Là một điểm sáng trong bức tranh triết học chung của thế giới, triết học Hy Lạp cổ đại đã đóng góp cho sự hình thành và phát triết tư tưởng triết học nhân loại những giá trị to lớn, đặt nền móng ban đầu cho các học thuyết triết học sau này phát triển, đặc biệt là đã cống hiến cho Triết học Mác Lênin những hạt nhân hợp lý.Không mờ nhạt như triết học phương đông, triết học cổ đại Hy Lạp đề cập một cách sâu sắc đến hầu hết các vấn đề cơ bản của triết học, đặc biệt là vấn đề bản thể luận và nhận thức luận những vấn đề của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Trang 1to lớn, đặt nền móng ban đầu cho các học thuyết triết học sau này phát triển, đặc biệt là
đã cống hiến cho Triết học Mác - Lênin những hạt nhân hợp lý
Không mờ nhạt như triết học phương đông, triết học cổ đại Hy Lạp đề cập mộtcách sâu sắc đến hầu hết các vấn đề cơ bản của triết học, đặc biệt là vấn đề bản thể luận
và nhận thức luận - những vấn đề của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
*Tư tưởng về bản thể luận
Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại không dừng lại ở sự nhận xét muôn hình muôn vẻcủa thế giới, họ đã đi tìm cơ sở của nó với cách quy nó về một nguyên nhân phổ biến,sâu sắc hơn về một nguyên thể đầu tiên Các nhà triết học duy vật thời kỳ này đã cố tình
“xây dựng nên mặt lý luận về thế giới, thế giới gồm có cái gì, và tác động như thế nàovào các khái niệm trong đời sống và lao động hàng ngày” Công lao của các nhà duy vật
Hy Lạp cổ đại là đã xây dựng được giả thiết về cơ cấu nguyên tử của vật chất Nét nổibật của triết học duy vật là các nhà triết học đều cho rằng thế giới là do vật chất tạothành, có vận động và có biến đổi, tuy rằng quan niệm vật chất tạo thành giới của mỗinhà triết học có khác nhau:
- Talet coi bản nguyên thế giới ông coi đó là nước, mọi sự vật hiện tượng đều đượcsinh ra từ nước và khi tiêu tan lại trở về với nước Nước là vĩnh viễn, bất diệt, cònnhững cái được sinh ra từ nó lại luôn biến đổi Đóng góp độc đáo của Talet cho tư duychính là ông quan niệm rằng, mặc dù có những sự khác biệt trong các sự vật khác nhau,nhưng vẫn có một sự giống nhau cơ bản giữa tất cả các sự vật ấy, và cái nhiều nhưngtương quan với nhau nhờ cái một Ông giả thiết rằng có một yếu tố duy nhất nào đó,một “chất liệu” nào đó chứa đựng nguyên lý hành động hay biến đối của chính nó và lànền tảng cho mọi thực tại vật lý
Trang 2- Anaximanđrơ cho rằng Ơpâyron là bản nguyên của thế giới Đây là một dạng vậtchất đơn nhất, bất định, vô hạn và tồn tại vĩnh viễn Ông còn cho rằng Ơpâyron lànguồn gốc vận động của các sự vật vì nó có chứa các mặt đối lập như nóng và lạnh, khô
và ướt, sinh ra và chết đi… Khái niệm bản thể của ông đã mang tính trừu tượng hơn
- Anaximen không khí là bản nguyên của thế giới Ngay cả các vị thánh cũng đượcsinh ra từ không khí.Không khí bằng cách loãng ra hoặc đặc lại mà tạo nên các sự vật Hớithở của con người cũng là không khí, linh hồn con người cũng rung động theo hơi thở…
- Hêraclit cho rằng lửa là bản nguyên của thế giới Lửa trao đổi với tất cả và tất cảtrao đổi với lửa giống như vàng trao đổi với hàng hoá “Cái chết của lửa là sự ra đời củakhông khí, từ cái chết của không khí sinh ra lửa” Hêraclit cho rằng thế giới không dothần thánh tạo ra mà “đã, đang và mãi mãi là ngọn lửa vĩnh hằng thường xuyên bùngcháy và lụi tàn một cách có quy luật”
- Đêmôcrít, cho rằng, nguyên tử là cơ sở cấu tạo nên vạn vật, nguyên tử là hạt vậtchất cực nhỏ, không nhìn thấy được, không phân chia được, không mùi vị, không âmthanh, không màu sắc, không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau về hình thức, trật tự
và tư thế Theo ông các sự vật hiện tượng đều do nguyên tử cấu tạo nên, các nguyên tửkết hợp với nhau theo một trật tự xác định, sự liên kết khác nhau đã quy định bản chấtkhác nhau của sự vật Sự xuất hiện hay mất đi của sự vật này hay sự vật khác là kết quảviệc kết hợp hay phân tán của các nguyên tử trong quá trình vận động trong khoảngkhông và tuân theo những quy luật tự nhiên Mọi biến đổi của sự vật thực chất là sựthay đổi trình tự sắp xếp của các nguyên tử tạo nên chúng.Còn bản thân mỗi nguyên tửthì không thay đổi gì cả
- Platôn quan niệm có hai thế giới tồn tại: Thế giới ý niệm tồn tại chân thực, vĩnhviễn, tuyệt đối và thế giới vật chất tồn tại cảm tính, tạm thời
Tóm lại: Dưới góc độ bản thể luận và vũ trụ quan sơ khai giá trị cống hiến của triết
học duy vật Hy Lạp cổ đại là phản ánh thế giới đúng đắn, có tác dụng thúc đẩy tiến bộ
xã hội, sản xuất, văn hoá, khoa học trong xã hội chiếm hữu nô lệ nói riêng và cho nhânloại nói chung Nét nổi bật của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại là tính chất mộc mạc thô
sơ của nó Nó giải thích tự nhiên trên quan điểm duy vật thuần phác, theo Ăngghen, đó
là “quan niệm về thế giới một cách nguyên thuỷ, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng” Cácnhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại khẳng định thế giới vật chất tồn tại khách quan Thế
Trang 3giới đó không do thần thánh hoặc do một lực lượng siêu nhiên nào tạo nên Quan niệmduy vật thô sơ của các nhà triết học Hy lạp cổ đại đã đóng góp vào trong cuộc đấu tranhchống chủ nghĩa duy tâm, chống tôn giáo, chống thần học cổ đại.
*Tư tưởng về nhận thức luận
- Các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã giải quyết đúng đắn mặt thứ hai củavấn đề cơ bản của triết học Họ cho rằng con người có khả năng nhận thức được thếgiới, nhận thức được chân lý khách quan
- Đối tượng của nhận thức theo họ không phải là thế giới ý niệm mà là thế giới vậtchất, là giới tự nhiên
- Họ là những người đầu tiên nêu lên cảm giác luận duy vật và cho rằng cảm giác
có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nhận thức Nhận thức lý tính không tách rời nhậnthức cảm tính, theo họ, đó là hai giai đoạn của quá trình nhận thức
- Họ đã đứng trên quan điểm nhận thức luận duy vật để chống chủ nghĩa duy lýduy tâm
Hêraclít cho rằng nhận thức cảm tính có vai trò rất quan trọng vì nó đem lại cho ta
sự hiểu biết xác thực và sinh động về các sự vật đơn lẻ, tuy nhiên cảm tính không giúpcon người nhận thức được logos của sự vật Chỉ có lý tính mới đem lại sự hiểu biết vềlogos, tuy nhiên không phải ai cũng có khả năng này mà chỉ các nhà thông thái mới hiểuđược logos
Đêmôcrit: ông đã có những quan điếm tiến bộ hơn, ông đã phân biệt sự khác nhaugiữa con người và con vật là ở chỗ trong con người chúng ta có nhiều nhiệt lượng hơn
và các chất cấu thành cũng sạch sẽ hơn so với động vật Ông đã định nghĩa con ngườinhư một động vật nhưng về bản tính, có khả năng học được bất kì cái gì, có chân tay,cảm giác và sự năng động trí tuệ làm trợ giúp cho mọi cái Ông đã chia nhận thức củacon người thành hai trình độ: nhận thức cảm tính và nhận thức chân lý(đáng tin cậy).Arixtôt: coi thế giới khách quan là đối tượng nhận thức, là nguồn gốc của cảm giác
và kinh nghiệm, coi tự nhiên là thứ nhất còn tri thức là thứ hai Ông chia nhận thức rathành hai giai đoạn là cảm tính và lý tính, trong đó cảm tính là điểm bắt đầu của mọi trithức (chủ nghĩa duy giác), còn lý tính là sản phẩm của linh hồn hay thượng đế
Trang 4Platôn Phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính (nhận thức lý tính có trước mangtính chân lý, nhận thức cảm tính lẫn lộn đúng sai).Nhận thức là sự hồi nhớ lại của linhhồn bất tử.
Như vậy, các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã có một trình độ nhận thức caohơn về thế giới, về con người, giúp cho con người có cách nhìn nhận đúng dắn hơn.Những lý luận nhận thức này là nền tảng cho những nghiên cứu khoa học của nhân loại,
đi tới sự phát triển cao hơn, tiến bộ hơn sau này
*Giá trị lịch sử đối với sự phát triển tư tưởng triết học nhân loại
- Lịch sử triết học cổ đại Hy Lạp là lịch sử hình thành và phát triển thế giới quanduy vật và thế giới quan duy tâm Nét nổi bật của chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại làtính chất mộc mạc, thô sơ.Tuy vậy, quan niệm duy vật thô sơ này đã có tác dụng rất lớntrong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, chống tôn giáo, chống thần học cổ đại
- Nhiều nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã nhận thức được và phát hiện nhiều yếu tốcủa phép biện chứng mà C.Mác và Ph.Ăngghen gọi đó là phép biện chứng tự phát, ngâythơ nhưng đó là hình thức đầu tiên, hình thức cổ đại của phép biện chứng
- Chủ nghĩa duy tâm trong triết học cổ đại đã có nhiều trào lưu khác nhau: chủnghĩa duy tâm chủ quan, chủ nghĩa duy tâm khách quan, chủ nghĩa hoài nghi - chủnghĩa bất khả tri cổ đại Chúng thường gắn với tín ngưỡng, tôn giáo và do đó thườngđược giai cấp thống trị sử dụng như một công cụ tinh thần của mình
Câu 2: Cống hiến và hạn chế của CNDV trong triết học cổ điển Đức? Giá trị lịch sử và ý nghĩa của vấn đề trong bảo vệ, triết học Mác?
*Điều kiện kinh tế - xã hội
Cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, Anh và Pháp đã là những nước tư bản, trongkhi đó, nước Đức vẫn là nước phong kiến lạc hậu, được gọi là: “đế quốc La Mã thầnthánh của dân tộc Giécmanh” với gần 300 nhà nước nhỏ có lãnh địa phong kiến điểnhình của thần quyền và thế quyền
Do chịu ảnh hưởng của cách mạng tư sản Anh, Pháp, tình hình của nước Đức đầuthế kỷ XIX có những biến đổi sâu sắc: từ 300 nhà nước nhỏ chỉ còn vài chục, tư tưởng
tự do và luật pháp tư sản từng bước được áp dụng trong các nhà nước này; sản xuất,kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển Trong khi đó, quânđội Phổ bị Pháp đánh bại và chiếm đóng nhiều vùng đất đã mất sức chiến đấu.Tình hình
Trang 5đó đã làm sôi sục tình thần dân tộc của giai cấp tư sản và nhân dân Đức trong cuộc đấutranh chông chủ nghĩa phong kiến.
Do ra đời từ một nền công nghiệp chưa phát triển lại bị quan hệ phong kiến chèn
ép, giai cấp tư sản Đức không đủ mạnh, không thống nhất, thậm chí hèn nhát buộc phảithoả hiệp với giai cấp địa chủ phong kiến Sự thoả hiệp giữa hai giai cấp này đã quyđịnh và thể hiện rõ nét tính quy định đối với sự hình thành, tồn tại, phát triển của nềntriết học cổ điển Đức đầu thế kỷ XIX
Khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX đã đạt được những thànhtựu xuất sắc.Các phát minh của Lômônôxốp (người Nga), Lavoađiê (người Pháp),Đantôn (người Anh) đã vạch ra phép biện chứng của tự nhiên, thúc đẩy kỹ thuật và côngnghiệp phát triển.Những tiến bộ lớn về khoa học đã tác động, ảnh hưởng trực tiếp đếnnền triết học Đức thời kỳ này
Triết học cổ điển Đức là sự tiếp tục và phát triển tất yếu của những trào lưu tưtưởng triết học tiên tiên thế kỷ XVII- XVIII Đó là triết học của R.Đềcáctơ, Ph.Bêcơn,B.Xpinôda, G.V.Lépnít, G.Lôccơ… và những nhà khai sáng Đức thế kỷ XVIII… Tồntại của nước Đức đầu thế kỷ XIX đã in dấu ấn sâu sắc trong nền triết học cổ điển Đức:tính chất duy tâm, sự thoả hiệp, nửa vời và bảo thủ của nó Mặt khác, thực tiễn cáchmạng ở châu Âu, thành tựu khoa học tự nhiên và tư tưởng triết học duy vật Anh và Pháp
đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng biện chứng và duy vật trong triết học cổ điển Đức Triết học cổ điến Đức với những nét riêng do nền tảng chính trị, xã hội và tư tưởngcủa thời kỳ này quy định là đỉnh cao của thời kỳ triết học cổ điển ở phương Tây và cóảnh hưởng to lớn tới triết học hiện đại Kant, Hêghen và Phoiơbắc là nhừng đại biểu lớncủa triết học cổ điển Đức, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển triết học vào cuốithế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, góp phần làm cho triết học cổ điển Đức trở thànhmột tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác
Về khía cạch duy vật, Kant và đặc biệt là Phoiơbắc là những nhà triết học cónhững đóng góp đặc biệt quan trọng
- Immanuel Kant (1724 - 1804)
Kant là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng phươngTây Triết học Kant là nền tảng và là điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại.Mặc dù
Trang 6còn có những điểm hạn chế nhưng những đóng góp của ông cho triết học là không thểphủ nhận.
Về cơ bản, Kant đã thể hiện như một nhà duy vật tự nhiên.Ông coi cả thế giới nhưmột chỉnh thể vật chất, mọi sự vật luôn vận động và biến đổi không ngừng, tương táclẫn nhau thông qua lực hút và lực đẩy.Ông là người đầu tiên khám phá ra ảnh hưởng củalực hấp dẫn giữa trái đất và mặt trăng đối với các hiện tượng thuỷ triều
Đi xa hơn các nhà duy vật trước đây, Kant nhận thấy thế giới không phải từ đầu đã
có được trạng thái như hiện nay mà là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài theohướng ngày càng hoàn thiện tự nhiên Kant có sự giải thích thiên tài về sự hình thành hệthống mặt trời.Ông dự đoán ngoài thiên hà của chúng ta còn có các thế giới khác
Hạn chế của Kant là ở chỗ ông theo thuyết “không thể biết" Kant đã chia thế giớithành hai phần: thế giới hiện tượng và thế giới "vật tự nó" Thế giới hiện tượng là thếgiới mà chúng ta nhìn thấy còn thế giới vật tự nó lại là bản chất của các sự vật, hiệntượng.Giữa hai thế giới này có ranh giới tuyệt đối không thể vượt qua Vì vậy con ngườikhông thể nhận thức được bản chất của thế giới
Triết học của Phoiơbắc mang tính chất nhân bản.Nó chống lại nhị nguyên luận về
sự tách rời giữa tinh thần và thể xác.Ông coi ý thức tinh thần cũng là một thuộc tính đặcbiệt của vật chất có tổ chức cao là óc người.Từ đó cho phép khẳng định mối quan hệkhăng khít giữa tồn tại và tư duy Phoiơbắc không chỉ chống lại chủ nghĩa duy tâm màvới triết học nhân bản của mình ông còn đấu tranh chống nhừng quan điểm duy vật tầmthường quy các hiện tượng tâm lý, tinh thần về các quá trình lý hóa, không thấy sự khácnhau về chất giữa chúng
Trang 7Mặt tích cực trong triết học nhân bản của Phoiơbắc còn thể hiện ở chỗ ông đấutranh chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo Thiên chúa, đặc biệt là quanniệm về thượng đế Trái với các quan niệm truyền thống của tôn giáo và thần học chorằng thượng đế tạo ra con người Ông khẳng định chính con người sáng tạo ra thượng
đế Phoiơbắc phủ nhân mọi thứ tôn giáo và thần hoc về một vị thượng đế siêu nhiênđứng ngoài sáng tạo ra con người, chi phối cuộc sống của con người
Triết học của Phoiơbắc cũng bộc lộ những hạn chế Đó là khi ông đứng trên lậptrường của chủ nghĩa tự nhiên để xem xét mọi hiện tượng thuộc về con người và xã hội.Con người trong quan niệm của Phoiơbắc là con người trừu tượng, khi xã hội mangnhững thuộc tính sinh học bẩm sinh Triết học nhân bản của Phoiơbắc chứa đựng nhữngyếu tố của chủ nghĩa duy tâm Ông nói rằng bản tính con người là tình yêu, tôn giáocũng là một tình yêu Do vậy, thay thế cho thứ tôn giáo tôn sùng một vị thượng đế siêunhiên cần xây dựng một thứ tôn giáo mới phù họp với tình yêu của con người Ông chorằng cần phải biến tình yêu thương giữa người với người thành mối quan hệ chi phốimọi mối quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội.Trong điều kiện của xã hội tư sảnĐức thời đó, với sự phân chia và đối lập giai cấp thì chủ nghĩa nhân đạo của Phoiơbắctrở thành trừu tượng và duy tâm
Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, Phoiơbắc lại phủ nhậnluôn phép biện chứng vốn là "hạt nhân hợp lý” của Hêghen
Mặc dù còn nhừng hạn chế, triết học của Phoiơbắc vẫn có ý nghĩa to lớn trong lịch sửtriết học và trở thành một trong những nguồn gốc lý luận quan trọng của triết học MácTóm lại: Triết học cổ điển Đức là thế giới quan và hệ ý thức của giai cấp tư sảnĐức cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế ký XIX Các đại biểu của thời kỳ này đều xuất thân
từ tầng lớp thượng lưu trong xã hội Họ đều thể hiện nguyện vọng của giai cấp tư sảnĐức muốn đấu tranh cho một trật tự xã hội mới và được sự cổ vũ của giai cấp tư sản cácnước phát triển hơn Đức nhưng khác với giai cấp tư sản vốn triệt để cách mạng, giai cấp
tư sản Đức lại muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc đang thống trị
Triết học cổ điển Đức đã đem lại một cách nhìn mới về thực tiễn xã hội và tiếntrình lịch sử của nhân loại; đặc biệt đề cao vai trò hoạt động của con người, thực hiệnbước ngoặt trong lịch sử tư tưởng triết học phương Tây từ chỗ chủ yếu bàn về các vấn
đề bản thể luận, nhận thức luận, đến chỗ bàn về con người như một chủ thể, từ tồn tại
Trang 8đến hoạt động Kế tục tư tưởng của triết học cổ đại về đề tài con người và khuynhhướng đề cao con người từ thời Phục hưng, Kant lần đầu tiên coi con người là một chủthể đồng thời lại là kết quả của quá trình hoạt động của mình, khẳng định thực tiễn caohơn lý luận Tuy nhiên các nhà triết học cổ điển Đức lại đề cao trí tuệ và sức sáng tạocủa con người đến mức cực đoan Kant và Hêghen thần thánh hóa năng lực của con và
đi đến quan niệm duy tâm, khẳng định không chỉ xã hội mà cả mọi vật trong tự nhiênđều là kết quả của hoạt động con người
Ớ khía cạnh duy vật, Phoiơbắc đã phát triển chủ nghĩa duy vật lên đến một tầm caomới, khác với các quan điểm duy vật tầm thường khác Phoiơbắc cũng như các bậc tiềnbối của thời kỳ này đã quá đề cao con người, quy triết học về nhân bản học Tuy nhiên,ông lại hiểu con người theo nghĩa trần tục, bằng xương, bằng thịt nên lại gặp phải hạnchế khác trong triết học của mình: duy vật máy móc
Trong suốt lịch sử ra đời và phát triển của mình bất đầu từ thời cổ đại cho đến triếthọc cổ điển Đức và sẽ còn tiếp tục phát triển, chủ nghĩa duy vật thông qua các trườngphái triết học cũng như những nhà duy vật tiêu biểu của thời đại với các quan điểm tiến
bộ về thế giới quan hay nhận thức luận đã chứng minh được sức sống của mình qua cácthời kỳ cụ thê
Ứng với các thời kỳ khác nhau của triết học đều tồn tại các quan điểm duy vật đặctrưng Từ chỗ chỉ là những nhận thức trực quan, chất phác có xen lẫn yếu tố duy tâmcủa triết học thời kỳ cổ đại đến bước đầu quan điểm duy vật siêu hình, máy móc vào thế
kỷ XV và phát triển đến đỉnh cao với triết học cổ điển Đức, chủ nghĩa duy vật đã chứng
tỏ là tiền đề đáng tin cậy cho một sự phát triển cao hơn của chính bản thân mình, đó làchủ nghĩa duy vật biện chứng sau này
Trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật ngày càng chứng
tỏ là có cơ sở khoa học và chủ nghĩa duy vật với cách nhìn khoa học đối với thế giới đã
có nhiều đóng góp vĩ đại cho sự phát triển của triết học, khoa học nói riêng và cho xãhội nói chung
Câu 3.Tư tưởng biện chứng của triết học phương Tây cổ đại?Giá trị lịch sử đối với sự phát triển triết học nhân loại?
*Bối cảnh ra đời của triêí học Hy Lạp cổ đại
Trang 9- Là một trong những “chiếc nôi” của nền văn minh cổ đại, Hy Lạp không chỉ nổitiêng với những thành tựu của khoa học tự nhiên, văn học, nghệ thuật mà còn có nềntriết học phát triển rực rỡ gồm những hệ thống, trường phái, học thuyết triết học nổitiếng với tên tuổi của những triết gia lớn,
- Khởi đầu cho sự ra đời và phát triển của triết học phương Tây và nhân loại Cơ sở
để hiểu và đánh giá chính xác những công hiến và các hạn chế của triết học Hy Lạp cổđại là nắm vững bối cảnh lịch sử, xã hội của sự ra đời và phát triên của nền triết họcnày
- Vào thời nguyên thuỷ, ở Hy Lạp, văn học dân gian, thần thoại và trường ca nổitiếng của Hôme đã chứa đựng những quan niệm của người Hy Lạp cổ về các hiện tượngphức tạp của tự nhiên và xã hội Đó là mầm mống của những tư tưởng triết học Vàokhoảng thế kỷ thứ VII-VI tr.CN, chế độ chiêm hữu nô lệ đã được xác lập và phát triển,triết học với tư cách là hệ thống những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới
và vai trò của con người trong thế giới đã chính thức ra đời
- Chế độ đìiếm hữu nô lệ được hình thành và phát triên gắn liền với việc sử dụng
đổ sắt đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và giao lưu,buôn bán ngày càng mở rộng với quy mô lớn, dẫn đến sự ra đời của các thành bang, cáctrung tâm kinh tế, văn hóa lớn, nổi bật là thành bang Aten và spac
- Chiến thắng của Hy Lạp trong chiến tranh với Ba Tư (thế kỷ IV tr.CN) đã giúp
họ mở rộng đất đai, lãnh thổ và tầm ảnh hưởng lớn đến nhiều khu vực của phương Đông
xa xôi Giao lưu kinh tế, thương mại, văn hóa và khoa học là những điêu kiện thuận lợithúc đẩy triết học và khoa học tự nhiên phát triển
- Cuộc đâu tranh giai cấp giữa chu nô và nô lệ không chỉ tác động đến đời sống kinh
iế, chính trị, xã hội mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời của triết học và quá trìnhđấu tranh giữa hai đường lối duy vật và duy tâm Nhờ chế độ chiếm hữu nô lệ mà giai cấpchủ nô Hy Lạp có được đặc lợi, đặc quyền và điểu kiện để nghiên cứu, sáng tạo, cốnghiến cho triết học.- Những yếu tố biện chứng tự phát trong triết học Talet có ý nghĩa quantrọng trong lịch sử triết học Ông cho rằng vật chất (nước) thì tồn tại vĩnh viễn còn mọivật do nó sinh ra thì biến đổi không ngừng, sinh ra và chết đi Toàn bộ thế giới là mộtchỉnh thể thống nhất trong đó mọi vật biến đổi không ngừng mà nước là nền tảng
Trang 10- Theo Anaximăngđrơ thì Apâyrôn là nguồn gốc sinh ra vạn vật đồng thời là cơ sởvận động của vạn vật Nhờ Apâyrôn nảy ra những mặt đối lập nhau như nóng-lạnh, khô-ướt, sinh ra và chết đi… Ông cũng là người đầu tiên nêu ra và giải quyết mối quan hệgiữa cái toàn thể và cái bộ phận Theo ông cái bộ phận luôn biến đổi còn cái toàn thể làcái bất biến, nghĩa là tổng thể vật chất thì không biến đổi còn các dạng vật chất cụ thểthì thường xuyên biến đổi, chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác.
- Phép biện chứng của Hêracrit được trình bày dưới dạng hệ thống các luận điểmkhoa học:
+ Ông quan niệm vận động của vật chất là vĩnh viễn; không có sự vật, hiện tượngnào của thế giới đứng im tuyệt đối mà trái lại tất cả đều trong trạng thái biến đổi vàchuyển hoá thành cái khác và ngược lại Theo ông nguồn gốc của mọi sự thay đổi là lửa.+ Ông đã nêu lên tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sựvật hiện tượng
+ Theo Hêracrit thì sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới là do quiluật khách quan (mà ông gọi là logos) qui định Logos khách quan là trật tự khách quancủa mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ.Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, suynghĩ của con người.Logos khách quan phải phù hợp với logos chủ quan nhưng nó biểuhiện ở từng người khác nhau
- Theo Empêđôclơ thì mọi sự vật đều có quá trình được sinh ra và bị mất đi (sinhtử) đó chính là sự hợp và phân của 4 căn nguyên: đất, nước, không khí và lửa Nguồngốc của sự vận động đó là do sự tác động của hai lực đối lập là tình yêu và căm thù.Tình yêu làm cho các căn nguyên kết hợp lại với nhau còn căm thù thì là cho chúng táchrời nhau Đây là một bước thụt lùi
- Anannago, dưới hình thức sơ khai, đã nêu lên tư tưởng biện chứng về mối liên hệphổ biến giữa các sự vật Ông cho rằng sự biến hoá về chất giữa các sự vật là do sù thaythế phần lớn trong nó các hạt giống của sự vật Và ông giải thích sự vận động của những
“phần tử đồng nhất” bằng một lực ở bên ngoài mà ông gọi là lực Nusơ
- Lơxip thì cho rằng vận động chỉ là sự di chuyển vật thể trong không gian Tuynhiện ông đã đề cập đến tính nhân quả tất yeué trên quan điểm quyết định luận duy vật,chống lại mục đích luận của chủ nghĩa duy tâm.Ông khẳng định “Không một sự vật nào
Trang 11phát sinh một cách vô cớ mà tất cả đều phát sinh trên một căn cứ nào đấy và do quá tínhtất nhiên”.
- Đêmôcit kế thừa quan điểm của Hêracrit cho rằng mọi sự vật biến đổi khôngngừng.Quan điềm của ông về vận động của nguyên tử là vĩnh viễn và nguyên nhân là ởbản thân nguyên tử, ở động lực tự thận, tự nó Đồng thời ông thừa nhận sự ràng buộctheo qui luật nhân quả, tính tất nhiên và tính khác quan của các hiện tượng tự nhiên
- Arixtôt thừa nhận tự nhiên là toàn bộ sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vậnđộng và biến đổi, không có bản chất của sự vật tồn tại ở bên ngoài sự vật, hơn nữa sựvật nào cũng là một hệ thống và có quan hệ với các sự vật khác Ông cho rằng vận độnggắn liền với các vật thể, với mọi sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên.Ông cũng đãkhẳng định vận động là không thể bị tiêu diệt, đã có vận động và mãi mãi có vận động.Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã nghiên cứu phép biện chứng cốt chỉ để nâng caonghệ thuật tranh luận, nghệ thuật hùng biện để bảo vệ những luận điểm triết học của mình
và để tìm ra chân lí Kết quả của quá trình nghiên cứu này, nhiều nhà triết học đã nhậnthức được và phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng như mối liên hệ giữa các sựvật, hiện tượng, sự vận động vĩnh viễn của vật chất; tính thống nhất của những mặt đốilập của sự vật, tính nhân quả của sự phát sinh, phát triển và diệt vong của sự vật Nhữngyếu tố biện chứng đó là những phỏng đoán thiên tài về những nguyên lí và qui luật củaphép biện chứng mà Mác, Ăngghen gọi là phép biện chứng tự phát, ngây thơ.Nó chưađược chứng minh một cách khoa học và cũng chưa được nghiên cứu một cách tự giác, có
ý đồ, có mục đích từ đầu.Đó là hình thức đầu tiên, hình thức cổ đại của phép biện chứng.Nghiên cứu lịch sử phát sinh phát triển của triết học nói chung, của triết học duyvật Hy Lạp cổ đại nói riêng một lần nữa giúp chúng ta nhìn nhận rõ ràng được sự kế tục,
kế thừa của văn minh nhân loại và triết học Trên cơ sở đó cho ta thấy được những giátrị cống hiến của các nhà triết học duy vật cổ đại, đặt nền tảng phương pháp luận cho sựphát triển triết học duy vật biện chứng sau này, là tiền đề cơ sở lý luận cho sự phát triểncủa khoa học tự nhiên, liên kết chặt chẽ giữa triết học và các khoa học tự nhiên, đề ranhiệm vụ cho khoa học hiện đại
Qua nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại giúp ta nắm được điều kiện kinh tế-xã hội
và văn hoá của xã hội Hy Lạp cổ đại, hiểu được cội nguồn lịch sử văn hoá và các vấn đềhiện đại của xã hội phương Tây Thấy được mầm mống, là một trong những cái nôi của
Trang 12mọi dạng thế giới quan sau này.Trong công tác nghiên cứu khoa học, học tập và giảngdạy giúp cho chúng ta thấy được những mặt tích cực và hiểu biết sâu thêm về giá trị lịch
sử văn hoá phương Tây, để phát huy củng cố niềm tin duy vật triệt để, vào triết học Mácxít Vận dụng nó vào các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các lĩnh vựchoạt động thực tiễn của đời sống xã hội, đồng thời kiên quyết phê phán các trào lưu tưtưởng lợi dụng chủ nghĩa duy tâm để tuyên truyền xuyên tạc chống lại Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta hiện nay Với tinh thần kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hoá nhân loạichúng ta phải biết kế thừa có chọn lọc những yếu tố tích cực hợp lý của tư tưởng duyvật Phải có quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và thái độ đúng đắn với tưtưởng duy vật mặc dù nó còn thô sơ mộc mạc và phép biện chứng còn sơ khai, coi đónhư là nền văn hoá văn minh nhân loại
Câu 6: Phân tích điểm khác biệt giữa THPT cổ, trung đại với THPĐ cổ, trung đại Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu?
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ đượcthay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của xã hội và đặcbiệt sự tồn tại này ở xã hội phương Đông khác hẳn với phương Tây về cả điều kiện tựnhiên, địa lý dân số mà hơn cả là phương thức của sản xuất của phương Đông là phươngthức sản xuất nhỏ còn phương Tây là phương thức sản xuất của tư bản do vậy mà cáiphản ánh ý thức cũng khác
1 Mục đích của triết học
Sự ra đời của triết học trước hết xuất phát từ những đòi hỏi của cuộc sống; => triếthọc có vị trí đặc biệt quan trọng; sự tồn tại của triết học không phải vì bản thân của triếthọc mà bởi vì nó cần cho cuộc sống.Tuy vậy, mục đích của hai nền triết học cũng có sựkhác nhau
- Ptây: nhận thức để cải tạo thế giới; triết học trở thành công cụ giúp cho con ngườichinh phục tự nhiên
- PĐ: Xây dựng những con người lý tưởng, khôi phục lại “trật tự xã hội đã mất”(Nho giáo) hay “ giải thoát” con người (Phật giáo), làm cho con người “hòa đồng” vớithiên nhiên (Đạo giáo)…
2 Phương pháp tiếp cận của triết học
Trang 13- Ptây: Thường đi từ thế giới quan, bản thể luận đến nhân sinh quan, nhận thứcluận, lô gic học, từ đó tạo nên một hệ thống tương đối hoàn chỉnh, chặt chẽ PTây nhìnchung có xu hướng đi từ thực thể ban đầu tạo nên thế giới như nước, lửa, không khí,nguyên tử…
- PĐông: các nhà tư tưởng lớn lại đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan Việc đề cậptới giới tự nhiên xét đến cùng cũng là nhằm để lý giải về con người và xã hội loài người
Sự khác nhau về phương pháp tiếp cận của triết học Phương đông và triết họcphương tây xuất phát từ nguyên nhân sau đây:
+ Phương Đông không tồn tại chế độ nô lệ quy mô điển hình như ở Phương tây.Trong khi đó, Hy Lạp sự xuất hiện của nhà nước lại hoàn toàn ngược lại
+ Sự xuất hiện của đồ sắt đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng.Chế độ nguyên thủy được “thanh toán” một cách nhanh chóng và triệt để.Quan hệ sảnxuất mới ra đời và trên cơ sở đó hình thành nhà nước Như vậy, theo quy luật ở PhươngTây cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Còn ở Phương Đông, kiến trúcthượng tầng lại hình thành trước và thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng
3 Đối tượng nghiên cứu của triết học
Từ phương pháp tiếp cận, mục đích của hai nền triết học có sự khác nhau mà đốitượng nghiên cứu của triết học Phương Đông và Phương Tây cũng có sự khác nhau
- Ptây: Đối tượng của triết học rất rộng, bao gồm toàn bộ giới tự nhiên, xã hội và
tư duy con người, trong đó tự nhiên là cơ sở
Vì lấy tự nhiên làm cơ sở nên triết học có xu hướng ngả sang “hướng ngoại” tức làlấy cái bên ngoài giải thích cho cái bên trong, hướng hoạt động của con người ra thếgiới tự nhiên
Đề cao “văn minh vật chất” do vậy triết học Phương Tây hơi ngả về duy vật.Hướng ngoại và ngả về duy vật
- PĐông: Là xã hội, là con người cá nhân, là cái “Tâm” và nhìn chung nó lấy conngười làm gốc
- Triết học PTây đề cao tri thức khoa học (duy khoa học) mà rất ít bàn đế nhữngvấn đề đao đức, lương tâm hay trách nhiệm…
Trang 14- Triết học PĐông lại đề cao tình cảm, chỉ cần sống tốt…(duy ý chí) Điều này dẫnđến xã hội Phương Tây luôn phát triển năng động còn các xã hội Phương Đông thường
có xu hướng bình lặng, đi vào ổn định
- Triết học Phương Tây ngả về tư duy duy ý, phân tích, sự vật hiện tượng thì triếthọc Phương Đông lại nghiêng về trực giác
4 Phương pháp luận
- PTây phân biệt rõ chủ thể và khách thể, chủ quan và khách quan, người nhậnthức và đối tượng nhận thức thì ở Phương Đông chủ trương để nhận thức sự vật conngười cần phải hòa mình vào đối tượng
- Triết học PTây thường có những sự biến đổi nhảy vọt mang tính cách mạng, vạchthời đại Phương Đông lại nghiêng về sự phát triển tuần tự.Triết học Phương Đông có
sự phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, đi sâu vào từng chi tiết
- Về PBC: Tiết học PTây nghiêng về đấu tranh, nghiêng về vận động và phát triểntheo chiều hướng đi lên…Thì triết học PĐông lại đề cao sự thống nhất, coi vận động vàphát triển là những vòng tuần hoàn, thậm chí là những vòng tròn khép kín
5 Triết học Phương Tây gắn với khoa học tự nhiên còn triết học Phương Đông gắn với chính trị xã hội.
- Từ sự khác biệt về cơ sở KT-XH=> sự khác biệt về TT TH
- Trong quá trình nhận thức các sự vật hiện tượng tự nhiên, xã hội và con người,các nhà triết học Phương Tây đã dựa vào các thành tựu của khoa học tự nhiên nên xuhướng chủ đạo của triết học là duy vật Triết học phương đông ít khi tồn tại dưới dạngtriết học thuần túy Tư tưởng triết học thường “lẩn khuất” đằng sau những học thuyếtchính trị xã hội và tôn giáo
6 Triết học Phương Tây mang tính giai cấp trực diện còn triết học Phương Đông thì tính giai cấp mờ nhạt…
- Phương Tây sự phân chia các hình thái kinh tế xã hội ở Phương Đông không rõ nét.Nguyên nhân: Chế độ quốc hữu hóa về ruộng đất và sự tồn tại dai dẳng của công
xã nông thôn đã làm cho sự phát nhiển của các xã hội Phương Đông có tính chất “tiệmtiến” mà ít có những biến đổi nhảy vọt