Nó giúp cho các em thêm yêu quí tiếng Việt, góp phần làm giàu đẹp và phong phú thêm vốn sống cho các em, giúp các em có nhiều điều kiện để học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác ở bậ
Trang 1I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1/ Đặt vấn đề:
Trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học, từ láy được dạy trong phân môn Từ ngữ và các phân môn khác thuộc môn Tiếng Việt và trong giờ học của các môn học khác Như vậy, nội dung dạy về từ láy trong chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học nói chung ở tiểu học, chiếm một tỉ lệ đáng kể Điều đó nói lên ý nghĩa quan trọng của việc dạy từ láy ở bậc tiểu học Vốn từ là một trong những bộ phận cấu thành của ngôn ngữ, cho nên muốn dạy cho học sinh nắm tiếng mẹ đẻ, không thể không coi trọng việc dạy vốn từ láy cho học sinh Trong giao tiếp thông thường, cả người phát (nói, viết) và người nhận (nghe, đọc) đều cần nắm được từ láy, hiểu từ láy và sử dụng từ láy một cách chính xác, thì việc giao tiếp mới diễn ra suôn sẻ, đạt được hiệu quả Nhất là đối với học sinh độ tuổi tiểu học, khi mà vốn tiếng Việt nói chung, vốn từ láy nói riêng ở các em còn hạn chế, cần phải được bổ sung, phát triển để đáp ứng các nhu cầu học tập, giao tiếp Từ láy trong tiếng Việt góp phần rất lớn trong việc gợi tả sắc thái, biểu cảm, làm bộc lộ hết cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ nói chung và văn bản văn chương nói riêng Việc nắm vững từ láy rất quan trọng đối với học sinh tiểu học Nó giúp cho các em thêm yêu quí tiếng Việt, góp phần làm giàu đẹp và phong phú thêm vốn sống cho các em, giúp các em có nhiều điều kiện để học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác ở bậc tiểu học Vì vậy, việc dạy từ láy cho học sinh càng được coi trọng, không thể dạy lướt qua
Trước tình hình học sinh đã học lớp 5, khi học đến phần từ láy mà bản chất từ láy các em không hiểu, thậm chí còn không phân biệt được các từ láy đơn giản và thông thường nên nó là mối quan tâm và lo ngại của giáo viên chủ nhiệm Từ thực tế kỹ năng nhận biết từ láy của học sinh còn yếu, chưa đạt yêu cầu cơ bản của học sinh cuối cấp ở bậc tiểu học Do vậy, tôi đi sâu nghiên cứu
đề tài: “Những biện pháp khắc phục sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi
học phần từ láy (lớp 5).”
2/ Mục đích của đề tài:
Đề tài nhằm giúp học sinh hiểu sâu hơn về từ láy, nhất là học sinh lớp 5 Các em phải đạt yêu cầu về nắm bắt tính chất cơ bản của từ láy, không còn mắc lỗi phổ biến và có khả năng nhận biết và vận dụng tốt từ láy vào các phân môn Từ ngữ, Ngữ pháp, Tập làm văn và các môn học khác
Mặt khác, đề tài này cũng giúp học sinh hiểu được bản chất của từ láy trên
cơ sở sách giáo khoa hiện hành
3/ Lịch sử đề tài:
Trang 2Đề tài mà tôi nghiên cứu cũng đã được đề cập đến ít nhiều trong các giáo trình về phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt ở trường Sư phạm
Tuy nhiên, các giải pháp nêu trong giáo trình là những giải pháp khắc phục cho học sinh tiểu học nói chung Ở đây, tôi đi sâu thống kê thực trạng, tìm nguyên nhân, thể nghiệm những giải pháp cụ thể đối với học sinh lớp 5, nhằm giúp các em hiểu rõ từ láy tiếng Việt theo yêu cầu của chương trình bậc tiểu học
4/ Phạm vi đề tài:
Đề tài này bao gồm các biện pháp đã thực hiện trong năm học trước và năm học này, nhằm thực hiện cho đối tượng học sinh khối lớp 5, nhất là đối với học sinh yếu kém môn Tiếng Việt
II/ NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM:
1/ Thực trạng đề tài:
Tâm lý hiện nay, việc học về từ láy đối với các em rất ngại hay nói đúng hơn là sợ do còn yếu và ít thực hành về từ láy Thời gian tập trung cho việc học phần từ láy còn ít Do vậy, giáo viên chạy theo sự ràng buộc của phân phối chương trình, thường dạy kiến thức cơ bản là chính Từ đó, học sinh ít phát triển được năng lực tư duy, tìm tòi sáng tạo trong khi học phần từ láy, không hình thành được kỹ năng khái quát hóa, trừu tượng hóa của trí lực học sinh
Năm học 2004 – 2005, được sự thống nhất của giáo viên chủ nhiệm khối lớp 5 và sự cho phép của Ban giám hiệu Sau khi học xong phần từ láy, tôi thống kê các sai lầm của học sinh trong khối lớp 5 để tìm nguyên nhân và có biện pháp khắc phục ngay để đến cuối năm ôn tập về từ láy các em đạt kết quả tốt hơn
Sau khi đề tài đạt hiệu quả khá tốt, năm học 2005 – 2006, tôi tiếp tục áp dụng đề tài này cho khối lớp 5 trường tôi ngay từ đầu năm học
Sau khi học hết phần từ láy, tôi ra đề kiểm tra các kiến thức về từ láy Khối lớp 5 trường tôi có 124 học sinh, với 124 bài, qua thống kê tôi nhận thấy thực trạng những sai lầm của học sinh nhiều nhất là:
- Khái niệm về từ láy:
+ Chưa đạt yêu cầu: 21 bài / 124bài (16,9%) + Đạt yêu cầu: 103 bài / 124 bài (83,1%)
- Phân biệt từ láy với từ ghép:
+ Chưa đạt yêu cầu: 19 bài / 124 bài (15,3%) + Đạt yêu cầu: 105 bài / 124 bài (84,7%)
- Nghĩa của từ láy:
+ Chưa đạt yêu cầu: 15 bài / 124 bài (12,1%) + Đạt yêu cầu: 109 bài / 124 bài (87,9%)
Trang 3- Nhận biết và sử dụng từ láy:
+ Chưa đạt yêu cầu: 25 bài / 124 bài (20,2%) + Đạt yêu cầu: 99 bài / 124 bài (79,8%)
Qua thống kê trên, tôi nhận thấy học sinh khối lớp 5 trường tôi mắc nhiều sai lầm do những nguyên nhân sau:
- Chưa hiểu đầy đủ về khái niệm từ láy:
VD: Đánh dấu (x) vào ô trống kết quả nào đúng:
Từ “cồng kềnh” là từ láy
Từ “cồng kềnh” là từ ghép
Từ “êm ái” là từ láy
Từ “êm ái” là từ ghép
Có em không biết xác định 2 từ trên là từ láy
- Lẫn lộn từ láy với từ ghép:
VD: Trong các từ sau, từ nào là từ láy, từ nào là từ ghép:
Mặt mũi, thập thò, phập phồng, tươi tốt, đi đứng, bối rối
Có em xác định từ “tươi tốt” là từ ghép, còn lại là từ láy
- Chưa hiểu rõ nghĩa từ láy:
VD: Trong các từ láy sau, từ láy nào có nghĩa giảm nhẹ so với từ gốc, từ láy nào có nghĩa mạnh hơn so với từ gốc:
Đèm đẹp, vui vui, thăm thẳm, bừng bừng, đo đỏ, bực bội
Có em xác định từ: “đèm đẹp”, “vui vui” là từ láy có nghĩa mạnh hơn so với từ gốc: “đẹp, vui” Từ: “thăm thẳm, bừng bừng” là từ láy có nghĩa giảm nhẹ
so với từ gốc: “thẳm, bừng”
- Chưa nhận biết và sử dụng tốt từ láy:
VD: Chọn từ láy thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau:
Tiếng chuông xe đạp không ngớt Tiếng còi ô tô xin đường gay gắt Tiếng thùng nước va vào nhau ở một cái vòi nước công cộng.
(Từ láy cần điền là: loảng xoảng; pin pin; lanh canh)
Có em làm như sau: Tiếng chuông xe đạp pin pin không ngớt tiếng còi ô tô lanh canh xin đường gay gắt Tiếng thùng nước va vào nhau loảng xoảng ở một
cái vòi nước công cộng.
2/ Nội dung cần giải quyết:
Từ thực trạng của học sinh khối lớp 5 trường tôi, sau khi tìm ra nguyên nhân, tôi cần giải quyết những vấn đề sau:
- Giúp học sinh hiểu đầy đủ về khái niệm từ láy
- Giúp học sinh phân biệt giữa từ láy và từ ghép
- Giúp học sinh hiểu rõ nghĩa từ láy
- Giúp học sinh có kỹ năng về nhận biết và sử dụng từ láy
Trang 43/ Biện pháp giải quyết:
a/ Rèn luyện học sinh hiểu rõ khái niệm từ láy:
Khi dạy phần khái niệm từ láy, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ:
- Ngoài những từ láy có tiếng gốc rõ nghĩa như:
Xa xa xa; đẹp đèm đẹp;
Còn có những từ láy trong đó không xác định được tiếng gốc như: lững thững; thướt tha; nhí nhảnh; dí dỏm;
- Có một số từ trong đó một trong hai tiếng đã mất nghĩa
VD: Chùa chiền; thịt thà; gậy gộc; máy móc;
- Có một số từ mà các tiếng trong từ được biểu hiện trên chữ viết không có phụ âm đầu
VD:
+ Ồn ã; ấm áp; im ắng; ít ỏi; óng ả;…(những từ này xác định được tiếng gốc)
+ Ấp úng; oái oăm; óc ách; õng ẹo; ỏn ẻn; (những từ này không xác định được tiếng gốc)
Các từ láy trên là từ láy âm vì chúng cùng vắng khuyết phụ âm đầu được láy lại, lặp lại
- Ngoài ra, giáo viên cần giúp cho học sinh hiểu: Không để hình thức chữ viết của từ đánh lừa
VD: Cập kênh; cồng kềnh; cũ kỹ; kém cỏi; quanh co; là những từ láy âm (phụ âm đầu “cờ” được ghi bằng các con chữ khác nhau: c, k, q)
b/ Giáo viên giúp học sinh phân biệt từ láy với từ ghép:
Sách giáo khoa tiếng Việt lớp 5 định nghĩa từ láy: “Từ gồm hai hoặc ba,
bốn tiếng trong đó có một bộ phận của tiếng được lặp lại hoặc cả tiếng được lặp lại, gọi là từ láy.”
Định nghĩa trên chủ yếu nhấn mạnh các dấu hiệu hình thức của từ láy Cho nên, trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ thêm các trường hợp sau:
- Có một số từ trong đó có một bộ phận được lặp lại nhưng không phải là từ láy mà là từ ghép
VD: Mặt mũi; tươi tốt; đi đứng; nhỏ nhẹ; buôn bán;
Các tiếng trong từ trên đều có nghĩa Quan hệ giữa hai tiếng trong từng từ chủ yếu là quan hệ về nghĩa (nghĩa tổng hợp) Các từ ghép này có hình thức âm thanh ngẫu nhiên giống từ láy
Trang 5- Ngoài ra, có một số từ trong đó có một bộ phận được lặp lại nhưng không phải là từ láy mà là từ ghép gốc Hán
VD:Bình minh;hảo hạng;khắc khổ;ban bố; căn cơ; hoan hỉ; chuyên chính;
Các từ trên là từ ghép gốc Hán có hình thức âm thanh ngẫu nhiên giống từ láy Các tiếng trong từ này đều có nghĩa
VD: Ban bố:
+ Ban: ban hành
+ Bố: công bố
Các từ trên, quan hệ giữa hai tiếng trong từng từ cũng là quan hệ về nghĩa (nghĩa tổng hợp)
- Có những từ được kết hợp hai từ đơn Hai từ đơn ngẫu nhiên có điểm giống nhau về hình thức âm thanh (giống nhau về phụ âm đầu hoặc vần)
VD: Sáng sớm; bế bé; lên lớp; học đọc;
Nói tóm lại, khi dạy đến phần này, giáo viên cần nhấn mạnh với học sinh: Khi gập từ có hình thức âm thanh giống nhau mà không xác định được đó là từ ghép hay từ láy thì các em xác định nghĩa của từng tiếng trong từ Nếu cả hai tiếng trong từ đều có nghĩa thì đó là từ ghép, còn trong từ một tiếng có nghĩa và một tiếng không có nghĩa hoặc cả hai tiếng đều không có nghĩa thì đó là từ láy
c/ Giúp học sinh hiểu rõ nghĩa từ láy:
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 giới thiệu cho học sinh hai dạng nghĩa cơ
bản: “Từ láy có nghĩa mạnh hơn so với nghĩa từ gốc” và “Từ láy có nghĩa giảm
nhẹ so với nghĩa từ gốc”.
Khi dạy về nghĩa của từ láy cho học sinh, giáo viên cần nói rõ: Nghĩa của từ láy rất phong phú, đa dạng mà dạng giảm nhẹ hoặc mạnh hơn (so với nghĩa từ gốc) chỉ là hai dạng cơ bản trong sự phong phú, đa dạng ấy Nói như vậy để học sinh tránh hiểu sai là nghĩa của từ láy chỉ có hai dạng ấy mà có một số từ láy nghĩa của nó so với nghĩa của tiếng gốc có những sắc thái rất mới mẻ, tinh tế, cụ thể, rõ nét, xác định hơn, gợi tả hơn
VD:
+ Nhỏ nhỏ nhắn; nhỏ nhoi; nhỏ nhen; nhỏ nhẻ
+ Lạnh lạnh lùng; lạnh lẽo
- Khi cho học sinh xác định từ láy nào có nghĩa giảm nhẹ hoặc mạnh hơn
so với nghĩa từ gốc thì trước hết, giáo viên gợi ý để học sinh tìm ra từ đơn là từ gốc trong từ láy Sau đó, hướng dẫn học sinh đối chiếu nghĩa của từ láy với nghĩa của từ đơn là từ gốc
Trang 6Riêng đối với từ láy có nghĩa giảm nhẹ chẳng hạn, nếu nghĩa từ láy thay đổi theo hướng giảm nhẹ về mức độ thì ta kết luận ngay từ láy ấy có nghĩa giảm nhẹ so với nghĩa từ gốc
VD: Xanh xanh = hơi xanh; xa xa = hơi xa; mằn mặn = hơi mặn;
Còn đối với từ láy có nghĩa mạnh hơn, nếu nghĩa của từ láy thay đổi theo hướng mạnh hơn về mức độ thì ta kết luận từ láy ấy có nghĩa mạnh hơn
VD: Bực bực bội; sạch sạch sành sanh;
d/ Rèn luyện học sinh có kỹ năng nhận biết và sử dụng từ láy:
* Bài tập về nhận biết từ láy: có hai dạng
+ Dạng 1: Cho sẵn các từ ngữ thuộc nhiều loại như: Từ ghép bình thường (như: nhà cửa, đất nước, ), từ ghép có hình thức âm thanh dễ lẫn lộn với từ láy (như: tươi tốt, mặt mũi, ), từ láy bình thường (như: đẹp đẽ, xinh xắn, ), từ láy khó nhận biết (như: quanh co, ấm áp, ), và cả cụm từ có hình thức âm thanh giống từ láy (như: trên trời, đả đành, ) rồi yêu cầu học sinh nhận biết từ láy
VD: Gạch dưới từ láy trong các từ ngữ sau đây: nhà cửa, mặt trời, bối rối,
may mắn, đi đứng, bao bọc, quanh co, cáu kỉnh, cuống quýt, êm ái, ít ỏi, ao ước,vỡ bờ, giã giò.
Dạng bài tập này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh như sau:
Trước hết cần loại bỏ những trường hợp không phải là từ mà là cụm từ,
gồm hai từ đơn như: vỡ bờ, giã giò.
Dựa vào những đặc trưng của từ láy, loại bỏ tiếp những từ mà hai tiếng
không có hình thức âm thanh giống nhau như: nhà cửa, mặt trời, những từ mà hai tiếng có quan hệ về âm thanh nhưng cả hai tiếng đều có nghĩa như: đi đứng,
bao bọc.
Cuối cùng, cần chú ý tới những từ láy khó nhận biết, dễ nhầm lẫn như:
quanh co, cuống quýt, êm ái, ít ỏi.
Bằng cách hướng dẫn trên, học sinh dễ dàng tìm ra các từ láy sau: bối
rối, may mắn, quanh co, cáu kỉnh, cuống quýt, êm ái, ít ỏi, ao ước.
+ Dạng 2: Cho một đoạn văn, câu văn trong đó có từ láy, yêu cầu học sinh nhận biết từ láy trong câu văn, đoạn văn ấy
VD: Trong đoạn văn sau đây, có tất cả bao nhiêu từ láy? Em hãy ghi các từ láy cùng một kiểu thành từng cột riêng:
BÉ
Hôm nay gió ngoài sông Hậu vẫn thổi vào lồng lộng Bé lại leo lên cây dừa.
- Đúng má đánh rô-ô-ồ-ì !
Tiếng Bé thét lên lanh lảnh
- Má đốt bót rô-ô-ồ-ì !
Trang 7Tiếng súng lớn dồn dập Tiếng reo của Bé bay xuống lẫn vào trong tiếng bơi xuồng hối hả trên dòng kênh xanh xanh.
- Má xung phong rồi nghen! Tiến lên má-á-á !
Tiếng Bé kéo dài văng vẳng Dưới bóng cây um tùm, các cô du kích đang chạy theo má Tiếng súng quân ta xung phong diệt đồn nổ rộn rã.
Dạng bài tập này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc kỹ đoạn văn rồi
tìm ra các từ có hình thức âm thanh giống nhau như: lồng lộng; leo lên; lanh
lảnh; dồn dập; hối hả; xanh xanh; văng vẳng; um tùm; các cô; rộn rã.
Sau đó dựa vào định nghĩa từ láy, nhớ lại đặc trưng của từ láy, loại bỏ
dần những từ cả hai tiếng đều có nghĩa như: leo lên (2 từ đơn); các cô (2 từ đơn).
Bằng cách này, học sinh sẽ tìm ra các từ láy trong đoạn văn là: lồng
lộng; lanh lảnh; dồn dập; hối hả; xanh xanh; văng vẳng; um tùm; rộn rã.
Cuối cùng, giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào các kiểu từ láy (láy âm, láy vần, láy tiếng, láy cả âm lẫn vần) để ghi các từ láy cùng một kiểu như:
Láy tiếng: xanh xanh.
Láy âm: dồn dập; hối hả; rộn rã.
Láy vần: um tùm.
Láy cả âm lẫn vần: lồng lộng; lanh lảnh; văng vẳng.
* Bài tập về sử dụng từ láy: Có 2 dạng
+ Dạng 1: Điền từ láy thích hợp vào đoạn văn
Dạng bài tập này có ngữ cảnh là đoạn văn, trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kỹ đoạn văn để sơ bộ nắm nội dung đoạn văn, tìm câu chủ đề trong đoạn văn (câu chủ đề của đoạn văn là câu mang nội dung thông tin chính, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ chủ ngữ, vị ngữ và phần lớn trường hợp đều đứng ở
vị trí đầu đoạn văn) Đối với các đoạn văn mà chủ đề của đoạn được đặt thành tên riêng, học sinh cần đặc biệt quan tâm tới tên chủ đề, vì trong tên chủ đề bao hàm nội dung khái quát của đoạn văn
Sau đó, giáo cho học sinh lần lượt đọc từng câu trong đoạn Ở từng chỗ trống trong câu, dựa vào ngữ cảnh, thể loại, phong cách ngôn ngữ của đoạn văn để hiểu nội dung từng câu văn Học sinh tiếp tục đọc các từ láy cho sẵn để hiểu nghĩa từng từ, chọn các từ láy thích hợp để điền vào chỗ trống Điền xong, cần đọc lại đoạn văn đã điền từ, dựa vào ngữ cảm, xem đã hợp lý, thỏa đáng hay chưa
VD: Chọn từ láy thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau:
ÂM THANH THÀNH PHỐ
Một buổi tối mùa hè, từ căn gác nhỏ của mình, Hải có thể nghe thấy tất cả các âm thanh náo nhiệt, ồn ã rất quen thuộc của thành phố thủ đô thân yêu.
Trang 8Tiếng chuông xe đạp không ngớt Tiếng còi ô tô xin đường gay gắt Tiếng thùng nước va vào nhau ở một cái vòi nước công cộng.
Tiếng ve kêu trong những đám lá cây bên đại lộ Tiếng dữ dội của một cái đầu máy xe lửa đang xả hơi Tiếng còi tàu hỏa thét lên cùng với tiếng bánh
xe đập trên đường ray như sắp lao vào thành phố Và tiếng máy bay trực thăng đang băng đi trên bầu trời đen sẫm Rồi tất cả như im lặng hẳn để nghe tiếng đàn vi-ô-lông trên một cái ban công, tiếng pi-a-nô ở một cái gác
ba, hay một giọng nam của một nghệ sĩ đơn ca đang luyện giọng.
(Các từ cần điền: réo rắt, rền rĩ, vun vút, trầm trầm, lanh canh, ầm ầm, loảng xoảng, sầm sập, thánh thót, xì xì, pin pin)
(Tiếng Việt 5 tập 1 trang 90)
Bài tập trên là một đoạn văn có chủ đề (Âm thanh thành phố), học sinh cần bám sát vào chủ đề, đọc kỹ đoạn văn để nắm nội dung từng câu và đoạn văn Sau đó, học sinh đọc các từ cần điền để hiểu nghĩa từng từ
VD:
Câu: “Tiếng chuông xe đạp không ngớt.” (câu này diễn tả âm thanh của chuông xe đạp nên học sinh cần tìm từ láy diễn tả âm thanh của chuông xe đạp để điền vào chỗ trống )
Trong các từ láy cần điền, sau khi đọc kỹ và hiểu nghĩa các từ, học sinh sẽ tìm ra được từ láy có nghĩa diễn tả âm thanh chuông xe đạp để điền vào chỗ trống câu trên
Từ: lanh canh (diễn tả âm thanh chuông xe đạp)
Hiểu nghĩa câu và từ như vậy, các em sẽ dễ dàng tìm được từ hợp nghĩa
để điền vào câu: “Tiếng chuông xe đạp lanh canh không ngớt.”
Tương tự như vậy, học sinh sẽ dễ dàng chọn đúng các từ láy thích hợp để điền vào chỗ trống
ÂM THANH THÀNH PHỐ
Một buổi tối mùa hè, từ căn gác nhỏ của mình, Hải có thể nghe thấy tất cả các âm thanh náo nhiệt, ồn ã rất quen thuộc của thành phố thủ đô thân yêu.
Tiếng chuông xe đạp lanh canh không ngớt Tiếng còi ô tô pin pin xin đường gay gắt Tiếng thùng nước va vào nhau loảng xoảng ở một cái vòi nước công cộng.
Tiếng ve kêu rền rĩ trong những đám lá cây bên đại lộ Tiếng xì xì dữ dội của một cái đầu máy xe lửa đang xả hơi Tiếng còi tàu hỏa thét lên cùng với tiếng bánh xe đập trên đường ray sầm sập như sắp lao vào thành phố Và tiếng máy bay trực thăng ầm ầm đang băng đi vun vút trên bầu trời đen sẫm Rồi tất cả như im lặng hẳn để nghe tiếng đàn vi-ô-lông réo rắt trên một cái ban công,
Trang 9tiếng pi-a-nô thánh thót ở một cái gác ba, hay một giọng nam trầm trầm của một nghệ sĩ đơn ca đang luyện giọng.
+ Dạng 2: Học sinh tìm từ láy và đặt câu với từ tìm được:
Dạng bài tập này, học sinh cần đọc kỹ yêu cầu đề bài để nắm được phải tìm từ và đặt câu theo chủ đề nào? Sau đo,ù tìm từ láy thích hợp theo chủ đề, phải hiểu nghĩa từ láy của mình tìm Rồi tìm mô hình câu thích hợp tương ứng với từng từ đã tìm, phù hợp với nội dung chủ đề
VD: Tìm 4 từ láy đôi dùng để tả cảnh thiên nhiên Đặt câu có nội dung miêu tả cảnh vật thiên nhiên với mỗi từ láy đó
(bài tập 1, sách tiếng việt 5 tập 1 trang 87)
Bài tập này, học sinh tìm từ láy đôi, chủ đề tả cảnh thiên nhiên
Dạng bài tập này, trước hết, các em tìm từ láy đôi tả cảnh thiên nhiên rồi tìm mô hình câu thích hợp tương ứng với từng từ vừa tìm Cần dựa vào nghĩa của từ vừa tìm để đặt câu có nội dung phù hợp với nội dung của chủ đề Cuối cùng, học sinh điền từ láy vào mô hình câu ấy rồi xem lại câu có đủ bộ phận chính hay chưa? Nghĩa của câu phù hợp với chủ đề hay không? (ý các câu không nhất thiết phải gắn với nhau)
Với bài tập trên, các em cần tìm từ láy đôi tả cảnh thiên nhiên và từ đó các em phải hiểu nghĩa, ví dụ: lộp độp (mô phỏng tiếng của vật nhỏ, mềm rơi từ trên xuống, nghe thưa, không đều Như giọt mưa rơi) Sau đó, học sinh tìm mô hình câu thích hợp với nghĩa của từ láy trên, ví dụ: Những giọt nước mưa rơi trên mái nhà
Cuối cùng, học sinh điền từ láy vào mô hình câu đã tìm và dùng bút chì phân tích bộ phận chính của câu Nếu có đủ 2 bộ phận chính thì các em sẽ được câu hoàn chỉnh, phù hợp với chủ đề
Những giọt nước mưa rơi lộp độp trên mái nhà
Tương tự như vậy, các em sẽ thực hiện tốt phần còn lại của bài tập
4/ Kết quả đạt được:
Để nắm được sự chuyển biến của học sinh, đến cuối năm, sau khi áp dụng đề tài này, tôi cho cả khối lớp 5 làm kiểm tra ở phần từ láy và kết quả đạt được như sau:
- Khái niệm về từ láy:
+ Đạt yêu cầu: 123 bài / 124 bài (99,2%)
+ Chưa đạt yêu cầu: 1 bài / 124 bài (0,8%)
- Phân biệt từ láy với từ ghép:
+ Đạt yêu cầu: 122 bài / 124 bài (98,4%)
+ Chưa đạt yêu cầu: 2 bài / 124 bài (1,6%)
- Về nghĩa của từ láy:
Trang 10+ Đạt yêu cầu: 124 bài / 124 bài (100%)
+ Chưa đạt yêu cầu: 00
- Kỹ năng nhận biết và sử dụng từ láy:
+ Đạt yêu cầu: 122 bài / 124 bài (98,4%)
+ Chưa đạt yêu cầu: 2 bài / 124 bài (1,6%)
III/ KẾT LUẬN:
1/ Tóm lược giải pháp:
Từ kết quả thu được, qua sự chuyển biến của học sinh, cho phép tôi khẳng định rằng:
Muốn giúp học sinh học tốt phần từ láy, giúp cho tiết Tiếng Việt đạt kết quả tốt, đòi hỏi người giáo viên phải thật sự kiên trì, phải thật sự có tâm huyết với nghề và áp dụng qua các bước sau:
- Bước 1: Tìm ra, thống kê những sai lầm của học sinh khi học phần từ láy
- Bước 2: Tìm biện pháp khắc phục, tức là biết áp dụng các phương pháp dạy khoa học phù hợp với các sai lầm của học sinh khi học phần từ láy
Đối với học sinh yếu kém, cần củng cố sâu hơn về khái niệm của từ láy, nghĩa của từ láy Tăng cường luyện tập với các dạng bài tập khác nhau tạo thành kỹ năng học từ láy tiếng Việt
Ban đầu đối với giáo viên và học sinh rất khó khăn do còn mới lạ, nhưng tứ cái mới lạ có cơ sở khoa học sẽ tạo cho học sinh có thói quen tốt và trở thành kỹ năng học tiếng Việt
- Bước 3: Tiếp tục rút kinh nghiệm cho năm học tới
2/ Phạm vi, đối tượng áp dụng:
Tôi thiết nghĩ rằng, những sai lầm khi học phần từ láy của học sinh ở trường tôi, qua khảo sát, thống kê cũng là những lỗi phổ biến ở bậc tiểu học hiện nay trong nhà trường Mặc dù kết quả của kinh nghiệm này còn hạn chế, nhưng trong quá trình thực hiện cũng mang lại rất nhiều khả quan, đã khắc phục, hạn chế nhiều sai lầm của học sinh trong học phần từ láy Do đó, tôi nghĩ rằng đề tài này có thể áp dụng ở huyện vì nó phù hợp với các đối tượng học sinh mà nhất là học sinh lớp 5
Người viết
Trương Công Nghệ