Như vậy, về giải phẫu tuyến tiền liệt là cấu trúc không đồng nhất, gồm tổ chức tuyến và tổ chức xơ cơ, phát triển quanh niệu đạo, dưới cổ và sàn bàng quang.. KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM Khi bệnh
Trang 1KHUNG CHẬU NAM
Mục tiêu học tập
1 Trình bày vai trò và các chỉ định của siêu âm trong khảo sát các cơ quan ở khung chậu nam, chủ yếu là tuyến tiền liệt và bàng quang.
2 Trình bày kỹ thuật khám và giải phẫu siêu âm khung chậu nam.
3 Mô tả hình ảnh siêu âm một số bệnh lý thường gặp của tuyến tiền liệt và bàng quang.
Khung chậu nam liên quan chủ yếu với bộ phận tiết niệu thấp: bàng quang, tuyến tiền liệt, túi tinh và một số cấu trúc phụ: mạch máu tổ chức mỡ và màng bụng
Ðây là vùng có tính chất giải phẫu - chức năng, ngã tư sinh dục - tiết niệu Đư-ờng chiếu siêu âm thưĐư-ờng dùng là đưĐư-ờng trên xương mu và đưĐư-ờng trong trực tràng
I NHẮC LẠI GIẢI PHẪU TUYẾN TIỀN LIỆT
Về giải phẫu - X Quang, tuyến tiền liệt cổ điển chia ra 3 thùy: thùy giữa và 2 thùy bên Hình dạng nón trụ, đáy là bàng quang, đỉnh (apex) liên quan với mặt sau trực tràng Phủ lên phần sau trên của tuyến là túi - ống tinh gồm túi tinh và bóng dẫn tinh
và kết thúc bằng ống phóng tinh thông ra niệu đạo ở ụ núi (veru montanum)
Trọng lượng tuyến tiền liệt bình thường: 15 - 20 gam
Thực ra thì tuyến tiền liệt phức tạp hơn thế nhiều Nó chia ra 5 vùng, mỗi vùng
có tính chất giải phẫu - bệnh lý khác nhau
Trong thực tế về ghi hình y học, các vùng này được chia ra tuyến trong hay trung tâm
và tuyến ngoài hay ngoại vi
Sự phân chia này không trùng lặp với cách phân chia cổ điển là đuôi tuyến tiền liệt liên quan với thùy bên và đầu tuyến tiền liệt (craniale) liên quan với ống phóng tinh
Như vậy, về giải phẫu tuyến tiền liệt là cấu trúc không đồng nhất, gồm tổ chức tuyến và tổ chức xơ cơ, phát triển quanh niệu đạo, dưới cổ và sàn bàng quang
Siêu âm qua đường trực tràng sẽ thấy tuyến trong gồm phần trước, giữa, và trên, là cấu trúc giảm âm, tương ứng với tổ chức xơ-cơ phía trước, tổ chức tuyến
Trang 2quanh niệu đạo, và một vùng chuyển tiếp Phần thứ hai là tuyến ngoài, cấu trúc tăng
âm, đồng nhất hơn, nằm phía sau và hai bên tuyến, tương ứng với vùng giữa và ngoại
vi của mô tuyến
Tuyến phát triển khác nhau theo tuổi, mô tả như trên là ở người trẻ Càng già, tuyến càng quá sản lành tính Về giải phẫu và âm học, đó là loại u xơ phát triển ở trung tâm, đẩy phần tuyến còn lại ra ngoại vi
Ngược lại nếu ung thư biểu mô tuyến (adénocarcinome) bao giờ cũng thay đổi
ở phần ngoại vi
Về lâm sàng, thường dùng thăm dò hậu môn để đánh giá mật độ, sự mềm mại,
và sự đều đặn tỉa bờ tuyến
II KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM
Khi bệnh nhân được thăm dò trực tràng và định lượng kháng nguyên (markers) nghi bệnh lý tuyến tiền liệt thì cần kiểm tra siêu âm bàng quang - tuyến tiền liệt bằng đường bụng để đánh giá thận, bàng quang và đường trực tràng để đánh giá hình thái, cân đối và cấu trúc âm tuyến tiền liệt
Cũng có thể đo kích thước tuyến tiền liệt và đánh giá tồn đọng bàng quang (résidu vésical) Cuối cùng, có thể qua siêu âm làm sinh thiết
Siêu âm tuyến tiền liệt có thể làm qua nhiều đường:
- Trên xương mu
- Tầng sinh môn
- Trong trực tràng
- Trong niệu đạo
Nhưng thông dụng nhất là đường trên xương mu và trong trực tràng
1 Ðường trên xương mu
Dùng đầu dò quét cơ học hay đầu dò quét bảng áp điện tử
Cần làm cho bàng quang đầy nước tương đối để ép quai ruột xuống Nhưng quá căng, sẽ không nhìn rõ đỉnh tuyến tiền liệt và hạ thấp sàn chậu hông Hơn nữa, bệnh nhân sẽ đau thêm, khó chịu, tăng nguy cơ ứ đọng ở người đã có tuyến tiền liệt to
Hạn chế của đường này là khi bụng dưới bệnh nhân bị băng bó, có sẹo, hay đang đặt ống thông trên xương mu thì khó làm và không rõ
Trang 3Tần số đầu dò từ 3 - 5 MHz Phải đặt độ khuếch đại cho phù hợp tùy vùng tuyến, bàng quang, nhất là thành ở nông cần xem
Cần làm thêm các thăm dò hình thái thận để phát hiện các biến đổi của đài bể thận
Siêu âm không đánh giá được chức năng mà phải làm UIV Những trường hợp giãn đài bể thận, UIV có thể phát hiện những điều mà siêu âm bỏ qua Khảo sát thận còn biết được cả phần sau phúc mạc, hạch, gan, trường hợp bệnh lan rộng
Ngoài ra, đường trên xương mu còn cho biết cặn bàng quang, nhưng phải trên 50ml mới coi là bệnh lý
2 Ðường tầng sinh môn (périnéal)
Thực tế ít dùng từ khi có đường trong trực tràng Tuy nhiên, trong một số ca, với đầu dò thích hợp nhất là tần số 5MHZ, ta khảo sát được hố tiền hệt tuyến bằng các tia vành xung quanh Ðường này có hạn chế là khi đáy chậu giữa bị xơ thì giảm âm nhiều
3 Ðường trong trực tràng (endo - rectal)
Ðường này có lợi nhưng cần nhiều dụng cụ Tốt nhất phải có đầu dò 2 mặt (sondes bi - plans) Ðầu dò thẳng đo được chiều cao của tuyến, hướng dẫn chọc dò qua tầng sinh môn hoặc qua trực tràng
Tần số có thể từ 5 - 7 MHz - Trước khi cho đầu dò vào, cần cho thêm 1bóng nhỏ để sau đó bơm nước vào cho bóng này căng lên Bóng căng sát thành trực tràng làm cho không khí hoặc dịch phân không lọt vào gây giả ảnh khi xét nghiệm Bệnh nhân nằm nghiêng, cẳng chân gấp nhẹ, khi nước vào bóng đủ để khu trú tiêu điểm của đầu dò vào trung tâm tuyến, thì tiến hành siêu âm, sau đó xì nước ra, giả ảnh lúc này nếu có cũng không trở ngại Nên thăm dò trực tràng trước khi cho đầu dò vào
4 Ðường trong niệu đạo (endo urétrale)
Không thuộc phạm vi tài liệu này, chủ yếu là trong nội soi
III KẾT QUẢ GIẢI PHẨU SIÊU ÂM BÌNH THƯỜNG
Tùy theo nơi đặt đầu dò, giải phẫu siêu âm có những nét khác nhau:
1 Ðường trên xương mu
Tuyến tiền liệt có hình quả trứng trên mặt cắt ngang và hình tam giác trên mặt cắt dọc Cổ bàng quang được coi như cái mốc hình khuyết nhỏ, đỉnh ở dưới Phía trên tuyến tiền liệt có túi tinh hình "ria mép", đôi khi ở giữa lồi ra, đó là bóng ống dẫn tinh
Trang 4Bàng quang thành mỏng, bờ đều.
Xem ở thời gian thực, có thể thấy hình ảnh nước tiểu từ 2 niệu quản nhỏ xuống bàng quang, xác định 2 lỗ niệu quản
Về phía bên, theo đường xuyên bàng quang, thấy mạch chậu đập Túi cùng Douglas bình thường ở dạng ảo Bệnh lý: có thể có dịch
Ðường trên xương mu, không thấy rõ đỉnh tuyến tiền liệt vì bị xương mu che lấp Ðiều kiện kỹ thuật tốt, có thể phân biệt được tuyến trong hồi âm kém hơn tuyến ngoài
Sau khi đi giải, xem được cặn bàng quang
2 Ðường trong trực tràng
Trên mặt cắt ngang, tuyến tiền liệt có hình giam giác, bán nguyệt, thấy sự đối xứng của tuyến trong, giảm âm, và thường có chỗ lồi nhỏ ở phía trước tuyến tiền liệt
Nó tương ứng với mô xơ-cơ phía trước, vùng quanh niệu đạo và vùng trung tâm
Làm cho ánh sáng đồng tâm nhất là ở phía sau, ta thấy được tuyến ngoài, liên quan với vùng giữa và ngoại vi Nó đồng nhất với chỗ lõm nhỏ ở giữa sau tuyến, tương ứng với rãnh giữa sờ thấy khi thăm hậu môn
Tuyến tiền liệt được bao quanh bằng một viền tăng âm không phải bao tuyến
mà là lớp mỡ xung quanh Trong là những cấu trúc tròn, nhỏ, không tăng âm, nhất là phía trước, tương ứng với đám rối tĩnh mạch quanh tuyến
Cơ nâng hậu môn rất dễ thấy so với đỉnh tuyến Các cơ bịt trong cũng được dùng làm mốc, suốt toàn bộ chiều cao tuyến Ðó là các cấu trúc đối xứng của tuyến tiền liệt được phân tách bởi mỡ và các đám rối tĩnh mạch
Ðỉnh tuyến có hình ảnh giảm âm, tròn, vì hướng của mặt phẳng cắt liên quan tới
co thắt vân ngoài Cũng có thể thấy thành trực tràng dưới dạng một viền tăng âm từ 2 - 4mm, đặc biệt với đầu dò tần số cao
Trên mặt cắt dọc, ta phân biệt được tuyến trong và tuyến ngoài Ðặc biệt nhìn thấy cổ bàng quang, và hướng này đo được chiều cao tuyến rất tốt
Nếu điều kiện tối ưu, nhìn thấy niệu đạo dưới dạng một viền tăng âm ở trung tâm Bình thường không phân biệt được ống phóng tinh
Cần chú ý một số người, có làm cả niệu động học bằng cách cho đi giải để kiểm tra cổ bàng quang mở
Trang 5Ðường này cịn nhìn rõ túi tinh, đặc biệt ở mặt cắt ngang Chúng thường khơng đối xứng, dài, hình bầu dục, và giảm âm, đơi khi cĩ hồi âm nhỏ bên trong Kích thước túi tinh thay đổi theo tuổi và đời sống sinh dục người bệnh Bĩng ống dẫn tinh thấy ở giữa và trịn
3 Kích thước tuyến tiền liệt vùng bàng quang
Tiến liệt tuyến được coi như hình e-líp (ellipsọde) trịn xoay Thể tích tuyến tính bằng cm3 theo cơng thức
2
hxlxe
V =
Trong đĩ: h: chiều cao, l: chiều rộng, e: bề dày, đo được vào khoảng 15 - 20cm3
ở người trẻ
Cơng thức này cũng dùng tính thể tích cặn bàng quang sau khi đi giải Dự đốn trọng lượng tuyến qua thăm dị hậu mơn hay siêu âm khơng quyết định cho phẫu thuật
mà chính rối loạn chức năng và ảnh hưởng đến tiết niệu trên mới là quan trọng
Theo đường trên xương mu, thường đo được trọng lượng tồn phần của tuyến Ðường trong trực tràng lại xác định trọng lượng u xơ chính xác hơn Ðối chiếu siêu âm
và phẫu thuật qua nhiều tác giả cho thấy sai lầm chung khơng vượt quá 10%
IV CÁC DẠNG BỆNH LÝ
1 Bệnh tuyến tiền liệt
Cĩ 2 bệnh quan trọng: u xơ và ung thư
1.1 U xơ
U xơ bắt đầu phát triển từ vùng tuyến quanh niệu đạo và vùng chuyển tiếp tương ứng với tuyến trong (theo phân loại mới) hoặc phần đầu tuyến (craniale, theo phân loại cổ điển)
Tuyến biến dạng đều, đẩy dần tuyến ngồi ra xa và ép lại
Bờ tuyến vẫn đều
Sự phì đại này mang cấu trúc nhân (nodulaire) kèm theo các nang nhỏ cùng với các chấm vơi hĩa quanh niệu đạo hay thành chùm ở 2 thùy bên
Phì đại lành tính ở phần trước - bên tuyến, cĩ thể phát triển lên cao làm cho thùy giữa dưới sâu bàng quang lồi lên Về giải phẫu, thùy giữa nằm sau tam giác cổ
Trang 6bàng quang nên thăm trực tràng không thấy Nhưng siêu âm qua đường trên xương mu lại nhìn rõ, đường trong trực tràng không nét lắm nếu phì đại quá to
Phì đại có thể dưới dạng giả - u mà siêu âm dễ phát hiện ra đó là tuyến tiền liệt Phì đại có thể là thùy giữa đơn độc, hoặc kết hợp với phì đại các thùy bên
Siêu âm đường trên xương mu hay trong trực tràng có thể cùng lúc xác định
đư-ợc trọng lượng tuyến toàn phần và trọng lượng nhân u xơ
Ða số tác giả đồng ý nếu tuyến nặng 60 gam trở lên có chỉ định bóc u xơ qua đường bàng quang, nhỏ hơn thì vẫn chỉ định cắt qua niệu đạo
Khi siêu âm phát hiện u xơ kết hợp với triệu chứng lâm sàng rõ, phải xem thêm ảnh hưởng đến hệ niệu trên và cặn bàng quang, để có chỉ định điều trị
1.2 Ung thư tuyến tiền liệt
Ung thư tuyến tiền liệt là nguyên nhân tử vong đứng thứ 2 sau ung thư phổi - phế quản, trong ung thư ở đàn ông trên 60 tuổi Các trường hợp phát hiện được ung thư tuyến tiền liệt là nhờ:
- Thăm trực tràng hệ thống ở người chưa có triệu chứng
- Nhân đi khám bệnh tiết niệu
- Làm tổ chức học khi mổ u (qua bàng quang hay niệu đạo)
- Hoặc có biến chứng như di căn xa
Thường ung thư tuyến tiền liệt ở vùng ngoại biên 20% số ca u bắt đầu từ vùng chuyển tiếp, 10% bắt đầu từ vùng trung tâm Hai trường hợp sau, ở giai đoạn đầu, thăm trực tràng không phát hiện được Tuy nhiên, khi nào cũng cần thăm, dù lâm sàng đầy đủ dù chỉ thấy mặt sau của tuyến này Nên định lượng kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA :antigene prostatique spécifique), rất nhạy, nhưng không đặc hiệu lắm
Siêu âm còn giúp cho tổng kê tổn thương tại chỗ, hướng dẫn chọc dò - sinh thiết qua tầng sinh môn hay trực tràng để đánh giá sự lan rộng của ung thư
1.2.1 Siêu âm qua trực tràng
Nhìn thấy u dưới dạng một vòng tròn, bờ không đều, giảm âm, thường phát triển ở ngoại vi Trường hợp này, độ nhạy cảm của siêu âm là tuyệt vời nhưng đặc hiệu
có mức độ, còn các nhân viêm đều chung một hình ảnh khó phân biệt
Trang 71.2.2 Chẩn đoán phân biệt các nhân giảm âm
- Ðám rối tĩnh mạch quanh tuyến tiền liệt có hình ảnh giống nhân, nhưng siêu âm phân biệt được ngay qua trục lớn của mạch
- Nang bầu dục tuyến tiền liệt (utricule prostatique) ở phía trên ụ núi cũng giảm âm hoặc vô âm, với độ lớn thay đổi
Hai hình ảnh đó là cái bẫy siêu âm
Ung thư có thể đồng hoặc tăng âm, kèm biến dạng bờ viền chẩn đoán được khẳng định bằng chọc dò sinh thiết dưới siêu âm
Nếu u ở vùng chuyển tiếp hay trung tâm, sinh thiết cũng có thể làm qua đường trực tràng: Tuy nhiên, cùng hình ảnh tổ chức học cũng không cho phép khu trú chính xác vùng tổn thương vì hình ảnh quá sản thường lẫn lộn với tái tạo trong tuyến tiền liệt
Sau cùng, siêu âm giúp tổng kê sự lan tràn của ung thư ra xung quanh Nếu thấy bao tuyến tiền liệt vỡ là chắc chắn nhưng chẩn đoán khó khăn Siêu âm qua trực tràng
có thể phân tích được lớp mỡ quanh tuyến, bờ tuyến biến dạng và không đều Nó cũng phát hiện được u lan ra đám rối tĩnh mạch quanh tuyến khi tổn thương này vượt quá 1,5 cm, hoặc lan ra túi tinh, sàn bàng quang và thành trực tràng Các dữ kiện này cần
đo chính xác bằng cắt lớp điện toán và cộng hưởng từ trước khi điều trị Sự lan rộng ra xung quanh có thể theo đường bạch huyết hoặc đường máu, đến xương và hạch Xương thường đặc lại ở vùng chậu và cột sống Hạch thường ở nhóm bịt, nhóm chậu ngoài, chuỗi chậu gốc và thắt lưng - chủ Lan theo đường bạch huyết, siêu âm khó phát hiện hơn, phải dùng kỹ thuật khác Cũng cần tìm di căn nội tạng (phổi, gan, thượng thận)
1.2.3 Theo dõi sau điều trị
Ðối với ung thư sau mổ cắt bỏ hoặc điều trị nội khoa dùng siêu âm qua trực tràng theo dõi tốt hơn thăm trực tràng Tóm lại nghi ngờ hay chẩn đoán là ung thư tuyến tiền liệt, phải dựa trên lâm sàng và sinh học Còn chẩn đoán dương tính phải chọc dò - sinh thiết dưới siêu âm
Trang 81.3 Viêm, vôi hóa, và nang tuyến tiền liệt.
1.3.1 Viêm tuyến tiền liệt cấp
Là một chẩn đoán lâm sàng Siêu âm phát hiện thấy tuyến tiền liệt to ra, cấu trúc âm giảm, nhưng hình thái không đổi
Nếu điều trị, tổn thương được tái tạo hoàn toàn, thường ở ngoại vi, dưới dạng các nhân giảm âm
Trường hợp biến chứng, có thể xuất hiện các khoang rỗng, đó là các áp xe, những vùng tròn vồ âm thành dày, không đều Hoặc túi tinh gần đấy sưng to
Khi khỏi, xuất hiện những hạt vôi hóa
Cần chú ý khi viêm tinh hoàn - mào tinh hoàn cấp, phải xem cả tuyến tiền liệt kèm theo
1.3.2 Viêm tuyến tiền liệt mạn
Chẩn đoán khó, đặc biệt khi phân định với ung thư Tuyến tiền liệt trở nên không đồng nhất, có nhiều nhân giảm, tăng, hay đồng âm khu túi ở ngoại vi Khi nghi ngờ phải làm tổ chức học
1.3.3 Vôi hóa tuyến tiền liệt
Tương ứng với sỏi tuyến tiền liệt, hay gặp ở thanh niên mà không biểu hiện bệnh lý
Có thể là di chứng của viêm, hay ở phần ngoài của tuyến Cũng có thể phát triển do một u xơ đè ép lên các ống tiết trong tuyến tiền liệt Cần phân tích kỹ càng vì chúng có thể đi kèm các nhân giảm âm nghi ung thư hoặc bị che lấp không phát hiện được
1.3.4 Nang tuyến tiền liệt
Có thể xuất hiện một số nang không triệu chứng, nhờ siêu âm mà phát hiện ra
Ðó là những nơi ống tuyến phình ra các nhân quá sản đè ép Nếu ở cổ bàng quang: gây rối loạn tiểu tiện, đó là những nang mắc phải
Có nang bẩm sinh từ ống Muller, xoang bầu dục bàng quang (utricule) sinh ra
Có những nang to hơn, gây nhiều triệu chứng: đái nhiều, đái dắt, bí đái, hoặc gây đau tầng sinh môn
Có thể kết hợp với các loại bệnh khác: bất sản thận, tinh hoàn ẩn (cryptorchidies) và là nguyên nhân viêm mào tinh trẻ em
Siêu âm thấy một khối nang ở phía sau và giữa tuyến
Trang 91.3.5 Cuối cùng, xin lưu ý bệnh học nang của tổ chức lân cận, hay gặp là túi tinh, túi
thừa ống phóng tinh và bóng ống dẫn tinh, mà siêu âm rất dễ tiếp cận và phát hiện được
1.4 Các dạng sau mổ
Sau mổ u xơ, siêu âm có thể phát hiện thấy vùng đó nhất là tam giác cổ bàng quang có một lớp mỏng đi liền với cổ bàng quang, tương ứng với hố u xơ đã bóc
Trong mổ bóc u xơ, hình ảnh này ở trung tâm và phần trước, đều; còn trong cắt
u xơ qua niệu đạo hình ảnh này là những vòng ly tâm, bờ không đều lắm
Siêu âm cũng cho phép kiểm tra tuyến còn sót
Hố u xơ rất thay đổi Nó có thể xẹp đi hoặc biến mất do tăng sinh mô hạt Hình ảnh này dễ nhầm nếu không biết tiền sử người bệnh
Khi tái phát triệu chứng lâm sàng trường hợp cắt u qua niệu đạo, đó là u xơ tái phát, nhưng cũng có thể là ung thư phát triển trong hố tuyến tiền liệt
Sau cùng, nhờ siêu âm phân tích vùng ngoại vi tuyến tiền liệt, có thể phát hiện được một nhân ung thư nhỏ phát triển ở đó
2 Bệnh lý bàng quang
2.1 U bàng quang
U bàng quang là nguyên nhân thứ hai trong khối u niệu-dục, sau ung thư tuyến tiền liệt Triệu chứng phát hiện là: đái máu cuối hay đái máu toàn phần
Nơi tổn thương: Thường là tam giác cổ bàng quang, vùng đáy - thấp bàng quang Ở vòm bàng quang chỉ có 10% số ca
Các tổn thương này có thể thâm nhập toàn bộ biểu mô hệ tiết niệu
Tùy theo kiểu phát triển, ta chia ra:
- U nhú (papillome): là u lành Tuy nhiên, có khuynh hướng tăng sinh và tiềm năng
ác tính
- Các dạng thâm nhiễm: có thể tiến tới ung thư nhú (papillaire) hoặc ung thư thâm nhiễm
Trước một triệu chứng tiết niệu gợi ý, đặc biệt là đái máu toàn phần, phải làm UIV, chụp bàng quang, siêu âm, và bổ sung thêm soi niệu đạo - bàng quang để sinh thiết
Trang 102.1.1 Siêu âm trên xương mu
Ðể khảo sát tam giác và thành bàng quang Cần cho bàng quang đầy nước, nhưng không quá căng
Dùng đầu dò tần số cao hoặc dụng cụ chèn để dễ phân tích phần bụng nông Như thế có thể thấy một khối tăng âm, lồi vào lòng bàng quang, với mức tăng
âm trung bình, đôi khi không đồng nhất Hình ảnh này có thể đánh giá quá cao do có nhiều cục máu đông, từ đái máu nặng, trong đó
Các khối u nhú (papillaire), không cuống hay có cuống, từ 5 - 7mm có thể nhìn thấy Chẩn đoán khó khi khối u phẳng hay lồi ít
Siêu âm cho phép xác định thể tích, số lượng, vị trí, và tầm vóc của khối u Ðặc điểm rỗng âm của bàng quang cho phép phân biệt với các viên sỏi: chuyển động và nằm chỗ thấp Máu cục cũng có thể biết khi xem ở nhiều tư thế hay nằm nghiêng
Mức độ thâm nhiễm thành bàng quang rất khó xác định:
2.1.2 Siêu âm qua trực tràng
Nhìn rõ tam giác cổ bàng quang và các liên quan giữa túi tinh ống dẫn tinh với tuyến tiền liệt
2.1.3 Siêu âm trong bàng quang: dành cho thầy thuốc tiết niệu khi nội soi.
2.1.4 Tổng kê lan rộng
Hướng dẫn cho xử lý Phải dựa trên siêu âm, cắt lớp điện toán, và cộng hưởng từ
Siêu âm đánh giá được sự lan rộng đến sâu bàng quang, ăn vào tuyến tiền liệt, và làm thay đổi liên quan cấu trúc túi - ống dẫn tinh
Sự xâm lấn thành bụng trước ít gặp và phải có đầu dò tần số cao
Xâm nhập vào ống tiêu hóa ở tiểu khung làm ta không nhìn rõ thành bàng quang bình thường
Phải chú ý đến ung thư lan rộng ra lỗ niệu quản và ảnh hưởng lên khoang tiết đài - bể thận Nhưng siêu âm có thể bỏ qua ứ nước bể thận mới khởi phát
Lan tràn theo đường bạch huyết, siêu âm theo đường bụng khung chậu có thể thấy nhưng hạn chế
Siêu âm còn giúp theo dõi điều trị sau mổ: đánh giá mức giãn đài bể thận, tái phát của ung thư bàng quang sau cắt nội soi hay cắt bán phần