc và bản chất tư tưởng triết học của P Holbach Chính trong điều kiện lịch sử đó đã hình thành tư tưởng triết học của P Holbach và được thể hiện một cách có hệ thống trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖
1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng triết học P Holbach
Trong dòng chảy của lịch sử triết học, bất kỳ một hệ thống triết học, một
tư tưởng triết học của một nhà tư tưởng hay một trường phái triết học nào cũng đều chịu sự quy định bởi những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, những thành tựu khoa học đương thời và tuân theo quy luật sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là động lực cho sự phát triển Chính vì thế, ngoài việc chịu sự chi phối và tác động của những điều kiện lịch sử xã hội, tư tưởng triết học của P Holbach còn là sự kế thừa và phát triển từ
Trang 33những tư tưởng ra đời trước đó, như là: chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp cổ đại, trào lưu tư tưởng và văn hóa thời Phục hưng, tư tưởng triết học của J Locke
Thứ nhất, tư tưởng triết học duy vật Hy Lạp cổ đại - “c i n i của văn minh phương Tây” – là tiền đề lý luận sâu xa cho sự h nh th nh tư tưởng triết học của P Holbach trong tác phẩm “H th ng của tự nhiên”
Chủ nghĩa duy vật của P Holbach trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ là sự thể hiện sinh động, triệt để hình thức lịch sử cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật Hình thức thứ nhất là chủ nghĩa duy vật chất phát, sơ khai, gắn liền với tên tuổi của các nhà triết học tiêu biểu thuộc trường phái Milet, Heraclitus… như Thales (624 – 546 tr.CN), Empedocles (495 – 435 tr.CN), Anaxagoras (500 – 428 tr.CN), Democritus (460 – 370 tr.CN)… mà những tư tưởng triết học của họ còn ảnh hưởng mãi đến tận sau này Những tên tuổi lớn đó được P Holbach thường xuyên nhắc đến, với những đánh giá và sự tiếp thu có chọn lọc luận điểm của họ về tự nhiên, về con người, nhất là trong tác phẩm "Hệ thống của tự nhiên" Tiếp tục với luận thuyết duy vật Hy Lạp
cổ đại, nhưng triết học Khai sáng Pháp nói chung, triết học P Holbach nói riêng đã làm phong phú thêm nội dung của mình bằng những kết luận mới từ các nhà khoa học vật l , cơ học, toán học và đã làm sâu sắc thêm về lý luận nhận thức duy vật cổ đại
Triết học duy vật Hy Lạp thời cổ đại còn chứa đựng dưới dạng mầm mống mọi sự tồn tại thế giới quan sau này, thể hiện ở tính bao trùm của nó về mọi lĩnh vực Tuy nhiên, triết học thời kỳ này thiên về giới tự nhiên hơn là con người, nhà triết học đồng thời là nhà khoa học, họ tìm hiểu về cấu tạo, nguyên nhân, quy luật của vũ trụ Triết học duy vật cổ đại thể hiện rõ tính biện chứng sơ khai của nó Tuy thời kỳ này sự phân chia khuynh hướng triết học đã khá rõ rệt, nhưng nhìn chung nó mang tính duy vật chất phác Ngay từ
Trang 34khi mới ra đời, nó đã tìm cách giải thích thế giới như một chỉnh thể thống nhất Tuy nhiên, những quan điểm biện chứng sơ khai đó tuy là kết quả thiên tài của người cổ đại nhưng thiếu những cứ liệu khoa học cụ thể
Phù hợp với thực trạng tri thức khoa học và trình độ nhận thức chung của thời đại, các nhà triết học thời ấy đã cố gắng giải đáp câu hỏi ―Thế giới bắt đầu từ đâu và quay về đâu?‖ và hình thành hai cách giải thích về bản nguyên của thế giới Phương án thứ nhất gắn liền với trường phái Milet và Heraclitus, phương án thứ hai thể hiện ở Empedocles, Anaxagoras, và đặc biệt là nguyên tử luận (Leucippus (500 – 440 tr.CN) và Democritus) Mỗi cách giải thích về bản nguyên thế giới phản ánh tính chế định lịch sử - xã hội đối với nhận thức
Thales được xem là nhà triết học đầu tiên ở phương Tây Ông là người đầu tiên bác bỏ những cải cách quan điểm thế giới quan tôn giáo và thần thoại về các hiện tượng của tự nhiên và cho rằng các hiện tượng đều có nguồn gốc tự nhiên của chúng Và ông cũng cho rằng, ―nước‖ chính là nguồn gốc chung, thực thể chung làm cơ sở cho tất cả mọi vật
Cùng với Thales, các nhà triết học khác thuộc trường phái Milet cũng để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử triết học, họ đã nhìn thấy một hình thức thế giới quan mới, thế giới quan triết học Phương pháp hình thành thế giới quan đó là dùng lý trí và lập luận có logic để giải thích thế giới, dùng chính vật chất để giải thích vật chất, không cần đến những lực lượng siêu tự nhiên Anaximenes (585 - 528 tr.CN) đi tìm bản nguyên của vũ trụ từ ―không khí‖ Ông sử dụng hai quá trình đối lập ―loãng ra‖ và ―đặc lại‖ để giải thích sự biến đổi của vật chất Không khí loãng ra biến thành lửa, không khí đặc lại biến thành gió, gió thành mây, mây thành nước, nước thành đất, đất biến thành đá…
Cũng giống như các nhà triết học phái Milet, nhà triết học xứ Ephesơ, Heraclitus (520 - 460 tr.CN) là hiện tượng đặc biệt của triết học Hy Lạp Ông
Trang 35thừa nhận chỉ có một nguồn gốc vật chất duy nhất của thế giới, đó là ―lửa‖ Theo ông, vũ trụ này luôn luôn là như thế, không do bất cứ vị thần nào sáng tạo ra, mà mãi mãi đã, đang và sẽ là một ngọn lửa muôn đời sinh động, bùng cháy lên và tắt đi theo những phương cách nhất định Ông còn được công nhận là một trong những nhà triết học biện chứng đầu tiên với sự thừa nhận tính phổ biến của vận động và phát triển thông qua những mâu thuẫn nội tại Chính những tư tưởng triết học hình thành từ thời kỳ sơ khai ấy đã trở thành tiền đề sâu xa của tư tưởng triết học P Holbach khi ông cho rằng trong
vũ trụ chỉ có vật chất đang vận động…
Từ khoảng năm 417 tr.CN, nền văn hóa, khoa học và giáo dục Hy Lạp bắt đầu nở rộ và phát triển cho đến khi Hy Lạp bị La Mã thôn tính Vào thời gian này, các môn khoa học như toán học, vật lý học, thiên văn học, triết học, logic học, chính trị học… được nghiên cứu và giảng dạy ở các trường học bởi các nhà khoa học nổi tiếng
Empedocles là một trong những nhà triết học và khoa học đầu tiên của
Hy Lạp chứng minh rằng vũ trụ không có khởi đầu và kết thúc, chỉ có những giai đoạn biến đổi với sự giãn nở và co lại của nó Ông cũng chứng minh được rằng, hai lực đối lập (lực tình yêu và lực xung đột) là nguồn gốc của sự vận động của vật chất Điều này được xem như là lời tiên tri trong lĩnh vực khoa học để rồi sau này được minh chứng bởi lực hút và lực đẩy trong vật lý học, đồng hóa và dị hóa trong sinh học…
P.Holbach rất xác đáng khi trích dẫn sự phê phán của Aristotle đối với Anaxagoras Trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖, P Holbach viết:
Anaxagoras, như người ta nói, là người đầu tiên giả định rằng toàn bộ
vũ trụ được tạo dựng và điều khiển bởi một lý tính, hay trí tuệ nào đó Aristotle phản bác Anaxagoras vì đã sử dụng thứ l tính này để giải
thích các hiện tượng từ sự giúp đỡ của deus ex machina, đặc thù nào
Trang 36đó… (Holbach, P, 2011, trang 54)
Tiếp đến là Nguyên tử luận do Leucippus sáng lập và được Democritus
phát triển, chuẩn bị bởi quan điểm trừu tượng hóa về bản nguyên homeomeria của Anaxagoras Các nhà nguyên tử luận đã xác lập nên bức
tranh độc đáo về thế giới, dựa trên sự suy tưởng về cái bé nhất, không phân
chia, nhưng suy tưởng đó xuất phát từ cảm nhận về thế giới hữu hình muôn
vẻ, đa dạng Việc xem nguyên tử, với tính cách là tồn tại, và khoảng không, với tính cách là hư v , đều là điểm xuất phát của thế giới vật lý, là sự phát
triển hợp l hơn học thuyết của trường phái Elea về tồn tại và hư vô (luận
điểm cơ bản của trường phái này: chỉ tồn tại c i đang tồn tại, c i được tư duy, không tồn tại cái không tồn tại, c i kh ng được tư duy) Thuyết nguyên
tử xem vận động là thuộc tính quan trọng nhất của nguyên tử, nghĩa là cũng vĩnh viễn như nguyên tử Các nguyên tử vận động trong khoảng không - bể chứa các nguyên tử, mà không cần bất kỳ sự khởi động nào, bất kỳ nguyên nhân nào Khi đẩy nhau, các nguyên tử thay đổi hướng vận động, hình thành nên các chủng loại sự vật với những chất khác nhau Democritus đã đến gần với cách tiếp cận vấn đề quan hệ giữa tính vô hạn và tính hữu hạn, giữa thực
tại khách quan cảm tính và thực tại siêu cảm tính, giữa thực tại kinh nghiệm
và thực tại siêu nghi m
P Holbach phát triển tiếp tục quan điểm của Democritus về nguyên tử
và vận dụng nguyên tử luận để giải thích sự sống và cái chết Nếu
Democritotes xem s ng - chết chỉ là sự hợp nhất hay phân rã nguyên tử, thì P
Holbach làm sâu sắc thêm, khẳng định quan điểm mới phù hợp với thời đại mình: ―sự sống là tổng thể các vận động cố hữu ở thực thể hữu cơ, còn vận động thì chỉ là thuộc tính của vật chất, đồng thời mỉa mai ―sự tinh tế tư biện‖
về tính phi vật chất và tính bất tử của linh hồn‖ (Holbach, P, 2011, trang 61)
P Holbach đánh giá cao các nhà vật lý và các nhà duy vật trong quan
Trang 37điểm về bản nguyên thế giới, xem đó là cơ sở để đấu tranh chống ―chủ nghĩa
duy linh‖ Trong chương VII, với tên gọi Về linh hồn hay về h th ng duy linh chủ ngh a, ông viết:
Những ai khẳng định rằng linh hồn là thực thể đơn giản, sẽ nói với chúng ta ngay rằng, chính các nhà duy vật, cũng như các nhà vật l , đưa
ra các yếu tố đơn giản và không phân chia - các nguyên tử, là những thực thể từ đó tạo nên toàn bộ các vật thể; nhưng yếu tố đơn giản này hay các nguyên tử của các nhà vật lý hoàn toàn không phải như linh hồn của các nhà siêu hình hiện đại Khi chúng ta nói rằng, các nguyên tử là những thực thể đơn giản thì bằng cách ấy chúng ta nhấn mạnh: chúng có tính thuần túy, đồng nhất, không pha tạp; xong, chúng có quảng tính và
do đó, có khả năng phân chia ra các bộ phận, những bộ phận ấy tách rời nhau… (Holbach, P, 2011, trang 68-69)
Dù lý giải bản nguyên thế giới ở các nhà duy vật theo phương án nào, thì đóng góp của họ vào thế giới quan duy vật đã được các thời đại sau ghi nhận Trong tác phẩm ―Chống Duyrinh‖, F Engels (1820 – 1895) đã nhận xét rằng: Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất thì đúng đó
là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Heraclitus trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong (Mác, C và Ăngghen, Ph, 2004e, trang 35)
Có thể thấy rằng, thuyết nguyên tử của Leucippus và Democritus không chỉ có ảnh hưởng sâu sắc đến những nhà triết học thời kỳ Hy Lạp hóa và Đế chế La Mã như Epicurus (341 – 270 tr.CN), Lucretius (99 – 55 tr.CN) mà còn thông qua những nhà triết học này có ảnh hưởng sâu sắc đến triết học và khoa học thế kỷ XVII - XVIII, trong đó có nhà triết học P Holbach
Trang 38Trong quá trình tìm hiểu chủ nghĩa duy vật chất phác, sơ khai, P.Holbach
kế thừa một phần cách đánh giá của Aristotle đối với một số nhà duy vật Aristotle (384 - 322 tr.CN) là một nhà triết học có đầu óc bách khoa thời kỳ cổ đại Triết học của ông có nhiều yếu tố duy vật, nhất là quan điểm về cơ sở vật chất của mọi tồn tại Aristotle được nhắc đến và đánh giá cao trong việc phê phán cơ sở duy tâm P Holbach phê phán học thuyết về linh hồn bất tử của Pythagoras (580 – 500 tr.CN), Plato (427 – 347 tr.CN), đánh giá và kế thừa cách tiếp cận của Democritus và Aristotle: ―Democritus đưa linh hồn về vận động, và do đó nhận thấy ở linh hồn một modus (dạng thức, kiểu nào đó) của linh hồn… Aristotle xem xét linh hồn như động lực nào đó chi phối sự vận động của các vật thể sống (Holbach, P, 2011, trang 172) Như V.I.Lenin (1870 – 1924) nhận định: ―Khi một nhà duy tâm phê phán những cơ sở của chủ nghĩa duy tâm của một nhà duy tâm khác, thì bao giờ cũng có lợi cho chủ nghĩa duy vật Đối chiếu Arixtốt với Platôn‖ (Lênin, V, I, 2006b, trang 302)
Xét từ cách tiếp cận chính trị - xã hội, chủ nghĩa duy vật thường thể hiện lập trường của các lực lượng tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống lại những tàn tích của cái lỗi thời, hoặc các lực lượng chính trị bảo thủ, vì chủ nghĩa duy vật, trong nội dung của nó, đã hàm chứa những yếu tố tích cực, hiện thực K Marx (1818 – 1883) viết: ―Triết học hiện đại chỉ tiếp tục cái công việc do Hêraclít và Arixtốt mở đầu mà thôi‖ (Mác, C và Ăngghen, Ph, 2004a, trang 166) và các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại ―mãi mãi là những người thầy của chúng ta‖ (Mác, C và Ăngghen, Ph, 2004g, trang 218) Xuất phát từ thế giới quan duy vật, P Holbach đánh giá cao quan điểm của Aristotle về vai trò của cảm giác như nguồn gốc của thức, qua đó bác bỏ học thuyết ― niệm‖ của Plato Ông viết:
Nếu như Aristotle đã khẳng định hơn hai ngàn năm trước, "không có gì tác động vào ý thức con người, mà lại không thông qua các giác quan",
Trang 39thì kết quả là mọi thứ xuất phát từ nó, phải tìm ra một số đối tượng hợp
l do đó, bất kỳ niệm nào (của Plato) không kết hợp với đối tượng đều là vô nghĩa (Holbach, P, 2011, trang 114)
Có thể xem triết học duy vật ở Hy Lạp cổ đại là sự khơi nguồn cho một
tư duy mới về thế giới, là động lực và phương hướng cho triết học và khoa học phương Tây trong hơn hai thiên niên kỷ qua Phần lớn các nhà duy vật đều có kiến thức sâu sắc về tự nhiên, hoặc đồng thời là nhà khoa học Nhờ
sự hiểu biết này họ đã cố gắng vượt qua thói quen tư duy truyền thống, tạo cho mình hướng đi riêng, không lặp lại Trong mối liên hệ giữa triết học và khoa học cả hai đều cùng phát triển với sự chi phối và tác động lẫn nhau Tính biện chứng tự phát, bẩm sinh thể hiện ở phần lớn các học thuyết duy vật với những mức độ khác nhau trong đó Heraclitus là người tiêu biểu Xét một cách tổng thể, từ bình diện lịch sử - xã hội, tư tưởng triết học duy vật phản ánh lập trường của các lực lượng xã hội tiến bộ Tính chất trực quan, chất phác, ngây thơ, gắn với trình độ của khoa học và nhận thức, sự hiện diện của tư duy huyền thoại Quan điểm về thế giới của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này phần lớn căn cứ vào sự quan sát trực tiếp, sự cảm nhận hay suy tưởng của các triết gia, không được luận chứng bằng các dữ liệu khoa học Như vậy, tiền đề lý luận sâu xa của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII
mà đỉnh cao là duy vật Pháp, trong đó có chủ nghĩa duy vật P.Holbach, với
sự thể hiện tập trung trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖, là chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp cổ đại P Holbach đã kế thừa những thành tựu của triết học tự nhiên từ các nhà triết học duy vật cổ đại trong việc luận giải về những vấn đề tự nhiên, về con người, về nguồn gốc của tôn giáo… được thể hiện trong tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ của ông Chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp cổ đại là hình thức lịch sử cơ bản đầu tiên của chủ nghĩa duy vật Dấu hiệu đặc trưng của tư tưởng duy vật ở Hy Lạp
Trang 40gắn liền với quá trình giải phóng tư duy khỏi bức tranh huyền thoại về thế giới, thay tư duy hình tượng – biểu tượng bằng tư duy ở trình độ khái niệm, thay sùng bái thần linh bằng đề cao lý trí của con người Mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy vật với trình độ khoa học, nhất là khoa học tự nhiên, dù lĩnh vực này đang trong dạng phôi thai, mầm mống Như vậy, có thể thấy rằng chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII mà P Holbach là một trong những đại diện tiêu biểu, kế thừa truyền thống duy vật cổ đại Hy Lạp Song, đã phát triển truyền thống đó lên một nấc thang mới cao hơn, gắn với quá trình hình thành bức tranh vật lý mới về thế giới Cũng như l luận nhận thức phù hợp với cái nhu cầu khẳng định quyền lực của con người trước tự nhiên Kế thừa truyền thống duy vật (cả ở phương diện bản thể luận lẫn phương diện nhận thức luận), P Holbach đã sáng lập những nội dung mới trong chủ nghĩa duy vật với tác phẩm ―Hệ thống của tự nhiên‖ là công trình tiêu biểu Mối liên hệ này mang tính tất yếu, tạo nên xung lực cho quá trình phát triển của chủ nghĩa duy vật
Thứ hai, sự ảnh hưởng của tư tưởng triết học v văn hóa thời kỳ Phục hưng v thế kỷ XVII đến sự h nh th nh tư tưởng triết học của P Holbach trong tác phẩm “H th ng của tự nhiên”
Trải qua ―đêm trường Trung cổ‖ với triết học ―phụng sự cho nhà thờ‖ thì đến nửa đầu thế kỷ XIV - cuối thế kỷ XVI - văn hóa Phục hưng thể hiện tinh thần ―trở về‖ điểm chuẩn để tiếp tục tiến về phía trước Khá nhiều chủ đề được tìm hiều trong thời kỳ quá độ này, và đều mang những thông điệp tích cực Chủ nghĩa nhân văn, là trào lưu tư tưởng và văn hoá thời Phục hưng (thế
kỷ XV - XVI) ở châu Âu, chống lại trật tự chính trị phong kiến và nền chuyên chính tinh thần của giáo hội, đề cao nhân tính và giá trị con người Trong bầu không khí sôi sục của các cuộc đấu tranh giải phóng con người, các nhà nhân văn thời kỳ này đã xây dựng một hệ thống những quan điểm