1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận tác chiến điện tử

12 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 59,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể giành u thế trong tác chiến điện tử thì hai bên tham chiến đều phải phối hợp thống nhất các hoạt động sau: - Chiến tranh vô tuyến điện tử: là những hoạt động quân sự nhằm khai

Trang 1

Mở đầu

Tác chiến điện tử (TCĐT) là một tập hợp những biện pháp nhằm phát hiện và chế áp điện tử đối với các thiết bị và hệ thống điện tử của địch đồng thời bảo vệ vô tuyến cho các thiết bị và hệ thống điện tử của ta TCĐT là một hình thức tác chiến dựa trên kỹ thuật điện tử, là sự kết hợp giữa các biện pháp kỹ – chiến thuật nhằm phát huy cao nhất tính năng, tác dụng của vũ khí, khí tài thực hiện thăng lợi phơng án tác chiến

Bản chất của tác chiến điện tử thực chất là cuộc chiến tranh trên lĩnh vực vô tuyến điện (VTĐT) Là một cuộc chiến đấu vô hình, không công bố, không có kết thúc, trong không gian bao la, vừa thầm lặng bí mật vừa bất ngờ, ồ ạt Đợc tiến hành một cách thờng xuyên, liên tục, thời bình cũng nh thời chiến, cả trớc và sau chiến tranh, với sự phản ứng nhanh, linh hoạt Đó là

sự chạy đua không giới hạn về công suất, sự cạnh tranh về tần số, sự giành giật viện nghiên cứu, trên giảng đờng và ngoài thao trờng nhằm giành giật u thế chủ động trên chiến trờng

Nếu đơn thuần về kỹ thuật thì chiến tranh VTĐT chỉ là một cuộc chiến

đấu giành u thế năng lợng bức xạ sóng điện từ Bên tấn công ra sức sục sạo, tìm kiếm, phân tích năng lợng bức xạ điện từ của đối phơng và xác định đặc tính của nó, rồi tìm cách phá giải, chế áp, đè bẹp bằng năng lợng điện từ hay tiêu diệt nguồn sóng đó của đối phơng bằng các phơng tiện hoả lực khác Phía phòng ngự cũng dùng mọi cách tìm hiểu năng lợng điện từ bên tấn công

để cố gắng vơn lên, vợt xa đối phơng về độ lớng hay tìm cách che dấu, lẩn tránh… nhằm đảm bảo an toàn đến mức tối đa nguồn năng l nhằm đảm bảo an toàn đến mức tối đa nguồn năng lợng điện từ của bản thân phát ra và truyền tới đích

Nếu bỏ qua mọi chi tiết kỹ thuật thì chiến tranh VTĐT chỉ đơn giản là một cuộc chiến đấu giành thời gian Bên tấn công dùng các biện pháp chống VTĐT với mục đích rút ngắn thời gian mà đối phơng cần thiết để phản ứng

Về phần mình, phía phòng ngự đem tất cả mọi biện pháp để kéo dài thời gian cho mình kịp đối phó

Trong chiến tranh, TCĐT đã trở thành một hình thức bảo đảm tác chiến, một bộ phận không thể tách rời của xung đột vũ trang ở mọi quy mô

Sự phát triển của hình thức TCĐT gắn liền với sự phát triển ngành công nghệ

điện tử, đợc áp dụng trong các cuộc chiến tranh trên thế giới

TCĐT trong chiến tranh công nghệ cao có tầm ảnh hởng rất lớn, quan trọng đối với kết quả của cuộc chiến Chiến tranh điện tử có thể xuyên suốt cả quá trình chiến tranh, là một hình thái vô hình nhng lại hiện thực, là một trong nhiều yếu tố của sức chiến đấu, là một loại sức chiến đấu kiểu mới có thể sánh đợc với hoả lực và tính cơ động Các nhà quân sự Mỹ thậm chí còn cho rằng thế kỷ 18 là thời đại chiến tranh mặt đất, thế kỷ 19 là thời đại chiến tranh trên biển, thế kỷ 20 là thời đại chiến tranh trên không còn thế kỷ 21 là thời đại chiến tranh điện tử Khả năng TCĐT là cái mốc quan trọng đánh giá mức độ hiện đại hoá quốc phòng của các nớc, nó liên quan đến toàn cục chiến lợc quốc gia và sự an nguy của lợi ích quốc gia

Vào giữa những năm 70, trong việc sử dụngc các đòn đánh xung kích, nổi lên một xu hớng là để bảo đảm việc tiêu diệt đối phơng cần phải sử dụng các loại vũ khí có độ chính xác cao có dùng các hệ thống điều khiển khác nhau, thậm chí với một u thế áp đảo về hoả lực cũng cha chắc bảo đảm đợc thắng lợi nếu các hệ thống điều khiển bị đối phơng chế áp hoặc phá hoại Các mục tiêu hàng đầu đợc lu ý là các hệ thống điều khiển, hệ thống thu

Trang 2

thập, xử lý, chuyển tải và phân phối thông tin, các phơng tiện vô tuyến điện

tử Tơng quan lực lợng rõ ràng nghiêng về phía các phơng tiện đảm bảo Cho

đến hiện nay, các cuộc chiến tranh chủ yếu dới hình thức chiến tranh không tập mà hiệu quả của nó thể hiện rõ nhất trong chiến tranh vùng Vịnh, Nam

T và gần đây nhất là ở Apghanitxtan; gắn liền là hình thức tác chiến mang tính phi tiếp xúc ngày càng thành thục, hoàn thiện Rồi sự thông dụng của hình thức tác chiến đánh trả chính xác kiểu “điểm huyệt” với nhiều loài vũ khí điều khiển chính xác, thực hiện công kích vào những vị trí đã định với độ chính xác cao, uy lực lớn, cự ly xa đã thu đợc hiệu quả nổi bật Hiệu quả của những hình thức chiến tranh trên phụ thuộc rất nhiều vào khả năng TCĐT của cả bên tấn công lẫn phòng thủ Nhằm giành giật u thế chủ động trên chiến trờng trong thời gian mong muốn, bên tấn công dùng các biện pháp chống vô tuyến điện tử với mục đích rút ngắn thời gian mà đối phơng cần để phản ứng; về phần mình phía phòng ngự đem tất cả mọi biện pháp nhằm kéo dài thời gian cho mình kịp đối phó Biện pháp chủ yếu của cả hai bên trong tác chiến điện tử là đấu tranh liên tục trên nhiều phơng diện giữa ra đa và mục tiêu là chủ yếu, cả hai bên đều tìm cách tận dụng công nghệ để giành u thế so với đối phơng Để đạt đợc hiệu quả, các hệ thống gây nhiễu phải đợc cập nhật để kịp thời đối phó với những phát triển mới nhất của ra đa Để có thể giành u thế trong tác chiến điện tử thì hai bên tham chiến đều phải phối hợp thống nhất các hoạt động sau:

- Chiến tranh vô tuyến điện tử: là những hoạt động quân sự nhằm khai thác

đến mức tối đa năng lợng sóng điện từ, gây khó khăn hay làm mất hiệu lực hoàn toàn các hệ thống vô tuyến điện tử của đối phơng và bảo đảm sự hoạt động bình thờng các hệ thống vô tuyến điện tử của bản thân

- Trinh sát vô tuyến điện tử: là những biện pháp nhằm thu thập các tin tức

về địch bằng cách bắt và phân tích các tín hiệu vô tuyến từ các đài phát vô tuyến điện của địch để khai phá tổ chức chỉ huy quân đội và chủng loại phơng tiện mà nó sử dụng Do đó sẽ đánh giá đợc khả năng phòng thủ của

đối phơng nh vũ khí ra đa, báo động sớm, các hệ thống vô tuyến điện tử,

sự bố trí đội hình, đánh giá lực lợng, xác định các hình thức, thời gian làm nhiệm vụ

- Chế áp vô tuyến điện tử: đợc sử dụng để ngăn cản, gây khó khăn cho hoạt

động của các phơng tiện vô tuyến điện tử của đối phơng bằng cách phát sóng điện từ, âm thanh và hồng ngoại hoặc tiêu diệt chúng nhờ dẫn vũ khí theo tia sóng vào nguồn phát xạ đó, hình thức này ngời ta gọi là chế áp bằng hoả lực

Chế áp vô tuyến điện tử phòng không, không quân bao gồm gây nhiễu

và tiêu diệt nguồn bức xạ Trong chiến đấu trên không, gây nhiễu nhằm các mục đích sau:

+ Nguỵ trang hớng tấn công chính của không quân chiến thuật, chiến lợc + Gây rối loạn cho chỉ huy không quân tiêm kích đối phơng nhằm cắt đứt hoặc giải trả việc hớng dẫn công kích cho máy bay

+ Làm mất khả năng kích nổ tên lửa đối phơng, dẫn hoả lực đối phơng vào mục tiêu giả

- Chống nhiễu: là tất cả các biện pháp kỹ, chiến thuật nhằm hạn chế và triệt tiêu các hình thức tác động của nhiễu, đảm bảo sự hoạt động bình thờng cho các phơng tiện tên lửa, ra đa chống nhiễu

Trang 3

Một số ví dụ thể hiện rõ tầm quan trọng của TCĐT trong chiến tranh công nghệ cao:

 Trong chiến tranh Việt Nam:

Việt Nam đối phó với thủ đoạn tác chiến điện tử của địch trong chiến dịch phòng không thang 12 năm 1972 Chiến dịch phòng không thang 12 năm 1972 đã đập tan cuộc tập kích đờng không của Mỹ, buộc chúng phải trở lại hội nghị và ký kết hiệp định Pari theo những điều kiện của ta, thắng lợi đó

đã chứng minh sự trởng thành vợt bậc của nghệ thuật chiến dịch phòng không nói chung, cũng nh việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật của từng binh chủng nói riêng Đối phó với thủ đoạn tác chiến

điện tử để đánh B-52 là một điển hình

“Siêu pháo đài bay” B-52 cồng kềnh, kém cơ động lại bay ở độ cao vừa tầm bắn có hiệu quả của tên lửa do đế quốc Mỹ đã dốc nhiều công của

để cải tiến trang thiết bị điện tử sử dụng tổng hợp kỹ thuật và thủ đoạn TCĐT nhằm che dấu đội hình, đánh lừa ra đa, gây khó khăn cho việc phát hiện, bám sát và đành trả của ta Chúng đã kết hợp chặt chẽ nhiễu tích cực ngoài

đội hình của máy bay EB-66 và nhiễu tiêu cực để hòng bịt mắt và phá cách

đánh của bộ đội tên lửa

Một trận đánh của B-52 thờng có từ 2-4 máy bay EB-66 gây nhiễu tích cực ngoài đội hình để che giấu đội hình của B-52 Khu vực hoạt động của chúng từ phía Lào và Sầm Tô, Nong Hét; phía biển Đông Bà Lạt 50 – 60km EB-66 đến thả nhiễu trớc B-52 từ 20 – 30 phút và ra sau 10 – 15 phút

Bản thân B-52 đợc trang bị máy thu để dò tần số ra đa, đặc biệt là tần

số của tên lửa để chọn thời cơ gây nhiễu phù hợp Trên B-52 có 15 máy nhiễu tích cực B-52 không gây nhiễu đồng loạt nh EB-66 mà chỉ phát nhiễu khi bắt đợc tín hiệu ra đa, vì B-52 bay sâu vào trong đất liền, nếu mở máy nhiễu sẵn sẽ bị ta lợi dụng nhiễu để theo dõi

Máy bay B-52 có trang bị 3 máy nhiễu tiêu cực: 1 máy đối phó với tên lửa điều khiển bằng hồng ngoại, 2 máy đối phó với ra đa các loại Địch còn dùng 4 – 8 máy bay F-4E chuyên thả nhiễu tiêu cực Mỗi F-4 mang 6 – 9 quả bom nhiễu tiêu cực: Mỗi quả dài 1,8m, năng 95kg, sau khi thả vỏ nhựa tách ra tung các sợi dây kim loại dài ngắn khác nhau để nhiễu ra đa các loại F-4 thả nhiễu tiêu cực trớc 10 – 20 phút, cách mục tiêu từ 20 – 25km

Để đối phó với thủ đoạn gây nhiễu của địch, trớc tiên phải nói đến việc

tổ chức trinh sát phát hiện máy bay B-52 bằng tất cả các phơng tiện của ra đa

và hệ thống quan sát mắt

Để đảm bảo thông báo, báo động cho nhân dân phòng tránh và các lực lợng phòng không chuyển cấp kịp thời đánh địch từ xa, bộ đội ra đa đã có sự

điều chỉnh lại đội hình nhằm tạo đợc trờng ra đa liên hoàn, có trạm chính diện, có trạm cạnh sờn Đã điều động Trung đoàn ra đa 291 từ Thanh Hoá vào Nghệ An trớc 2 tháng Việc bố trí các đại đội ra đa dựa trên cơ sở đánh giá đờng bay của B-52 trên 2 hớng: tây nam từ U-ta-pao và đông nam từ

Gu-am Trong thế bố trí mạng ra đa khu vực có các đại đội chốt trên hớng chủ yếu, đợc tổ chức thông tin vững chắc và vu hồi với sở chỉ huy tổng trạm Trung đoàn ra đa 291 đã bố trí Đại đội 16 và 45 chốt ở vị trí quan trọng Chính nhờ vậy mà trong đêm đầu tiên, mặc dù Đại đội 16 bị nhiễu nhng đại

đội 45 vẫn phát hiện đợc máy bay B-52 báo cáo về sở chỉ huy Trung đoàn và tổng trạm Nhờ có mạng thông tin vu hồi nên trực chỉ huy binh chủng ra đa

đã kiểm tra xác định chính xác tình báo B-52 để báo cáo lên sở chỉ huy

Trang 4

Quân chủng Nhờ vậy mà lực lợng phòng không Hà Nội đã đợc báo động sớm 30 phút, chủ động chuyển cấp, kịp thời bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 ngay trong đêm đầu của chiến dịch

Đối với bộ đội tên lửa, việc tổ chức quan sát phát hiện B-52 đợc kết hợp chặt chẽ các phơng tiện: Thu tình báo trên mạng B1, thu tình báo khu vực, tận dụng chỉ thị mục tiêu của các trạm ra đa lân cận, phát huy hết khả năng chỉ thị mục tiêu của đài nhìn vòng (đài 1) Vận dụng chế độ phát sóng

đài điều khiển tên lửa (đài 2) một cách linh hoạt, đồng thời kết hợp quan sát mắt A-00, K8-60 để phát hiện chỉ chuẩn mục tiêu cho đài 2

Trong thực tế, đài 1 thờng bị nhiễu từ xa, khi B-52 vào cự ly từ 100 – 140km, nhiễu thờng rất nặng, che lấp cả sóng về địa vật, đây là một đặc điểm

để phận biệt với nhiễu của một máy bay chiến thuật Do địch sử dụng nhiễu ngắm nên khi ta chuyển tần số có thể phát hiện đợc tín hiệu mục tiêu Ví dụ

đài 1 của Tiểu đoàn 93 bắt đợc mục tiêu 13 lần ở cự ly 40 – 60km, đài 1 của Tiểu đoàn 77 – 22 lần ở cự ly 50 – 70km

Đối với đài 2 thờng nhiễu nặng ở cự ly 70 – 90km, cờng độ nhiễu tỷ

lệ nghịch với tham số đờng bay (P) Trên thực tế, khi B-52 còn ở xa thì trên màn hiện sóng góc tà 1 dải, trên màn phơng vị 2 dải, rộng 3 độ, khi B-52 vào gần xảy ra việc tách dải Ví dụ, trận đánh của Tiểu đoàn 57 lúc 05 giờ 14 phút đêm 20/12/1972, trên màn góc tà 1 dải, màn phơng vị 2 dải, rộng 3 độ, kíp chiến đấu bám sát thống nhất dải nhiễu, sử dụng phơng pháp điều khiển

TT, ngòi nổ PB chậm; phóng 1 quả khi đạn đi đợc 10km, ở góc tà tách thành

2 dải, phơng vị thành 1 dải, kíp chiến đấu đã thống nhất dải nhiễu: tà bám dải cao, phơng vị bám dải phải Đạn nổ ở D = 24km, diệt 1 B-52

Cùng với việc tổ chức quan sát mắt, bộ đội tên lửa đã sử dụng A-00, K8-60 để phát hiện chỉ chuẩn B-52 cho đài 2 K8-60 của Tiểu đoàn 79 phát hiện thấy mục tiêu 15 lần; xa 70km, gần 19km; Tiểu đoàn 57 – 9 lần; xa 60km, gần 15km Ví dụ trận đánh của tiểu đoàn 79 lúc 04 giờ 57 phút đêm 20/12/1972, K8-60 đã chỉ thị phần tử cho đài 2 phóng 1 đạn, nổ ở D=28km,

1 B-52 rơi tại chỗ

Cách đánh của bộ đội tên lửa là đánh B-52 có nhiễu dải nặng, bám sát vào dải nhiễu và sử dụng phơng pháp điều khiển TT, nhng đồng thời phát sóng đúng dhời cơ để phát hiện mục tiêu trong nhiễu, kịp thời chuyển bám sát tín hiệu mục tiêu, chuyên phơng pháp điều khiển TT sang HC để nâng cao hiệu quả bắn

Khả năng phát hiện đợc tín hiệu B-52 trong nhiễu phụ thuộc vào nhiều yếu tố rất phức tạp, cả yếu tố khách quan và chủ quan nh:

- Những yếu tố quyế định cờng độ nhiễu: đờng bay, tham số, cự ly, độ cao,

đội hình bay, số lợng máy nhiễu địch tập trung vào khu vực tên lửa

- Những yếu tố quyết định cờng độ tín hiệu phản xạ: Công suất máy phát,

độ nhạy máy thu, khuếch đại của anten, cự ly, đờng bay, tham số, diện tích phản xạ hiệu dụng của máy bay

- Việc nghiên cứu địch, chọn hớng, thời cơ phát sóng, trình độ thao tác của kíp chiến đấu, trình độ phát hiện mục tiêu trong nhiễu Thực tế chiến đấu cho thấy các tiểu đoàn tên lửa đã phát huy năng động chủ quan, tận dụng khả năng u việt của khí tài, khoét sau những chỗ yếu của địch, phát sóng

mu trí, linh hoạt, đúng thời cơ, phát hiện kịp thời tín hiệu B-52 để đánh bằng phơng pháp HC, bám sát tự động, bắn rơi tại chỗ nhiều B-52

Trang 5

Để đảm bảo phát hiện đợc tín hiệu B-52 trên nền nhiễu, chúng ta đã kết hợp các biện pháp kỹ thuật, chiến thuật Một điểm nổi bật trong chiến thuật bộ đội tên lửa là việc bố trí hợp lý đội hình các tiểu đoàn tên lửa Một mặt, Bộ t lệnh chiến dịch đã quyết định điều động lực lợng tên lửa tăng cờng bảo vệ Hà Nội, mặt khác trên cơ sở đánh giá đờng bay của B-52, từng trung

đoàn đã bố trí đội hình để đánh B-52 là chủ yếu, đội hình giãn rộng ra 2 bên sờn, tránh nhiễu chính diện Nhờ vậy mà Hà Nội có 12 trong số 13 tiểu đoàn

đã thấy tín hiệu B-52 trên nền nhiễu Tổng số có 52 trận đánh thấy tín hiệu B-52 ở cự ly xa 40km, P=4 – 10km Tiểu đoàn 93 có 13 trận thấy tín hiệu B-52 ở cự ly 20 – 27km, P=4 – 10km, Tiểu đoàn 77 – 9 trận thấy B-52 ở

cự ly 16 – 31km… nhằm đảm bảo an toàn đến mức tối đa nguồn năng l

 Trong chiến tranh Irắc:

Trong suốt 38 ngày không tập trong chiến tranh vùng Vịnh, chiến tranh điện tử luôn luôn có mặt và đợc sự vận dụng một cách đầy đủ Trong thời gian này, các loại trang bị tác chiến điện tử hải, lục, không quân của lực lợng đa quốc gia đã tạo thành một hệ thống tác chiến điện tử lập thể nghiêm ngặt; trong vũ trụ có 18 vệ tinh điện tử, trên bầu trời có 260 chiếc máy bay tác chiến điện tử và máy bay lên thẳng, trên mặt đất có 39 trạm giám sát chiến tranh điện tử, trên biển có hàng chục chiếc tàu TCĐT Ngoài ra, các hệ thống vũ khí đều có các thiết bị TCĐT tự vệ – cảnh giới – báo động của bản thân nó Từ đó cấu thành mạng lới chiến tranh điện tử tổng hợp toàn dải tần, toàn phơng vị, toàn độ cao, toàn tung thâm, nhiều nguồn chủ động – bị

động, đã cung cấp một cách thờng xuyên liên tục tin tức chiến trờng cho chỉ huy các cấp

Trong chiến tranh vùng Vịnh, lực lợng đa quốc gia kết hợp gây nhiễu

điện tử với phá huỷ điện tử, gây nhiễu có nguồn kết hợp với gây nhiễu không nguồn, gây nhiễu thông tin kết hợp với gây nhiễu ra đa, gây nhiễu chi viện kết hợp với gây nhiễu tự về, gây nhiễu chế áp kết hợp với gây nhiễu đánh lừa, gây nhiễu hớng chủ công kết hợp với gây nhiễu hớng nghi binh, làm cho các loại thủ đoạn tác chiến điện tử hiệp đồng hỗ trợ cho nhau, bổ sung cho nhau, nhanh chóng giành quyền khống chế điện tử Trớc khi chiến tranh nổ ra lấy trinh sát điện tử là chính, khi sắp bớc vào chiến tranh sử dụng kết hợp gây nhiễu và trinh sát; thời kỳ đầu chiến tranh lấy gây nhiễu điện tử và phá huỷ

điện tử là chính, trinh sát điện tử là phụ Các giai đoạn đều xuất phát từ nhu cầu thực tế, sử dụng tổng hợp thủ đoạn tác chiến điện tử

 Chiến tranh Côxôvô là cuộc chiến tranh cục bộ kỹ thuật cao, qui mô

lớn, mang tính tiêu biểu, tiếp sau cuộc chiến tranh vùng Vịnh, đây cũng là cuộc tác chiến liên hợp của lục quân, hải quân, không quân vũ trụ và điện tử Đồng thời cũng thấy đợc vai trò vô cùng quan trọng quyết định thắng lợi cho không kích của tác chiến thông tin, đặc biệt

là TCĐT

Vai trò to lớn của TCĐT trong hành động không kích của NATO

Trong hành động không kích, NATO đã phát huy u thế của TCĐT, giành u thế về thông tin và chuyển u thế thông tin này thành u thế trên không

ở tầng không gian vũ trụ, NATO sử dụng hơn 50 vệ tinh để tiến hành theo dõi giám sát toàn diện các mục tiêu quân sự bao gồm cả các mục tiêu thông tin, ra đa và các mục tiêu điện tử Trên không họ sử dụng máy bay trinh sát điện tử, máy bay không ngời lái và máy bay cảnh giới để theo dõi liên tục tình hình hoạt động của các mục tiêu điện tử của Nam T Trên mặt

Trang 6

đất, họ đặt một số trạm trinh sát và thả các thiết bị định vị vô tuyến điện để chỉ thị mục tiêu cho máy bay và bom điều khiển chính xác Về mặt chiến thuật, NATO dùng máy bay không ngời lái làm mồi nhử để dụ Nam T mở ra

đa, qua đó xác định chính xác vị trí và các tham số tính năng của ra đa Nam

T, tạo điều kiện thuận lợi để gây nhiễu điện tử và côngkích bằng tên lửa chống ra đa

Để giành đợc u thế điện từ tuyệt đối NATO đã sử dụng ít nhất hàng chục máy bay TCĐT chuyên dụng tiên tiến nhất, bao gồm 31 máy bay TCĐT EA-6B, 3 máy bay gây nhiễu thông tin EC-130H để chế áp, gây nhiễu các loại ra đa của Nam T khiến ra đa Nam T mù tịt, thông tin bị gián đoạn, chi viện cho máy bay tác chiến đột phòng thuận lợi

Sử dụng các thủ đoạn TCĐT để hạn chế hành động tác chiến của máy

bay chiến đấu Nam T: Một là, gây nhiễu mạnh vào hệ thống thông tin đất đối

không của máy bay Nam T, làm mất tác dụng chỉ huy dẫn đờng, máy bay tác chiến khó có thể cất cánh tác chiến, hoặc nếu có cất cánh cũng không thể

chiến đấu có hiệu quả Hai là, trực tiếp gây nhiễu hệ thống điện tử của máy

bay Nam T NATO nắm rất chắc tính năng thiết bị điện tử trên máy bay chiến đấu MIG-29 của Nam T hiện có Khi tác chiến, họ đã gây nhiễu điện

tử rất mạnh vào thiết bị điện tử của máy bay Nam T Ba là, máy bay NATO

lợi dụng hệ thống báo động sớm, hệ thống điều khiển hoả lực và hệ thống TCĐT tự vệ tiên tiến của mình để phát hiện địch trớc và ra đón trớc, bảo vệ máy bay của mình không bị tên lửa đối phơng công kích Mặc dù Nam T đã

có 15 máy bay chiến đấu MIG-29 tiên tiến, xong do họ thiếu khả năng gây nhiễu điện tử và chống gây nhiễu điện tử nên không phát huy đợc tác dụng Trong vòng 3 ngày không chiến, họ đã bị rơi 5 chiếc MIG-29

NATO đứng đầu là Mỹ đã sử dụng cơ cấu chỉ huy TCĐT hiệu quả cao, nhanh nhạy, đợc xây dựng trớc đây để chỉ huy thống nhất và hiệp đồng giữa các lực lợng TCĐT của lục quân, hải quân, không quân các nớc tham chiến, thu đợc hiệu quả tác chiến cao nhất Cơ cấu TCĐT thuộc Bộ t lệnh cao cấp của NATO đã tiến hành phân tích khả năng tình báo, chỉ huy, thông tin và chống gây nhiễu hiện tại của Nam T, kịp thời đề xuất kiến nghị chi viện TCĐT với Bộ t lệnh liên hợp và vạch ra một kế hoạch TCĐT tỉ mỉ, chu đáo, xác định rõ nhiệm vụ của bộ độ TCĐT là yểm hộ cho lực lợng tiến công đ-ờng không, xác định trình tự tiến công điện tử, tổ chức hiệp đồng giữa lực l-ợng TCĐT của 3 quân chủng, đồng thời đa kế hoạch TCĐT vào kế hoạch không kích để TCĐT và hoả lực thống nhất nhịp nhàng với chi viện đờng không, bảo đảm cho không kích tiến hành thuận lợi

Lần đầu tiên trong không tập, NATO sử dụng bom xung điện từ, loại này khi nổ sẽ biến năng lợng hoá học thành năng lợng điện từ sinh ra xung

điện rất lớn phá huỷ các linh kiện điện tử nhạy cảm nhất trong các thiết bị

điện tử trong phạm vi cách tâm nổ một cự ly nhất định, từ đó làm tê liệt thiết

bị điện tử và hệ thống điện tử

Trong không tập lần này, do NATO nắm u thế TCĐT, nhờ đó đã giành

đợc quyền kiểm soát trên không và máy bay NATO có đợc quyền tự do bay trên không phận Nam T

Trong phản không kích, Nam T áp dụng biện pháp đối kháng điện tử hữu hạn.

Trớc u thế trên không của NATO, quân đội Nam T rõ ràng ở vào thế yếu, để đánh trả có hiệu quả, và bảo toàn tối đa lực lợng Nam T đã áp dụng biện pháp đối kháng điện tử hữu hạn và đã giành đợc hiệu quả nhất định

Trang 7

Để bảo vệ ra đa phòng không trớc đòn tiến công bằng tên lửa chống bức xạ của NATO, quân đội Nam T đã vận dụng linh hoạt các biện pháp chiến thuật, kỹ thuật phòng ngự điện tử nh chiến thuật tiếp sức ra đa có nghĩa

là ra đa tầm xa mở máy trong thời gian ngắn, sau khi xác định có máy bay

đến tập kích thí nhanh chóng tắt máy, khi phán đoán máy bay NATO đã vào trong phạm vi tầm bắn của tên lửa đất đối không quân nhà thì bất ngờ mở ra

đa điều khiển tên lửa, đồng thời phóng luôn tên lửa, sau đó nhanh chóng di chuyển ngay; khi ra đa phòng không phát hiện máy bay NATO phóng tên lửa chống bức xạ thì phải tắt máy ngay, làm cho tên lửa chống bức xạ đi lệch mục tiêu… nhằm đảm bảo an toàn đến mức tối đa nguồn năng l

Nam T đã phán đoán chính xác là khi không kích, trớc tiên NATO sẽ

sử dụng vũ khí điều khiển chính xác đánh vào các công trình quân sự quan trọng của Nam T và vì vậy Nam T đã nhanh chóng tiến hành nguỵ trang điện

tử và đánh lừa điện tử cho các mục tiêu này Chủ yếu là họ căn cứ vào địa hình phức tạp, khí hậu luôn thay đổi của đất nớc để lợi dụng địa hình, địa vật và khí tài đơn giản, giấu thực, bày giả: lợi dụng đặc điểm tên lửa hành trình phải có 8 tiếng đồng hồ chuẩn bị mới phóng đợc, Nam T thay đổi liên tục vị trị triển khai nhằm vào yếu điểm của vũ khí điều khiển hồng ngoại, thả khói nhân tạo, làm giảm hiệu quả của trinh sát điện tử và vũ khí điều khiển chính xác của NATO

Ra đa chủ động của Nam T dễ bị hệ thống thăm dò định vị của địch phát hiện nên Nam T đã sử dụng hệ thống trinh sát “không nguồn” để thu thập thông tin về hoạt động của máy bay NATO Theo tin tức của Nga, chiếc máy bay F-117A bị Nam T bắn rơi trớc hết là do hệ thống trinh sát “không nguồn” phát hiện Hệ thống này có khả năng chống trinh sát, chống gây nhiễu, chống tàng hình và chống phản bức xạ tơng đối mạnh, có cự ly thăm

dò 500km Bản thân hệ thống không phát sóng điện từ nên hệ thống trinh sát của địch khó phát hiện đợc và càng không thể gây nhiễu và phá huỷ đợc nó

Trớc chiến tranh, quân đội Nam T đã cải tiến kỹ thuật hệ thống thông tin điện tử, nâng cao khả năng chống gây nhiễu của các trang bị hiện có Trong tác chiến chống không kích, quân đội Nam T đã phát huy hết sở trờng trên lĩnh vực chống tàng hình của ra đa sóng met cũ, áp dụng biện pháp kết mạng ra đa cảnh giới tiếp sức và nhận biết nhanh chóng trên màn hình để bắt

và nắm chắc mục tiêu tàng hình, đồng thời kết hợp chặt chẽ với tên lửa Sam, lần đầu tiên bắn rơi máy bay tàng hình F-117A của NATO

Để đối phó tên lửa hành trình, ngoài việc khai thác nhợc điểm tên lửa hành trình là bay thấp, tốc độ chậm, vỏ mỏng, từ đó áp dụng biện pháp bắn mật tập bằng pháo và bắn trực tiếp bằng tên lửa phòng không vác vai, Nam

T còn khai thác nhợc điểm khác của tên lửa hành trình là độ chính xác trúng

đích còn phụ thuộc nhiều vào độ chính xác điều khiển, từ đó tổ chức mai phục trên những hớng chúng sẽ bay qua, tiến hành gây nhiễu hệ thống điều khiển GPS của chúng, đồng thời thả khói ở gần mục tiêu quân sự, gây nhiễu

hệ thống điều khiển, làm cho tên lửa hành trình bay lệch mục tiêu quân sự

Để đánh trả cuộc không kích của NATO, một số chuyên gia máy tính Nam T đã thực hiện đòn tiến công điện tử dài ngày vào hệ thống máy tính của NATO thông qua mạng Internet, đã làm tê liệt hệ thống máy tính trên tàu sân bay Nimitz của hải quân Mỹ trong 3 giờ Giới khoa học quân sự NATO thừa nhận đây là vấn đề nan giải lớn nhất mà NATO phải giải quyết trong lịch sử

Trang 8

Nh mọi hoạt động tác chiến khác, tác chiến điện tử có nội dung tiến công, phòng vệ và trinh sát Để vô hiệu hoá hoạt động điện tử của đối phơng, trong thành phần tác chiến điện tử có chế áp điện tử; để bảo vệ quân nhà, có bảo vệ điện tử và để bảo đảm cho chế áp điện tử, muốn bảo vệ điện tử hoạt

động có hiệu quả một thành phần đóng vai trò hết sức quan trọng là trinh sát

điện tử Qua các cuộc chiến tranh trên, chúng ta đặc biệt thấy rõ vai trò to lớn của chế áp điện tử trong điều kiện nớc bị xâm lợc yếu hơn nhiều so với

kẻ tấn công Chế áp điện tử chính là thực hiện đòn tiến công của tác chiến

điện tử Chế áp điện tử có thể đợc thực hiện bằng hai cách: chế áp cứng và chế áp mềm

+ Chế áp cứng

Là huỷ diệt các phơng tiện điện tử của đối phơng bằng xung lực hoặc hoả lực (có thể dùng đặc công, không quân, tên lửa, pháo binh,… nhằm đảm bảo an toàn đến mức tối đa nguồn năng l) các biện pháp này đợc gọi là chế áp cứng;

+ Chế áp mềm

Là vô hiệu hoá hoạt động điện tử của đối phơng bằng gây nhiễu đợc gọi là chế áp mềm Muốn thực hiện chế áp mềm chúng ta phải biết phạm vi hoạt động của tác chiến điện tử

Phạm vi tần số

Các phơng tiện điện tử đợc ứng dụng trong quân sự có thể hoạt động trong suốt dải tần số từ tần số âm thanh đến dải tần tia tử ngoại Trong đó, càng ngày càng có xu thế sử dụng rộng rãi dải tần siêu cao tần từ ra-đa, hồng ngoại, laze, quang học, tia tử ngoại, trinh sát, thông tin liên lạc Dải tần âm thanh đợc dùng chủ yếu cho chỉ huy, hiệp đồng của các lực lợng và cho hệ thống thu nghe tiếng động của ngời và các loại động cơ trên mặt đất bằng các loại xen-xơ phóng thả vào hậu phơng địch Trong lĩnh vực quân sự cũng

nh dân sự, kỹ thuật và công nghệ điện tử đợc sử dụng rộng rãi nhất trong dải tần thông tin vô tuyến điện (VTĐ) Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, các phơng tiện điện tử trinh sát và

điều khiển vũ khí đợc ứng dụng phổ biến ở các dải tần ra-đa, hồng ngoại,

la-de, ánh sáng, tia tử ngoại ở các dải tần này, khả năng hoạt động của các

ph-ơng tiện điện tử ít phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, có độ chính xác cao hơn

và có kích thức gọn nhẹ hơn nhiều khi hoạt động ở tần số thấp Để đối phó lại các phơng tiện tác chiến điện tử cũng phải phát triển ở tất cả các dải tần

số từ âm thanh đến tia tử ngoại Ngày nay, vũ khí công nghệ cao đợc ứng dụng rộng rãi ở tất cả các dải tần số Các biện pháp phòng tránh đánh trả ở các dải tần có sự khác nhau, vì vậy cần nghiên cứu kỹ nguyên lý, bản chất hoạt động của từng loại ở từng dải tần số để có các biện pháp đối phó cụ thể mới có thể giảm thiểu đợc thơng vong và tổn thất cho lực lợng, phơng tiện quân nhà, sau nữa là có biện pháp đánh trả có hiệu quả, nhất là ở các dải tần hồng ngoại, la-de

Phạm vi môi tr ờng tác chiến

Nhờ sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ, các phơng tiện điện tử quân sự có thể hoạt động ở tất cả các môi trờng: trên đất liền, trên không, trên biển, dới mặt nớc biển, trên vũ trụ; từ tiền tuyến đến hậu

ph-ơng và trong tung thâm của quân địch; đợc thực hiện liên tục suốt từ thời bình đến thời chiến, suốt ngày đêm trong mọi điều kiện thời tiết Để đối phó, tác chiến điện tử cũng đợc triển khai trong một không gian và thời gian không hạn chế mới có hiệu quả tổng hợp thực sự

Trang 9

Tác chiến điện tử là một phơng thức tác chiến, vì vậy các biện pháp

tiến hành luôn có sự kết hợp giữa kỹ thuật và chiến thuật Hiệu quả hoạt

động của tác chiến điện tử phụ thuộc rất lớn bởi các biện pháp chiến thuật công nghệ cao đòi hỏi trí tuệ con ngời cũng phải cao Khi chỉ có phơng tiện công nghệ kém hiện đại, càng đòi hỏi trí tuệ cao, tăng cờng đầu t cho các biện pháp chiến thuật

NATO kết hợp chặt chẽ tác chiến “mềm” và “cứng”: đồng thời với việc sử dụng máy bay TCĐT chuyên dụng để gây nhiễu điện tử mạnh vào hệ thống thông tin và hệ thống phòng không của Nam T, NATO còn sử dụng bom sợi cacbon mà Nam T gọi là “bom mềm” để phá hoại có hiệu quả hệ thống cung cấp điện của Nam T Đồng thời họ còn sử dụng bom chống bức xạ tốc độ cao để phá huỷ hệ thống phòng không quan trọng và hệ thống ra đa của Nam T

Thực tế cho thấy chiến tranh công nghệ cao thờng đợc coi là chiến tranh giành thắng lợi nhanh nhất Đối với các quốc gia nhỏ, nghèo dựa vào

đ-ờng lối Chiến tranh nhân dân có thể làm thất bại đợc hình thức chiến tranh

này nhng phải có hình thức chiến tranh phù hợp:

1 Muốn đánh thắng chiến tranh kỹ thuật cao hiện đại phải có một lực lợng đối kháng điện tử mạnh Hành động quân sự khôg kích Nam T của NATO một lần nữa cho thấy, trong chiến tranh cục

bộ kỹ thuật cao hiên đại, đối kháng điện tử phải “đứng mũi chịu sào”, xuyên suốt từ đầu đến cuối và có vai trò rất quan trọng trong tiến trình chiến tranh và kết cục chiến tranh.Trong hành

động không kích, sở dĩ NATO có thể giữ đợc u thế trên không

từ đầu đến cuối, chính là vì họ có lực lợng TCĐT mạnh, nắm

đ-ợc quyền kiểm soát điện từ mặc dù Nam T có hệ thống phòng không tơng đối toàn diện.Từ đó đối với chúng ta, cùng với việc nắm vững trọng tâm, trọng điểm, tăng cờng u thế, sức mạnh, chúng ta cần tập trung đổi mới, cải tiến, nâng cao chất lợng giáo dục, đào tạo và huấn luyện quân sự; quán triệt sâu sắc phơng

châm chiến lợc: quân đội mạnh về khoa học kỹ thuật, đất nớc

mạnh về giáo dục, khoa học; thực hiện quốc cờng binh thịnh; kết hợp sức mạnh kinh tế, sức mạnh quốc phòng với sức mạnh dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nớc Chỉ có nhanh

chóng tăng sức mạnh tổng hợp mới duy trì và vảo đảm vững chắc nền an ninh, an toàn của đất nớc và của dân tộc

2 Lấy yếu thắng mạnh, lấy nhỏ thắng lớn, phải chú ý phát huy hiệu quả tổng hợp của vũ khí trang bị hiện có và nghiên cứu cách đánh cơ động linh hoạt Trớc tình thế yếu kém về thiết bị

và thông tin điện tử, chúng ta phải khai thác nhợc điểm của trang bị vũ khí kỹ thuật cao hiện đại, từ đó triển khai và sử dụng hợp lý các trang bị hiện có, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật – chiến thuật linh hoạt, lấy sở trờng của mình đánh sở

đoản của địch để giành thắng lợi Kinh nghiệm và cách đánh của Nam T cho chúng ta thấy, muốn thắng kẻ địch hơn hẳn về u thế trang bị, phải chú ý phát huy tác dụng tổng hợp của vũ khí trang bị, nghiên cứu cách đánh cơ động linh hoạt

3 Tốc độ phát triển nhanh của khoa học – công nghệ hiện đại đã

ảnh hởng và làm biến đổi sâu sắc cuộc cách mạng quân sự Cho nên, chúng ta phải nhanh chóng thích ứng với điều kiện mới,

Trang 10

chú trọng nghiên cứu, phát triển và ứng dụng có trọng tâm, trọng điểm, có kế hoạch để tận dụng và phát huy đầy đủ tác dụng to lớn của công nghệ cao, tích cực cải tiến và hoàn thiện

vũ khí trang bị hiện có đồng thời phải tăng cờng đầu t nghiên cứu phát triển các loại trang bị vũ khí công nghệ cao thế hệ mới

4 Phải đặc biệt coi trọng phát huy tác dụng to lớn của lực lợng dự

bị quốc phòng, thực hiện 3 thực tế: tổ chức, chính trị và quân sự thờng xuyên huấn luyện để nâng cao trình độ sẵn sàng chiến

đấu và chiến đấu giành thắng lợi trong điều kiện công nghệ cao:giành và giữ quyền kiểm soát điện từ, phải nắm chắc vài

“bảo bối” đối kháng điện tử.Trong chiến tranh, đối kháng điện

tử có thể phát huy uy lực về sức phá hoại lớn, mặt khác việc sử dụng bất ngờ thủ đoạn này sẽ làm cho đối phơng không kịp đề phòng, không thể nhanh chóng đa ra biện pháp đối kháng hữu hiệu để rồi rơi vào thế bị động Để đáp ứng các yêu cầu tác chiến tiến công và tác chiến phòng không, lãnh thổ trong chiến tranh cục bộ kỹ thuật cao tơng lai cần phải coi việc phát triển

đối kháng điện tử làm đột phá khẩu, ra sức phát triển các hệ thống ra đa, các bộ khí tài, các vệ tinh để làm các nhiệm vụ trinh sát, tiến hành chiến tranh thông tin, tâm lý phù hợp việc với chiến tranh kỹ thuật cao trong tơng laill

Lịch sử đã chứng minh rằng chiếm u thế trong TCĐT tất dẫn đến thắng lợi trong các hoạt động quân sự Từ nhận thức của giới quân sự cho

đến sự nhận thức của giới chính trị, xuyên suốt hàng chục năm với biết bao cuộc chiến tranh và đặc biệt là trong chiến tranh công nghệ cao đều đã khẳng

định vai trò, vị trí của tác chiến điện tử ứng với thực trạng ngày càng tăng mức độ ứng dụng của công nghệ điện tử – tin học, công nghệ vật liệu… nhằm đảm bảo an toàn đến mức tối đa nguồn năng l với các vũ khí trang bị công nghệ cao là phổ cập có vai trò quyết định trong hoạt

động quân sự

Xu hớng phát triển TCĐT trong chiến tranh công nghệ cao có những

đặc điểm sau:

- Về nội dung: mở rộng phạm vi phổ điện từ bao gồm dải sóng vô tuyến, ra

đa, hồng ngoại, ánh sáng, tử ngoại và những dải tần ít sử dụng khác của phổ điện từ; tiếp theo đó là sử dụng năng lợng định hớng để tiến công đối phơng Hơn thế nữa, trong chiến tranh công nghệ cao, tính chất tiến công của tác chiến điện tử còn đợc nhấn mạnh hơn thể hiện rõ nét hơn bằng việc sử dụng thuật ngữ “tiến công điện tử” thay cho thuật ngữ “chống phá

điện tử” và thực chất chế áp cứng không chỉ là phá huỷ vật lý các phơng tiện điện tử bằng tên lửa chống bức xạ ra đa hoặc các vũ khí điều khiển chính xác mà còn là phá huỷ chức năng làm việc của các linh kiện và hệ thống điện tử bằng vũ khí năng lợng định hớng – vũ khí chùm tia, vũ khí laser, vũ khí xung điện từ Đây là nét đặc trng trong xu hớng phát triển của TCĐT

- TCĐT trong chiến tranh công nghệ cao là TCĐT liên hợp Tính liên hợp phải đợc thể hiện ở việc xây dựng các kế hoạch tác chiến liên quân chủng hoặc đa quốc gia phải bảo đảm việc liên kết các hoạt động TCĐT và sự phối hợp hiệp đồng giữa các quân binh chủng, các phơng tiện kiểm soát không lu, các hoạt động phòng thủ dân sự và các cơ sở dân sự có liên quan đến chiến tranh sao cho TCĐT hoạt động hiệu quả không can nhiễu lẫn nhau Tính liên hợp của TCĐT trong chiến tranh công nghệ cao là yếu

Ngày đăng: 19/08/2016, 10:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w